10+ Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước

a) Mở bài:

- Dẫn dắt: Mùa thu luôn là nguồn thi hứng bất tận trong văn học, mang đến những rung cảm tinh tế cho các thi nhân.

- Giới thiệu tác phẩm và tác giả: Giới thiệu bài thơ "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu (đại diện tiêu biểu cho phong trào Thơ mới) và "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi (đại diện cho thơ ca thời kì kháng chiến).

- Nêu vấn đề cần nghị luận: So sánh, đánh giá vẻ đẹp của hai bức tranh mùa thu để thấy được sự khác biệt về phong cách nghệ thuật và cảm hứng thời đại của hai tác giả.

b) Thân bài:

1. Khái quát chung

- Hoàn cảnh sáng tác:

+ Đây mùa thu tới: Sáng tác năm 1938, in trong tập "Thơ thơ", thể hiện cái tôi cá nhân, nhạy cảm trước sự đổi thay của đất trời.

+ Đất nước: Sáng tác giai đoạn 1948 - 1955, mang đậm âm hưởng sử thi, ca ngợi tự do và chiến thắng của dân tộc.

Quảng cáo

2. So sánh chi tiết bức tranh mùa thu

a. Bức tranh mùa thu trong "Đây mùa thu tới" (Xuân Diệu)

- Không gian nghệ thuật: Rộng lớn nhưng quạnh hiu, vắng lặng, nhuốm màu thời gian.

- Đường nét, màu sắc, âm thanh: Tỉ mỉ, tinh tế nhưng đượm buồn. Rặng liễu buồn, áo mơ phàng, rụng chiếc lá vàng, tiếng chim kêu rụng. Mùa thu được cảm nhận từ lúc chớm thu với những dấu hiệu đầu tiên đến khi thu sâu.

- Tâm trạng: Cảm giác bâng khuâng, cô đơn, dự cảm về sự phai tàn, mất mát của cái tôi Thơ mới. Mùa thu gắn liền với tâm trạng li biệt, buồn bã.

b. Bức tranh mùa thu trong "Đất nước" (Nguyễn Đình Thi)

- Không gian nghệ thuật: Mùa thu Hà Nội và chiến khu Việt Bắc, gắn liền với không gian tự do, rộng mở của quê hương đất nước.

- Đường nét, màu sắc, âm thanh: Tươi sáng, khỏe khoắn và đầy sức sống. Mùa thu "trong biếc nói cười thiết tha", sáng chói, phơi phới niềm vui. Có sự kết hợp giữa nét hoài niệm và hiện thực cách mạng hào hùng.

Quảng cáo

- Tâm trạng: Niềm tự hào, tình yêu quê hương đất nước thiết tha và ý chí chiến đấu bất khuất. Mùa thu là biểu tượng của sự hồi sinh và độc lập dân tộc.

3. Đánh giá, bàn luận (Điểm tương đồng và khác biệt)

- Điểm tương đồng:

+ Cả hai bài thơ đều khắc họa thành công vẻ đẹp đặc trưng của mùa thu Việt Nam (thiên nhiên mang đậm hồn thu).

+ Cảnh sắc thiên nhiên đều mang đậm dấu ấn tâm trạng của con người (thiên nhiên là bức tranh tâm cảnh).

- Điểm khác biệt:

 + Nguyên nhân: Do hoàn cảnh lịch sử (trước và sau Cách mạng tháng Tám) và thế giới quan nghệ thuật khác nhau.

+ Xuân Diệu: Mùa thu mang cái nhìn cá nhân, hướng nội, giàu cảm xúc lãng mạn. Nghệ thuật đậm chất tạo hình, âm điệu dồn dập, ngân vang.

+ Nguyễn Đình Thi: Mùa thu mang cái nhìn cộng đồng, hướng ngoại, giàu cảm hứng sử thi. Nghệ thuật tự do, hình ảnh thơ giàu sức gợi, câu thơ vắt dòng thể hiện sự phóng khoáng.

Quảng cáo

c) Kết bài:

- Khẳng định lại vấn đề: Khẳng định tài năng của cả Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi khi cùng viết về mùa thu nhưng mang lại hai giá trị thẩm mỹ, hai cảm xúc hoàn toàn khác biệt.

- Ý nghĩa: Mỗi bức tranh là một viên ngọc quý của thi ca Việt Nam, minh chứng cho sự vận động, phát triển tất yếu và phong phú của nền văn học dân tộc.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 1

Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam, mùa thu luôn là nguồn cảm hứng bất tận đối với các thi nhân. Nếu mùa xuân tượng trưng cho sức sống và khởi đầu, thì mùa thu lại gợi những rung động tinh tế nhất của tâm hồn con người. Từ thơ trung đại đến thơ hiện đại, mỗi nhà thơ đều mang đến một sắc thái riêng khi cảm nhận mùa thu. Có người tìm thấy trong thu nỗi buồn chia ly, sự mong manh của thời gian; có người lại nhìn thấy trong thu sức sống của dân tộc và niềm tin vào tương lai. Bởi vậy, cùng viết về mùa thu nhưng Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã khắc họa hai bức tranh thu hoàn toàn khác biệt. Một bên là mùa thu của cái tôi lãng mạn, nhạy cảm trước bước đi của thời gian; một bên là mùa thu của đất nước, của lịch sử và tinh thần dân tộc. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp đa dạng của thiên nhiên mà còn thấy rõ phong cách nghệ thuật và tư tưởng của mỗi nhà thơ.

Trước hết, cả hai bài thơ đều lấy mùa thu làm điểm tựa cảm xúc để thể hiện những rung động sâu sắc trước thiên nhiên và cuộc đời. Ở cả Xuân Diệu lẫn Nguyễn Đình Thi, mùa thu không đơn thuần là một hiện tượng của đất trời mà đã trở thành một hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa. Các nhà thơ đều có khả năng cảm nhận tinh tế những biến chuyển của cảnh vật, từ đó gửi gắm tâm trạng và suy tư riêng. Tuy nhiên, điểm gặp gỡ ấy chỉ là nền tảng để làm nổi bật sự khác biệt trong cách nhìn, cách cảm và cách thể hiện của hai tác giả.

Trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu mở ra một bức tranh thu nhuốm màu buồn bã, cô đơn:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.”

Chỉ với hai câu thơ đầu, nhà thơ đã tạo nên một không gian đầy tâm trạng. Hình ảnh rặng liễu vốn mềm mại, duyên dáng nay hiện lên như một con người đang chịu tang. Biện pháp nhân hóa kết hợp với từ láy “đìu hiu” khiến cảnh vật như thấm đẫm nỗi buồn. Những cành liễu rủ xuống được liên tưởng thành “tóc buồn”, còn những giọt sương long lanh hóa thành “lệ ngàn hàng”. Cảnh thu vì thế mang màu sắc tang tóc, gợi cảm giác chia lìa, mất mát.

Đặc biệt, Xuân Diệu không miêu tả mùa thu ở trạng thái đã ổn định mà tập trung vào khoảnh khắc giao mùa:

“Đây mùa thu tới – mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

Tiếng reo “đây mùa thu tới” tưởng như vui mừng nhưng thực chất lại chất chứa sự ngỡ ngàng, tiếc nuối. Nhà thơ cảm nhận được bước chân rất khẽ của thời gian. Mùa thu hiện lên với “áo mơ phai”, một sắc màu nhạt nhòa, gợi sự tàn phai hơn là rực rỡ. Những chiếc lá vàng không chỉ báo hiệu sự thay đổi của thiên nhiên mà còn gợi nhắc quy luật nghiệt ngã của đời người: tuổi trẻ rồi sẽ qua đi.

Bức tranh thu tiếp tục được mở rộng bằng những gam màu lạnh và những chuyển động mong manh:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành,

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.”

Thiên nhiên đang bước vào quá trình tàn úa. Động từ “rũa” được sử dụng đầy sáng tạo, khiến sự biến đổi của màu sắc trở nên hữu hình như một quá trình bào mòn âm thầm nhưng không thể cưỡng lại. Từ hoa cỏ đến bầu trời, từ cành cây đến cánh chim, tất cả đều thấm đượm cảm giác chia ly và phôi pha.

Có thể nói, mùa thu trong thơ Xuân Diệu là mùa thu của cái tôi cá nhân. Đằng sau cảnh vật là tâm trạng bâng khuâng, lo âu trước sự chảy trôi của thời gian. Nhà thơ cảm nhận rất rõ sự hữu hạn của tuổi trẻ và cuộc sống. Chính vì yêu tha thiết cuộc đời nên ông càng sợ mất mát, càng nhạy cảm trước những dấu hiệu của sự tàn phai. Bức tranh mùa thu vì thế mang vẻ đẹp lãng mạn nhưng cũng chất chứa nỗi buồn sâu kín, tiêu biểu cho cảm hứng của phong trào Thơ mới.

Nếu mùa thu trong thơ Xuân Diệu mang sắc thái riêng tư, thì mùa thu trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại gắn liền với vận mệnh dân tộc và cảm hứng sử thi. Nhà thơ cũng bắt đầu từ những cảm nhận về thiên nhiên:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.”

Khung cảnh hiện lên trong trẻo, thanh sạch và đầy sức sống. Không còn màu sắc tàn phai hay cảm giác chia lìa, mùa thu ở đây mang vẻ đẹp bình yên, thân thuộc của quê hương. Hương cốm mới gợi nhớ đến mùa thu Hà Nội, gợi cả chiều sâu văn hóa dân tộc. Thiên nhiên được cảm nhận bằng nhiều giác quan, tạo nên một không gian vừa cụ thể vừa giàu cảm xúc.

Đặc biệt, Nguyễn Đình Thi đã khắc họa một mùa thu hoàn toàn mới:

“Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi.”

Từ “khác rồi” đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cảm hứng thơ. Nếu mùa thu xưa gắn với nỗi đau mất nước, với những ngày tháng nô lệ, thì mùa thu nay là mùa thu của độc lập, tự do. Cảm xúc chủ đạo không còn là buồn thương mà là niềm vui, niềm tự hào.

Bức tranh thu được mở rộng với tầm vóc lớn lao:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta.”

Điệp ngữ “của chúng ta” vang lên mạnh mẽ như một lời khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc. Thiên nhiên không chỉ là cảnh sắc mà đã trở thành biểu tượng của đất nước độc lập. Mùa thu hiện lên rộng lớn, khoáng đạt, mang tầm vóc sử thi.

Không dừng lại ở vẻ đẹp hiện tại, Nguyễn Đình Thi còn nhìn mùa thu trong chiều sâu lịch sử:

“Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất.”

Từ cảm xúc trước thiên nhiên, nhà thơ hướng tới ca ngợi sức mạnh bất diệt của dân tộc Việt Nam. Mùa thu không còn là mùa của riêng một cá nhân mà là mùa thu của đất nước, của nhân dân, của truyền thống anh hùng trải dài qua bao thế hệ.

Đặt hai bức tranh mùa thu cạnh nhau, có thể thấy những điểm khác biệt rất rõ nét. Trước hết là sự khác biệt về cảm hứng chủ đạo. Mùa thu trong Đây mùa thu tới là mùa thu của nỗi buồn cá nhân, của sự lo âu trước bước đi của thời gian. Trong khi đó, mùa thu trong Đất nước là mùa thu của niềm vui, niềm tự hào dân tộc và ý thức làm chủ đất nước.

Khác biệt thứ hai nằm ở không gian nghệ thuật. Xuân Diệu tập trung vào những chi tiết nhỏ bé, tinh vi như cành liễu, chiếc lá, bông hoa, cánh chim. Thiên nhiên được nhìn qua lăng kính cảm xúc cá nhân nên mang màu sắc chủ quan đậm nét. Ngược lại, Nguyễn Đình Thi mở rộng không gian đến núi rừng, bầu trời, đất nước. Thiên nhiên mang tầm vóc lớn lao, gắn với cộng đồng và lịch sử dân tộc.

Về nghệ thuật, Xuân Diệu nổi bật với bút pháp lãng mạn, giàu tính tượng trưng và nhân hóa. Ngôn ngữ thơ mềm mại, tinh tế, giàu nhạc điệu. Nguyễn Đình Thi lại thiên về giọng điệu hào sảng, mạnh mẽ; hình ảnh thơ giản dị nhưng có sức khái quát lớn. Nếu thơ Xuân Diệu đi sâu vào thế giới nội tâm thì thơ Nguyễn Đình Thi hướng tới những giá trị chung của dân tộc và thời đại.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử và quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà thơ. Xuân Diệu là gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám, khi cái tôi cá nhân được giải phóng và trở thành trung tâm của cảm xúc. Nguyễn Đình Thi lại là nhà thơ trưởng thành trong cách mạng và kháng chiến, mang trong mình cảm hứng công dân, cảm hứng dân tộc sâu sắc. Vì vậy, cùng là mùa thu nhưng mỗi người đã phát hiện một vẻ đẹp riêng, góp phần làm phong phú diện mạo thơ ca Việt Nam.

Tóm lại, bức tranh mùa thu trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đất nước của Nguyễn Đình Thi là hai bức tranh nghệ thuật đặc sắc, vừa có sự gặp gỡ vừa có sự khác biệt sâu sắc. Một bên là mùa thu của nỗi buồn thời gian và tâm hồn cá nhân; một bên là mùa thu của độc lập, tự do và niềm tự hào dân tộc. Qua hai tác phẩm, người đọc càng cảm nhận rõ vẻ đẹp muôn màu của mùa thu trong thơ ca Việt Nam, đồng thời thấy được tài năng và dấu ấn phong cách riêng của mỗi nhà thơ. Chính những cách cảm nhận khác nhau ấy đã làm nên sức sống lâu bền của thi ca, nơi thiên nhiên không chỉ được ngắm nhìn mà còn được sống cùng những rung động sâu xa nhất của con người và thời đại.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 2

Trong kho tàng thơ ca Việt Nam hiện đại, mùa thu luôn là nguồn thi hứng dạt dào, khơi gợi những cảm xúc tinh tế của thi nhân. Hai bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu (trước Cách mạng Tháng Tám) và đoạn thơ về mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi (sáng tác trong kháng chiến chống Pháp) đều khắc họa bức tranh mùa thu Việt Nam, nhưng qua lăng kính cảm xúc và bối cảnh lịch sử khác nhau, tạo nên những giá trị nghệ thuật và tư tưởng riêng biệt. Việc so sánh hai bức tranh ấy không chỉ giúp làm nổi bật tài năng miêu tả thiên nhiên của hai nhà thơ mà còn phản ánh sự chuyển biến trong quan niệm về con người và đất nước qua các giai đoạn lịch sử.

Trước hết, bức tranh mùa thu trong “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu mang đậm màu sắc buồn man mác, gợi nỗi cô đơn, chia ly của cái tôi cá nhân. Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rặng liễu “đìu hiu đứng chịu tang”, “tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Mùa thu đến không rực rỡ mà nhuốm vẻ tang tóc: “Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Những chi tiết như “hơn một loài hoa đã rụng cành”, “những luồng run rẩy rung rinh lá”, “đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”, “rét mướt luồn trong gió”, “đã vắng người sang những chuyến đò”... tạo nên một không gian u uất, hiu hắt. Mây “vẩn từng không”, chim bay đi, khí trời “u uất hận chia ly”, thiếu nữ “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Tất cả hội tụ thành bức tranh thu tàn tạ, phai nhạt, nơi sự chia ly ngự trị.

Nghệ thuật miêu tả của Xuân Diệu tinh tế, giàu sức gợi. Ông sử dụng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ (“rặng liễu chịu tang”, “áo mơ phai dệt lá vàng”) kết hợp với cảm giác đa chiều (thị giác, thính giác, xúc giác) để khắc họa sự chuyển mình mong manh của thiên nhiên. Màu vàng chủ đạo vừa đẹp vừa buồn, vừa thực vừa ảo, thể hiện cái nhìn “xanh non” của thi sĩ Thơ Mới. Bức tranh thu không chỉ là cảnh vật mà còn là tâm trạng: nỗi buồn muôn thuở của kiếp người trước sự vô thường, đồng thời là nỗi buồn thời đại của thế hệ trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng – yêu đời tha thiết nhưng chưa tìm thấy lối thoát, cô đơn giữa cuộc sống. Xuân Diệu đã thổi vào mùa thu một vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng nhưng đầy xót xa, khẳng định tài năng “vua thơ tình” trong việc giao cảm giữa cái tôi và vũ trụ.

Ngược lại, bức tranh mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi mang sắc thái tươi sáng, tràn đầy sức sống và niềm vui chiến thắng. Bài thơ không chuyên viết về mùa thu nhưng cảm hứng đất nước lại bắt nguồn từ mùa thu – biểu tượng của quê hương. Phần đầu gợi nhớ mùa thu xưa: “Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Đó là mùa thu Hà Nội xao xác: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội / Những phố dài xao xác hơi may / Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Nỗi buồn chia ly vẫn hiện diện nhưng chỉ là thoáng qua, gắn với tinh thần “ra đi vì nghĩa lớn”.

Đến mùa thu hiện tại ở chiến khu, bức tranh thay đổi hoàn toàn: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha”. Mùa thu được nhân hóa, rạng rỡ, tươi vui. Không gian mở rộng bao la: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta / Những cánh đồng thơm mát / Những ngả đường bát ngát / Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Hình ảnh thiên nhiên hòa quyện với con người, mang hơi thở của dân tộc kháng chiến. Nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi giàu nhịp điệu, câu thơ ngắn dài linh hoạt, âm hưởng hùng tráng, lạc quan. Mùa thu không còn là nỗi buồn cá nhân mà trở thành biểu tượng của sức sống dân tộc, của tinh thần “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

So sánh hai bức tranh, ta thấy sự khác biệt rõ nét. Về màu sắc và không khí: Xuân Diệu dùng gam màu vàng úa, xám xịt, lạnh lẽo để vẽ nên thu buồn; Nguyễn Đình Thi dùng màu xanh biếc, vàng óng của cốm mới, ánh sáng rực rỡ để khắc họa thu vui. Về không gian: một bên hẹp hòi, cô quạnh (rặng liễu, vườn hoa, chuyến đò); bên kia rộng lớn, bao la (núi đồi, cánh đồng, sông ngòi). Về cảm xúc: Xuân Diệu thể hiện nỗi buồn man mác của cái tôi cá nhân, khao khát yêu đời trong cô đơn; Nguyễn Đình Thi truyền tải niềm vui chung của dân tộc, ý thức sở hữu đất nước sau Cách mạng. Về bối cảnh: Xuân Diệu sáng tác trong thời kỳ thuộc địa, tâm trạng u uất; Nguyễn Đình Thi viết trong kháng chiến, tràn đầy lạc quan cách mạng.

Tuy nhiên, hai bức tranh cũng có điểm gặp gỡ. Cả hai đều thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, dùng mùa thu để gửi gắm tâm tư. Xuân Diệu dù buồn vẫn thấy vẻ đẹp “mơ phai” của lá vàng; Nguyễn Đình Thi dù ở chiến khu vẫn nhớ hương cốm mới của mùa thu xưa. Điều này chứng tỏ truyền thống thơ ca Việt Nam luôn gắn thiên nhiên với con người, cảnh với tình.

Qua so sánh, ta thấy giá trị nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc của hai tác phẩm. “Đây mùa thu tới” là kiệt tác Thơ Mới, khắc họa cái tôi cá nhân tài hoa, đa cảm. “Đất nước” là bài thơ cách mạng xuất sắc, thể hiện tinh thần dân tộc mới. Sự chuyển biến từ thu buồn cá nhân sang thu vui dân tộc phản ánh hành trình lịch sử dân tộc: từ u uất thuộc địa đến rực rỡ độc lập. Hai bài thơ bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu sâu hơn về vẻ đẹp đa chiều của mùa thu Việt Nam và sức sống bất diệt của văn học.

Tóm lại, bức tranh mùa thu trong hai bài thơ là minh chứng sống động cho tài năng miêu tả thiên nhiên và khả năng phản ánh hiện thực của văn học. Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng thơ ca dân tộc, để lại những bài học quý giá về cách cảm nhận cuộc sống và đất nước qua lăng kính nghệ thuật

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 3

Trong kho tàng thơ ca Việt Nam hiện đại, mùa thu luôn là nguồn thi hứng dạt dào, khơi gợi những cảm xúc tinh tế của thi nhân. Hai bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu (trước Cách mạng Tháng Tám) và đoạn thơ về mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi (sáng tác trong kháng chiến chống Pháp) đều khắc họa bức tranh mùa thu Việt Nam, nhưng qua lăng kính cảm xúc và bối cảnh lịch sử khác nhau, tạo nên những giá trị nghệ thuật và tư tưởng riêng biệt. Việc so sánh hai bức tranh ấy không chỉ giúp làm nổi bật tài năng miêu tả thiên nhiên của hai nhà thơ mà còn phản ánh sự chuyển biến trong quan niệm về con người và đất nước qua các giai đoạn lịch sử.

Trước hết, bức tranh mùa thu trong “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu mang đậm màu sắc buồn man mác, gợi nỗi cô đơn, chia ly của cái tôi cá nhân. Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh rặng liễu “đìu hiu đứng chịu tang”, “tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Mùa thu đến không rực rỡ mà nhuốm vẻ tang tóc: “Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Những chi tiết như “hơn một loài hoa đã rụng cành”, “những luồng run rẩy rung rinh lá”, “đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”, “rét mướt luồn trong gió”, “đã vắng người sang những chuyến đò”... tạo nên một không gian u uất, hiu hắt. Mây “vẩn từng không”, chim bay đi, khí trời “u uất hận chia ly”, thiếu nữ “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”. Tất cả hội tụ thành bức tranh thu tàn tạ, phai nhạt, nơi sự chia ly ngự trị.

Nghệ thuật miêu tả của Xuân Diệu tinh tế, giàu sức gợi. Ông sử dụng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ (“rặng liễu chịu tang”, “áo mơ phai dệt lá vàng”) kết hợp với cảm giác đa chiều (thị giác, thính giác, xúc giác) để khắc họa sự chuyển mình mong manh của thiên nhiên. Màu vàng chủ đạo vừa đẹp vừa buồn, vừa thực vừa ảo, thể hiện cái nhìn “xanh non” của thi sĩ Thơ Mới. Bức tranh thu không chỉ là cảnh vật mà còn là tâm trạng: nỗi buồn muôn thuở của kiếp người trước sự vô thường, đồng thời là nỗi buồn thời đại của thế hệ trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng – yêu đời tha thiết nhưng chưa tìm thấy lối thoát, cô đơn giữa cuộc sống. Xuân Diệu đã thổi vào mùa thu một vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng nhưng đầy xót xa, khẳng định tài năng “vua thơ tình” trong việc giao cảm giữa cái tôi và vũ trụ.

Ngược lại, bức tranh mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi mang sắc thái tươi sáng, tràn đầy sức sống và niềm vui chiến thắng. Bài thơ không chuyên viết về mùa thu nhưng cảm hứng đất nước lại bắt nguồn từ mùa thu – biểu tượng của quê hương. Phần đầu gợi nhớ mùa thu xưa: “Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Đó là mùa thu Hà Nội xao xác: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội / Những phố dài xao xác hơi may / Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Nỗi buồn chia ly vẫn hiện diện nhưng chỉ là thoáng qua, gắn với tinh thần “ra đi vì nghĩa lớn”.

Đến mùa thu hiện tại ở chiến khu, bức tranh thay đổi hoàn toàn: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha”. Mùa thu được nhân hóa, rạng rỡ, tươi vui. Không gian mở rộng bao la: “Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta / Những cánh đồng thơm mát / Những ngả đường bát ngát / Những dòng sông đỏ nặng phù sa”. Hình ảnh thiên nhiên hòa quyện với con người, mang hơi thở của dân tộc kháng chiến. Nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi giàu nhịp điệu, câu thơ ngắn dài linh hoạt, âm hưởng hùng tráng, lạc quan. Mùa thu không còn là nỗi buồn cá nhân mà trở thành biểu tượng của sức sống dân tộc, của tinh thần “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”.

So sánh hai bức tranh, ta thấy sự khác biệt rõ nét. Về màu sắc và không khí: Xuân Diệu dùng gam màu vàng úa, xám xịt, lạnh lẽo để vẽ nên thu buồn; Nguyễn Đình Thi dùng màu xanh biếc, vàng óng của cốm mới, ánh sáng rực rỡ để khắc họa thu vui. Về không gian: một bên hẹp hòi, cô quạnh (rặng liễu, vườn hoa, chuyến đò); bên kia rộng lớn, bao la (núi đồi, cánh đồng, sông ngòi). Về cảm xúc: Xuân Diệu thể hiện nỗi buồn man mác của cái tôi cá nhân, khao khát yêu đời trong cô đơn; Nguyễn Đình Thi truyền tải niềm vui chung của dân tộc, ý thức sở hữu đất nước sau Cách mạng. Về bối cảnh: Xuân Diệu sáng tác trong thời kỳ thuộc địa, tâm trạng u uất; Nguyễn Đình Thi viết trong kháng chiến, tràn đầy lạc quan cách mạng.

Tuy nhiên, hai bức tranh cũng có điểm gặp gỡ. Cả hai đều thể hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, dùng mùa thu để gửi gắm tâm tư. Xuân Diệu dù buồn vẫn thấy vẻ đẹp “mơ phai” của lá vàng; Nguyễn Đình Thi dù ở chiến khu vẫn nhớ hương cốm mới của mùa thu xưa. Điều này chứng tỏ truyền thống thơ ca Việt Nam luôn gắn thiên nhiên với con người, cảnh với tình.

Qua so sánh, ta thấy giá trị nghệ thuật và tư tưởng sâu sắc của hai tác phẩm. “Đây mùa thu tới” là kiệt tác Thơ Mới, khắc họa cái tôi cá nhân tài hoa, đa cảm. “Đất nước” là bài thơ cách mạng xuất sắc, thể hiện tinh thần dân tộc mới. Sự chuyển biến từ thu buồn cá nhân sang thu vui dân tộc phản ánh hành trình lịch sử dân tộc: từ u uất thuộc địa đến rực rỡ độc lập. Hai bài thơ bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu sâu hơn về vẻ đẹp đa chiều của mùa thu Việt Nam và sức sống bất diệt của văn học.

Tóm lại, bức tranh mùa thu trong hai bài thơ là minh chứng sống động cho tài năng miêu tả thiên nhiên và khả năng phản ánh hiện thực của văn học. Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng thơ ca dân tộc, để lại những bài học quý giá về cách cảm nhận cuộc sống và đất nước qua lăng kính nghệ thuật

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 4

Trong dòng chảy bất tận của thi ca dân tộc, mùa thu luôn là nguồn cảm hứng đặc biệt đối với các thi nhân. Nếu mùa xuân tượng trưng cho sức sống, mùa hạ biểu hiện cho sự sôi nổi thì mùa thu lại gợi lên những rung động tinh tế nhất của tâm hồn con người. Từ thơ trung đại đến thơ hiện đại, mùa thu hiện lên với nhiều sắc thái khác nhau: khi thanh sơ, tĩnh lặng; khi buồn thương, cô quạnh; khi lại tràn đầy niềm vui và khát vọng. Mỗi nhà thơ mang đến cho mùa thu một linh hồn riêng, phản chiếu thế giới nội tâm và quan niệm nghệ thuật của mình. Trong phong trào Thơ mới, Xuân Diệu đã khắc họa một mùa thu đượm buồn, thấm thía nỗi ám ảnh về thời gian qua bài thơ Đây mùa thu tới. Còn trong nền thơ ca cách mạng, Nguyễn Đình Thi lại dựng lên một mùa thu tươi sáng, hùng tráng trong bài thơ Đất nước. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta không chỉ thấy sự khác biệt trong cách cảm nhận thiên nhiên mà còn nhận ra sự vận động của cái tôi thi ca từ nỗi buồn cá nhân đến niềm vui lớn lao của dân tộc.

Trước hết, cả hai bài thơ đều lấy mùa thu làm đối tượng thẩm mĩ trung tâm và đều thể hiện khả năng cảm nhận thiên nhiên tinh tế của người nghệ sĩ. Thiên nhiên mùa thu trong cả hai tác phẩm không chỉ là cảnh vật khách quan mà còn là sự phản chiếu tâm trạng, tư tưởng của chủ thể trữ tình. Tuy nhiên, từ cùng một chất liệu là mùa thu, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đã tạo nên hai bức tranh hoàn toàn khác biệt về màu sắc, âm hưởng và ý nghĩa.

Trong Đây mùa thu tới, Xuân Diệu mở ra một bức tranh thu đầy dấu hiệu của sự tàn phai, chia lìa:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.”

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, mùa thu đã xuất hiện trong không khí tang tóc, ảm đạm. Hình ảnh rặng liễu vốn mềm mại, duyên dáng được nhân hóa thành con người đang “chịu tang”, mái tóc buồn rũ xuống như những dòng lệ. Cách dùng từ “đìu hiu”, “chịu tang”, “lệ ngàn hàng” tạo nên cảm giác u buồn sâu lắng. Mùa thu không đến bằng vẻ đẹp trong trẻo mà đến như một cuộc tiễn đưa, báo hiệu sự tàn úa của thiên nhiên.

Không gian thu tiếp tục được mở rộng bằng những gam màu nhạt và lạnh:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành,

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.”

Những bông hoa rụng khỏi cành, màu xanh bị bào mòn bởi sắc đỏ của thời gian. Động từ “rũa” được sử dụng đầy sáng tạo, khiến màu sắc như đang bị thời gian âm thầm gặm nhấm. Thiên nhiên vận động theo chiều hướng suy tàn, mọi sự sống dường như đang đi đến điểm kết thúc.

Đặc biệt, Xuân Diệu cảm nhận mùa thu bằng tâm thế của một cái tôi luôn lo sợ trước bước đi của thời gian. Với ông, mùa thu là biểu tượng của sự già nua, mất mát. Cảnh vật vì thế nhuốm màu tâm trạng:

“Những luồng run rẩy rung rinh lá,

Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.”

Những chiếc lá run rẩy trước gió thu cũng giống như tâm hồn thi sĩ đang bâng khuâng trước sự đổi thay của tạo hóa. Mùa thu hiện lên mong manh, yếu ớt, chất chứa nỗi buồn nhân sinh. Đó là cái buồn của con người ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của đời sống, về quy luật không thể cưỡng lại của thời gian.

Nếu bức tranh thu của Xuân Diệu mang gam màu xám lạnh, thì mùa thu trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại hiện lên tươi sáng, trong trẻo và giàu sức sống:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.”

Chỉ với hai câu thơ, nhà thơ đã gợi ra một không gian thu thanh sạch, dịu dàng. Cảm nhận bằng nhiều giác quan, Nguyễn Đình Thi không chỉ nhìn thấy ánh sáng trong trẻo mà còn cảm nhận được hương thơm đặc trưng của mùa thu Hà Nội. Hình ảnh “hương cốm mới” mang đậm bản sắc dân tộc, gợi nhớ những nét đẹp bình dị của quê hương đất nước.

Mùa thu ấy còn gắn với ký ức lịch sử thiêng liêng:

“Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại.”

Cũng là gió thu nhưng không còn gợi buồn thương như trong thơ Xuân Diệu. Gió thu ở đây trở thành chứng nhân của một thời đại, gắn với hình ảnh người chiến sĩ ra đi vì độc lập dân tộc. Nỗi buồn nếu có chỉ là nỗi buồn đẹp, được nâng đỡ bởi lí tưởng lớn lao.

Đặc biệt, ở phần sau của bài thơ, mùa thu được nhìn từ hiện tại cách mạng:

“Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi.”

Từ “khác rồi” là điểm nhấn quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến trong cảm nhận. Mùa thu không còn là mùa thu của mất nước, nô lệ mà là mùa thu của tự do và độc lập. Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên bằng niềm vui, niềm tự hào:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta.”

Điệp ngữ “của chúng ta” vang lên đầy mạnh mẽ như lời khẳng định chủ quyền dân tộc. Thiên nhiên mùa thu không chỉ đẹp mà còn mang tầm vóc sử thi, trở thành biểu tượng của đất nước hồi sinh sau những năm tháng chiến tranh.

So sánh hai bức tranh mùa thu, có thể thấy sự khác biệt trước hết nằm ở cảm hứng chủ đạo. Mùa thu trong thơ Xuân Diệu là mùa thu của cái tôi cá nhân với nỗi buồn cô đơn, lo âu trước sự chảy trôi của thời gian. Thiên nhiên được nhìn qua lăng kính tâm trạng nên mang màu sắc chia lìa, phai tàn. Ngược lại, mùa thu trong thơ Nguyễn Đình Thi là mùa thu của cộng đồng, của dân tộc. Thiên nhiên được soi chiếu bởi ánh sáng của cách mạng nên trở nên tươi đẹp, rộng lớn và đầy sức sống.

Sự khác biệt ấy còn bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử và quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà thơ. Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng Tám. Trong xã hội thuộc địa bế tắc, cái tôi cá nhân tuy được giải phóng nhưng lại rơi vào trạng thái cô đơn, khủng hoảng. Vì thế, mùa thu trong thơ ông mang đậm nỗi buồn thời đại. Còn Nguyễn Đình Thi sáng tác Đất nước trong những năm kháng chiến chống Pháp và hòa bình lập lại. Đó là thời điểm dân tộc đang tràn đầy niềm tin vào tương lai, nên mùa thu hiện lên như biểu tượng của độc lập, tự do và sức mạnh dân tộc.

Bên cạnh đó, nghệ thuật xây dựng hình ảnh ở hai tác phẩm cũng có nhiều điểm khác nhau. Xuân Diệu thiên về những hình ảnh giàu tính tượng trưng, nhân hóa và cảm giác tinh vi. Ngôn ngữ thơ mềm mại, giàu nhạc điệu, thể hiện rõ phong cách lãng mạn. Trong khi đó, Nguyễn Đình Thi sử dụng hình ảnh gần gũi, chân thực nhưng mang ý nghĩa khái quát lớn lao. Giọng thơ chuyển từ trữ tình sang hào hùng, tạo nên âm hưởng sử thi mạnh mẽ.

Tuy khác biệt, hai bức tranh mùa thu đều là những thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại. Qua Đây mùa thu tới, Xuân Diệu đã đem đến một cách cảm nhận mới mẻ về mùa thu, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tài năng nghệ thuật bậc thầy. Qua Đất nước, Nguyễn Đình Thi đã nâng hình tượng mùa thu lên tầm vóc của lịch sử dân tộc, gửi gắm niềm tự hào sâu sắc về Tổ quốc. Một bên là tiếng lòng của cá nhân trước thời gian, một bên là tiếng hát của con người Việt Nam trước vận hội mới của đất nước.

Như vậy, từ cùng một đề tài mùa thu, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đã tạo nên hai thế giới nghệ thuật khác nhau nhưng đều giàu giá trị thẩm mĩ. Nếu mùa thu trong Đây mùa thu tới khiến người đọc rung động trước vẻ đẹp mong manh và nỗi buồn tinh tế của tâm hồn thi sĩ, thì mùa thu trong Đất nước lại khơi dậy niềm tự hào, niềm tin yêu vào quê hương, dân tộc. Sự gặp gỡ và khác biệt ấy không chỉ làm phong phú diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại mà còn cho thấy sức sống bất tận của hình tượng mùa thu trong văn học dân tộc.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 5

Trong dòng chảy bất tận của thi ca, mùa thu từ lâu đã trở thành một nguồn cảm hứng dạt dào, một "nàng thơ" huyền thoại khơi gợi những rung cảm tinh tế nhất trong tâm hồn người nghệ sĩ. Nếu như trong văn học cổ điển, mùa thu thường gắn liền với những ước lệ tượng trưng như "lá ngô đồng", "tiếng thu", thì đến với thi ca hiện đại, mùa thu lại trở thành tấm gương phản chiếu những nhân sinh quan, những dấu ấn thời đại và cá tính nghệ thuật riêng biệt của từng tác giả. Đặt cạnh nhau hai thi phẩm xuất sắc: Đây mùa thu tới của "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu và đoạn thơ về mùa thu trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi, ta thấy hiện lên hai bức tranh thu mang những sắc thái hoàn toàn khác biệt. Một bên là nỗi buồn kiêu sa, mang đậm hơi thở của cái tôi lãng mạn hiện đại; một bên là bức tranh thu mang tầm vóc sử thi, hòa quyện giữa nét hoài niệm sâu xa và niềm tự hào dân tộc kiêu hãnh.

Đây mùa thu tới là bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám, nơi cái tôi lãng mạn tìm thấy sự đồng điệu ở những tàn phai của đất trời. Với Xuân Diệu, mùa thu không phải là mùa để thưởng ngoạn, mà là mùa để cảm nhận sự chia lìa, phôi pha của thời gian. Ngay từ những câu thơ mở đầu, thi nhân đã đánh thức mọi giác quan bằng một cảm nhận đầy nhạy bén: "Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng". Xuân Diệu đã nhân hóa rặng liễu như một người đang chịu tang, một nỗi buồn lan tỏa từ thiên nhiên đến tâm hồn. Cách dùng từ "đìu hiu", "chịu tang" gợi lên không khí cô quạnh, nhuốm màu sắc biệt ly. Mỗi hình ảnh như "áo mơ phai", "lá thắm", "cành khô" đều được thi sĩ quan sát dưới lăng kính của một kẻ đang yêu mà đã dự cảm thấy sự tan vỡ. Bức tranh thu của Xuân Diệu mang đậm tính chất tĩnh tại nhưng lại là sự tĩnh lặng đầy xao động. Ông không chỉ nhìn thấy mùa thu mà còn cảm nhận được cái "lạnh chớm" đang xâm lấn vào không gian, đó là nỗi buồn của một trí thức lãng mạn, một cái tôi muốn ôm trọn lấy sự sống nhưng lại run rẩy trước bước đi vội vã của thời gian.

Trái ngược với vẻ trầm mặc, u hoài ấy, đến với Đất nước của Nguyễn Đình Thi, mùa thu không còn là mùa thu của những cá nhân cô đơn, mà đã được mở rộng thành mùa thu của cả một dân tộc đang vùng dậy. Bức tranh mùa thu trong Đất nước hiện lên đầy tươi mới: "Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới / Tôi nhớ những ngày thu đã xa / Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội / Những phố dài xao xác hơi may". Nguyễn Đình Thi đã khéo léo hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại. Đó là một mùa thu "mát trong", đầy sức sống và niềm tin. Nếu mùa thu Xuân Diệu là "đìu hiu", "chịu tang", thì mùa thu Nguyễn Đình Thi là "hương cốm mới", là sự hội tụ của vẻ đẹp thanh tao, tinh khôi. Sự đối lập giữa "những ngày thu đã xa" (trầm lắng, hoài niệm) và "mùa thu nay" (tự do, rạo rực) tạo nên một chiều sâu lịch sử cho bài thơ. Nguyễn Đình Thi không tập trung vào cái tôi u sầu, mà hướng tâm hồn ra phía cộng đồng, phía đất nước. Mùa thu của ông là mùa thu của những người lính, của một dân tộc đã vượt qua bao đau thương để giành lấy chủ quyền. Hình ảnh "trời xanh đây là của chúng ta" như một lời khẳng định đanh thép, đầy kiêu hãnh về quyền làm chủ vận mệnh quốc gia.

Điểm tương đồng dễ nhận thấy giữa hai tác giả là sự nhạy cảm tuyệt vời với các tín hiệu thiên nhiên. Cả hai đều sử dụng những hình ảnh mang tính gợi hình, gợi cảm cao như cành liễu, lá rụng, hay làn gió heo may. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở cách họ "định nghĩa" mùa thu. Về tư tưởng nghệ thuật, mùa thu của Xuân Diệu mang tính chất trữ tình cá nhân, là tiếng lòng của một tâm hồn nhạy cảm luôn khao khát được giao cảm với đời nhưng lại sợ hãi sự tàn tạ. Trong khi đó, mùa thu của Nguyễn Đình Thi mang tính sử thi và chính trị, là sự chuyển biến từ nỗi niềm riêng tư sang nỗi niềm chung của cả dân tộc trong thời đại cách mạng. Về cách sử dụng ngôn từ, Xuân Diệu ưu tiên những từ ngữ giàu tính tạo hình (đìu hiu, mơ phai, phôi pha) để khắc họa cảm xúc chủ quan, còn Nguyễn Đình Thi lại sử dụng những hình ảnh mang tính khái quát, kết hợp với những rung động tinh tế để mở ra một không gian nghệ thuật rộng lớn hơn. Thông điệp của Xuân Diệu nhắc nhở về sự ngắn ngủi của kiếp người, về giá trị của những khoảnh khắc hiện tại, thì Nguyễn Đình Thi lại khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào về truyền thống và khát vọng tự do cháy bỏng.

Đánh giá một cách tổng quát, bức tranh thu của Xuân Diệu là một thành công tuyệt vời của phong trào Thơ mới, minh chứng rằng ngay cả nỗi buồn cũng có thể trở nên lộng lẫy và đáng trân trọng nếu nó được diễn đạt bằng một trái tim chân thành. Tác phẩm của Xuân Diệu giúp người đọc nhìn sâu vào nội tâm, học cách trân trọng từng phút giây của cuộc sống. Ngược lại, bức tranh thu của Nguyễn Đình Thi khẳng định sức mạnh của thơ ca trong việc khơi dậy lòng dân tộc, chạm đến những rung động của cả một thời đại. Bức tranh thu của ông mang lại sự vững tin, sức mạnh và niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng.

Tóm lại, dù mang hai màu sắc đối lập, cả Đây mùa thu tới và Đất nước đều là những kiệt tác góp phần làm phong phú thêm "bản đồ" thơ ca Việt Nam về mùa thu. Nếu ví mùa thu như một bản giao hưởng, thì Xuân Diệu là nốt nhạc trầm lắng, tinh tế, còn Nguyễn Đình Thi là hồi trống trận vang vọng, hào hùng. Đọc hai tác phẩm này, ta không chỉ thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn thấy được cả chân dung tinh thần của người nghệ sĩ. Một bên là sự đắm say trong nỗi buồn cá nhân, một bên là sự thăng hoa trong niềm vui chung của thời đại. Chính sự đa dạng này đã làm nên sức sống bền bỉ cho văn học, khiến cho mùa thu trong lòng người đọc mãi mãi là một mùa thu bất tử – vừa nhuốm màu hoài niệm, vừa rạng rỡ niềm tin.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 6

Mùa thu, từ ngàn xưa đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca, không chỉ bởi vẻ đẹp dịu dàng, trong trẻo của trời đất mà còn bởi nó là chất xúc tác khiến những tâm hồn nhạy cảm nhất bộc lộ những nỗi lòng sâu thẳm. Từ Nguyễn Du với “Thu về đâu, thu về đâu, ngân hà hương khói lạnh lùng bóng trăng”, đến Nguyễn Khuyến với bức tranh thu vùng quê Bắc Bộ “Trời xanh mây trắng lẫn sương, cây đa chiếc lá rơi vương lưng đồi”, mùa thu trong thơ luôn là sự hòa quyện giữa cảnh sắc và tâm trạng, phản chiếu hoàn cảnh lịch sử và số phận của chính nhà thơ. Đến với nền văn học hiện đại Việt Nam, hai thi hào lớn Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi cũng đã gửi gắm tình cảm của mình vào mùa thu qua hai tác phẩm tiêu biểu: Đây mùa thu tới và đoạn trích Đất nước trong trường ca Mặt đường khát vọng. Dù cùng viết về mùa thu Việt Nam, hai bức tranh trong thơ hai ông lại hoàn toàn khác biệt, phản chiếu hai bối cảnh lịch sử, hai trạng thái tâm hồn và hai cách biểu đạt tình yêu với đời, với đất nước độc đáo. Sự đối sánh giữa hai bức tranh thu này không chỉ giúp ta cảm nhận sâu sắc phong cách nghệ thuật của hai tác giả, mà còn hiểu rõ hơn vai trò của thời đại trong việc định hình cảm hứng thi ca.

Xuân Diệu, “ông hoàng thơ tình” của phong trào Thơ mới, viết bài thơ Đây mùa thu tới vào những năm 1930, khi cả nước vẫn nằm dưới ách đô hộ thực dân, khi thế hệ trí thức trẻ như ông mang trong mình nỗi khao khát yêu đời nhưng lại đứng trước bế tắc của thời đại, không tìm được lối ra cho những ước mơ của mình. Bức tranh mùa thu trong thơ của Xuân Diệu mở đầu bằng hình ảnh đầy ám ảnh: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng; Đây mùa thu tới - mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Nhà thơ so sánh rặng liễu bên hồ với những cô gái đang chịu tang, tóc buông dài như những dòng lệ rơi không ngừng, tạo nên một không khí thê lương, bi thương ngay từ những câu thơ đầu. Mùa thu của Xuân Diệu không chỉ đến với vẻ đẹp dịu dàng mà còn đến với nỗi buồn man mác, bao trùm toàn bộ cảnh sắc: hoa sữa đã tàn, lá phong rụng dần, vầng trăng bơ vơ trên bầu trời, sương mù bao phủ làm cho không khí trở nên u uất, lạnh lẽo. Tất cả những hình ảnh ấy đều gợi lên sự chia ly, tàn phai, phai nhạt, phản chiếu nỗi cô đơn, lạc lõng của cái tôi trữ tình đang đứng giữa cuộc đời mà không thể giao hòa, kết nối với những gì mình yêu mến.

Tuy nhiên, nỗi buồn trong thơ Xuân Diệu không phải là nỗi tuyệt vọng, mà là nỗi buồn đẹp, thấm đẫm tình yêu cuộc sống. Nhà thơ vẫn phát hiện ra sức sống trẻ trung trong mùa thu, vẫn cảm nhận được vẻ đẹp thơ mộng của “áo mơ phai dệt lá vàng” - một hình ảnh vừa thực vừa ảo, làm sắc vàng lá thu trở nên mềm mại, lãng mạng, thắp sáng cả không gian. Sự nhạy cảm phi thường của hồn thơ Xuân Diệu còn thể hiện qua cách ông thâm nhập sâu vào bên trong cảnh vật để cảm nhận mùa thu: “Nhành cây ớn lạnh, rét mướt luồn trong gió, Cành lá run rẩy như vừa đổi màu xanh”. Ông không chỉ nhìn thấy mùa thu bằng mắt mà còn cảm nhận được cái rét của mùa thu len lỏi vào từng nhành cây, từng cành lá, như thể cảnh vật cũng có tâm hồn, cũng chia sẻ nỗi buồn với con người. Cuối bài thơ, Xuân Diệu gửi gắm tâm trạng của mình vào hình ảnh người thiếu nữ “Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” - một tư thế hướng về cuộc đời, khao khát được giao cảm, được chia sẻ, chứng tỏ rằng nỗi buồn của ông không phải là sự từ bỏ đời, mà là nỗi buồn của người quá yêu đời, quá khao khát một cuộc sống tự do, hạnh phúc mà thời đại chưa thể mang lại. Đó chính là nỗi buồn đặc trưng của phong trào Thơ mới: “yêu đời nhưng đau đời”, phản ánh tâm trạng của cả một thế hệ trong những năm trước Cách mạng tháng Tám.

Ngược lại, bức tranh mùa thu trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại mang một màu sắc hoàn toàn khác, được viết trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, khi nhà thơ đang tham gia vào cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc tại căn cứ địa Việt Bắc. Bài thơ không chỉ viết về mùa thu, mà cảm hứng về đất nước, về dân tộc lại bắt nguồn từ cảm hứng mùa thu - mùa thu gắn liền với những kỷ niệm về quê hương, về Hà Nội thân yêu, và mùa thu của chiến khu tự do tràn đầy niềm vui, sức sống. Nguyễn Đình Thi mở đầu bức tranh thu của mình bằng hình ảnh quen thuộc, thân thương của mùa thu Việt Nam: “Sáng mát trong như sáng năm xưa, Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Cảnh thu ban đầu mang nét bình yên, trong sáng, nhưng khi nhà thơ nhớ về Hà Nội năm 1946, khi hàng triệu người rời thủ đô lên đường kháng chiến, bức tranh thu mang một nỗi buồn khác, nỗi buồn của sự chia ly vì nghĩa lớn: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội, Những phố dài xao xác hơi may, Người ra đi đầu không ngoảnh lại, Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Nỗi buồn ở đây không phải là nỗi buồn cô đơn, lạc lõng như của Xuân Diệu, mà là nỗi buồn của người tha thiết yêu quê hương, phải tạm biệt mảnh đất thân yêu để bảo vệ Tổ quốc. Mặc dù “đầu không ngoảnh lại”, nhưng trái tim của những người ra đi luôn hướng về Hà Nội, luôn giữ gìn kỷ niệm về quê hương để làm động lực chiến đấu.

Khi chuyển sang miêu tả mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, bức tranh trong thơ Nguyễn Đình Thi hoàn toàn thay đổi, trở nên tươi sáng, rộn ràng, tràn đầy sức sống và niềm vui của người làm chủ đất nước. Nhà thơ nhìn thấy bầu trời như thay áo mới, cảnh vật hồi sinh, những âm thanh của cuộc sống kháng chiến như ríu ran ríu rít, lan tỏa niềm vui tự hào: mùa thu ở đây không còn là mùa thu của sự chia ly, tàn phai, mà là mùa thu của sự đoàn kết, của hy vọng về một ngày chiến thắng, của đất nước “rũ bùn đứng dậy sáng loà”. Không gian mùa thu trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng không còn là không gian nhỏ hẹp, chỉ bó buộc trong những cảm xúc cá nhân, mà nó trải dài vô tận, theo những con đường, dòng sông, đồng lúa, cánh rừng trùng điệp của cả đất nước. Cảm hứng chủ đạo trong đoạn thơ là niềm tự hào, niềm vui của một nghệ sĩ đang trực tiếp tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, của một người dân được sống trong tự do, tự chủ tại căn cứ địa kháng chiến. Mùa thu của Nguyễn Đình Thi do đó mang đậm dấu ấn của thời đại mới, thời đại mà toàn dân tộc đoàn kết lên đường chiến đấu vì độc lập, tự do, nên mọi cảnh vật đều tràn đầy sức sống, niềm tin vào tương lai tươi sáng.

So sánh hai bức tranh mùa thu trong thơ Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi, ta có thể thấy điểm giống nhau duy nhất là cả hai nhà thơ đều lấy mùa thu Việt Nam làm nguồn cảm hứng, đều thể hiện sự nhạy cảm trước những thay đổi của trời đất, đều đan xen nỗi buồn vào cảnh sắc mùa thu. Nhưng điểm khác biệt lại sâu sắc và quyết định hơn, xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử và trạng thái tâm hồn của hai nhà thơ. Nếu Xuân Diệu, sống trong thời kỳ nước mất nhà tan, cái tôi cá nhân chưa thể hòa nhập vào cái tôi cộng đồng, nên mùa thu trong thơ ông mang nỗi buồn cô đơn, lạc lõng của cái tôi riêng; thì Nguyễn Đình Thi, sống trong thời kỳ cả dân tộc đứng lên kháng chiến, cái tôi cá nhân đã hòa quyện hoàn toàn vào cái tôi chung của dân tộc, nên mùa thu trong thơ ông mang niềm vui, niềm tự hào của người làm chủ đất nước, tràn đầy sức sống và hy vọng. Ngay cả nỗi buồn cũng khác nhau: nỗi buồn của Xuân Diệu là nỗi buồn của người yêu đời nhưng không thể có được cuộc sống hạnh phúc, còn nỗi buồn của Nguyễn Đình Thi là nỗi buồn tạm biệt quê hương để lên đường bảo vệ Tổ quốc, một nỗi buồn luôn được bao bọc bởi niềm tin vào chiến thắng. Sự khác biệt này càng khẳng định một chân lý trong văn học: thiên nhiên trong thơ bao giờ cũng là bức tranh tâm trạng, phản chiếu hoàn cảnh, tâm hồn và tư tưởng của nhà thơ, và thời đại lịch sử luôn là yếu tố quan trọng nhất định hình cảm hứng thi ca.

Hai bức tranh mùa thu trong thơ Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đều mang giá trị độc đáo riêng, góp phần làm phong phú thêm bức tranh mùa thu trong văn học Việt Nam. Đây mùa thu tới của Xuân Diệu để lại ấn tượng sâu sắc bởi sự nhạy cảm phi thường, bởi nỗi buồn đẹp thấm đẫm tình yêu cuộc sống, phản ánh tâm trạng của một thế hệ trí thức trước cách mạng. Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại chinh phục người đọc bởi cảm hứng lớn lao về đất nước, bởi niềm tự hào dân tộc, bởi bức tranh mùa thu tràn đầy sức sống của thời đại kháng chiến anh hùng. Cả hai tác phẩm đều là minh chứng cho thấy, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, các nhà thơ Việt Nam luôn giữ gìn trong mình tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, với cuộc đời, và biết cách biến những cảm xúc chân thật đó thành những tác phẩm thơ có giá trị vượt thời gian. Đọc hai bài thơ ngày nay, khi chúng ta đang sống trong hòa bình, độc lập, ta càng cảm nhận được giá trị của những tác phẩm, càng hiểu rằng để có được mùa thu trong trẻo, tươi sáng của ngày nay, biết bao thế hệ người dân Việt Nam đã phải đấu tranh, hy sinh, để giữ gìn mảnh đất thân yêu cho muôn đời sau.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 7

Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam, mùa thu là một nguồn cảm hứng bất tận. Nếu mùa xuân gợi sức sống căng tràn, mùa hè gợi sự rực rỡ nồng nhiệt thì mùa thu lại khơi dậy những rung động tinh tế nhất của tâm hồn con người. Từ thơ trung đại đến thơ hiện đại, mùa thu luôn hiện lên với nhiều sắc thái khác nhau, phản chiếu cảm quan nghệ thuật và tâm thế thời đại của mỗi nhà thơ. Cùng viết về mùa thu nhưng Xuân Diệu trong Đây mùa thu tới và Nguyễn Đình Thi trong Đất nước đã đem đến hai bức tranh thu hoàn toàn khác biệt. Một bên là mùa thu của nỗi buồn, của sự chia lìa và cảm thức thời gian đầy ám ảnh; một bên là mùa thu của đất nước hồi sinh, của niềm tự hào dân tộc và sức sống cách mạng. Qua đó, người đọc không chỉ cảm nhận vẻ đẹp đa dạng của thiên nhiên mà còn thấy được sự vận động của thơ ca Việt Nam từ cái tôi cá nhân đến cái ta cộng đồng.

Trước hết, bức tranh mùa thu trong Đây mùa thu tới hiện lên bằng những gam màu buồn bã, gợi cảm giác tàn phai và mất mát. Ngay từ những câu thơ mở đầu, Xuân Diệu đã phác họa một khung cảnh mang đậm dấu ấn của sự úa tàn:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.”

Hình ảnh hàng liễu vốn mềm mại, duyên dáng nay được nhân hóa thành một con người đang “chịu tang”. Những cành liễu rủ xuống như mái tóc buồn, như dòng lệ kéo dài vô tận. Chỉ bằng vài nét chấm phá, nhà thơ đã phủ lên cảnh vật một màu sắc tang tóc, hiu hắt. Mùa thu ở đây không đơn thuần là một hiện tượng của thiên nhiên mà đã trở thành biểu tượng cho sự chia ly, cho bước đi không thể cưỡng lại của thời gian.

Bức tranh thu ấy tiếp tục được mở rộng qua những hình ảnh đặc trưng:

“Hơn một loài hoa đã rụng cành,

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.”

Sự xuất hiện của từ ngữ “rụng”, “rũa” khiến người đọc cảm nhận rõ quá trình héo úa đang diễn ra. Không gian như bị thời gian gặm nhấm từng chút một. Màu đỏ của hoa không còn tươi tắn mà đang dần làm phai nhạt màu xanh của sự sống. Đó là cái nhìn vô cùng tinh tế của Xuân Diệu trước sự biến đổi của thiên nhiên.

Không chỉ có cảnh vật, cả không gian cũng nhuốm màu cô đơn:

“Những luồng run rẩy rung rinh lá...”

Cái lạnh đầu thu vừa chạm đến đã khiến mọi vật như rung lên vì lo âu. Thiên nhiên không tĩnh tại mà mang tâm trạng. Đó chính là đặc điểm nổi bật trong thơ Xuân Diệu: cảnh vật luôn được cảm nhận qua lăng kính cảm xúc chủ quan của cái tôi thi sĩ.

Đằng sau bức tranh thiên nhiên ấy là nỗi buồn nhân sinh sâu sắc. Xuân Diệu cảm nhận mùa thu bằng tâm thế của một con người luôn lo sợ trước sự trôi chảy của thời gian. Là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, ông mang trong mình khát vọng sống mãnh liệt nhưng đồng thời cũng đau đáu trước sự hữu hạn của đời người. Vì thế, mùa thu trong thơ ông trở thành biểu tượng của sự phôi pha, của những điều đẹp đẽ đang dần mất đi. Bức tranh thu không chỉ đẹp mà còn thấm đẫm nỗi buồn lãng mạn của cái tôi cá nhân trước cuộc đời.

Trái ngược hoàn toàn với Xuân Diệu, mùa thu trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại mang vẻ đẹp khỏe khoắn, rộng lớn và giàu ý nghĩa lịch sử. Nhà thơ mở đầu bằng những hồi ức về mùa thu Hà Nội:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới.”

Chỉ bằng vài nét phác họa, nhà thơ đã tái hiện vẻ đẹp thanh khiết của mùa thu đất Bắc. Không khí “mát trong”, hương cốm mới thoang thoảng trong gió tạo nên một không gian trong trẻo, yên bình. Đây là mùa thu của ký ức, của những kỷ niệm thiêng liêng gắn với quê hương.

Đặc biệt, hình ảnh:

“Những phố dài xao xác hơi may

Người ra đi đầu không ngoảnh lại”

đã làm cho bức tranh thu mang chiều sâu lịch sử. Mùa thu không còn chỉ là thiên nhiên mà gắn liền với cuộc chia tay của người chiến sĩ lên đường kháng chiến. Nỗi buồn vẫn hiện diện nhưng đó không phải nỗi buồn bi lụy mà là sự hy sinh cao cả vì độc lập dân tộc.

Từ mùa thu Hà Nội năm xưa, cảm xúc thơ chuyển mạnh sang mùa thu của đất nước độc lập:

“Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi.”

Từ “khác rồi” như một dấu mốc lịch sử. Nếu mùa thu cũ gắn với đau thương, mất mát thì mùa thu mới là mùa thu của tự do và chiến thắng. Không gian được mở rộng với những hình ảnh khoáng đạt:

“Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha.”

Thiên nhiên hiện lên tràn đầy sức sống. Bầu trời, núi đồi, cánh đồng đều như được hồi sinh sau những năm tháng nô lệ. Mùa thu không còn là mùa của tàn phai mà trở thành mùa của sự đổi mới và phát triển.

Đỉnh cao của cảm hứng ấy là niềm tự hào về đất nước:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta.”

Điệp từ “của chúng ta” vang lên đầy mạnh mẽ, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với non sông đất nước. Bức tranh mùa thu giờ đây không chỉ mang vẻ đẹp thiên nhiên mà còn mang tầm vóc sử thi. Đó là mùa thu của dân tộc sau Cách mạng tháng Tám, mùa thu của độc lập và tự do.

Đặt hai bức tranh mùa thu bên cạnh nhau, có thể thấy nhiều điểm tương đồng đáng chú ý. Trước hết, cả Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đều là những nghệ sĩ có tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Hai nhà thơ đều sử dụng những hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ tinh tế và khả năng quan sát sắc sảo để tái hiện những chuyển động của mùa thu. Thiên nhiên trong cả hai tác phẩm đều không phải là bức tranh vô tri mà mang linh hồn, cảm xúc và gắn bó mật thiết với đời sống con người.

Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai bức tranh mùa thu mới là điều làm nên giá trị riêng của mỗi tác phẩm. Trước hết, về cảm hứng chủ đạo, Đây mùa thu tới mang nỗi buồn lãng mạn, còn Đất nước thấm đẫm niềm vui và niềm tự hào dân tộc. Nếu Xuân Diệu nhìn mùa thu bằng đôi mắt của cái tôi cá nhân đang lo âu trước sự hữu hạn của thời gian thì Nguyễn Đình Thi nhìn mùa thu bằng tâm thế của một công dân đang hòa mình vào vận mệnh đất nước.

Về không gian nghệ thuật, mùa thu của Xuân Diệu là khu vườn nhỏ với hoa rụng, lá vàng, hàng liễu buồn bã; còn mùa thu của Nguyễn Đình Thi là không gian rộng lớn của trời xanh, núi rừng, cánh đồng và non sông đất nước. Một bên hướng nội, tập trung vào thế giới cảm xúc cá nhân; một bên hướng ngoại, mở rộng tới cộng đồng và dân tộc.

Về màu sắc thẩm mỹ, mùa thu trong Đây mùa thu tới mang gam màu trầm buồn, lạnh lẽo, gợi sự phôi pha; trong khi đó mùa thu của Đất nước lại sáng trong, tươi mới và giàu sinh khí. Sự khác biệt này phản ánh rõ đặc điểm của hai giai đoạn văn học. Thơ mới giai đoạn 1930–1945 đề cao cái tôi cá nhân với những khát vọng và cô đơn riêng tư. Thơ ca cách mạng sau 1945 lại hướng tới cái ta chung của cộng đồng, gắn bó với lý tưởng dân tộc và đất nước.

Từ sự so sánh ấy, có thể khẳng định cả hai tác phẩm đều đạt tới những thành công nghệ thuật đặc sắc. Đây mùa thu tới là một trong những bài thơ thu tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới, thể hiện tài năng cảm nhận tinh tế và khả năng diễn tả những rung động mong manh của Xuân Diệu. Còn Đất nước là bản hùng ca đẹp đẽ về dân tộc Việt Nam, trong đó hình ảnh mùa thu trở thành biểu tượng cho sự hồi sinh và sức mạnh của đất nước trong thời đại mới.

Mỗi bức tranh mùa thu mang một vẻ đẹp riêng, phản ánh một tâm hồn và một thời đại khác nhau. Nếu mùa thu của Xuân Diệu khiến người đọc rung động trước vẻ đẹp mong manh của cuộc sống và ý thức sâu sắc về thời gian thì mùa thu của Nguyễn Đình Thi lại khơi dậy niềm tin, niềm tự hào về đất nước và con người Việt Nam. Chính sự gặp gỡ và khác biệt ấy đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại, đồng thời khẳng định sức sống bền vững của hình tượng mùa thu trong văn học dân tộc.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 8

Trong dòng chảy bất tận của thi ca Việt Nam, mùa thu luôn là một "nàng thơ" ưu ái, là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn cho các nghệ sĩ. Mùa thu không chỉ là sự chuyển mình của tạo hóa mà còn là tấm gương phản chiếu tâm hồn, tư tưởng và thời đại của người cầm bút. Nếu như trong văn học trung đại, thu thường gắn liền với sự tĩnh lặng, mang hơi hướng "thiền" hay nỗi buồn viễn xứ, thì đến với phong trào Thơ mới và văn học cách mạng, mùa thu đã khoác lên mình những tấm áo mới đầy màu sắc và cảm xúc. Nổi bật trong đó là bức tranh mùa thu đầy ám ảnh, tài hoa trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và một mùa thu hào hùng, lắng đọng đầy tự hào trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi. Đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta không chỉ thấy được sự khác biệt trong thi pháp mà còn thấu cảm được cách hai thi sĩ gửi gắm tình yêu quê hương đất nước qua những nhành lá úa và cơn gió heo may.

Xuân Diệu - "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" – luôn mang trong mình nỗi ám ảnh khôn nguôi về sự chảy trôi của thời gian. Với Đây mùa thu tới, ông đã vẽ nên một bức tranh mùa thu mang đậm dấu ấn cá nhân, nơi thiên nhiên được nhìn qua lăng kính của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế nhưng cũng đầy lo âu. Bức tranh mùa thu của Xuân Diệu hiện lên thật chậm rãi nhưng đầy xao xác: "Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng / Đây mùa thu tới - mùa thu tới / Với áo mơ phai dệt lá vàng." Cách mở đầu bằng hình ảnh rặng liễu "đứng chịu tang" là một sự sáng tạo độc đáo, biến cây liễu vốn thanh mảnh thành một sinh thể biết đau, biết buồn. Từ láy "đìu hiu" cùng hành động "chịu tang" gợi lên một bầu không khí chia lìa, phôi pha. Xuân Diệu không chỉ miêu tả mùa thu, ông đang "cảm" mùa thu bằng cả linh hồn mình. Màu vàng của lá được miêu tả là "áo mơ phai" – một màu vàng nhạt, mỏng manh, gợi lên cảm giác về sự tàn tạ đang đến gần. Không gian trong thơ Xuân Diệu càng về sau càng rộng mở nhưng cũng càng thêm hiu quạnh qua những câu thơ như: "Hơn một loài hoa đã rụng cành", "Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh". Đó là sự xâm lấn của tàn úa, của cái chết vào trong sự sống. Đặc biệt, hình ảnh con người trong Đây mùa thu tới là hình ảnh những thiếu nữ "tựa cửa nhìn xa", "mắt buồn rười rượi". Nỗi buồn ở đây không phải là nỗi buồn của thời đại, mà là nỗi buồn của sự cô đơn, nỗi khát khao giao cảm nhưng lại sợ hãi sự chia lìa. Mùa thu của Xuân Diệu là mùa thu của cái "Tôi" cá nhân, một mùa thu đẹp đến nao lòng nhưng cũng buồn đến nghẹt thở bởi nó nhắc nhở con người về kiếp người ngắn ngủi.

Nếu mùa thu của Xuân Diệu là những rung cảm cá nhân tinh vi, thì mùa thu trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi lại là khúc tráng ca hào hùng, gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Được viết trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ, bài thơ không chỉ là lời tự sự của một hồn thơ chiến sĩ mà còn là tuyên ngôn về lòng yêu nước. Mùa thu trong Đất nước không phải là thu của sự tàn phai, mà là thu của sự khởi đầu, của những hy vọng mới: "Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới / Tôi nhớ những ngày thu đã xa / Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội / Những phố dài xao xác hơi may." Nguyễn Đình Thi bắt đầu bức tranh thu bằng một cảm giác đầy lạc quan: "Sáng mát trong". Dù vẫn có cái "chớm lạnh", cái "xao xác hơi may" – những nét đặc trưng của mùa thu Hà Nội, nhưng dưới ngòi bút của ông, mùa thu ấy trở nên đầy sức sống. Hương cốm mới là hương vị của sự bình yên, của quê hương đất nước được cảm nhận bằng tất cả các giác quan. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ, mùa thu trong thơ Nguyễn Đình Thi có sự chuyển dịch từ thu của kỷ niệm sang thu của thực tại chiến đấu: "Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha." Chỉ với cụm từ "Mùa thu nay khác rồi", Nguyễn Đình Thi đã khẳng định sự thay đổi trong tâm thế. Từ cái tôi bàng hoàng, cô đơn trước thiên nhiên, tác giả chuyển sang cái tôi tự hào, cái tôi làm chủ. Thiên nhiên không còn là "lệ ngàn hàng" mà trở nên "biếc", "nói cười thiết tha". Mùa thu lúc này đã hòa quyện vào dáng hình đất nước, là biểu tượng cho cuộc cách mạng đang chuyển mình mạnh mẽ.

Đặt hai bức tranh mùa thu cạnh nhau, chúng ta thấy rõ sự khác biệt trong thi pháp và tư tưởng thẩm mỹ. Về cảm hứng chủ đạo, Xuân Diệu nhìn mùa thu bằng đôi mắt của một nhà thơ lãng mạn, tập trung vào vẻ đẹp mong manh, sự hữu hạn của đời người. Trong khi đó, Nguyễn Đình Thi nhìn mùa thu bằng trái tim của một người nghệ sĩ dấn thân, coi mùa thu là điểm tựa để khẳng định sức sống của dân tộc trong độc lập, tự do. Về không gian và thời gian, Xuân Diệu tập trung vào sự tàn tạ, sự "rũa" đi của thiên nhiên, thời gian là dòng chảy không ngừng đưa con người đến hư vô. Ngược lại, Nguyễn Đình Thi đặt mùa thu trong sự vận động, từ "thu đã xa" đến "mùa thu nay", thời gian được đánh dấu bằng những cột mốc của lịch sử dân tộc. Nếu Xuân Diệu dùng những hình ảnh mang tính ước lệ cao, giàu tính nhạc và họa thì Nguyễn Đình Thi sử dụng những hình ảnh bình dị, gần gũi nhưng đầy sức gợi. Tuy nhiên, có một điểm chung sâu sắc giữa hai tác giả chính là tình yêu thiên nhiên mãnh liệt. Dù cách thể hiện khác nhau, cả Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đều thổi vào mùa thu những rung cảm chân thành nhất. Sự đối lập giữa "nỗi buồn" của Xuân Diệu và "niềm vui" của Nguyễn Đình Thi thực chất không loại trừ nhau, mà bổ sung cho nhau trong bức tranh toàn cảnh của thi ca Việt Nam. Đó là sự vận động từ cái tôi cá nhân nhỏ bé đi tìm sự đồng cảm, đến cái tôi cộng đồng hòa mình vào vận mệnh chung của đất nước.

Đọc Đây mùa thu tới và Đất nước, ta như được đi qua hai cung bậc cảm xúc của mùa thu Việt Nam. Xuân Diệu đã dạy chúng ta biết rung động trước những vẻ đẹp mong manh nhất của tạo hóa, biết trân trọng từng khoảnh khắc thời gian đang trôi đi. Nguyễn Đình Thi lại truyền cho ta ngọn lửa của niềm tin, sự lạc quan và lòng tự hào dân tộc khi mùa thu về trên đất nước tự do. Dù thời gian có trôi đi, những bức tranh mùa thu ấy vẫn mãi là những kiệt tác. Chúng không chỉ là những dòng thơ, mà là minh chứng cho một tâm hồn Việt luôn nhạy cảm, sâu sắc và đầy khát vọng. Mùa thu trong thơ ca mãi mãi là một lời nhắc nhở về vẻ đẹp của quê hương, về cội nguồn và về sức sống bền bỉ của tình yêu đất nước trong trái tim mỗi con người Việt Nam.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 9

 Trong kho tàng văn học Việt Nam, thiên nhiên không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là người bạn tri âm, người bạn đồng hành của thi nhân. Mỗi mùa trong năm đều mang một vẻ đẹp riêng, nhưng mùa thu dường như luôn khơi dậy những rung động sâu sắc nhất trong lòng người nghệ sĩ. Với cái se lạnh của gió heo may, hương cốm mới thoảng trong không gian, sắc vàng rơi của lá úa, mùa thu vừa gợi nỗi buồn man mác của sự chia ly, tàn phai, vừa khơi dậy niềm vui tươi mới của sức sống tiềm tàng. Qua hai bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu (trước Cách mạng Tháng Tám) và đoạn trích nói về mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi (sáng tác trong kháng chiến chống Pháp), chúng ta thấy rõ sự đa dạng trong cách nhìn nhận và tái tạo bức tranh mùa thu. Hai tác phẩm không chỉ phản ánh tài năng nghệ thuật của hai nhà thơ mà còn khắc họa sâu sắc mối quan hệ giữa con người và thời đại, giữa cái tôi cá nhân và cái ta dân tộc.

“Đây mùa thu tới” được Xuân Diệu sáng tác trong giai đoạn Thơ Mới, khi nhà thơ đang ở độ tuổi thanh xuân tràn đầy khát khao yêu đời. Bài thơ mở ra bằng hình ảnh rặng liễu “đìu hiu đứng chịu tang”, “Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”. Ngay từ những dòng đầu, bức tranh mùa thu đã hiện lên trong gam màu buồn bã, tang tóc. Lá vàng “áo mơ phai” dệt nên một vẻ đẹp vừa mong manh, vừa quyến rũ, nhưng cũng đầy nỗi u uất. Hoa đã rụng, cành khô gầy “xương mỏng manh”, những luồng gió run rẩy rung rinh lá, sương mờ nhạt trên non xa, rét mướt luồn trong gió heo may. Không gian trở nên vắng vẻ với “vắng người sang những chuyến đò”, chim bay đi, mây vẩn từng không, khí trời “u uất hận chia ly”. Những thiếu nữ “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” – một nỗi buồn không nói thành lời, ngẩn ngơ, da diết.

Bức tranh mùa thu trong thơ Xuân Diệu mang đậm chất trữ tình lãng mạn, giàu sức gợi. Nhà thơ sử dụng bút pháp nhân hóa tinh tế, biến thiên nhiên thành những sinh thể có hồn: liễu chịu tang, lá run rẩy, trăng ngẩn ngơ. Màu sắc chủ đạo là vàng phai, đỏ úa, xanh nhạt – những gam màu của sự tàn tạ, chia ly. Âm thanh thì thầm, buồn bã: gió luồn, lá rơi, không gian im lặng đầy suy tư. Cảm giác lạnh lẽo, se sắt thấm vào da thịt: “rét mướt luồn trong gió”. Tất cả hội tụ để tạo nên một mùa thu đẹp mà buồn, buồn một cách thơ mộng, trẻ trung. Nỗi buồn ấy không tuyệt vọng mà thấm đẫm khát khao giao cảm với đời, khát khao yêu thương. Nó phản ánh tâm trạng của cái tôi cá nhân Xuân Diệu – một thi sĩ “yêu đời nhưng đau đời”, sống trong xã hội thuộc địa đầy u uất, chưa tìm thấy lối thoát cho khát vọng sống mãnh liệt của mình. Mùa thu vì thế trở thành biểu tượng cho sự mong manh của tuổi trẻ, của tình yêu và của kiếp người trước dòng chảy vô thường của thời gian.

Ngược lại, bức tranh mùa thu trong “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi lại mang một diện mạo hoàn toàn khác. Bài thơ không chuyên viết về mùa thu, nhưng những hình ảnh mùa thu xuất hiện như một sợi chỉ đỏ dẫn dắt cảm hứng về đất nước. Mở đầu là “Sáng mát trong như sáng năm xưa / Gió thổi mùa thu hương cốm mới”. Mùa thu hiện lên trong sáng, tươi mới, gần gũi với đời sống dân dã Việt Nam. Hương cốm mới – tinh hoa của đất trời mùa thu – gợi sự no đủ, ngọt ngào. Tiếp đó là mùa thu Hà Nội những ngày kháng chiến: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội / Những phố dài xao xác hơi may / Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Có cái lạnh se sắt, có lá rơi, nhưng nỗi buồn ở đây không phải là u uất cá nhân mà là nỗi buồn của sự chia ly vì nghĩa lớn, là nỗi nhớ da diết quê hương trong lòng người ra đi vì dân tộc.

Đến mùa thu ở chiến khu Việt Bắc, bức tranh hoàn toàn chuyển sang gam màu tươi sáng, rực rỡ: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha”. Trời xanh biếc, gió phấp phới, rừng tre rộn ràng, không gian mở rộng với “cánh đồng thơm mát”, “ngả đường bát ngát”, “dòng sông đỏ nặng phù sa”. Âm thanh không còn là gió thầm thì buồn bã mà là tiếng cười nói thiết tha, tiếng gió reo vui, tiếng đất trời hòa quyện với con người. Màu sắc rực rỡ, khỏe khoắn; không khí tràn đầy sức sống, niềm vui và tự hào. Mùa thu không còn là biểu tượng của sự tàn phai mà trở thành minh chứng cho sức sống mãnh liệt của dân tộc sau Cách mạng, của con người được làm chủ đất nước. Nguyễn Đình Thi đã khái quát hóa mùa thu thành mùa thu của dân tộc, của kháng chiến, của tương lai tươi sáng.

So sánh hai bức tranh, ta thấy sự khác biệt rõ nét. Về nghệ thuật, Xuân Diệu chú trọng miêu tả chi tiết, tinh tế bằng giác quan (thị giác, thính giác, xúc giác) và nhân hóa sâu sắc, tạo nên bức tranh thu mang tính cá nhân, giàu chất thơ mộng. Nguyễn Đình Thi sử dụng hình ảnh giản dị, gần gũi đời sống, kết hợp miêu tả và biểu cảm, mở rộng không gian từ cá nhân đến dân tộc, từ Hà Nội đến chiến khu, từ quá khứ đến hiện tại. Về cảm xúc, Xuân Diệu thể hiện nỗi buồn man mác, cô đơn của cái tôi; Nguyễn Đình Thi chuyển từ nỗi buồn chia ly sang niềm vui tự hào của cái ta dân tộc. Sự khác biệt ấy xuất phát từ bối cảnh thời đại: Xuân Diệu sáng tác trong xã hội cũ đầy u ám, Nguyễn Đình Thi viết giữa không khí cách mạng hào hùng, dân tộc đứng lên giành độc lập. Qua đó, hai bài thơ khẳng định quy luật: “Người buồn thì cảnh buồn, người vui thì cảnh vui”. Thiên nhiên trong thơ không phải là cái gì đó khách quan mà luôn là bức tranh tâm trạng, là tiếng lòng của thi nhân trước vận mệnh đất nước.

Qua việc so sánh bức tranh mùa thu trong “Đây mùa thu tới” và “Đất nước”, chúng ta không chỉ thấy được tài năng miêu tả thiên nhiên tài hoa của hai nhà thơ mà còn nhận ra giá trị nhân văn sâu sắc của văn học. Xuân Diệu đã khắc họa một mùa thu đẹp buồn, đầy khát khao của tuổi trẻ; Nguyễn Đình Thi đã vẽ nên mùa thu tươi sáng, tràn đầy sức sống của dân tộc. Hai bức tranh ấy bổ sung cho nhau, góp phần làm phong phú hình tượng mùa thu trong thơ ca Việt Nam. Đọc chúng, ta càng thêm yêu thiên nhiên đất nước và trân trọng những biến đổi kỳ diệu mà lịch sử mang lại cho hồn thơ dân tộc. Trong dòng chảy văn học, mùa thu không chỉ là mùa của lá vàng rơi mà còn là mùa của những rung động lòng người trước vận mệnh chung.

Nghị luận So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới và Đất nước - mẫu 10

Mùa thu, với vẻ đẹp thầm lặng và sức gợi cảm xúc vô bờ, luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca Việt Nam. Từ Nguyễn Khuyến với bức tranh thu làng quê thanh bình, đến Tản Đà với nỗi sầu thu mênh mông, mỗi nhà thơ đều in dấu tâm hồn mình vào cảnh sắc thiên nhiên, tạo nên những bức tranh thu độc đáo, phản ánh tâm trạng và thời đại của họ. Trong dòng chảy đó, hai bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu (1938) và đoạn mở đầu Đất nước của Nguyễn Đình Thi (1948) là hai tác phẩm đặc sắc, cùng lấy mùa thu làm điểm khởi đầu cho cảm xúc, nhưng lại vẽ nên hai bức tranh hoàn toàn khác biệt, phản ánh hai giai đoạn lịch sử và hai tâm hồn thi nhân mang dấu ấn thời đại. Cùng viết về mùa thu nhưng cả hai nhà thơ đã tạo nên những nét riêng độc đáo, góp phần làm phong phú thêm cho đề tài mùa thu trong thơ ca Việt Nam.

Trước hết, cả hai bài thơ đều thể hiện sự nhạy cảm tinh tế của thi nhân trước những tín hiệu báo mùa thu sang, và đều hòa quyện tâm trạng con người vào cảnh vật thiên nhiên. Cả Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi đều không chỉ tả cảnh thu mà còn gửi gắm tình cảm, suy tư của mình vào từng hình ảnh, biến thiên nhiên vô tri thành người có tâm hồn, có cảm xúc. Xuân Diệu mở đầu bài thơ bằng dòng chữ thốt lên đầy ngỡ ngàng: “Đây mùa thu tới - mùa thu tới”, như một tiếng reo vồ vập khi chợt phát hiện vẻ đẹp của mùa thu vừa chớm đến. Tương tự, Nguyễn Đình Thi cũng mở đầu bài thơ của mình bằng những cảm nhận quen thuộc về mùa thu Hà Nội: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/Gió thổi mùa thu hương cốm mới”, bắt gặp những dấu hiệu thân thuộc của mùa thu Bắc Bộ để dệt nên cảm hứng về đất nước. Cả hai nhà thơ đều sử dụng giác quan đa dạng để cảm nhận mùa thu: không chỉ nhìn thấy màu sắc của lá vàng, của trời trong, mà còn cảm nhận được cái lạnh đầu mùa len lỏi trong gió, ngửi được hương vị đặc trưng của mùa thu, biến cảnh vật trở nên sống động, chạm đến trái tim người đọc.

Tuy có những điểm gặp gỡ trong sự nhạy cảm trước thiên nhiên, hai bức tranh mùa thu trong hai tác phẩm lại mang những sắc thái hoàn toàn đối lập, bắt nguồn từ hoàn cảnh sáng tác và tâm trạng của mỗi thi nhân. Bức tranh mùa thu của Xuân Diệu trong Đây mùa thu tới thấm đẫm nỗi buồn cô đơn, u uất của một cái tôi lãng mạn sống trong thời kỳ đất nước còn bị đô hộ. Mở đầu bài thơ, nhà thơ đã vẽ nên hình ảnh rặng liễu “đìu hiu đứng chịu tang/Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”, biến cây liễu vốn mềm mại thành hình ảnh người đang chịu tang, rơi lệ hàng ngàn hàng khi mùa thu đến. Cả bức tranh mùa thu của Xuân Diệu là một chuỗi hình ảnh gợi sự tàn phai, chia ly: hoa rụng cành, lá vàng rụng rơi, nhành cây khô gầy, nàng trăng ngẩn ngơ, non xa mờ sương, những chuyến đò vắng người qua. Khung cảnh ấy càng trở nên u buồn khi kết thúc bằng hình ảnh thiếu nữ “buồn không nói/Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì”, một nỗi buồn mơ hồ, không tên, thể hiện tâm trạng cô đơn của thế hệ trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng, những người “yêu đời nhưng đau đời”, chưa tìm được lối ra cho những khát vọng của mình. Nỗi buồn ấy không phải là nỗi buồn tiêu cực, mà là sự thể hiện của một tấm lòng thiết tha yêu đời, khát khao giao cảm với cuộc đời, bị vây hãm trong xã hội cũ nên trở nên cô đơn, lẻ loi.

Ngược lại, bức tranh mùa thu của Nguyễn Đình Thi trong Đất nước lại chuyển từ nỗi bồi hồi chia ly thành niềm vui sướng, tự hào của người dân đã làm chủ đất nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nếu Xuân Diệu chỉ cảm nhận được một màu buồn xuyên suốt bài thơ, thì Nguyễn Đình Thi có hai tầng cảm xúc về mùa thu: mùa thu trong hoài niệm và mùa thu của hiện tại. Mùa thu trong hoài niệm là mùa thu Hà Nội năm 1946, khi nhà thơ cùng những người kháng chiến phải rời thủ đô lên chiến khu Việt Bắc: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/Những phố dài xao xác hơi may/Người ra đi đầu không ngoảnh lại/Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Cảnh thu ấy có nỗi buồn lưu luyến, bồi hồi khi phải chia xa quê hương, nhưng đó là nỗi buồn của người có lý tưởng, không phải nỗi buồn cô đơn đơn độc. Rồi ngay sau đó, nhà thơ thốt lên đầy vui mừng: “Mùa thu nay khác rồi/Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi/Gió thổi rừng tre phấp phới/Trời thu thay áo mới/Trong biếc nói cười thiết tha!”. Bức tranh mùa thu ở chiến khu Việt Bắc hoàn toàn khác: trời thu thay áo mới, rừng tre phấp phới trong gió, vạn vật như “nói cười thiết tha”, tràn đầy sức sống và niềm vui. Cảm xúc ấy bắt nguồn từ tâm trạng của người làm chủ đất nước, khi nhà thơ cùng nhân dân được đứng trên mảnh đất của mình, tự hào tuyên bố: “Trời xanh đây là của chúng ta/Núi rừng đây là của chúng ta”. Mùa thu của Nguyễn Đình Thi là mùa thu của cách mạng, của độc lập, tự do, tràn đầy niềm tin và sức sống, đối lập hoàn toàn với mùa thu buồn bã, cô đơn của Xuân Diệu mười năm trước đó.

Sự khác biệt trong hai bức tranh mùa thu không chỉ đến từ tâm trạng cá nhân của mỗi nhà thơ, mà còn là sự phản ánh của hai thời đại lịch sử hoàn toàn khác nhau. Xuân Diệu viết Đây mùa thu tới vào năm 1938, khi Việt Nam vẫn còn là nước thuộc địa, xã hội đầy rẫy những bất công, những người trí thức trẻ như ông chỉ có thể sống với những khát vọng riêng, bị vây hãm trong cái xã hội cũ, nên nỗi buồn cô đơn là cảm xúc chủ đạo trong thơ ca Thơ mới thời kỳ đó. Còn Nguyễn Đình Thi viết Đất nước vào năm 1948, sau Cách mạng tháng Tám thành công, khi cả dân tộc đang đứng lên tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, nhà thơ đã hòa cái tôi cá nhân vào cái ta chung của dân tộc, nên cảm xúc của ông là niềm tự hào, niềm vui sướng được làm chủ đất nước, cùng nhân dân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngay cả sau Cách mạng, Xuân Diệu cũng đã có những bài thơ viết về mùa thu hoàn toàn khác: “Thu từ nay không thu thảm thu sầu/Mà thu sướng nhuộm màu xuân mát mát”, chứng tỏ chính thời đại mới đã thay đổi cách nhìn, cách cảm của nhà thơ về mùa thu, về cuộc sống.

Tóm lại, hai bức tranh mùa thu trong Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đất nước của Nguyễn Đình Thi, dù mang những sắc thái hoàn toàn đối lập, đều là những tác phẩm đặc sắc thể hiện tài năng của hai nhà thơ lớn. Cả hai đã thành công trong việc hòa quyện tâm trạng con người vào cảnh vật thiên nhiên, tạo nên những bức tranh thu không chỉ đẹp về hình ảnh mà còn sâu sắc về cảm xúc. Sự khác biệt giữa hai bức tranh cũng là minh chứng cho một quy luật của văn học: cảnh sắc thiên nhiên trong thơ bao giờ cũng là bức tranh tâm trạng, được nhuốm màu cảm xúc của thi nhân và phản ánh rõ nét đặc trưng của thời đại mà họ sống. Hai tác phẩm cùng góp phần làm phong phú thêm cho đề tài mùa thu trong thơ ca Việt Nam, để lại những dư âm sâu lắng trong lòng người đọc qua bao thế hệ.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học