2 Bài văn mẫu Cảm nhận về người anh hùng Quang Trung hay nhất - Ngữ văn lớp 9

Đề bài: Cảm nhận về người anh hùng Quang Trung qua Hồi 14 - Hoàng lê nhất thống chí.

Dàn ý mẫu

1, Mở bài:

   Giới thiệu đoạn trích và nhân vật:

- Đoạn trích: là hồi thứ 14 của cuốn tiểu thuyết chương hồi “Hoàng Lê nhất thống chí”; miêu tả chiến thắng của quân đội Quang Trung trước nhà Thanh và tàn quân Lê Chiêu Thống.

- Nhân vật Quang Trung: được miêu tả chân thực, khách quan với nhiều phẩm chất anh hùng.

2, Thân bài:

   a, Hình ảnh Quang Trung trước khi tiến quân vào Thăng Long:

- Một lòng yêu nước, lo lắng cho dân: khi nghe tin giặc kéo vào Thăng Long đã rất tức giận, chỉ muốn ngay lập tức tiến đánh, nhưng không cả giận mất khôn, không hấp tấp mà tính toán việc chu đáo:

    + Ông quyết định lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung: nếu không lên ngôi, việc tiến quân ra Bắc sẽ không danh chính ngôn thuận là đưa quân đánh kẻ xâm lược và bè lũ bán nước Lê Chiêu Thống, mà chỉ như một đội quân phản vua Lê; đó là việc “để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người”, nhận được sự ủng hộ của nhân dân.

- Có phẩm chất cùng lí tưởng cao cả, chiêu mộ binh sĩ bằng sự chân thành:

    + Ông chỉ ra rõ quân địch ở trước mắt: “Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi”, ấy là lũ giặc phương Bắc, không cùng dòng máu, chỉ tới để xâm lược cướp bóc, không phải để bảo vệ triều đại của vua Lê.

    + Đưa ra lời chiêu mộ binh sĩ vừa chân thành, đề cao tinh thần yêu nước, vừa nghiêm khắc, thể hiện khả năng và uy quyền của mình: đưa ra những tấm gương yêu nước, chiến đấu chống giặc không ngại hi sinh thân mình; cảnh cáo việc “ăn ở hai lòng” sẽ bị trừng phạt.

- Trí tuệ, sáng suốt, tỉnh táo:

    + Sáng suốt trong phân tích tình hình, trong việc dùng người: không trách hai tướng Sở và Lân vì rút quân bỏ thành, còn ngợi khen họ vì biết nhìn nhận tình hình ta yếu địch mạnh; đánh giá cao Ngô Thì Nhậm, sử dụng tài trí của ông để dẹp giặc mà không mất nhiều binh đao.

- Là người mưu lược, có tài năng quân sự, nhìn xa trông rộng:

    + Ông quyết định tiến công dẹp giặc Thanh phải thần tốc: từ lúc xuất phát cho tới khi đuổi được giặc là 10 ngày; không chờ qua tết mà tiến công luôn, mở tiệc khao quân vào 30 tháng chạp cổ vũ tinh thần binh sĩ, nói chắc rằng chiếm lại được thành sẽ ăn tết sau.

    + Liệu trước mọi việc: bàn trước với Ngô Thị Nhậm về quyết sách ngoại giao mềm mỏng với nhà Thanh, vì e ngại nước lớn thua trận sẽ thù hằn, tiếp tục động binh đao.

   + Quan quân trên dưới một lòng, nghiêm chỉnh, kỉ cương trái ngược hoàn toàn sự vô phép tắc, thiếu tôn ti trật tự của quân đội nhà Thanh và tàn quân nhà Lê: càng thể hiện tài lãnh đạo của Quang Trung.

   b, Hình ảnh Quang Trung trong những trận chiến với quân xâm lược, bán nước:

- Tài cầm binh của Quang Trung và sức mạnh của quân đội Tây Sơn đã được ca ngợi là “tướng ở trên trời rơi xuống, quân ở dưới đất chui lên”.

- Ông lãnh đạo tài tình: đánh trận nào thắng trận ấy, cưỡi voi xông lên trước lấy tinh thần cho binh sĩ ⇒ oai phong lẫm liệt.

    + Đánh ở sông Gián, sông Thanh Quyết: quân giặc bỏ chạy, bị bắt sống.

    + Đánh trận Hà Hồi: không tốn sức cũng chiếm được đồn.

    + Đánh trận Ngọc Hồi: ông cho quân lấy ván ghép phủ rơm đã tẩm ướt nước để tránh được hỏa công của địch; đội quân của ông hầu hết là nông dân không quen trận mạc, họ chiến đấu với tinh thần quả cảm, hi sinh vì đất nước “ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người cầm binh khí theo sau nhất tề xông tới”

⇒ Chính vị tướng “anh hùng áo vải” Quang Trung vừa mộc mạc, giản dị, vừa kiên cường, mưu lược ấy đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của binh sĩ, đã giành chiến thắng nhờ biết đoàn kết nhân dân, biết bài binh bố trận.

   c, Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

- Sử dụng những tính từ, động từ thể hiện sự quyết đoán, mưu lược.

- Giọng miêu tả và kể chuyện dù mang tính khách quan nhưng vẫn không giấu được lòng khâm phục của tác giả đối với Quang Trung

⇒ Xây dựng một hình ảnh Quang Trung vừa chân thực qua cuộc hành quân và đánh giặc, vừa được thần thánh hóa như một vị tướng nhà trời qua những hình ảnh cưỡi voi thúc giục, áo bào đỏ nhuốm màu đen của thuốc súng, qua lời kể của cung nữ.

3, Kết bài:

- Qua đoạn trích ta thấy nhân vật Quang Trung: anh hùng, có tài mưu lược, tài dùng người, có tình yêu nước, ý chí kiên cường, là một vị vua sáng suốt.

- Nghệ thuật miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết chương hồi: sử dụng ngôn ngữ kể và tả sống động, thể hiện sự cảm phục của tác giả.

Bài văn mẫu 1

    Nguyễn Huệ, vị chiến tướng dùng kì mưu hạ thành Phú Xuân. Nguyễn Huệ, vị thống tướng đã tiêu diệt ba vạn quân Xiêm xâm lược tại Rạch Gầm - Xoài Mút trong một trận thủy chiến trời long đất lở. Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải đã đạp đổ ngai vàng chúa Trịnh ở Đàng Ngoài rồi kết duyên cùng công chúa Ngọc Hân làm chấn động Bắc Hà. Nguyễn Huệ- vua Quang Trung đã tiêu diệt 29 vạn quân Thanh xâm lược, xây nên Gò Đống Đa lịch sử bất tử.

    Đọc Hồi thứ 14 " Hoàng Lê nhất thống chí", hình tượng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã để lại trong tâm hồn ta bao ấn tượng không phai mờ.

    Những tác giả- những người con ưu tú của dòng họ Ngô thì ở Tả Thanh Oai đã mượn lời nói của những cung nhân cũ từ phủ Trường Yên tâu với Thái Hậu, rất khách quan, để giới thiệu Nguyễn Huệ với sự tâm phục và kinh sợ. Vì là người ở phía bên kia, phe đối địch, nên đại từ " hắn" mà người cung nhân này dùng để chỉ Nguyễn Huệ cũng chẳng hề làm mờ đi bức truyền thần vị chiến tướng trăm trận trăm thắng.

    "Không biết rằng, Nguyễn Huệ là một tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân. Xem hắn ra Bắc vào Nam, không ai có thể lường biết. Hắn bắt Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám nhìn thẳng vào mặt hắn. Thấy hắn trỏ tay, đưa mắt là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu, sợ hắn hơn sợ sấm sét."

    Nên biết rằng lúc bấy giờ, Tôn Sĩ Nghị và 29 vạn quân Thanh đã đóng chật Thăng Long, coi nước ta chỉ là quận huyện của chúng, Lê Chiêu Thống đã được Thiên triều cho làm An Nam quốc vương, nhưng với cái nhìn sắc sảo, người cung nhân cũ đã chỉ ra sự bại vong tất yếu của bọn cướp nước và bè lũ bán nước: "E rằng chẳng bấy lâu nữa, hắn lại trở ra,, tổng đốc họ Tôn đem thứ quân nhớ nhà kia mà chống chọi, thì địch sao cho nổi?" Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 đã cho thấy lời nói ấy là một dự báo linh nghiệm, một chân lí lịch sử rất hùng hồn.

    Nguyễn Huệ là một con người " biết nghe và quyết đoán". Ngày 24 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788) nhận được tin cáo cấp do Nguyễn Văn Tuyết đưa vào, Nguyễn Huệ "giận lắm" định "cầm quân đi ngay" nhưng trước lời bàn "hãy chính vị hiệu", ông đã nghe theo để " giữ lấy lòng người" rồi mới xuất quân đi đánh dẹp cõi Bắc. Việc đắp đàn ở núi Bân, tế Trời Đất, thần Sông, thần Núi, lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung đã chứng tỏ cái tầm nhìn chiến lược của người anh hùng áo vải khi Tổ Quốc đứng trước họa xâm lăng.

    Cứu nước như cứu lửa. Ngày 25 còn ở Thuận Hóa thế mà 29 đã hành quân tới Nghệ An : gặp cống sĩ Nguyễn Thiếp, mộ thêm một vạn tinh binh, tổ chức duyệt binh lớn và truyền hịch đánh giặc cứu nước để kích thích chí khí tướng sĩ và ba quân "đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn", nghiêm khắc cảnh cáo những kẻ "ăn ở hai lòng ... sẽ bị giết ngay tức khắc", vạch trần thói tàn bạo tham lam của người phương Bắc để kích thích lòng cẳm thù, kêu gọi tướng sĩ noi gương Trưng Nữ Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo, Lê Thái Tổ ... để quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi.

    Chỉ hơn một ngày đêm, Nguyễn Huệ đã kéo quân ra tới Tam Điệp hội sưu với cánh quân của Đại tư mã Ngô Văn Sở. Ông ra lệnh cho tướng sĩ ăn tết trước, hẹn đến mùng 7 vào Thăng Long sẽ mở tiệc ăn mừng, rồi chia đại quân thành năm đạo binh lớn " gióng trống lên đường ra Bắc".

    Nguyễn Huệ thật "lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân." Ông đã lấy yếu tố bất ngờ để đánh thắng giặc : bắt sống toàn bộ quân giặc do thám ở sông Thanh Quyết và đồn Hà Hồi, bao vây tiêu diệt đồn Ngọc Hồi, hàng vạn giặc bị giết " thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối". Tại đàm Mực làng Quỳnh Đô, giặc Thanh bị hợp vây, " quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp chết đến hàng vạn người." Trong khi đó, một trận "rồng lửa" đã diễn ra ác liệt tại Khương Thượng, xác giặc chất thành 12 gò cao như núi. Nguyễn Huệ đã tiến công như vũ bão, khác nào " tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên" làm cho Tôn Sĩ Nghị "sợ mất mật, ngữ không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp ... nhằm hướng Bắc mà chạy." Trưa mùng 5, Nguyễn Huệ và đại quân đã kéo vào Thăng Long trước kế hoạch hai ngày.

    Nhãn quan quân sự - chính trị của Nguyễn Huệ vô cùng sâu rộng và sáng suốt. Trên đường tiến quân đánh giặc Thanh, ông đã giao cho Ngô Thì Nhậm " người khéo lời lẽ" để "dẹp nỗi việc binh đao", đem lại "phúc cho dân."

    Chiến thắng Đống Đa năm Kỉ Dậu (1789) là một trang sử chống xâm lăng vô cùng chói lọi của dân tộc ta. Nó thể hiện sức mạnh vô địch của lòng yêu nước và tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Nó đã dựng nên tượng đài tráng lệ, hùng vĩ người anh hùng áo vải – vua Quang Trung để dân tộc ta đời đời tự hào và ngưỡng mộ:

   " Mà nay áo vải cờ đào,

   Giúp dân dựng nước biết bao công trình"

    ("Ai tư vãn" – Ngọc Hân công chúa)

    Xây dựng và khắc họa hình tương người anh hùng Nguyễn Huệ là một thành công đặc sắc. Nó làm cho trang văn " Hoàng Lê nhất thống chí" thấm đẫm chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Đại Việt.

Bài văn mẫu 2

    “Giặc đau tàn bạo sang điên cuồng

    Quân vua một trận oai bốn phương

    Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới

    Như trên trời xuống ai dám đương”

    (Ngô Ngọc Dụ)

    Vua Quang Trung, vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc. Vẻ đẹp uy nghi, trí tuệ của vua Quang Trung đã được phản ánh đầy đủ, trọn vẹn trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14.

    Hồi thứ thứ 14 kể về lần thứ ba ra Bắc Hà của Nguyễn Huệ. Ông đã tạo nên chiến công kì tích nhất trong lịch sử Việt Nam, với tốc độ tiến công thần tốc, chỉ trong 10 ngày ông đã tiêu diệt gọn quân Thanh, lấy lại nền độc lập cho đất nước. Chỉ trong đoạn trích ngắn này, nhưng vẻ đẹp khí phách hào hùng, trí tuệ sáng suốt và tài thao lược hơn người đã được biểu lộ rõ nét nhất.

    Đọc Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14, ấn tượng đầu tiên của người đọc đối với vị anh hùng này chính là ở trí tuệ sáng suốt và vô cùng mạnh mẽ, quyết đoán. Ngay khi 20 vạn quân Thanh tràn vào đất Bắc, chiếm giữ kinh thành Thăng Long bấy giờ Nguyễn Huệ mới là Bắc Bình Vương và ở Phú Xuân. Nhận được tin cấp báo, lòng yêu nước trào dâng ông đã định cầm quân đi ngay. Song trước sự khuyên ngăn, suy nghĩ kĩ lương, Nguyễn Huệ quyết định lên ngôi, để danh chính ngôn thuận cầm quân ra Bắc. Ngay sau khi lên ngôi Nguyễn Huệ - niên hiệu là Quang Trung đã ra lệnh xuất quân ngay. Không chỉ vậy, để giành được chiến thắng với kẻ địch mạnh, đòi hỏi phải có một trí tuệ sáng suốt. Quang Trung đã rất mưu lược, sáng suốt khi nhận định tương quan tình hình hai bên, ra lời hịch vừa để khích lệ binh tướng, vừa để răn đe, cảnh tỉnh với những kẻ hai lòng. Ông vô cùng sáng suốt khi nhận rõ bản chất của kẻ định, và khơi dậy lòng yêu nước ở những người chiến sĩ. Trước những lời lẽ đanh thép, sắc sảo của ông tướng sĩ trên dưới một lòng đều nhất nhất tuân lệnh: “xin vâng lệnh không dám hai lòng”.

    Không chỉ vậy, sự mưu lược của ông còn được thể hiện trong cách nhận xét về thế mạnh và cái yếu của bề tôi. Ông hiểu năng lực của Sở và Lân, họ chỉ là “hạng võ dũng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến việc tùy cơ ứng biến là không có tài”. Bởi vậy ông không trách cứ, xử tội họ. Ông cử Ngô Thì Nhậm – người có tài mưu lược để bên cạnh mà hỗ trợ hai vị tướng. Cách hiểu người, dùng người đúng đắn, trách người đúng tội đúng việc làm cho quân tướng ai nấy đều hài lòng và khâm phục. Nhờ có sự am hiểu như vậy, đã giúp ông thu phục nhâm tâm của mọi người.

    Và cuối cùng sự sáng suốt của ông còn thể hiện trong tầm nhìn xa trông rộng. Ông nắm rõ tình hình, quân Thanh bành trướng đang đóng quân gần hết Bắc Hà, nhưng ông cùng vô cùng tự tin chỉ trong mười ngày sẽ đánh đuổi sạch bóng quân Thanh. Nhưng ông không chỉ lo nghĩ đến việc dẹp yên giặc, mà con nghĩ trước cách ứng xử với chúng sau khi chúng bị đánh đuổi về nước. Là một nước lớn, khi thua trận tất yếu sẽ sinh sự cay cú mà đem quân trả thù, bởi vậy ông đã cử Ngôi Thì Nhậm, dùng “khéo lời để dẹp yên binh đao”. Làm việc ấy cũng là để cho nhân dân nghỉ sức, ta có điều kiện trong vòng mười năm xây dựng đất nước, củng cố quân sự, lúc bấy giờ giặc Thanh có xâm lược ta cũng không còn phải ngần ngại gì nữa. Qua tất cả những sự việc đó, đã cho hậu thế thấy một con người tài trí sáng suốt, liệu việc như thần.

    Không chỉ dừng lại là một con người có tài trí sáng suốt, mà dưới ngòi bút của Ngô Gia Văn Phái, Quang Trung còn là một người có tài thao lược hơn người. Ngay sau khi hạ lệnh xuất quân ra Bắc, ông lập tức lên đường, vừa đi vừa tuyển quân, khiến cho binh lực mạnh lên không ngừng. Ông có cuộc hành quân thần tốc nhất trong lịch sử, làm cho ai cũng không khỏi kinh ngạc, từ Phú Xuân ra đến kinh thành Thăng Long ông chỉ đi mất có bốn ngày, trong khi đi còn tuyển quân, phương tiện di chuyển thô sơ chủ yếu đi bộ, phần còn lại đi ngựa. Chính tốc độ hành quân thần tốc ấy cũng là một yếu tố làm cho kẻ địch bất ngờ.

    Đồng thời ông lựa chọn thời cơ chính xác, chớp cơ hội tết nguyên đán giặc sơ hở, lo ăn chơi để đánh một trận tiến quân lớn, đập tan tất các các ngả quân của chúng. Ở mỗi trận đánh có có cách đánh hết sức linh hoạt, khiến cho kẻ thù choáng váng, tưởng “tướng ở trên trời rơi xuống, quân ở dưới đất chui lên”. Và chính điều đó đã dấn đến thắng lợi tất yếu của quân ta và sự thất bại thảm hại của kẻ thug. Quang Trung cùng với các tướng sĩ của mình đánh một mốc son chói lọi và hào hùng vào trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

    Đẹp đẽ nhất là khi vua Quang Trung chỉ huy đội quân tướng sĩ trên chiến trường, đó là vẻ đẹp của sự oai phong, lẫm liệt, khó ai có thể bì kịp. Vua Quang Trung thân chinh cầm một mũi tiến công, chỉ huy xông ra trận. Trong ánh sáng của buổi sớm, khói của súng đạn, vị anh hùng thân cưỡi voi, mình mặc áo bào lẫm liệt xông ra chiến đấu với kẻ thù. Một tạo hình uy nghĩ, lẫm liệt và vô cùng đẹp đẽ. Hình ảnh đó đã trở thành tượng đài bất hủ của dân tộc Việt Nam.

    Hoàng Lê nhất thống chí hồi thứ 14 đã tạc lên tượng người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ thành công xuất sắc. Ông là con người toàn tài, vị vua anh dũng, sáng suốt, đánh tan quân xâm lược, đem lại độc lập cho dân tộc. Vẻ đẹp trí tuệ của vua Quang Trung cũng chính là đại diện tiêu biểu cho vẻ đẹp, khí phách của dân tộc Việt Nam.

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

300 BÀI GIẢNG GIÚP CON LUYỆN THI LỚP 10 CHỈ 399K

Phụ huynh đăng ký mua khóa học lớp 9 cho con, được tặng miễn phí khóa lớp 8 ôn hè. Đăng ký ngay!

Tổng đài hỗ trợ đăng ký khóa học: 084 283 45 85

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

hoang-le-nhat-thong-chi.jsp