Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe lớp 4 (18 mẫu)

Tổng hợp các đoạn văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe lớp 4 hay nhất giúp bạn có thêm đoạn văn, bài văn mẫu tham khảo để học tốt môn Tiếng Việt lớp 4.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe lớp 4 (18 mẫu)

Quảng cáo

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 1

Trong những câu chuyện đã học, em thích nhất là câu chuyện Cây khế.

Cây khế là một câu chuyện cổ tích của nước ta mang trong mình bài học ý nghĩa. Chuyện kể về hai anh em ruột nhưng có tính cách trái ngược nhau. Người anh tham lam, lười biếng bao nhiêu thì người em hiền lành, chăm chỉ bấy nhiêu.

Sau khi cha mất, người anh chia cho em mình một cây khế già và một túp lều tranh rồi lấy hết gia sản. Người em ở lều tranh chăm chỉ làm lụng mỗi ngày và chăm sóc cây khế. Năm đó khế ra trái rất sai và ngọt nên có chim lạ đến ăn. Thấy người em than thở vất vả, chim hứa ăn khế sẽ trả vàng. Và chở người em ra đảo lấy vàng về. Nhờ đó, người em trở nên giàu sang. Biết chuyện, người anh xin đổi gia tài lấy cây khế của em, rồi bắt chước em than thở với chim. Tuy nhiên do tham lam, hắn may cái túi lớn gấp bốn lần chim dặn và lấy quá nhiều vàng khiến chim không chở nổi. Trên đường về lại gặp bão lớn, thế là hắn cùng số vàng đó rơi xuống biển sâu.

Câu chuyện đã dạy cho em bài học về lòng trung thực và sự chăm chỉ trong cuộc sống. Nếu có tính tham lam, gian dối thì sẽ có kết thúc bi kịch như người anh mà thôi.

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe

a) Mở bài:

- Giới thiệu tên câu chuyện em muốn kể.

- Cho biết em đã đọc hoặc nghe câu chuyện ở đâu.

- Nêu ấn tượng chung của em về câu chuyện.

b) Thân bài:

1. Giới thiệu các nhân vật và hoàn cảnh

- Câu chuyện có những nhân vật nào?

- Câu chuyện xảy ra ở đâu, vào thời gian nào?

- Hoàn cảnh bắt đầu câu chuyện như thế nào?

2. Kể lại diễn biến câu chuyện

- Kể sự việc mở đầu.

- Kể các sự việc chính xảy ra tiếp theo theo đúng trình tự.

- Kể những hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật.

- Tập trung làm nổi bật sự việc quan trọng hoặc cao trào của câu chuyện.

- Kể sự việc kết thúc và kết quả.

Quảng cáo

3. Nêu ý nghĩa của câu chuyện

- Câu chuyện muốn nói với em điều gì?

- Nhân vật nào để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất?

- Em học được bài học gì từ câu chuyện?

c) Kết bài:

- Nêu cảm nghĩ của em về câu chuyện.

- Nêu tình cảm đối với nhân vật hoặc bài học mà em ghi nhớ.

- Có thể liên hệ bản thân: Em sẽ làm gì để vận dụng bài học ấy trong cuộc sống?

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 2

Mỗi câu chuyện đều mang đến cho ta một bài học quý giá. Đó có thể là bài học tri thức bổ ích, cũng có thể là bài học đạo lí làm người. Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng từng được nghe câu chuyện “Điều ước của vua Mi - đát”. Câu chuyện đã cho em một bài học về sự tham lam của con người.

Câu chuyện kể rằng: thuở xa xưa, tại đất nước Hi Lạp xinh đẹp có một vị vua nọ nổi tiếng tham lam tên là Mi - đát. Thần Đi - ô - ni - dốt biết được lòng tham không đáy của vua Mi - đát nên đã cố ý xuất hiện và cho nhà vua một bài học. Một ngày kia, khi vua Mi - đát đang dạo chơi trong vườn thượng uyển thì thần Đi - ô - ni - dốt chợt hiện ra, phán:

- Ta ban cho ngươi một điều ước, điều ước sẽ hiệu nghiệm ngay.

Quảng cáo

Nghe vậy nhà vua vô cùng mừng rỡ. Vốn tính tham lam, vua Mi - đát không ngần ngại mà ước ngay:

- Xin thần cho mọi vật tôi chạm vào đều biến thành vàng!

Thần giữ lời hứa và ban cho Mi - đát điều ước tham lam ấy rồi biến mất. Ngay sau đó, vua Mi - đát nôn nóng muốn thử sự hiệu nghiệm của điều ước nên bẻ một cành sồi trên cây gần đó. Vua vừa chạm tay vào, cành cây lập tức biến thành vàng. Ông ta lượm một quả táo, tức thì quả táo cũng biến thành vàng nốt. Mi - đát sung sướng nghĩ rằng mình là người hạnh phúc nhất, giàu có nhất trên thế gian. Không ai có thể giàu hơn mình nữa.

Đến bữa ăn, nhà vua vẫn giữ tâm trạng vui vẻ ngồi vào bàn tiệc, chờ người hầu dọn thức ăn lên. Thế nhưng bao nhiêu là cao lương mĩ vị, bát đũa, cốc chén... trên bàn ăn đều ngay lập tức biến thành vàng khi ông ta chạm tay tới. Không một thứ nào có thể ăn được nữa. Bụng đói cồn cào, bấy giờ vua Mi - đát mới hiểu được mình vừa ước một điều ước khủng khiếp như thế nào. Trong cơn đói hành hạ và nỗi sợ hãi,vua vội vàng run run quỳ xuống khấn xin thần Đi - ô - ni - dốt:

- Xin thần thu lại điều ước để cho tôi được sống.

Một lát sau, thần Đi - ô - ni - dốt mới hiện ra, nhìn vua Mi - đát và nghiêm nghị phán:

- Nhà ngươi hãy tới sông Pác - tôn, nhúng mình vào dòng nước, phép màu sẽ biến mất. Lòng tham của ngươi cũng sẽ được rửa sạch.

Vua Mi - đát nhanh chóng làm theo lời thần. Quả nhiên, sau khi ngâm mình xuống dòng sông thì phép màu biến mất. Nhà vua không còn bản tính tham lam như trước nữa.

“Điều ước của vua Mi - đát” vừa là một câu chuyện hài hước, vừa là một câu chuyện đầy ý nghĩa. Qua câu chuyện, em hiểu ra được nhiều điều. Không nên tham lam, tham lam sẽ không đem lại cho chúng ta hạnh phúc. Ngược lại tham lam còn đem đến những hậu quả khó lường.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 3

Thuở xưa, ở vùng đất Lạc Việt có vị thần tên là Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ sống ở dưới biển Đông. Thần mình rồng, sức khỏe phi thường và có nhiều phép lạ. Thỉnh thoảng thần lên sống trên cạn, giúp dân diệt trừ các loài yêu quái như Ngư Tinh, Hồ tinh, Mộc Tinh. thần còn dạy dân cách trồng trọt và sinh sống. Âu Cơ là một tiên nữ dòng dõi Thần Nông ở vùng núi cao phương Bắc. Nàng thích ngao du đây đó, những nơi có phong cảnh đẹp. Bên trai tài, bên gái sắc, họ yêu nhau rồi kết thành vợ chồng.

Ít lâu sau, Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con khôi ngô tuấn tú lạ thường. Chẳng còn bú mớm mà đàn con lớn nhanh như thổi, khỏe mạnh như thần.

Một hôm, nhớ biển cả và cảm thấy mình không thể sống lâu trên cạn được, Lạc Long Quân đành từ biệt Âu Cơ để trở về chốn thủy cung. Âu Cơ một mình nuôi con. Ngày lại ngày qua, nàng sốt ruột trông ngóng chồng với tâm trạng buồn tủi. Cuối cùng, nàng gọi chồng lên mà than thở:

- Sao chàng nỡ bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?!

Lạc Long Quân ân cần giải thích:

- Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ trên cạn người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó lòng mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì khó khăn thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.

Âu Cơ nghe theo đưa năm mươi người con lên đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (vùng Bạch Hạc, Lâm Thao, Phú Thọ ngày nay). Triều đình có quan văn, quan võ (Lạc tướng, Lạc hầu). Con trai của vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương. Vua cha chết, con trai trưởng nối ngôi. Mười tám đời vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu Hùng Vương.

Từ sự tích này mà dân tộc Việt Nam thường nhắc đến nguồn gốc cao quý của mình là con Rồng cháu Tiên. Tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em cùng chung một bọc sinh ra (đồng bào).

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 4

Người Việt Nam ta từ xưa đã nổi tiếng thông minh, sáng tạo. Vì vậy, trong dân gian lưu truyền rất nhiều những câu chuyện hay về trí tuệ của con người. Trong đó, em đặc biệt ấn tượng với câu chuyện Em bé thông minh.

Câu chuyện kể về một cậu bé tuy còn nhỏ, lại chưa đến trường hay học qua lớp học nào, nhưng lại có trí tuệ và sự hiểu biết vượt qua người thường. Trí thông minh của cậu bé được thể hiện qua những thử thách mà cậu gặp được và cách giải quyết nó. Thử thách đầu tiên của cậu là câu đố của viên quan tình cờ đi ngang qua làng. Ông ta theo lệnh nhà vua, cưỡi ngựa đi khắp cả nước để tìm người tài. Khi đi qua làng của cậu bé, thấy một đứa trẻ trông có vẻ nhanh nhẹn, nên đã dừng lại để thử tài. Viên quan đưa ra một câu đố rất hóc búa, rằng tính xem một ngày ngựa của ông ta đi được bao nhiêu bước. Nhưng thật bất ngờ, câu bé lập tức hỏi ngược lại viên quan: Nếu ông ấy tính được một ngày trâu của cha cậu cày bao nhiêu đường, thì cậu sẽ nói cho ông ấy biết số bước đi của chú ngựa. Nghe vậy, viên quan liền nhận ra cậu bé này rất thông minh, nên vội vàng trở về kinh thành báo cáo với nhà vua.

Nghe chuyện, nhà vua vẫn chưa tin về tài năng của cậu bé, nên đã nghĩ ra thêm một thử thách cho cậu. Ông ban cho làng cậu ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, yêu cầu làng sau một năm phải làm cho trâu sinh ra trâu con rồi nộp cho nhà vua, nếu không sẽ bị trị tội. Điều này làm cho cả làng sợ hãi và bất lực vô cùng. Nhưng cậu bé thì lại rất bình tĩnh. Cậu nói với dân làng hãy giết thịt hai con trâu, đồ xôi bằng hai thúng gạo nếp để mở tiệc. Phần còn lại thì bán lấy tiền làm lộ phí cho cha con cậu lên kinh gặp nhà vua. Khi đến nơi, cậu đứng trước cửa cung vua, gào khóc ầm ĩ, khiến nhà vua rất khó hiệu, bèn gọi cậu vào diện kiến. Trước mặt nhà vua, cậu bé khóc lóc đòi nhà vua bắt cha phải sinh em bé để chơi cùng với mình. Tuy nhiên, mẹ cậu đã mất từ lâu, mà cha cậu lại là đàn ông, làm sao mà sinh được? Khi nhà vua giải thích cho cậu bé hiểu điều đó, thì cậu liền nhân cơ hội mà hỏi ngược lại ông rằng: Tại sao lại yêu cầu làng cậu nuôi cho ba con trâu đực sinh ra nghé con chứ? Vì điều đó cũng vô lý như ép cha cậu sinh em bé mà thôi. Điều này khiến nhà vua hiểu ra, đứa trẻ trước mặt chính là người tài mà mình đang thử thách. Thế là, ông liền ra lệnh đưa cha con cậu bé vào cung vua để tiện hỏi chuyện. Để chắc chắn hơn, ông đã thử tài cậu bé thêm lần nữa. Bằng cách yêu cầu cậu làm thịt con chim sẻ nhỏ thành một mâm cỗ thịnh soạn. Người hầu vừa truyền chỉ, cậu bé đã lấy ngay từ trong túi một cái kim khâu, đưa cho anh ta, và nói rằng hãy nhờ nhà vua mài cây kim đó thành chiếc dao sắc để làm thịt chim sẻ. Lần này thì nhà vua thật sự thán phục tài trí của cậu bé rồi.

Mấy hôm sau, nước ta tiếp đón đoàn sứ thần nước bên sang thăm. Họ đem sang một câu đố rất khó, để kiểm tra xem nước ta có người tài hay không. Vì vậy, cả triều đình vô cùng căng thẳng. Từ các quan lớn đến học sinh trong trường đều không ai tìm ra cách nào xâu sợi chỉ qua thịt ốc mà vẫn còn nguyên mình ốc cả. Đúng lúc đang bối rối, nhà vua nhớ ra cậu bé thông minh nọ đang ở trong cung, nên đã sai lính đến hỏi cậu bé. Câu đố khó đến vậy, mà vừa nghe, cậu bé đã giải được ngay, thậm chí còn hát thành một bài ca dao nữa chứ. Sau sự kiện đó, cả triều đình đều khâm phục tài trí của cậu bé. Nhà vua thì phong cậu làm trạng nguyên, và xây dinh thự cạnh cung vua để tiện hỏi thăm việc nước.

Câu chuyện Em bé thông minh được sáng tác để ngợi ca và khẳng định sức mạnh của trí tuệ dân gian trước trí tuệ cung đình. Từ đó, giúp chúng ta hiểu được rằng, kiến thức có thể có ở mọi nơi, không chỉ có ở trong sách vở. Vì vậy, cùng với học ở lớp, chúng ta cần học ở cuộc sống xung quanh mình.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 5

Câu chuyện về trí thông minh, khả năng tìm tòi, và sáng tạo của con người luôn là nguồn cảm hứng tuyệt vời, tiếp thêm cho ta động lực học để phấn đấu học tập. Trong đó em thích nhất là câu chuyện Nhà phát minh 6 tuổi.

Ma-ri-a sinh ra trong một gia đình sáu đời có người là giáo sư đại học. Cô bé rất thích quan sát. Hồi cô 6 tuổi, có lần, gia đình tổ chức bữa tiệc. Cô bé nhận thấy một điều lạ: Mỗi lần gia nhân bưng trà lên, tách đựng trà thoạt đầu trượt trong đĩa. Nhưng khi nước trà rót ra đĩa thì những tách trà kia bỗng nhiên dừng chuyển động, cứ như bị cái gì đó ngăn lại. Ma-ri-a nghĩ mãi mà vẫn không hiểu vì sao. Thế là cô lặng lẽ rời khỏi phòng khách.

Cô bé vào bếp, lấy một bộ đồ trà ra và tự mình làm đi làm lại thí nghiệm. Cuối cùng cô cũng hiểu ra: Khi giữa tách trà và đĩa có một chút nước thì tách trà sẽ đứng yên. Lúc ấy, Ma-ri-a chợt thấy cha đang vào bếp. Cô liền nói với cha phát hiện của mình. Cha cô hết sức vui mừng. Ông nâng bổng cô con gái nhỏ lên vai, đi thẳng ra phòng khách, hân hoan nói: “Đây sẽ là giáo sư đời thứ bảy của gia tộc tôi!”.

Về sau, Ma-ri-a trở thành giáo sư nhiều trường đại học danh tiếng của Mỹ. Năm 1963, bà vinh dự được tặng Giải thưởng Nô-ben Vật lí.

Sáng tạo là khả năng đặc biệt của con người. Câu chuyện tri Nhà phát minh 6 tuổi khiến em nhận ra rằng khả năng tìm tòi, sáng tạo của con người có thể tạo nên nhiều điều thật tuyệt diệu.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 6

Marie Curie là nhà vật lý học, nhà hóa học Pháp gốc Ba Lan, nổi tiếng toàn thế giới về việc nghiên cứu chất phóng xạ. Câu chuyện về cuộc đời, trí thông minh, cùng nỗ lực tìm tòi, sáng tạo trong khoa học của bà luôn truyền cảm hững mạnh mẽ cho em.

Marie Curie là là người phụ nữ đầu tiên và cũng là duy nhất trên thế giới hai lần được nhận giải thưởng Nobel trong hai lĩnh vực khác nhau, được suy tôn là nữ bác học xuất sắc nhất trên toàn thế giới. Cuộc đời của Marie Curie là một câu chuyện thần kỳ, với rất nhiều sự tích vĩ đại.

Ngay từ nhỏ, Marie đã bộc lộ tư chất thông minh hơn người, luôn tìm tòi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong thế giới khoa học nhiều bí ẩn, lý thú. Ở Ba Lan thời đó, các trường đại học không nhận phụ nữ, Marie đành theo học "trường đại học lưu động" do các trí thức yêu nước bí mật thành lập. Nữ sinh Marie phải làm gia sư cho nhà điền chủ giàu có trong vùng để có tiền trang trải việc học. Sau 5 năm kiên trì làm gia sư, nhờ sự giúp đỡ của chị gái cả, khi 24 tuổi Marie mới được sang học Đại học danh tiếng Sorbone ở Paris.

Hai năm sau khi kết hôn, Marie sinh con gái đầu lòng và chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ. Bà chọn đề tài nghiên cứu là hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Urani.

Hai vợ chồng Marie và Pierre phải chạy vạy mãi mới mượn được một gian hầm ẩm thấp làm phòng thí nghiệm và bắt đầu nghiên cứu với hàng ngàn phép tính toán và đo đạc.

Phải đến gần 10 năm sau, vợ chồng Curie phát hiện một nguyên tố phóng xạ có cường độ phóng xạ mạnh gấp 400 lần so với Urani nguyên chất. Nguyên tố đó được đặt tên là Poloni theo tên của quê hương Ba Lan của bà. Ít lâu sau, họ tiếp tục phát hiện ra nguyên tố có cường độ phóng xạ cực mạnh là Radi. Quá trình tinh luyện Radi từ quặng Pêchbơlăng rất vất vả, tốn kém nên vợ chồng nhà bác học đã quyết tâm tìm cách sáng chế.

Sau 4 năm trời đằng đẵng với hàng ngàn thí nghiệm, họ không có tiền, cũng không có người nào giúp đỡ. Tuy nhiên, đó là "thời kỳ anh dũng và cũng hạnh phúc nhất trong cuộc sống của hai vợ chồng tôi", Marie bồi hồi nhớ lại.

Cuối cùng, họ cũng đã luyện thành công chất Radi. Với thành tựu này, ông bà Curie đã được Viện Khoa học Hoàng gia London trao tặng Huy chương Devy và Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển trao tặng giải Nobel Vật lý.

Nữ bác học lừng danh mọi thời đại này chứng minh một người thành công không cần đến phòng thí nghiệm hiện đại, phòng thu lớn hay những trang thiết bị tối tân. Tất cả những gì họ cần là sự tò mò trước những điều mới lạ, một mục đích rõ ràng, sự cống hiến không ngừng nghỉ và tốt hơn hết, có một người đồng hành cùng hướng đến những điều tốt đẹp nhất trong công việc.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 7

Ngày xưa, có một người con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thần có sức khỏe vô địch, lại nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở. Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.

Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăm trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường. Lạc Long Quân vốn quen sống ở dưới nước, nên thường xuyên trở về dưới thuỷ cung.

Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:

- Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?

Lạc Long Quân nói:

- Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao. Nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.

Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:

- Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.

Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:

- Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.

Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói:

- Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.

Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:

- Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.

Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.

Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 8

Chuyện kể về một cậu bé ham chơi. Một lần, bị mẹ mắng, cậu vùng vằng bỏ đi. Cậu la cà khắp nơi, chẳng nghĩ đến mẹ ở nhà mỏi mắt chờ mong. Không biết cậu đã đi bao lâu. Một hôm, vừa đói vừa rét, lại bị trẻ lớn hơn đánh, cậu mới nhớ đến mẹ, liền tìm đường về nhà. Ở nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu. Cậu khản tiếng gọi mẹ, rồi ôm một cây xanh trong vườn mà khóc. Kì lạ thay, cây xanh bỗng run rẩy. Từ các cành lá, những đài hoa bé tí trổ ra, nở trắng như mây. Hoa tàn, quả xuất hiện, lớn nhanh, da căng mịn, xanh óng ánh, rồi chín. Một quả rơi vào lòng cậu. Môi cậu vừa chạm vào, một dòng sữa trắng trào ra, ngọt thơm như sữa mẹ. Cậu nhìn lên tán lá. Lá một mặt xanh bóng, mặt kia đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Cậu bé oà khóc. Cây xoà cành ôm cậu, như tay mẹ âu yếm vỗ về. Trái cây thơm ngon ở vườn nhà cậu, ai cũng thích. Họ đem về gieo trồng khắp nơi và gọi đó là cây vú sữa.

Câu chuyện trên đã để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc về sự biết ơn công lao sinh thành của cha mẹ. Là một người con, chúng ta nên thấu hiểu sự yêu thương, hy sinh của cha mẹ. Vì thế hãy cố gắng trở thành một người con ngoan các bạn nhé!

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 9

Trong rất nhiều truyện cổ tích đã đọc, em thích nhất là "Sự tích chú Cuội". Câu chuyện không chỉ nhắc đến nguồn gốc của chú Cuội mà còn đem đến cho em nhiều bài học ý nghĩa.

Truyện kể về chàng tiều phu tên Cuội. Một lần vào rừng, anh ta thấy cảnh đám hổ con đã chết được hổ mẹ mớm cho loại lá kì lạ. Từ đó, phát hiện ra loài cây có khả năng "cải tử hoàn sinh". Vì tò mò, Cuội đã mang cây về trồng và giúp đỡ được rất nhiều người. Có hôm, Cuội đi trên đường và phát hiện ra một con chó đáng thương nằm chết bên đường. Thương hại, anh ta lấy lá cây cứu sống nó rồi mang về nhà nuôi. Chú chó cũng biết ơn ân nhân, luôn quấn quýt chủ không rời nửa bước. Một lần, Cuội cứu sống con gái phú ông. Cô gái tỉnh dậy thì vô cùng biết ơn, nguyện theo Cuội về nhà. Phú ông cũng rất vừa lòng, quyết định gả luôn con gái cho anh. Thế là Cuội có vợ. Hai vợ chồng sống với nhau vô cùng hòa thuận, hạnh phúc.

Lúc bấy giờ, trong làng có một bọn cướp chuyên. Chúng biết Cuội có thể hồi sinh người chết, đem lòng ghen ghét, nhân lúc anh ta đi vắng đã giết vợ Cuội và quẳng bộ lòng đi. Chàng Cuội trở về thấy vợ chết thì đau khổ vô cùng, cố hết sức lấy lá cây chữa trị. Thế nhưng do không còn bộ lòng, Cuộc không thể nào hồi sinh vợ được. Chú chó trung thành thương chủ, nguyện dâng hiến bộ lòng của mình. Nhờ vậy mà vợ Cuội sống lại. Sau đó, Cuội đắp một bộ lòng bằng đất cho chú chó và thành công hồi sinh nó. Cả gia đình lại vui vẻ, thuận hòa chung sống.

Tuy nhiên, vợ Cuội sau khi sống lại lại trở nên hay quên. Cuội lúc nào cũng nhắc vợ phải tưới cây bằng nước giếng trong. Thế nhưng dặn rồi nàng ta lại quên luôn. Trong một lần Cuội đi vắng, người vợ đã tưới nước bẩn cho cây thần. Cái cây cứ vậy bật gốc, dần bay lên trời. Đúng lúc đó thì Cuội trở về. Do tiếc cây, anh ta đã túm lấy rễ, cố kéo cái cây về lại nhưng vô ích. Thế là cả người cả cây bay lên cung trăng.

Qua "Sự tích chú Cuội", em đã nhận ra rằng sự sống của con người là có hạn. Thế nên chúng ta cần biết trân trọng hiện tại, đối đãi tử tế với tất cả mọi người. Có như vậy, cuộc sống mới trở nên có ý nghĩa.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 10

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Người anh tham lam, khi chia gia tài liền chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. Người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho mảnh vườn và cây khế.

Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em ra quả rất sai. Từng chùm quả chín vàng như nặng lúc lỉu trên cành. Người em nhìn cây khế mà vui mừng, tính đem bán để lấy tiền mua gạo.

Một hôm, có con chim lạ từ đâu bay đến ăn khế. Thấy cây khế bị chim ăn xơ xác người em ôm mặt khóc. Chim bỗng cất lời: “Ăn một quả trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng”

Người em nghe chim nói tiếng người lấy làm kinh ngạc, bèn về kể cho vợ nghe. Hai vợ chồng may một chiếc túi vừa đúng ba gang, chờ chim đến. Hôm sau, chim bay đến, bảo người em ngồi lên lòng mình. Chim bay rất xa, đến một hòn đảo đầy vàng bạc giữa biển khơi bao la. Người em lấy vàng bỏ đầy túi ba gang rồi lại theo chim trở về nhà. Từ đó, người em trở nên giàu có.

Người anh nghe thấy em giàu liền sang chơi và lân la hỏi chuyện. Em không giấu giếm kể lại cho anh tường tận mọi điều. Người anh nằng nặc đòi đổi nhà cửa ruộng vườn của mình lấy mảnh vườn và cây khế, người em dù không muốn nhưng thấy anh cương quyết quá cũng đành đổi cho anh.

Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu những quả vàng chín mọng, người anh khấp khởi mừng thầm, ngày ngày ngóng chờ con chim lạ tới. Thế rồi một hôm, chim tới ăn khế, người anh giả vờ khóc lóc, chim cũng nói: “Ăn một quả trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng”

Người anh nghe vậy, mừng như mở cờ trong bụng, vội vã cùng vợ may một chiếc túi to thật là to. Hôm sau chim tới đưa người anh đi lấy vàng ở hòn đảo xa lạ nọ. Nhìn thấy vàng bạc châu báu trên đảo, người anh vội vàng nhét đầy túi to, lại còn giắt khắp người. Khi người anh leo lên lưng chim, chim phải vỗ cánh mấy lần mới bay lên được. Vì quá nặng nên chim bay chậm, mãi vẫn ở trên biển. Chim bảo người anh vứt bớt vàng bạc đi nhưng anh ta không chịu. Chim nặng quá, nghiêng cánh, thế là người anh tham lam cùng túi vàng rơi xuống biển sâu, không bao giờ trở về được nữa.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 11

Tuổi thơ của mỗi người thường gắn với những câu chuyện cổ tích kì diệu. Qua những câu chuyện ấy, em không chỉ được bước vào một thế giới đầy màu sắc mà còn học được nhiều bài học về cách sống. Trong những câu chuyện em từng đọc, em thích nhất là “Cây khế”, bởi câu chuyện vừa hấp dẫn, vừa cho em hiểu rằng người sống hiền lành, biết bằng lòng với những gì mình có sẽ nhận được điều tốt đẹp, còn lòng tham quá mức có thể khiến con người phải trả giá.

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em sống cùng nhau trong một gia đình. Khi cha mẹ qua đời, người anh vốn tham lam đã tìm cách chia gia tài. Anh ta lấy gần như tất cả ruộng vườn, nhà cửa và của cải, chỉ để lại cho người em một túp lều nhỏ cùng một cây khế ở trước nhà. Người em vốn hiền lành nên không tranh giành với anh. Hai vợ chồng ngày ngày chăm chỉ làm ăn, chỉ mong cây khế ra quả để có thêm cái ăn. Đến mùa, cây khế sai trĩu quả, những chùm khế chín vàng lấp ló dưới tán lá xanh. Một hôm, bỗng có một con chim rất lớn bay đến ăn khế. Người em nhìn thấy chim ăn hết quả này đến quả khác thì buồn rầu nói: “Chim ơi, nhà ta chỉ có cây khế này làm kế sinh nhai. Chim ăn hết khế thì vợ chồng ta biết lấy gì mà sống?”. Nghe vậy, chim đáp: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!”. Người em ngạc nhiên nhưng vẫn tin lời chim. Hôm sau, chim chở người em bay đến một hòn đảo đầy vàng bạc, châu báu. Người em chỉ lấy vừa đủ số vàng mà chiếc túi ba gang có thể đựng rồi trở về. Nhờ số vàng ấy, cuộc sống của hai vợ chồng trở nên sung túc hơn. Nghe chuyện, người anh vô cùng tò mò. Anh ta tìm đến hỏi han và biết được sự việc. Lòng tham nổi lên, người anh tìm cách đổi toàn bộ gia tài của mình lấy cây khế. Người em đồng ý. Đến mùa khế chín, con chim lại bay đến ăn khế. Người anh cũng than thở với chim. Chim lại nói: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!”. Người anh mừng rỡ, lập tức may một chiếc túi thật lớn, không phải ba gang mà lớn gấp nhiều lần. Khi được chim chở ra đảo vàng, người anh thấy vàng bạc sáng lấp lánh thì hoa cả mắt. Anh ta tham lam lấy thật nhiều vàng, nhét đầy túi rồi còn cố nhét thêm vào người. Trên đường trở về, vì túi quá nặng, con chim bay chậm chạp. Khi bay qua biển, người anh mất thăng bằng, rơi xuống biển cùng số vàng tham lam của mình. Còn người em nhờ sống hiền lành, biết đủ nên có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Câu chuyện “Cây khế” tuy đã được kể từ rất lâu nhưng bài học mà câu chuyện mang lại vẫn còn nguyên giá trị. Em hiểu rằng con người cần biết sống nhân hậu, thật thà và không nên để lòng tham che mờ lí trí. Mỗi khi nhớ đến hình ảnh người anh tham lam ôm túi vàng rơi xuống biển, em lại tự nhắc mình phải biết bằng lòng, biết chia sẻ và trân trọng những gì mình đang có.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 12

Có những món quà không đắt tiền nhưng lại chứa đựng tình yêu thương vô giá. Đó có thể là một chiếc khăn mẹ đan, một hộp cơm bố chuẩn bị hay đơn giản chỉ là chiếc áo được ai đó cẩn thận đặt vào cặp cho mình. Em từng nghe một câu chuyện về một cậu bé và chiếc áo mùa đông. Câu chuyện ấy khiến em nhận ra rằng tình yêu thương đôi khi không nằm trong những lời nói lớn lao mà ẩn chứa trong những việc làm rất nhỏ bé.

Ngày ấy, có một cậu bé tên Minh sống cùng mẹ trong một căn nhà nhỏ ở cuối con phố. Gia đình không khá giả nên mẹ Minh phải làm việc rất vất vả để nuôi con ăn học. Mùa đông năm ấy đến sớm. Những cơn gió lạnh thổi qua từng con phố khiến ai cũng muốn khoác lên mình những chiếc áo thật ấm. Minh nhìn các bạn trong lớp mặc những chiếc áo mới mà trong lòng cũng ao ước có một chiếc áo đẹp. Một buổi chiều tan học, Minh chạy về nhà và nhìn thấy mẹ đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ, trước mặt là một chiếc áo len màu xanh. Minh vui mừng hỏi: “Mẹ ơi, áo này của ai vậy?”. Mẹ mỉm cười: “Của con đấy!”. Minh sung sướng mặc thử. Chiếc áo vừa vặn, mềm mại và rất ấm. Cậu chạy đến trước gương, xoay người ngắm nghía rồi cảm ơn mẹ. Tối hôm ấy, mẹ bảo Minh đi ngủ sớm vì sáng mai trời sẽ rất lạnh. Sáng hôm sau, khi Minh chuẩn bị đến trường, mẹ giúp cậu mặc áo rồi cẩn thận kéo khóa lên tận cổ. Mẹ dặn: “Trời lạnh lắm, con nhớ giữ ấm nhé!”. Minh vui vẻ chào mẹ rồi chạy đến trường. Thế nhưng, trên đường đi, Minh nhìn thấy một cậu bé nhỏ tuổi hơn đang đứng bên vỉa hè. Cậu bé chỉ mặc một chiếc áo mỏng, đôi tay tím tái vì lạnh. Nhìn thấy vậy, Minh đứng lại. Cậu sờ vào chiếc áo mới của mình rồi nhìn cậu bé. Trong lòng Minh xuất hiện một cuộc đấu tranh: cậu rất thích chiếc áo này vì đó là món quà mẹ dành cho mình, nhưng cậu cũng thương người bạn nhỏ đang run lên vì rét. Cuối cùng, Minh cởi chiếc áo ra, đưa cho cậu bé và nói: “Bạn mặc đi, mình vẫn còn áo bên trong!”. Cậu bé ngỡ ngàng rồi lí nhí cảm ơn. Minh chạy tiếp đến trường trong chiếc áo mỏng. Suốt buổi học hôm ấy, Minh cảm thấy lạnh nhưng trong lòng lại rất ấm áp. Khi về nhà, Minh kể cho mẹ nghe mọi chuyện. Minh cứ nghĩ mẹ sẽ buồn vì chiếc áo mới đã bị cho đi. Nhưng mẹ chỉ ôm Minh vào lòng, dịu dàng nói: “Mẹ không buồn đâu. Mẹ vui vì con đã biết yêu thương người khác. Một chiếc áo có thể làm con ấm trong mùa đông, nhưng một việc làm tốt có thể sưởi ấm cả một trái tim”. Nghe lời mẹ, Minh thấy lòng mình ấm áp lạ thường. Cậu hiểu rằng món quà mẹ tặng mình hôm ấy không chỉ là chiếc áo mà còn là bài học về tình yêu thương.

Câu chuyện về chiếc áo mùa đông khiến em rất xúc động. Em thích nhất lời nói của người mẹ bởi nó chứa đựng một bài học thật đẹp: biết yêu thương và sẻ chia chính là cách làm cho cuộc sống trở nên ấm áp hơn. Từ câu chuyện ấy, em tự nhắc mình phải biết quan tâm đến những người xung quanh, bởi đôi khi một hành động nhỏ cũng có thể mang đến niềm vui rất lớn cho người khác.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 13

Một buổi sáng mùa hè, khi đang ngồi bên cửa sổ, em chợt nhìn thấy một chú chim nhỏ bị thương. Hình ảnh ấy làm em nhớ đến một câu chuyện mà bà từng kể cho em nghe. Câu chuyện không có những nhân vật phi thường hay những điều kì diệu, chỉ có một cậu bé bình thường và một chú chim nhỏ. Thế nhưng, từ câu chuyện giản dị ấy, em lại hiểu thêm rất nhiều về lòng nhân ái và cách con người đối xử với muôn loài.

Ngày nọ, có một cậu bé tên Nam sống cùng bố mẹ ở một ngôi nhà nhỏ gần khu vườn. Nam rất yêu động vật, đặc biệt là những chú chim thường bay đến đậu trên cây trước cửa. Mỗi sáng, Nam thường rải một ít thóc xuống sân để những chú chim tìm đến ăn. Một hôm, sau một trận mưa lớn, Nam đang trên đường đi học về thì nghe thấy tiếng chim kêu yếu ớt từ bụi cây bên đường. Cậu tò mò tiến lại gần và phát hiện một chú chim nhỏ đang nằm dưới đất. Một bên cánh của nó bị thương, bộ lông ướt sũng. Nam thương chú chim nhưng lại sợ mình không biết cách cứu nó. Cậu nhẹ nhàng đưa chú chim về nhà rồi đặt vào một chiếc hộp có lót vải mềm. Mẹ Nam nhìn thấy vậy liền hỏi: “Con tìm thấy chú chim ở đâu?”. Nam kể lại mọi chuyện rồi xin mẹ cho mình chăm sóc nó. Mẹ đồng ý và dặn Nam phải thật nhẹ nhàng. Từ hôm đó, ngày nào Nam cũng chăm sóc chú chim. Cậu cho nó uống nước, tìm những hạt nhỏ cho nó ăn và thường xuyên kiểm tra vết thương trên cánh. Những ngày đầu, chú chim rất yếu, chỉ nằm im trong chiếc hộp. Nam lo lắng vô cùng. Cậu còn sợ chú chim sẽ không sống được. Một buổi tối, Nam ngồi bên chiếc hộp và khẽ nói: “Bạn cố lên nhé! Mình sẽ chăm sóc bạn đến khi bạn khỏe lại”. Dường như hiểu được lời cậu, chú chim khẽ cử động đôi cánh. Vài ngày sau, sức khỏe của chú chim dần tốt hơn. Nó bắt đầu đứng được, rồi tập vỗ cánh. Nam vui mừng như vừa nhận được một món quà lớn. Sau gần hai tuần, chú chim đã có thể bay những quãng ngắn. Nam biết rằng đã đến lúc trả chú về với bầu trời. Cậu mang chiếc hộp ra khu vườn, mở nắp rồi lùi lại. Chú chim đứng yên một lúc như còn lưu luyến, sau đó vỗ cánh bay lên cành cây. Nó quay đầu nhìn Nam rồi cất tiếng hót trong trẻo. Nam mỉm cười và nói: “Bay đi nhé! Hãy trở về với gia đình của bạn!”. Chú chim bay xa dần rồi khuất sau những tán cây. Nam đứng nhìn theo, trong lòng vừa vui vừa có chút buồn. Cậu hiểu rằng yêu thương một con vật không phải là giữ nó bên mình mà là giúp nó được trở về với nơi nó thuộc về.

Câu chuyện về cậu bé Nam và chú chim nhỏ đã để lại trong em một cảm xúc rất đẹp. Em hiểu rằng lòng nhân ái không chỉ dành cho con người mà còn cần được dành cho những con vật bé nhỏ quanh ta. Khi biết yêu thương và giúp đỡ, chúng ta không chỉ mang lại niềm vui cho người khác mà chính bản thân mình cũng cảm thấy hạnh phúc. Em sẽ luôn ghi nhớ bài học ấy trong cuộc sống.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 14

Ai cũng từng có lúc mắc lỗi. Điều quan trọng không phải là chúng ta chưa bao giờ sai mà là sau mỗi lần mắc lỗi, chúng ta có đủ dũng khí để nhận lỗi và sửa chữa hay không. Em từng đọc một câu chuyện về một cậu bé vì sợ bị trách phạt nên đã nói dối. Ban đầu, lời nói dối tưởng như giúp cậu thoát khỏi rắc rối, nhưng cuối cùng lại khiến cậu nhận ra một bài học mà có lẽ cậu sẽ không bao giờ quên.

Một buổi chiều, sau giờ học, cậu bé An cùng các bạn chơi bóng trong sân nhà. Vì quá mải chơi, An đá mạnh một cú khiến quả bóng bay thẳng vào cửa sổ nhà hàng xóm. “Choang!” – tiếng kính vỡ vang lên khiến cả nhóm giật mình. Mọi người im lặng nhìn nhau. An nhìn mảnh kính vỡ dưới đất, trong lòng lo sợ. Cậu biết mình là người đá quả bóng nhưng lại sợ bác hàng xóm sẽ bắt đền và sợ bố mẹ trách mắng. Một người bạn hỏi: “Bây giờ chúng ta phải làm sao?”. An im lặng một lúc rồi nói: “Cứ bảo là chúng mình không biết ai làm vỡ”. Các bạn không đồng ý nhưng An vẫn chạy về nhà. Tối hôm ấy, bố An hỏi: “Chiều nay con có làm gì khiến hàng xóm phàn nàn không?”. An cúi đầu rồi nói: “Không ạ!”. Bố nhìn An một lúc nhưng không hỏi thêm. An tưởng rằng mình đã thoát khỏi chuyện đó. Thế nhưng đêm ấy, An nằm mãi không ngủ được. Trong đầu cậu cứ vang lên tiếng kính vỡ. Cậu nhớ đến ánh mắt buồn của bác hàng xóm khi nhìn ô cửa sổ bị hỏng. Cậu cũng nhớ đến lời bố từng dặn rằng người trung thực phải biết nói đúng sự thật, dù sự thật đôi khi khiến mình phải chịu trách nhiệm. Sáng hôm sau, An quyết định nói thật. Cậu đến gặp bố và lí nhí: “Bố ơi, hôm qua con đã làm vỡ cửa kính nhà bác hàng xóm. Con sợ bị mắng nên con đã nói dối bố”. Bố im lặng một lúc. An tưởng bố sẽ nổi giận nên càng cúi thấp đầu. Nhưng cuối cùng, bố nhẹ nhàng nói: “Bố buồn vì con đã nói dối, nhưng bố vui vì con đã biết nhận lỗi. Con hãy cùng bố sang xin lỗi bác và sửa lại cửa kính”. An gật đầu. Hai bố con sang nhà hàng xóm. An thành thật kể lại mọi chuyện rồi xin lỗi bác. Bác hàng xóm nhìn cậu một lúc rồi mỉm cười: “Cháu biết nhận lỗi là tốt. Lần sau nhớ cẩn thận hơn nhé!”. An thở phào nhẹ nhõm. Trên đường trở về, cậu cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Cậu nhận ra rằng nói dối không làm lỗi lầm biến mất mà chỉ khiến lòng mình thêm nặng nề. Từ hôm ấy, An luôn cố gắng sống trung thực. Mỗi khi mắc lỗi, cậu không còn tìm cách che giấu mà dũng cảm nhận lỗi và sửa sai.

Câu chuyện “Một lần nói dối” đã cho em một bài học rất đáng nhớ về sự trung thực. Ai cũng có thể mắc lỗi, nhưng điều đáng quý là biết nhận lỗi và sửa lỗi. Em hiểu rằng một lời nói thật có thể khiến chúng ta phải đối diện với khó khăn trong chốc lát, nhưng sự trung thực sẽ giúp chúng ta nhận được niềm tin và sự yêu quý lâu dài. Từ đó, em luôn tự nhắc mình phải sống thật thà, dũng cảm và có trách nhiệm với những việc mình làm.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 15

Trong tất cả các câu chuyện cổ tích đã được học và đọc, em thích nhất là câu chuyện "Cây tre trăm đốt" trong sách Tiếng Việt lớp 4. Đây là một câu chuyện vô cùng thú vị, vừa mang màu sắc phép thuật kỳ diệu vừa dạy cho em bài học sâu sắc về sự thật thà, chăm chỉ trong cuộc sống.

Ngày xưa, có một anh nông dân tên là Khoai rất hiền lành, chăm chỉ và khỏe mạnh. Anh làm thuê cho một lão phú ông giàu có trong vùng, và lão đã hứa rằng nếu anh chăm chỉ làm việc cho lão trong ba năm thì lão sẽ cưới con gái cho anh. Tin lời hứa ấy, anh Khoai không ngần ngại gian khổ, làm việc ngày đêm không nghỉ, giúp nhà phú ông giàu có lại càng giàu có hơn. Thế nhưng, đến ngày hạn định, lão phú ông gian tham lại nuốt lời, lão bày mưu bắt anh Khoai phải vào rừng tìm bằng được một cây tre có đủ một trăm đốt về làm nheo cưới thì mới đồng ý trao con gái. Anh Khoai thật thà liền vác rựa vào rừng sâu tìm kiếm, anh chặt hết bụi tre này đến bụi tre khác nhưng chẳng thể nào tìm được cây tre nào dài đến một trăm đốt cả. Bất lực và tủi thân, anh ngồi gục xuống bên gốc cây khóc nức nở; đúng lúc ấy, Bụt hiện lên với chòm râu trắng xóa, mái tóc như tiên ông và cất tiếng hỏi nguyên do. Sau khi nghe anh Khoai kể lại sự tình, Bụt liền bảo anh đi chặt đủ một trăm đốt tre riêng lẻ xếp thành hàng, rồi dạy anh đọc câu thần chú: "Khắc nhập, khắc nhập!". Kỳ diệu thay, vừa đọc xong thì một trăm đốt tre rời liền dính chặt vào nhau tạo thành một cây tre cao vút. Khi anh đọc "Khắc xuất, khắc xuất!", cây tre lại tách ra thành từng đốt như cũ. Anh Khoai vui mừng khôn siết, gánh một trăm đốt tre trở về làng đúng lúc phú ông đang tổ chức linh đình linh đình cưới con gái cho một gã giàu có khác trong vùng. Khi bị lão phú ông cười nhạo, anh Khoai liền đọc thần chú làm cho lão và cả họ nhà lão dính chặt vào cây tre, khiến lão sợ hãi van xin và đành phải giữ đúng lời hứa ban đầu.

Câu chuyện "Cây tre trăm đốt" khép lại với một kết thúc thật có hậu làm em cảm thấy vô cùng thích thú. Qua câu chuyện này, em hiểu rằng những người ở hiền, chăm chỉ và thật thà như anh Khoai thì luôn được mọi người giúp đỡ và nhận lại hạnh phúc, còn những kẻ tham lam, dối trá thì nhất định sẽ bị trừng phạt.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 16

Mỗi khi lật mở những trang sách Lịch sử và Tiếng Việt lớp 4, lòng em lại trào dâng niềm tự hào về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc ta. Có rất nhiều gương anh hùng dũng cảm, nhưng câu chuyện về tài lặn nước phi thường và lòng yêu nước cháy bỏng của danh tướng Yết Kiêu luôn để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất.

Vào thời nhà Trần, khi giặc Nguyên Mông với lực lượng thuyền chiến hùng hậu kéo sang xâm lược nước ta, ở vùng biển Đông có một người thanh niên tên là Yết Kiêu nổi tiếng với tài bơi lặn giỏi như cá dưới nước. Không thể ngồi yên nhìn đất nước bị giày xéo, Yết Kiêu đã tìm đến gặp nhà vua để xin được ra trận đánh giặc; khi được vua hỏi muốn nhận loại vũ khí nào, ông không xin đao kiếm hay giáo mác mà chỉ xin một chiếc dùi sắt và một chiếc búa. Đêm đêm, ông lặng lẽ lặn xuống lòng biển sâu lạnh giá, nhẹ nhàng bơi đến sát những thuyền chiến to lớn của giặc Nguyên Mông rồi dùng dùi sắt đục thủng đáy thuyền. Khi nước biển tràn vào làm thuyền chìm nghỉm, quân giặc hoảng loạn đè lên nhau chết đuối mà không hề hay biết ai đã ra tay. Cứ như thế, Yết Kiêu đã một mình đánh chìm hàng chục thuyền chiến lớn nhỏ của địch, làm cho quân giặc nghe đến tên ông là hoảng sợ đến mất ăn mất ngủ. Cuối cùng, giặc phải dùng đòn bẫy giăng lưới sắt dưới biển mới bắt được ông; thế nhưng, dù bị tra tấn dã man và dụ dỗ ban cho chức cao lộc hậu, Yết Kiêu vẫn giữ vững khí tiết quật cường, lừa giặc ra bờ biển rồi thừa cơ nhảy xuống nước bơi mất trước sự bất lực của kẻ thù.

Câu chuyện về ông Yết Kiêu không chỉ giúp em hiểu thêm về một chiến công lừng lẫy trong lịch sử chống ngoại xâm, mà còn khơi dậy trong em lòng biết ơn sâu sắc đối với các vị anh hùng dân tộc. Em tự hứa sẽ cố gắng học tập thật giỏi để sau này góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 17

Ở trường, em được học rất nhiều bài học hay từ sách vở, nhưng câu chuyện đời thực về tình bạn giữa các thành viên trong lớp 4A của em vào tháng trước là kỉ niệm xúc động nhất mà em không bao giờ quên. Đó là câu chuyện về chiếc dải băng keo và đôi dép nhựa cũ của bạn Nam.

Nam là một học sinh giỏi nhưng hoàn cảnh gia đình bạn vô cùng khó khăn, bố mẹ Nam đều làm phụ hồ nên hằng ngày Nam vẫn mang đôi dép nhựa đã ngả màu vàng đục và bị đứt quai phải dùng dây đồng quấn lại để đi học. Hôm ấy, vào giờ ra chơi, khi cả lớp đang cùng nhau chơi trò nhảy dây ngoài sân trường thì đôi dép cũ kỹ của Nam lại tiếp tục bị đứt quai làm Nam sẩy chân ngã rụi. Nhìn bạn lặng lẽ ôm đôi dép hỏng, mắt rơm rớm nước vì ngại ngùng với các bạn xung quanh, bác cán bộ lớp là bạn Minh liền chạy lại an ủi rồi nảy ra một ý tưởng tuyệt vời. Minh thì thầm trao đổi với cô giáo chủ nhiệm và các bạn trong lớp, sau đó cả lớp quyết định dùng số tiền quỹ nhỏ tích góp từ việc thu gom kế hoạch nhỏ để mua tặng Nam một đôi dép mới. Sáng thứ Hai tuần sau, trong giờ sinh hoạt lớp, cô giáo đã thay mặt cả lớp trao tận tay Nam một đôi sandal mới tinh, vừa vặn và xinh xắn. Khỏi phải nói Nam đã xúc động đến nhường nào, đôi mắt bạn đỏ xè, môi run run gửi lời cảm ơn đến cô giáo và tất cả các bạn trong lớp, còn cả lớp em thì vỗ tay reo hò rộn rã trong một không gian tràn ngập tình yêu thương.

Câu chuyện nhỏ ấy đã trôi qua được vài tuần nhưng đôi dép mới của Nam vẫn luôn được bạn giữ gìn cẩn thận mỗi ngày. Qua sự việc này, em cảm nhận được rằng tình bạn dưới mái trường tiểu học thật trong sáng và ấm áp, giúp em biết mở lòng chia sẻ và quan tâm nhiều hơn đến những người bạn xung quanh mình.

Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe - mẫu 18

Trong cuộc sống, có những bài học tưởng chừng như rất đơn giản nhưng lại đi theo chúng ta suốt cả cuộc đời. Mỗi khi gặp một công việc khó khăn cần sự kiên trì, em lại nhớ ngay đến câu chuyện ngụ ngôn "Thỏ và Rùa" mà em đã được cô giáo kể cho nghe từ những ngày đầu bước vào tiểu học.

Ngày xưa, trong một khu rừng xanh tươi, Thỏ là loài vật nổi tiếng chạy nhanh nên lúc nào cũng ngông nghênh, tự cao tự đại và hay chê bai các con vật khác. Một buổi sáng, thấy Rùa đang chậm chạp từng bước nhích từng chút một trên đường, Thỏ liền tiến lại gần và cất giọng mỉa mai, giễu cợt sự chậm chạp của Rùa. Bị Thỏ coi thường, Rùa không hề tức giận mà bình tĩnh đề nghị một cuộc thi chạy ng ngửa xem ai sẽ là người chạm vạch đích ở ngọn núi phía xa trước. Thỏ ta nghe xong thì cất tiếng cười ngất ngưỡng, tưởng Rùa bị ngốc nên vui vẻ nhận lời ngay lập tức để làm trò cười cho cả khu rừng. Khi tiếng hô xuất phát của bác Gấu vang lên, Rùa biết mình sức yếu nên không dòm ngó xung quanh, cứ cắm đầu cắm cổ cật lực nhích từng bước một về phía trước. Trong khi đó, Thỏ cậy mình chạy nhanh nên thong dong bắt bướm, hái hoa, rồi nằm khểnh dưới một gốc cây mát rượi để đánh một giấc ngủ ngon lành vì tin chắc rằng mình chỉ cần vút một cái là đến đích. Nào ngờ, Thỏ ngủ quá say, đến khi tỉnh dậy thì mặt trời đã bắt đầu lặn; nhìn về phía vạch đích, Thỏ hoảng hốt thấy Rùa đã chạm chân vào vạch chiến thắng trong tiếng reo hò cổ vũ nồng nhiệt của tất cả các loài vật, khiến Thỏ chỉ biết xấu hổ muối mặt xé đám cỏ rồi lủi mất vào rừng sâu.

Câu chuyện "Thỏ và Rùa" đem lại cho em một bài học vô cùng sâu sắc về thái độ sống. Câu chuyện nhắc nhở em dù trong học tập hay bất cứ công việc gì cũng không được chủ quan, kiêu ngạo như Thỏ, mà phải luôn kiên trì, nhẫn nại và nỗ lực hết mình như Rùa thì mới có thể đạt được thành công.

Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 4 hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 4 hay khác:

Loạt bài Soạn, giải Tiếng Việt lớp 4 của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Tiếng Việt lớp 4 Tập 1 và Tập 2 Kết nối tri thức (NXB Giáo dục).