10+ Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (điểm cao)
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang (Huy Cận) và Vội vàng (Xuân Diệu) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 1)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 2)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 3)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 4)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 5)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 6)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 7)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 8)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (mẫu 9)
- Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (các mẫu khác)
10+ Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng (điểm cao)
Dàn ý Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng
a) Mở bài:
- Giới thiệu phong trào: Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) đã thức tỉnh cái tôi cá nhân, mang đến những luồng gió mới cho nền văn học.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Giới thiệu Huy Cận với hồn thơ ảo não, đậm chất triết lý và Xuân Diệu với "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", tràn trề sức sống.
- Nêu vấn đề cần so sánh: So sánh, đánh giá sự thể hiện của "cái tôi" trữ tình trong hai bài thơ Tràng giang và Vội vàng để thấy được vẻ đẹp độc đáo của từng hồn thơ.
b) Thân bài:
1. Điểm tương đồng
- Cùng mang cái tôi Thơ mới: Đều là những cái tôi cá nhân ý thức sâu sắc về cái tôi bản thể, khao khát khẳng định cái tôi và cái tôi ấy luôn nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian.
- Đổi mới nghệ thuật: Cả hai bài thơ đều thể hiện sự tài hoa trong việc cách tân ngôn từ, nhịp điệu và hình ảnh thơ.
b. Điểm khác biệt về "Cái tôi"
Cái tôi trong "Tràng giang" (Huy Cận): Cái tôi cô đơn, sầu mộng và nặng trĩu tình yêu quê hương đất nước:
- Vị thế: Cái tôi đặt giữa không gian vũ trụ rộng lớn, vô tận ("tràng giang") và thời gian đằng đẵng.
- Cảm xúc: Là cái tôi mang nỗi buồn "vạn cổ", sự bơ vơ, nhỏ bé, lạc lõng và rợn ngợp trước thiên nhiên ("Lớp lớp mây cao đùn núi bạc / Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa").
- Thái độ: Thái độ chán chường, e ấp, hướng nội, luôn mang nỗi niềm hoài cổ và gắn liền với tâm sự yêu nước thầm kín của thế hệ thanh niên thời bấy giờ.
Cái tôi trong "Vội vàng" (Xuân Diệu): Cái tôi khao khát sống, giao cảm mãnh liệt và chiếm lĩnh cuộc đời:
- Vị thế: Cái tôi đặt giữa cuộc sống trần thế, mùa xuân tươi đẹp và khao khát làm trung tâm của vũ trụ.
- Cảm xúc: Là cái tôi rạo rực, cuồng nhiệt, say mê đến mức ích kỷ để đòi quyền tận hưởng ("Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua", "Tôi muốn ôm cả...").
- Thái độ: Chủ động, tích cực, vội vàng chạy đua với thời gian để sống trọn vẹn từng giây phút tuổi trẻ, coi tình yêu và thiên nhiên là nguồn sống bất tận.
c. Đánh giá nguyên nhân của sự khác biệt
- Do hoàn cảnh thời đại: Huy Cận chịu ảnh hưởng của bối cảnh đất nước mất tự do khiến cái tôi mang màu sắc bi quan. Xuân Diệu mang triết lý sống phương Tây, khao khát khẳng định cái tôi cá nhân mạnh mẽ.
- Do thế giới quan và cá tính sáng tạo: Huy Cận mang "nỗi buồn thế hệ", hướng về quá khứ và vũ trụ; Xuân Diệu mang tinh thần duy tân, hướng về tương lai và cuộc sống trần gian.
d. Nghệ thuật thể hiện cái tôi
- Tràng giang: Mang đậm nét cổ điển kết hợp hiện đại, ngôn từ gợi hình, giàu nhạc điệu, bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc.
- Vội vàng: Giọng điệu sôi nổi, dồn dập; kết hợp chất thơ và chất văn xuôi; sử dụng nhiều động từ mạnh và các phép tu từ điệp, liệt kê độc đáo.
c) Kết bài:
- Khẳng định lại vấn đề: Cái tôi trong hai tác phẩm là hai bức tranh tâm trạng đối lập. Nếu Huy Cận là cái tôi suy tư, trầm mặc về vũ trụ, đất nước thì Xuân Diệu là cái tôi vươn lên, cuồng nhiệt sống và yêu.
- Đánh giá ý nghĩa: Cả hai cái tôi đều mang lại giá trị nhân văn sâu sắc, thể hiện tài năng của hai nhà thơ lớn. Qua đó làm phong phú thêm diện mạo của văn học Việt Nam hiện đại.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 1
Trong phong trào Thơ mới (1932 – 1945), cái tôi cá nhân đã trỗi dậy như một tiếng gọi bản năng đầy khao khát, làm nên cuộc cách mạng về tư duy nghệ thuật. Nếu như văn học trung đại lấy cái "ta" làm chuẩn mực, thì Thơ mới lại lấy cái "tôi" làm trung tâm của vũ trụ. Trong hành trình khẳng định bản sắc ấy, Xuân Diệu và Huy Cận nổi lên như hai đỉnh cao, hai phong cách độc đáo nhưng đầy khác biệt. Nếu Xuân Diệu là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" với cái tôi cuồng nhiệt, vồ vập muốn tận hiến trong Vội vàng, thì Huy Cận lại là nhà thơ của nỗi sầu vạn cổ, mang cái tôi cô đơn, nhỏ bé đi tìm sự kết nối giữa vũ trụ bao la trong Tràng giang. So sánh hai tác phẩm này chính là hành trình chạm vào hai cực cảm xúc đối lập nhưng đầy ám ảnh của con người thời đại cũ: một bên muốn tận hưởng, một bên muốn chiêm nghiệm.
Xuân Diệu bước vào thi đàn như một nguồn sáng rực rỡ. Trong Vội vàng, cái tôi của ông không chỉ là một chủ thể cảm xúc mà là một chủ thể chiếm đoạt. Mở đầu bằng âm hưởng tuyên ngôn: "Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi", cái tôi ở đây mang dáng dấp của một đấng tạo hóa, dám thách thức quy luật tự nhiên. Đó là biểu hiện cao nhất của ý thức cá nhân: muốn giữ lấy cái đẹp, muốn vĩnh cửu hóa những khoảnh khắc tươi non của trần thế. Xuân Diệu cảm nhận thời gian theo chiều tuyến tính: một đi không trở lại, và chính nỗi sợ hãi sự hữu hạn của đời người đã thúc đẩy cái tôi ấy phải "vội vàng", phải "ôm", "riết", "say", "thâu". Đó là cái tôi nhục cảm, yêu cuộc đời bằng tất cả các giác quan: mắt nhìn "tuần tháng mật", tai nghe "tiếng chim hươn hươn", môi chạm vào "cặp môi gần". Đó là sự giao thoa tuyệt đối giữa cái tôi với thế giới khách quan, một lối sống tận hiến đầy mãnh liệt.
Trái ngược với sự vồ vập của Xuân Diệu, cái tôi trong Tràng giang của Huy Cận lại mang nặng nỗi sầu nhân thế, một cái tôi cô đơn giữa vũ trụ. Tràng giang mở ra một không gian nghệ thuật trải rộng theo nhiều chiều: không gian của sóng nước ("sóng gợn tràng giang"), không gian của chiều cao ("trời rộng"), không gian của sự vắng lặng ("không một chuyến đò ngang"). Trong không gian ấy, cái tôi của Huy Cận trở nên lạc lõng, nhỏ bé đến tội nghiệp. Ông không tìm cách chinh phục vũ trụ như Xuân Diệu, mà ông đối thoại với nó. Hình ảnh "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc / Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa" là sự tương phản gay gắt giữa sự hùng vĩ của thiên nhiên và cái tôi đơn độc. Nỗi buồn trong Tràng giang là nỗi buồn của một trí thức Tây học, khi nhìn thấy sự rợn ngợp của thiên nhiên, chợt nhận ra thân phận lưu lạc của con người. Tuy nhiên, cái tôi của Huy Cận không rơi vào tuyệt vọng, mà vẫn hướng về "lòng quê" – nơi cái tôi cá nhân hòa quyện với nỗi niềm hoài cổ và lòng yêu nước thầm kín.
Khi đặt cạnh nhau, Vội vàng và Tràng giang vẽ nên bức chân dung toàn diện của cái tôi Thơ mới. Nếu Xuân Diệu đại diện cho cái tôi hướng ngoại, khao khát sống gấp gáp để bù đắp cho sự hữu hạn của thời gian, thì Huy Cận lại đại diện cho cái tôi hướng nội, lặng lẽ đi tìm ý nghĩa của kiếp người trong sự vĩnh hằng của không gian. Xuân Diệu muốn "đốt cháy" cuộc đời, còn Huy Cận muốn "thấu hiểu" sự trầm mặc của nó. Sự khác biệt này không triệt tiêu nhau, mà bổ sung cho nhau. Cả hai đều là sản phẩm của một thời đại đầy biến động, nơi con người vừa cảm thấy kiêu hãnh vì cái "tôi" cá nhân trỗi dậy, vừa cảm thấy bơ vơ trước sự thay đổi của xã hội cũ. Nếu Xuân Diệu chạy trốn nỗi cô đơn bằng cách "sống gấp", thì Huy Cận lại đối diện với nó bằng cách "thưởng thức" nỗi buồn.
Tóm lại, Vội vàng và Tràng giang như hai mảnh ghép không thể tách rời trong tâm hồn con người thời đại Thơ mới. Qua hai tác phẩm, chúng ta thấy được một thời kỳ mà cái tôi cá nhân đã lên tiếng mạnh mẽ, đầy kiêu hãnh và cũng đầy tổn thương. Đọc Xuân Diệu, ta học được cách trân trọng từng phút giây của cuộc sống; đọc Huy Cận, ta học được cách đối diện với những khoảng lặng và nỗi cô đơn của chính mình. Chính sự đa dạng trong cách biểu hiện cái tôi của hai nhà thơ đã làm phong phú thêm cho nền văn học Việt Nam, khẳng định rằng dù là cuồng nhiệt hay ưu tư, cái tôi cá nhân vẫn luôn là nguồn cội của mọi sáng tạo nghệ thuật đích thực. Sự vĩ đại của họ không nằm ở chỗ ai đúng hơn ai, mà ở chỗ họ đã sống trọn vẹn với cái tôi của mình, để lại cho hậu thế những vần thơ bất hủ, vang vọng mãi trong dòng chảy thời gian.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 2
Có những thời đại mà con người sống trong những khuôn mẫu chung, cái cá nhân chìm lấp sau những chuẩn mực tập thể. Nhưng cũng có những thời đại mà con người bỗng nhận ra mình là một vũ trụ riêng biệt, mang những khát vọng, đau đớn và tiếng nói không thể hòa tan. Phong trào Thơ mới 1932 – 1945 chính là cuộc cách mạng của ý thức cá nhân ấy. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam, cái tôi cá nhân cất lên thành tiếng nói trung tâm của nghệ thuật. Trong dòng chảy ấy, Huy Cận và Xuân Diệu xuất hiện như hai vì sao sáng, cùng khẳng định giá trị của con người cá thể nhưng lại mang những sắc thái tâm hồn hoàn toàn khác biệt. Nếu Tràng giang là tiếng lòng của một cái tôi cô đơn, lạc lõng trước không gian vũ trụ mênh mang thì Vội vàng lại là khúc ca nồng nhiệt của một cái tôi yêu đời, khát sống đến cuồng say. Đặt hai tác phẩm bên cạnh nhau, ta không chỉ thấy những nét riêng độc đáo trong phong cách của mỗi nhà thơ mà còn nhận ra diện mạo phong phú, sâu sắc của cái tôi Thơ mới.
Trước hết, cả Tràng giang và Vội vàng đều là những biểu hiện tiêu biểu của ý thức cá nhân trong văn học hiện đại. Nếu thơ trung đại thường đề cao cái ta cộng đồng, xem cá nhân như một phần của đạo lý và xã hội thì đến Thơ mới, con người bắt đầu đối diện với chính mình. Những rung động riêng tư, những suy tư cá nhân trở thành đối tượng biểu hiện của nghệ thuật. Trong cả hai bài thơ, người đọc đều cảm nhận được sự hiện diện mãnh liệt của chủ thể trữ tình. Đó là cái tôi đang cảm nhận, đang suy nghĩ, đang đối thoại với cuộc đời bằng tất cả chiều sâu tâm hồn mình. Tuy nhiên, từ điểm gặp gỡ ấy, Huy Cận và Xuân Diệu đã mở ra hai thế giới cảm xúc khác nhau, phản ánh hai cách ứng xử khác nhau của con người trước cuộc sống.
Trong Tràng giang, cái tôi hiện lên trước hết là một cái tôi cô đơn, nhỏ bé giữa vũ trụ rộng lớn vô cùng. Ngay từ nhan đề, Huy Cận đã gợi ra một không gian sông nước mênh mang, trải dài bất tận. Trước không gian ấy, con người không xuất hiện với tư thế làm chủ mà hiện lên như một sinh thể cô độc, lẻ loi.
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.”
Nỗi buồn không chỉ nằm trong lòng người mà như lan tỏa vào cảnh vật, thấm vào từng làn sóng. Từ láy “điệp điệp” khiến nỗi buồn như nối tiếp, chồng chất không dứt. Hình ảnh con thuyền vốn gợi sự giao hòa, kết nối nhưng ở đây lại “xuôi mái”, buông trôi vô định. Con thuyền và dòng nước “song song” mà không gặp gỡ, như những kiếp người cùng tồn tại nhưng không thể tìm thấy sự đồng cảm.
Nỗi cô đơn ấy tiếp tục được đẩy lên thành cảm giác bơ vơ, mất liên hệ với cuộc đời:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Không gian càng rộng thì con người càng cảm thấy mình nhỏ bé. Âm thanh của cuộc sống chỉ còn là tiếng vọng mơ hồ “đâu tiếng làng xa”, vừa như có, vừa như không. Đó là sự kiếm tìm hơi ấm của đời sống con người nhưng cuối cùng chỉ nhận lại khoảng trống mênh mông.
Đỉnh điểm của cảm giác cô đơn được thể hiện trong hai câu thơ:
“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang.”
Hình ảnh cánh bèo trở thành biểu tượng cho thân phận con người mất phương hướng giữa dòng đời. Không có đò ngang, không có cầu nối, nghĩa là không có sự giao cảm giữa người với người. Đó là bi kịch tinh thần của lớp trí thức đương thời: khao khát hòa nhập nhưng lại bị cuộc sống thực tại đẩy vào trạng thái cô độc.
Đặc biệt, cái tôi trong Tràng giang không chỉ cô đơn mà còn mang nỗi sầu nhân thế và tình yêu quê hương thầm kín. Khổ thơ cuối khép lại bằng cảm xúc:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Nỗi nhớ quê không cần đến tác nhân gợi nhớ như trong thơ cổ. Nó xuất phát từ chính chiều sâu tâm hồn nhà thơ. Đằng sau nỗi buồn vũ trụ là nỗi đau của một con người yêu quê hương, yêu đất nước nhưng chưa tìm thấy lối đi cho dân tộc trong thời buổi mất nước. Bởi vậy, cái tôi Huy Cận tuy cô đơn nhưng không bi lụy; nó chứa đựng chiều sâu triết lý và vẻ đẹp nhân văn đáng quý.
Nếu Tràng giang là tiếng thở dài của một tâm hồn cô độc thì Vội vàng lại là khúc hát say mê của một cái tôi khát sống mãnh liệt. Xuân Diệu xuất hiện trong Thơ mới như một hiện tượng đặc biệt. Ông không hướng tâm hồn về quá khứ mà hướng về hiện tại; không chìm trong nỗi sầu mà cháy bỏng tình yêu cuộc sống.
Ngay mở đầu bài thơ, cái tôi đã xuất hiện đầy táo bạo:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Điệp ngữ “tôi muốn” vang lên như một lời tuyên ngôn mạnh mẽ. Nhà thơ muốn can thiệp vào quy luật tự nhiên để giữ lại vẻ đẹp của cuộc đời. Đó là khát vọng tưởng chừng phi lý nhưng lại vô cùng hợp lý trong thế giới cảm xúc của một trái tim yêu đời đến cuồng nhiệt.
Khác với Huy Cận nhìn vũ trụ bằng đôi mắt trầm tư, Xuân Diệu nhìn cuộc sống bằng ánh mắt say mê của người tình. Thiên đường không ở đâu xa mà hiện diện ngay trên mặt đất:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì.”
Điệp từ “này đây” như những cử chỉ nâng niu, trân trọng. Mọi vẻ đẹp của cuộc sống đều hiện lên tươi non, căng tràn sức sống. Thế giới trong thơ Xuân Diệu không phải thế giới của chia lìa mà là thế giới của gặp gỡ, giao hòa và hạnh phúc.
Tuy nhiên, đằng sau niềm say mê ấy lại là một nỗi lo âu thường trực trước sự chảy trôi của thời gian. Nhà thơ nhận ra:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.”
Nếu Huy Cận buồn vì sự nhỏ bé của con người trước không gian thì Xuân Diệu lo lắng vì sự hữu hạn của đời người trước thời gian. Nhận thức ấy khiến cái tôi không chìm vào tuyệt vọng mà càng khát khao sống mãnh liệt hơn.
Bởi thế, đoạn cuối bài thơ vang lên như một lời giục giã:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Và đặc biệt là tiếng gọi sống đầy cuồng nhiệt:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn.”
Động từ mạnh liên tiếp xuất hiện: “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn”… diễn tả một tâm thế sống hết mình. Đây không còn là cái tôi cô đơn, thu mình trước cuộc đời mà là cái tôi muốn hòa nhập, muốn tận hưởng và khẳng định giá trị tồn tại của bản thân.
So sánh hai tác phẩm, có thể thấy điểm khác biệt lớn nhất nằm ở cách hai nhà thơ cảm nhận thế giới và vị thế của con người trong thế giới ấy. Huy Cận hướng cái nhìn ra không gian vũ trụ bao la để cảm nhận sự hữu hạn, cô đơn của con người. Cái tôi của ông thiên về suy tưởng, trầm lắng, mang màu sắc cổ điển và giàu chất triết lý. Ngược lại, Xuân Diệu hướng cái nhìn vào sự sống trần thế, vào hiện tại tươi đẹp để khẳng định giá trị của cuộc đời. Cái tôi của ông sôi nổi, mãnh liệt, hiện đại và giàu cảm xúc.
Sự khác biệt ấy xuất phát từ phong cách nghệ thuật riêng của mỗi người. Huy Cận là nhà thơ của “nỗi sầu vũ trụ”, thường tìm đến những không gian rộng lớn để gửi gắm suy tư nhân sinh. Xuân Diệu lại là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, luôn nhìn cuộc sống bằng đôi mắt trẻ trung và trái tim yêu đời tha thiết. Một bên là nỗi buồn sâu lắng, một bên là niềm vui sống cuồng nhiệt; một bên nghiêng về chiều sâu triết lý, một bên nghiêng về cảm xúc trần thế. Nhưng cả hai đều gặp nhau ở tình yêu cuộc sống và khát vọng khẳng định giá trị con người cá nhân.
Có thể nói, Tràng giang và Vội vàng là hai đỉnh cao tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Qua hai tác phẩm, cái tôi cá nhân được biểu hiện với những sắc thái phong phú: vừa cô đơn, khắc khoải trước cuộc đời, vừa say mê, cháy bỏng khát vọng sống. Nếu Huy Cận giúp người đọc cảm nhận chiều sâu của tâm hồn con người trước vũ trụ thì Xuân Diệu đánh thức trong ta tình yêu cuộc sống và ý thức trân trọng từng khoảnh khắc tồn tại. Hai cái tôi ấy khác nhau nhưng cùng góp phần làm nên vẻ đẹp rực rỡ của Thơ mới, đồng thời khẳng định bước trưởng thành quan trọng của ý thức cá nhân trong văn học Việt Nam hiện đại.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 3
Trong dòng chảy hùng tráng của Thơ Mới Việt Nam những năm 1930-1945, hai giọng thơ Huy Cận và Xuân Diệu như hai cực nam châm đối lập mà lại tương phản diệu kỳ, cùng khắc họa cái “tôi” trữ tình đầy day dứt trước dòng đời và thời gian. Nếu “Tràng giang” của Huy Cận mở ra một không gian mênh mông, lạnh lẽo nơi cái tôi tan biến vào nỗi cô đơn vũ trụ, thì “Vội vàng” của Xuân Diệu là tiếng gào thét cuồng nhiệt của cái tôi khao khát đoạt đoạt lấy sự sống trước khi thời gian nuốt chửng. Hai bài thơ, hai thái cực của cái tôi: một bên là sự hòa tan bất lực vào cái vô hạn, một bên là sự bùng nổ khát khao khẳng định cái hữu hạn. Qua đó, người đọc không chỉ thấy hai phong cách thơ mà còn bắt gặp hai triết lý sống sâu sắc của thế hệ trí thức trẻ trước cơn bão táp của hiện đại.
Trước hết, cái tôi trong “Tràng giang” là một cái tôi cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng trước thiên nhiên bao la. Bài thơ được sáng tác khi Huy Cận đứng bên bờ sông Hồng, nhìn sóng nước mênh mông mà lòng dấy lên nỗi bâng khuâng. Ngay từ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, cái tôi đã hiện lên với tâm trạng u uất, mơ hồ. Thiên nhiên trong thơ Huy Cận không phải là chỗ dựa an ủi như thơ cổ điển mà là chứng nhân cho sự vô định của kiếp người.
Hình ảnh “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song” gợi không gian rộng lớn, buồn man mác. Sóng “điệp điệp”, nước “song song” – những từ láy cổ điển – càng nhấn mạnh sự lặp lại vô tận của tạo hóa, đối lập với sự hữu hạn của con người. Cành “củi một cành khô lạc mấy dòng” là biểu tượng hoàn hảo cho cái tôi: nhỏ nhoi, khô héo, trôi dạt vô định giữa dòng đời. “Một” và “mấy” tạo cảm giác chênh lệch khủng khiếp giữa cái riêng lẻ và cái mênh mông. Cái tôi ấy không chỉ cô đơn mà còn thấm đẫm nỗi sầu nhân thế, yêu nước thầm kín. “Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” – nỗi nhớ nhà, nhớ quê hòa quyện vào nỗi buồn vũ trụ, phản ánh tâm trạng chung của thế hệ thanh niên trí thức trước cảnh nước mất nhà tan, thời cuộc rối ren.
Cái tôi trong “Tràng giang” mang tính chiêm nghiệm, trầm tư, hướng nội. Nó không kêu gào mà lặng lẽ đối diện với sự vô thường. Thiên nhiên được miêu tả bằng bút pháp cổ điển (tả cảnh ngụ tình) nhưng tinh thần hiện đại: con người không hòa tan mà càng cảm nhận rõ hơn sự cách biệt, cô liêu. “Mênh mông không một chuyến đò ngang / Không cầu gợi chút niềm thân mật” – ngay cả sự giao cảm với đời cũng bị chối từ. Cái tôi ấy mang nỗi buồn sâu lắng, giàu triết lý về kiếp người nhỏ bé trước dòng chảy thời gian và không gian vô tận.
Ngược lại, cái tôi trong “Vội vàng” của Xuân Diệu là cái tôi cuồng nhiệt, khát khao sống, khẳng định mình mãnh liệt trước thời gian tàn nhẫn. Xuân Diệu – “ông hoàng thơ tình” – mở đầu bằng những khát vọng “phi lý” đầy táo bạo: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi.” Cái tôi ở đây không cam chịu mà muốn thay đổi quy luật tạo hóa, muốn giữ mãi sắc xuân, hương tình. “Tôi” được lặp lại như lời tuyên ngôn của một cá nhân đầy chủ thể, không giấu diếm khát khao.
Bức tranh thiên nhiên trong “Vội vàng” tràn đầy sức sống: ong bướm tuần tháng mật, hoa đồng nội xanh rì, lá cành tơ phơ phất, yến anh khúc tình si… Tất cả đều được nhìn qua lăng kính say mê, khoái cảm. Nhưng đằng sau niềm vui là nỗi sợ hãi thời gian: “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già / Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.” Cái tôi Xuân Diệu nhận ra quy luật khắc nghiệt: tuổi trẻ không trở lại, thời gian một chiều. Vì thế, nó vội vàng, cuống cuồng: “Ta muốn ôm / Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn… / Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
Nếu cái tôi Huy Cận là sự tan biến, hòa quyện bất lực thì cái tôi Xuân Diệu là sự bùng nổ, chiếm đoạt. Một bên hướng về không gian mênh mông để chiêm nghiệm nỗi cô đơn, một bên hướng về thời gian để tranh đấu với vô thường. Cả hai đều xuất phát từ nỗi lo âu tồn tại của con người hiện đại, nhưng cách ứng xử khác nhau: Huy Cận buồn da diết, Xuân Diệu sống cuồng si.
So sánh sâu hơn, hai cái tôi đều mang tinh thần Thơ Mới: cái tôi cá nhân được đề cao, cảm xúc chân thực, cá tính hóa. Tuy nhiên, Huy Cận nghiêng về truyền thống (cổ điển trong hình ảnh, ngôn từ), còn Xuân Diệu cách tân mạnh mẽ (tự do, nhịp điệu gấp gáp, hình ảnh sống động). Cái tôi Huy Cận mang nỗi sầu chung của dân tộc trong thời kỳ thuộc địa, cái tôi Xuân Diệu mang khát vọng cá nhân mãnh liệt, tiên phong cho quan niệm sống mới. Điểm chung là cả hai đều thể hiện sự nhạy cảm với thời gian và không gian, đều hướng tới cái Đẹp và cái Thiện, dù một bên qua nỗi buồn, một bên qua niềm vui.
Qua “Tràng giang” và “Vội vàng”, người đọc thấy rõ hai khuôn mặt của cái tôi Thơ Mới: một bên trầm mặc, chiêm nghiệm, một bên sôi nổi, hành động. Đó không chỉ là hai phong cách thơ mà còn là hai thái độ sống trước dòng đời: chấp nhận với nỗi buồn sâu thẳm hay vội vàng nắm bắt khoảnh khắc. Trong hành trình văn học Việt Nam, hai bài thơ vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở thế hệ hôm nay về việc cân bằng giữa chiêm nghiệm và khát khao, giữa cô đơn và sống hết mình. Cái tôi ấy, dù khác biệt, đều là tiếng lòng chân thực của những thi nhân tài hoa, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc muôn đời.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 4
Trong vườn hoa thi ca Việt Nam thời kì 1930 – 1945, phong trào Thơ mới nổi lên như một cuộc cách mạng rực rỡ, đánh dấu sự lên ngôi của cái tôi cá nhân sau hàng thế kỉ bị kìm hãm trong cái ta cộng đồng của thi pháp trung đại. Giữa làn sóng ấy, Xuân Diệu và Huy Cận hiện lên như hai ngôi sao sáng nhất, cùng chung một bầu khí quyển lãng mạn nhưng lại mang hai gương mặt tâm hồn hoàn toàn khác biệt. Nếu Xuân Diệu là một "ông hoàng thơ tình" với khát vọng sống cuồng nhiệt, vội vàng đến cháy bỏng, thì Huy Cận lại là một hồn thơ mang nặng nỗi sầu nhân thế, một cái tôi cô đơn tuyệt đối giữa dòng đời vạn biến. Qua hai thi phẩm tiêu biểu là Vội vàng và Tràng giang, ta không chỉ thấy được tài năng nghệ thuật bậc thầy mà còn thấy rõ hai cách thức định vị bản thể khác nhau: một bên là cái tôi "thèm khát giao hòa" và một bên là cái tôi "trăn trở kiếm tìm kết nối".
Xuân Diệu đến với thi đàn như một luồng gió lạ, đem theo cái tôi đầy bản lĩnh và khao khát sống. Trong Vội vàng, cái tôi ấy hiện lên đầy rạo rực, kiêu hãnh. Với Xuân Diệu, vũ trụ không phải là một cõi phù du, mà là một bữa tiệc trần gian đầy mật ngọt. Cái tôi trong Vội vàng được định nghĩa qua sự chủ động chiếm lĩnh. Nhà thơ không ngần ngại bày tỏ ý định táo bạo: "Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi". Đây là một cái tôi mang tư thế của một vị chúa tể, muốn can thiệp vào quy luật của tự nhiên để lưu giữ lấy vẻ đẹp của cuộc đời. Đó không phải là sự ngông cuồng, mà là biểu hiện của một tâm hồn yêu sự sống đến cuồng nhiệt. Xuân Diệu nhìn đâu cũng thấy xuân, thấy tình, bởi ông mang trong mình một "cặp mắt thần" luôn phát hiện ra vẻ đẹp đầy gợi cảm của ong bướm, hoa lá, ánh sáng và âm thanh. Nỗi sợ hãi sự trôi chảy của thời gian chính là động lực khiến cái tôi ấy phải "vội vàng". Khi nhận ra "Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua", cái tôi Xuân Diệu không rơi vào trạng thái bế tắc, hoài nghi mà chuyển hóa thành triết lý sống tích cực: sống nhanh, sống gấp, sống tận hưởng. Ông muốn "ôm", muốn "riết", muốn "say", muốn "thâu", muốn "cắn" – những động từ mạnh mẽ thể hiện sự khao khát hòa nhập và chiếm đoạt vẻ đẹp trần gian. Cái tôi của Xuân Diệu là cái tôi của sự tận hiến, vì sợ thời gian cướp đi hương sắc, nên ông phải sống trọn vẹn từng giây để không bao giờ phải hối tiếc.
Trái ngược với sự cuồng nhiệt của Xuân Diệu, cái tôi của Huy Cận trong Tràng giang lại là một nốt trầm sâu lắng, đậm chất triết lí và mang màu sắc cổ điển. Nếu Xuân Diệu là "đứa con của ánh sáng và sự chuyển động", thì Huy Cận là "đứa con của không gian và sự tĩnh lặng". Trong Tràng giang, cái tôi của Huy Cận không đối mặt với thời gian mà đối mặt với không gian vô tận. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ hiện ra với sự bát ngát, rợn ngợp: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song". Cái tôi ấy đứng giữa vũ trụ bao la, đối diện với những gì là bé nhỏ, phù du. Hình ảnh "con thuyền" trôi dạt vô định, không bến đỗ, không người lái là biểu tượng đích thực cho thân phận cá nhân trong thế giới rộng lớn. Cái tôi của Huy Cận không tìm cách "buộc gió, tắt nắng" mà đi tìm sự đồng cảm, kết nối nhưng càng tìm càng thấy cô đơn. Sự tương phản giữa cái hữu hạn của kiếp người (cánh chim nhỏ) với cái vô cùng của vũ trụ (chiều sa, mây đùn) đã xoáy sâu vào tâm thức người đọc về một cái tôi đơn độc, lẻ loi. Nỗi buồn trong Tràng giang không phải là nỗi buồn cá nhân tầm thường, đó là "nỗi sầu vạn cổ", một cái tôi mang nặng nỗi ưu tư về thân phận con người và tình yêu quê hương, đất nước trong cảnh mất chủ quyền.
Khi đặt cạnh nhau, ta thấy rõ sự tương đồng và khác biệt thú vị giữa hai cái tôi này. Cả Xuân Diệu và Huy Cận đều là những cái tôi đầy tính nhân văn, họ đều trân trọng vẻ đẹp của sự sống và nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian. Cả hai đều tìm đến nghệ thuật như một cách để giải tỏa những bức bối của cái tôi cá nhân giữa cuộc đời, thoát ly khỏi cái cũ để khẳng định cá tính độc bản. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở chiều hướng cảm xúc: Xuân Diệu hướng ngoại, muốn chiếm lĩnh và hòa nhập với thế giới bằng mọi giác quan, trong khi Huy Cận hướng nội, dùng cái tôi để soi chiếu vào vũ trụ, từ đó thấy mình nhỏ bé và cô đơn. Về quan niệm thời gian, Xuân Diệu sợ thời gian qua nhanh nên vội vàng tận hưởng, còn Huy Cận thấy thời gian trôi đi là sự tàn úa của vạn vật, dẫn đến tâm trạng hoài cổ, buồn bã. Về nghệ thuật, Xuân Diệu sử dụng ngôn từ đầy sức sống, gợi cảm với nhịp điệu dồn dập, còn Huy Cận lại chọn ngôn từ hàm súc, giàu tính tạo hình và âm hưởng trang trọng, cổ điển.
Cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang chính là hai mảnh ghép hoàn hảo của bức tranh Thơ mới. Xuân Diệu với cái tôi vội vàng đã dạy chúng ta bài học về sự sống, về tình yêu cuộc đời, truyền đi một năng lượng sống mãnh liệt. Huy Cận với cái tôi trong Tràng giang lại đánh thức trong lòng ta những rung cảm tinh tế về vũ trụ, về nỗi cô đơn nhân thế, từ đó nuôi dưỡng chiều sâu tâm hồn và lòng yêu quê hương thầm kín. Không thể nói ai hay hơn ai, bởi cả hai đều đã chạm đến đỉnh cao của cảm xúc. Xuân Diệu là một ngọn lửa, còn Huy Cận là một dòng sông. Ngọn lửa cần dòng sông để làm dịu lại những cuồng nhiệt, và dòng sông cần ngọn lửa để sưởi ấm những lạnh giá, cô đơn. Hai cái tôi ấy, dù bằng những con đường khác nhau, đều đã góp phần làm phong phú thêm tâm hồn người Việt, khẳng định vị thế của người nghệ sĩ trong việc khám phá và diễn đạt những tầng sâu ẩn giấu của nhân sinh.
Trong xã hội hiện đại, nơi con người thường bị cuốn vào vòng xoáy của vật chất, việc đọc lại Vội vàng và Tràng giang vẫn giữ nguyên giá trị. Chúng ta cần cái "vội vàng" của Xuân Diệu để sống trọn vẹn với những yêu thương, và cần cái "tràng giang" của Huy Cận để biết tĩnh lặng, biết suy tư và thấu cảm hơn với cuộc đời. Đó chính là vẻ đẹp vĩnh cửu mà hai thi sĩ lỗi lạc đã để lại cho hậu thế.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 5
Có những thời đại mà con người sống như một phần vô danh của cộng đồng, tiếng nói cá nhân chìm khuất sau những chuẩn mực tập thể. Nhưng cũng có những thời đại, con người khao khát được sống là chính mình, được cất lên tiếng nói riêng tư nhất của tâm hồn. Phong trào Thơ mới 1932–1945 chính là cuộc cách mạng như thế. Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, cái tôi cá nhân xuất hiện với đầy đủ những cung bậc cảm xúc, những khát vọng và bi kịch sâu kín nhất. Trong bản hòa âm phong phú của Thơ mới, Huy Cận và Xuân Diệu là hai giọng thơ lớn, hai ngôi sao sáng cùng tỏa rạng trên bầu trời thi ca nhưng lại mang những sắc màu khác biệt. Nếu cái tôi trong Tràng giang là một tâm hồn cô đơn, mang nỗi sầu nhân thế và khát vọng tìm về cội nguồn quê hương thì cái tôi trong Vội vàng lại hiện lên như một con người yêu đời cuồng nhiệt, khao khát tận hưởng từng khoảnh khắc của sự sống. Đặt hai tác phẩm bên cạnh nhau, ta không chỉ thấy được những nét riêng độc đáo của mỗi thi sĩ mà còn cảm nhận sâu sắc diện mạo tinh thần của cả một thế hệ thanh niên trí thức trước ngưỡng cửa hiện đại.
Trước hết, cả Tràng giang và Vội vàng đều là sự khẳng định mạnh mẽ của cái tôi cá nhân – thành tựu nổi bật nhất của phong trào Thơ mới. Cả Huy Cận và Xuân Diệu đều hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm, lấy cảm xúc chủ quan làm trung tâm của sáng tạo nghệ thuật. Thiên nhiên trong thơ họ không còn là đối tượng miêu tả đơn thuần mà trở thành tấm gương phản chiếu tâm trạng con người. Đồng thời, cả hai nhà thơ đều thể hiện sự nhạy cảm đặc biệt trước cuộc sống, trước thời gian và số phận con người. Đó là những tâm hồn luôn trăn trở về ý nghĩa tồn tại của bản thân giữa cuộc đời rộng lớn.
Tuy nhiên, nếu đi sâu khám phá, ta sẽ nhận ra hai cái tôi ấy mang những sắc thái gần như đối lập.
Trong Tràng giang, cái tôi trữ tình hiện lên trước hết là một cái tôi cô đơn, nhỏ bé giữa không gian vô tận của vũ trụ. Ngay từ nhan đề “Tràng giang”, âm hưởng cổ kính đã gợi ra một dòng sông dài rộng, mênh mang đến vô cùng. Giữa không gian ấy, con người dường như bị thu nhỏ đến mức gần như biến mất:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Tất cả đều thưa vắng, hiu quạnh. Cồn cát chỉ “lơ thơ”, tiếng làng cũng chỉ vọng lại từ một nơi xa xăm, mờ nhạt. Không gian không có sự sống mà chỉ có sự tàn phai của sự sống. Đặc biệt, hình ảnh:
“Củi một cành khô lạc mấy dòng”
đã trở thành biểu tượng cho thân phận con người trong thơ Huy Cận. Một cành củi khô bé nhỏ, vô định, lênh đênh giữa dòng nước mênh mông. Đó không chỉ là hình ảnh thực mà còn là ẩn dụ cho cái tôi bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời. Con người ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của bản thân trước cái vô hạn của vũ trụ.
Nỗi cô đơn ấy càng trở nên sâu sắc khi nhà thơ đối diện với thiên nhiên. Thiên nhiên trong Tràng giang không phải thiên nhiên gần gũi, ấm áp mà là thiên nhiên mang tầm vóc vũ trụ:
“Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Cách dùng từ “sâu chót vót” là một sáng tạo đặc sắc. Độ cao của bầu trời được cảm nhận bằng chiều sâu, khiến không gian như mở rộng đến vô cùng. Trước thiên nhiên ấy, con người chỉ còn là một “bến cô liêu” lặng lẽ. Cái tôi Huy Cận luôn cảm thấy mình bị tách biệt khỏi thế giới, không tìm thấy sự giao cảm với cuộc đời:
“Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật.”
Những hình ảnh vốn tượng trưng cho sự kết nối – đò ngang, cây cầu – đều vắng bóng. Đó chính là bi kịch của cái tôi cá nhân trong xã hội đương thời: khao khát giao hòa nhưng lại rơi vào cô độc.
Tuy nhiên, đằng sau nỗi cô đơn ấy không phải là sự tuyệt vọng mà là một tình yêu quê hương tha thiết. Khổ thơ cuối khép lại bằng nỗi nhớ nhà da diết:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Nếu trong thơ cổ, nỗi nhớ quê thường được gợi lên từ làn khói chiều thì Huy Cận không cần đến tín hiệu ấy. Nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc thường trực, tự thân dâng lên từ đáy lòng. Vì thế, cái tôi trong Tràng giang tuy buồn nhưng không bi lụy; đó là nỗi buồn của một tâm hồn giàu tình yêu đất nước, yêu quê hương nhưng chưa tìm thấy con đường hòa nhập với cuộc đời.
Trái ngược với Huy Cận, cái tôi trong Vội vàng của Xuân Diệu hiện lên đầy sôi nổi, mãnh liệt và khát khao sống đến cháy bỏng.
Mở đầu bài thơ là một ước muốn tưởng chừng phi lý:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Điệp ngữ “tôi muốn” vang lên như một lời tuyên ngôn mạnh mẽ về cái tôi cá nhân. Lần đầu tiên trong thơ Việt Nam, cái tôi xuất hiện trực diện, công khai và táo bạo đến thế. Nhà thơ muốn can thiệp vào quy luật tự nhiên chỉ để giữ lại vẻ đẹp của cuộc sống. Đằng sau ước muốn ấy là một tình yêu tha thiết đối với trần gian.
Nếu Huy Cận nhìn thiên nhiên bằng đôi mắt thấm đượm nỗi buồn thì Xuân Diệu nhìn thế giới bằng ánh mắt say mê của một người đang yêu. Thiên đường không ở đâu xa mà hiện hữu ngay trên mặt đất:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất…”
Điệp từ “này đây” được lặp lại liên tiếp như những cử chỉ chỉ trỏ đầy háo hức. Thiên nhiên hiện lên tràn ngập sức sống, căng đầy hương sắc. Cái tôi Xuân Diệu không thu mình trước vũ trụ mà mở rộng mọi giác quan để đón nhận cuộc đời.
Tuy nhiên, phía sau niềm say mê ấy là một nỗi ám ảnh lớn về thời gian. Nếu Huy Cận buồn vì không gian vô tận thì Xuân Diệu lo âu vì thời gian hữu hạn:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.”
Nhà thơ nhận thức sâu sắc quy luật chảy trôi của thời gian. Tuổi trẻ, vẻ đẹp và sự sống đều không tồn tại mãi mãi. Chính vì vậy, cái tôi Xuân Diệu luôn sống trong tâm thế vội vàng, cuống quýt trước sự ngắn ngủi của đời người. Đó là một quan niệm sống mới mẻ, hiện đại, mang đậm dấu ấn của ý thức cá nhân.
Từ nhận thức ấy, nhà thơ cất lên lời giục giã sống hết mình:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Và cuối cùng bùng nổ thành tiếng reo cuồng nhiệt:
“Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn…”
Hàng loạt động từ mạnh như “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” diễn tả khát vọng chiếm lĩnh cuộc sống đến tận cùng. Cái tôi Xuân Diệu không chấp nhận đứng ngoài cuộc đời mà muốn hòa nhập, tận hưởng và sống trọn vẹn từng giây phút.
Sự khác biệt giữa hai cái tôi xuất phát từ những quan niệm nghệ thuật và cá tính sáng tạo riêng của mỗi nhà thơ. Huy Cận là nhà thơ của “nỗi sầu vũ trụ”, thường hướng về những suy tư triết lí, cảm nhận sâu sắc sự cô đơn của con người giữa không gian rộng lớn. Trong khi đó, Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”, luôn hướng về sự sống trần thế với niềm yêu say đắm. Một bên nghiêng về chiều sâu chiêm nghiệm, một bên nghiêng về cường độ cảm xúc. Một bên là nỗi buồn cô tịch, một bên là niềm yêu đời cuồng nhiệt.
Dẫu khác biệt, cả hai cái tôi đều gặp nhau ở một điểm: đó là khát vọng khẳng định giá trị con người cá nhân. Họ đều là những tâm hồn nhạy cảm, tha thiết với cuộc đời, mang trong mình nỗi đau và niềm vui của một thế hệ đang đi tìm vị trí của bản thân trong xã hội cũ. Chính điều đó đã làm nên giá trị nhân văn sâu sắc cho hai tác phẩm.
Tràng giang và Vội vàng giống như hai cực cảm xúc của phong trào Thơ mới. Một bên là tiếng thở dài cô đơn trước vũ trụ mênh mang, một bên là tiếng gọi sống cuồng nhiệt trước bước đi của thời gian. Nhưng dù buồn hay vui, trầm lắng hay sôi nổi, cả hai đều là những biểu hiện đẹp đẽ của cái tôi cá nhân đang thức tỉnh mạnh mẽ. Qua hai tác phẩm, Huy Cận và Xuân Diệu không chỉ để lại những áng thơ bất hủ mà còn khắc họa chân thực hành trình con người hiện đại đi tìm chính mình giữa cuộc đời rộng lớn. Đó cũng là lý do khiến tiếng thơ của họ vẫn còn ngân vang trong lòng nhiều thế hệ bạn đọc hôm nay.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 6
Trong dòng chảy bất tận của phong trào Thơ Mới (1932-1945), Xuân Diệu và Huy Cận nổi lên như hai gương mặt tiêu biểu, những tri kỷ cùng chia sẻ niềm đam mê thi ca nhưng lại mang đến những giọng thơ độc đáo không thể trộn lẫn. Nếu Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới” với nguồn sống dào dạt, khát khao cháy bỏng với cuộc đời, thì Huy Cận lại gây ấn tượng với hồn thơ ảo não, man mác nỗi buồn vũ trụ, gợi lên nỗi niềm của những người trí thức trước thời cuộc rối ren. Hai cá tính sáng tác đối lập ấy hiện lên một cách sâu sắc và toàn vẹn qua hai thi phẩm bất hủ: Tràng giang của Huy Cận và Vội vàng của Xuân Diệu. Cả hai bài thơ đều là tiếng vọng của cái tôi trữ tình cá nhân mạnh mẽ - một đặc điểm mang tính bước ngoặt của Thơ Mới, nhưng lại thể hiện những cung bậc cảm xúc, triết lý sống và tình yêu với cuộc đời hoàn toàn khác biệt, cùng nhau tạo nên bức tranh đa sắc màu của thi ca Việt Nam những năm trước Cách mạng Tháng Tám.
Cái tôi trữ tình trong cả hai tác phẩm đều bắt nguồn từ tinh thần chung của phong trào Thơ Mới, đánh dấu sự thức tỉnh mạnh mẽ của ý thức cá nhân sau hàng thế kỷ bị khuất phục trong khuôn khổ văn học trung đại. Trước Thơ Mới, thơ ca Việt Nam thường gắn liền với cái tôi cộng đồng, với những khuôn mẫu thi pháp gò bó, ngăn cấm sự bộc lộ chân thực của cảm xúc cá nhân. Thì từ khi Thơ Mới ra đời, chữ “tôi” xuất hiện trên thi đàn như một lời tuyên ngôn về sự tự do của người nghệ sĩ, quyền được nói lên tiếng lòng, chia sẻ những niềm vui, nỗi đau riêng của mình trước cuộc đời và thiên nhiên. Cả Xuân Diệu và Huy Cận đều kế thừa và phát huy tinh thần ấy, để trong hai bài thơ của mình, cái tôi cá nhân luôn hiện diện rõ nét, không hề che giấu hay ẩn mình sau những hình ảnh sáo rỗng. Hơn nữa, cả hai cái tôi ấy đều thấm đượm tình yêu sâu sắc với thiên nhiên, đất nước quê hương - một nguồn cảm hứng chung của hầu hết các nhà thơ Thơ Mới. Xuân Diệu hòa mình vào bức tranh mùa xuân rực rỡ để níu giữ vẻ đẹp của đất trời, Huy Cận đứng trước dòng sông mênh mông để bày tỏ nỗi nhớ quê hương da diết, đều xuất phát từ tình yêu chân thành với non sông Việt Nam. Tuy nhiên, từ điểm gặp gỡ ấy, hai cái tôi lại chia lìa theo những hướng hoàn toàn đối lập, thể hiện rõ nhất cá tính sáng tạo độc đáo của mỗi nhà thơ.
Trước hết, cái tôi trong Vội vàng của Xuân Diệu là một cái tôi hướng nội, cuồng nhiệt, đầy khát khao cháy bỏng muốn chiếm trọn mọi vẻ đẹp của cuộc đời, gắn liền với nỗi ám ảnh về sự trôi chảy vô tình của thời gian. Xuân Diệu trong bài thơ hiện lên như một người tình đắm say của cuộc đời, không bao giờ hài lòng với những gì mình đang có, luôn muốn níu giữ, tận hưởng mọi sắc màu hương vị của cuộc sống trước khi nó phai tàn. Ngay từ những câu thơ đầu tiên, cái tôi khát khao ấy đã bộc lộ một cách mãnh liệt qua điệp ngữ dồn dập: “Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi”. Ước muốn “tắt nắng”, “buộc gió” tưởng chừng vô lý ấy lại là lời thú nhận chân thực nhất của một trái tim yêu đời đến cuồng nhiệt, muốn can thiệp vào quy luật tự nhiên để bất tử hóa vẻ đẹp của cuộc đời. Xuân Diệu cảm nhận mùa xuân như một người tình quyến rũ, đầy sức sống, không chỉ nhìn bằng mắt mà còn cảm nhận bằng tất cả các giác quan: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” - một câu thơ táo bạo, độc đáo chưa từng có trong thơ ca Việt Nam, vật chất hóa thời gian để gợi lên vị ngọt ngào, say đắm của mùa xuân đang độ xuân sắc. Nhưng niềm sung sướng ngất ngây ấy luôn bị bao trùm bởi nỗi lo sợ vô hình về sự trôi chảy của thời gian, nỗi ám ảnh của Xuân Diệu về cái hữu hạn của đời người trước cái vô hạn của vũ trụ. Ông lo lắng day dứt: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già/ Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”. Điệp từ “nghĩa là” cùng những cặp từ đối lập “tới - qua”, “non - già” đã tạo nên một nhịp thơ hối hả, thể hiện sự hốt hoảng của nhà thơ trước thời gian không bao giờ dừng lại. Ông biết rằng tuổi trẻ chỉ đến một lần, mùa xuân không bao giờ lặp lại, cho nên giục giã bản thân phải vội vàng tận hưởng mọi vẻ đẹp của cuộc đời: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”. Những động từ mạnh mẽ liên tiếp như “ôm”, “riết”, “say”, “thâu”, “cắn” càng tô đậm cái tôi tham lam muốn hút trọn mọi thanh sắc của cuộc sống, một cái tôi đầy sức sống, mãnh liệt, tiêu biểu cho tinh thần lãng mạn trẻ trung của Xuân Diệu.
Ngược lại, cái tôi trong Tràng giang của Huy Cận lại là một cái tôi hướng ngoại, lạc lõng, mang nỗi buồn vũ trụ man mác trước sự bao la của thiên nhiên và nỗi ưu tư về thời cuộc. Nếu cái tôi của Xuân Diệu muốn hòa mình vào cuộc đời để chiếm trọn mọi vẻ đẹp, thì cái tôi của Huy Cận luôn đứng một mình, nhìn vào vũ trụ bao la để nhận ra sự nhỏ bé, cô đơn của kiếp người. Bài thơ được sáng tác năm 1939, khi Huy Cận đứng trên đê sông Hồng nhìn dòng nước lũ mênh mông, bàng hoàng trước sự hùng vĩ của thiên nhiên và tâm trạng bất lực của người trí thức trước cảnh nước mất nhà tan. Ngay từ lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, cái tôi trữ tình của nhà thơ đã hiện lên rõ nét với nỗi niềm bâng khuâng, cô đơn trước không gian mênh mông. Những câu thơ mở đầu đã khắc họa bức tranh sông nước hoang vắng, làm nổi bật thân phận nhỏ bé của con người: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Từ láy “điệp điệp” không chỉ miêu tả những con sóng nối tiếp vô tận trên dòng sông, mà còn gợi lên nỗi buồn chất chồng, triền miên trong tâm hồn nhà thơ. Hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” là một ẩn dụ sâu sắc cho thân phận của kiếp người nhỏ bé, trôi dạt vô định giữa dòng đời rộng lớn, giữa thời cuộc rối ren của đất nước. Không gian trong Tràng giang luôn được mở rộng đến vô cùng, làm cho cái tôi cá nhân càng trở nên đơn côi, lạc lõng: “Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Cụm từ “sâu chót vót” không chỉ miêu tả chiều sâu thăm thẳm của bầu trời lúc hoàng hôn, mà còn gợi lên nỗi trống vắng, cô đơn đến rợn ngợp trong tâm hồn nhà thơ. Cái tôi của Huy Cận không chỉ mang nỗi buồn cá nhân, mà còn thấm đượm nỗi buồn thời đại, nỗi đau của những người trí thức yêu nước mà bất lực trước cảnh đất nước bị đô hộ. Nỗi nhớ nhà da diết cuối bài thơ “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” không chỉ là nỗi nhớ quê hương đơn thuần, mà là nỗi nhớ về một tổ quốc bình yên, một đất nước độc lập, thể hiện tấm lòng yêu nước thầm kín nhưng sâu sắc của Huy Cận.
Sự khác biệt giữa hai cái tôi trữ tình ấy không chỉ xuất phát từ cá tính riêng của mỗi nhà thơ, mà còn phản ánh hai cách nhìn đời, hai thái độ sống khác nhau của những người trí thức cùng thời, cùng sống trong hoàn cảnh đất nước đen tối nhưng lại có những cách thể hiện cảm xúc riêng. Xuân Diệu chọn cách bộc lộ niềm khao khát sống mãnh liệt, để qua đó chống lại sự vô nghĩa của cuộc đời, để tình yêu với cuộc đời trở thành liều thuốc chữa lành nỗi buồn thời đại. Còn Huy Cận lại chọn cách chất chứa nỗi buồn vào những hình ảnh thiên nhiên, để nỗi sầu nhân thế hòa vào nỗi buồn vũ trụ, trở thành tiếng lòng chung của thế hệ. Cả hai cách thể hiện ấy đều có giá trị riêng, đều là những tiếng lòng chân thực của người nghệ sĩ, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng của thơ ca Thơ Mới.
Vội vàng và Tràng giang vì thế không chỉ là hai bài thơ tả cảnh, tả tình đơn thuần, mà là hai cái tôi trữ tình độc đáo, cùng nhau nói lên những tư tưởng, tình cảm sâu sắc của con người Việt Nam những năm trước cách mạng, để sau gần một thế kỷ, những dòng thơ ấy vẫn còn vang vọng, làm rung chuyển trái tim của biết bao thế hệ người đọc.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 7
Trong vườn hoa rực rỡ sắc màu của phong trào Thơ mới 1932-1945, Huy Cận và Xuân Diệu hiện lên như hai ngôi sao sáng, mang theo những phong vị riêng biệt của cái tôi trữ tình độc đáo. Nếu Xuân Diệu là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới", với trái tim đập nhịp vội vàng, cuống quýt trước cuộc đời, thì Huy Cận lại là một hồn thơ mang nặng nỗi sầu vạn cổ, lắng nghe tiếng vọng của vũ trụ bao la. Đặt hai thi phẩm Tràng giang và Vội vàng lên bàn cân, ta không chỉ thấy hai phong cách nghệ thuật khác biệt, mà còn thấu cảm được hai cách ứng xử, hai thái độ sống của những con người hiện đại khi đối diện với cái vô biên của thời gian và không gian. Qua hai tác phẩm này, "cái tôi" thi sĩ được bộc lộ một cách trọn vẹn, chân thực, vừa cô đơn đến tận cùng, vừa khát khao đến cháy bỏng.
Tràng giang là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước 1945: một nỗi buồn man mác, đậm đà màu sắc cổ điển nhưng lại mang hơi thở của thời đại mới. Cái tôi trong Tràng giang là cái tôi đầy mặc cảm về sự nhỏ bé của kiếp người giữa vũ trụ. Huy Cận đã đẩy cái tôi của mình vào một không gian "tràng giang" – con sông dài, không gian bao la, rợn ngợp. Ngay từ khổ thơ đầu, bức tranh thiên nhiên đã hiện lên với sự tương phản đối lập: "Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song". Hình ảnh con thuyền nhỏ bé, đơn độc giữa dòng nước mênh mông, xa vắng đã trở thành ẩn dụ cho thân phận con người. Cái tôi của Huy Cận không ồn ào, nó lặng lẽ chiêm nghiệm và tan hòa vào thiên nhiên. Nỗi buồn trong Tràng giang không phải là nỗi buồn cá nhân tầm thường, mà là nỗi sầu nhân thế, nỗi sầu vạn cổ. Đó là sự rợn ngợp trước cái vô cùng, vô tận của vũ trụ: "Lớp lớp mây cao đùn núi bạc / Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa". Cái tôi ấy cô đơn đến mức tìm kiếm sự giao cảm giữa người với người nhưng tất cả đều trở nên xa lạ, vô hình: "Không cầu gợi chút niềm thân mật / Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng". Sự độc đáo của cái tôi Huy Cận ở đây chính là tính chất "vũ trụ cảm". Ông nhìn sự vật bằng cái nhìn của một linh hồn đã tách khỏi thế giới, nhìn thấy sự mất mát, chia lìa trong từng chuyển động nhỏ nhất của tạo hóa. Nỗi buồn trong thơ Huy Cận là nỗi buồn của một trí thức Tây học, người đã nhận ra rằng khi con người ý thức được sự tồn tại của cái tôi cá nhân, họ cũng đồng thời ý thức được sự nhỏ bé và cô độc đến tội nghiệp của chính mình.
Nếu Huy Cận là một nốt trầm sâu lắng, thì Xuân Diệu là một nốt cao đầy nhiệt huyết trong bản nhạc Thơ mới. Cái tôi trong Vội vàng là cái tôi cuồng nhiệt, say đắm và đầy tham vọng. Ngay từ những dòng thơ mở đầu, Xuân Diệu đã bộc lộ một tư tưởng táo bạo: muốn "tắt nắng", muốn "buộc gió" để giữ lại hương sắc của cuộc đời. Đây là một cái tôi đầy tính chủ động, không chấp nhận sự trôi chảy của thời gian như một lẽ đương nhiên. Nếu Huy Cận đau đáu về sự vô tận, thì Xuân Diệu đau đáu vì sợ cái hữu hạn của kiếp người: "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua / Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già". Cái tôi của Xuân Diệu được xây dựng bằng những giác quan tinh tế và mãnh liệt. Ông nhìn cuộc đời bằng đôi mắt xanh non, nghe bằng đôi tai mở rộng, và nếm trải bằng một tâm hồn "thèm khát". Vẻ đẹp của trần thế qua đôi mắt Xuân Diệu hiện lên như một khu vườn tình ái: "Của ong bướm này đây tuần tháng mật / Này đây hoa của đồng nội xanh rì". Đó là cái tôi của một con người yêu đời đến độ tham lam. Sự khác biệt lớn nhất nằm ở thái độ ứng xử với thời gian. Thay vì thụ động chờ đợi nỗi buồn, Xuân Diệu chọn cách "vội vàng" – sống gấp, sống tận hưởng để bù đắp cho sự mất mát. Cái tôi của Xuân Diệu không chỉ biết yêu, mà còn biết "chế ngự" thời gian bằng cách sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc. Đó là một triết lý sống nhân văn và mạnh mẽ.
Khi đặt hai tác phẩm cạnh nhau, ta thấy rõ sự tương phản đầy thú vị giữa hai tư tưởng nghệ thuật. Về không gian và cảm thức, Tràng giang mở ra không gian chiều ngang và chiều sâu của vũ trụ, nơi cái tôi thu mình lại để cảm nhận sự cô liêu, trong khi Vội vàng lại là không gian của sự kết nối, nơi cái tôi vươn ra, va đập và chiếm lĩnh thế giới bằng sự cuồng nhiệt. Về bản chất nỗi buồn, nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn mang tính chất triết học, mang đậm màu sắc của sự tĩnh tại, suy tư, còn nỗi buồn của Xuân Diệu là nỗi buồn của sự trân trọng sự sống, là nỗi sợ mất đi cái đẹp. Điểm gặp gỡ của họ chính là cái tôi cá nhân hiện đại; họ đều là những nghệ sĩ có ý thức sâu sắc về cái "tôi" giữa dòng đời, đều đau đáu về kiếp người và đều khao khát khẳng định sự tồn tại của bản thân qua những vần thơ đầy ám ảnh. Huy Cận đã cho chúng ta thấy chiều sâu của suy tưởng, sự trầm mặc của tâm hồn khi đứng trước cái vô biên; còn Xuân Diệu đã tiếp thêm cho chúng ta lửa yêu đời, dạy cho ta biết trân trọng từng phút giây hiện tại. Cả hai tác phẩm đều đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ, là những viên ngọc sáng trong di sản văn học dân tộc.
Tràng giang và Vội vàng giống như hai mặt của một đồng xu, hay đúng hơn, là hai khía cạnh trong tâm hồn con người hiện đại: một bên là sự chiêm nghiệm lặng lẽ, một bên là khát vọng dâng hiến cuồng say. Qua hai bài thơ, chúng ta thấy được tài năng xuất chúng của hai nhà thơ trong việc khắc họa cái tôi – một cái tôi đầy cá tính, giàu trăn trở và vô cùng nghệ sĩ. Những vần thơ của họ sẽ còn mãi như lời nhắc nhở về giá trị của cuộc sống, về vẻ đẹp của sự tồn tại, để mỗi chúng ta biết cách sống sao cho trọn vẹn nhất, dù là trong sự lặng lẽ của "tràng giang" hay trong nhịp điệu "vội vàng" của cuộc đời.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 8
Có những thời đại mà con người sống trong cái chung của cộng đồng, cái tôi cá nhân bị che khuất sau những chuẩn mực tập thể. Nhưng cũng có những thời đại mà con người khát khao được là chính mình, muốn cất lên tiếng nói riêng của tâm hồn. Phong trào Thơ mới 1932–1945 chính là cuộc cách mạng của cái tôi như thế. Lần đầu tiên trong lịch sử thi ca Việt Nam, con người cá nhân bước lên thi đàn với tất cả những rung động, khát vọng, cô đơn và trăn trở sâu kín nhất. Trong vườn thơ đầy hương sắc ấy, Xuân Diệu và Huy Cận là hai gương mặt tiêu biểu. Nếu Xuân Diệu mang đến một cái tôi yêu đời đến cuồng nhiệt, khát khao tận hưởng từng giây phút tồn tại trong bài thơ Vội vàng, thì Huy Cận lại gửi gắm trong Tràng giang một cái tôi cô đơn, lạc lõng trước không gian vũ trụ mênh mang. Đặt hai thi phẩm cạnh nhau, ta không chỉ thấy những nét khác biệt trong phong cách nghệ thuật mà còn cảm nhận được những cung bậc phong phú của cái tôi Thơ mới.
Trước hết, điểm gặp gỡ giữa Vội vàng và Tràng giang là sự khẳng định mạnh mẽ ý thức cá nhân – đặc trưng nổi bật của thơ ca lãng mạn giai đoạn 1932–1945. Cả Xuân Diệu và Huy Cận đều hướng ngòi bút vào thế giới nội tâm của con người, lấy cảm xúc chủ quan làm trung tâm biểu hiện. Không còn là những tiếng nói mang tính quy phạm như thơ trung đại, cái tôi trong hai tác phẩm xuất hiện với tất cả những rung động chân thực nhất. Đó là cái tôi biết yêu, biết buồn, biết cô đơn, biết khao khát sống và cũng biết đau đớn trước sự hữu hạn của kiếp người. Hai nhà thơ đều đứng trước thiên nhiên để soi chiếu tâm hồn mình, biến cảnh vật thành tấm gương phản ánh những cảm xúc sâu kín. Chính điều đó đã tạo nên giá trị nhân văn mới mẻ của Thơ mới.
Tuy nhiên, nếu cùng xuất phát từ ý thức cá nhân thì cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang lại vận động theo hai hướng hoàn toàn khác nhau.
Trong Vội vàng, Xuân Diệu xuất hiện với một cái tôi cá nhân mãnh liệt, sôi nổi và tràn đầy khát vọng sống. Ngay từ những câu thơ mở đầu, nhà thơ đã bộc lộ một ước muốn tưởng như phi lí:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất,
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi.”
Điệp ngữ “tôi muốn” vang lên như lời tuyên ngôn của một cái tôi đầy bản lĩnh. Đó không phải là sự ngông cuồng vô nghĩa mà là biểu hiện của tình yêu cuộc sống đến cháy bỏng. Xuân Diệu muốn níu giữ vẻ đẹp của thiên nhiên, muốn chống lại quy luật phôi pha của thời gian để bảo tồn những gì tươi đẹp nhất. Cái tôi ấy không cam chịu, không khuất phục trước tạo hóa mà luôn khát khao chiến thắng sự mất mát.
Đằng sau khát vọng ấy là một tâm hồn yêu đời tha thiết. Trước mắt Xuân Diệu, trần gian hiện lên như một thiên đường đầy sức sống:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì...”
Thiên nhiên trong thơ ông không tĩnh tại mà căng tràn nhựa sống, rực rỡ sắc màu và ngọt ngào hương vị. Điệp từ “này đây” được lặp đi lặp lại như những cử chỉ nâng niu, trân trọng. Cái tôi Xuân Diệu mở rộng mọi giác quan để đón nhận cuộc đời. Nhà thơ không hướng đến thế giới siêu hình hay cõi mộng xa xôi mà hướng về cuộc sống thực tại. Đây chính là nét mới mẻ trong quan niệm thẩm mĩ của Xuân Diệu: thiên đường không ở đâu khác ngoài mặt đất.
Nhưng càng yêu đời bao nhiêu, cái tôi ấy càng đau đớn trước sự trôi chảy của thời gian bấy nhiêu. Xuân Diệu nhận thức sâu sắc rằng tuổi trẻ và sự sống đều hữu hạn:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.”
Lần đầu tiên trong thơ ca Việt Nam, thời gian được cảm nhận như một dòng chảy tuyến tính không thể quay trở lại. Chính ý thức ấy đã tạo nên tâm trạng “vội vàng” – không phải sự hấp tấp hời hợt mà là thái độ sống tích cực, sống hết mình để không hoài phí tuổi trẻ. Vì thế, cái tôi Xuân Diệu kết tinh trong lời giục giã đầy say mê:
“Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm.”
Đó là tiếng gọi của một trái tim luôn hướng về phía trước, muốn sống trọn vẹn từng khoảnh khắc của đời người.
Trái ngược với cái tôi yêu đời đến cuồng nhiệt trong Vội vàng, cái tôi trong Tràng giang lại mang nỗi cô đơn sâu thẳm của một tâm hồn trước vũ trụ rộng lớn.
Ngay từ nhan đề “Tràng giang”, âm hưởng cổ kính đã mở ra một không gian mênh mang vô tận. Dòng sông trong thơ Huy Cận không chỉ là cảnh vật cụ thể mà còn là biểu tượng cho dòng đời, dòng thời gian bất tận. Giữa không gian ấy, con người hiện lên vô cùng nhỏ bé:
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.”
Từ láy “điệp điệp” gợi những lớp sóng nối tiếp nhau không dứt, cũng là những lớp buồn chồng chất trong tâm hồn thi nhân. Cảnh vật dường như mang tâm trạng. Thuyền và nước vốn gắn bó nhưng lại chỉ “song song”, không gặp gỡ. Hình ảnh ấy gợi cảm giác chia lìa, xa cách, phản chiếu nỗi cô đơn của cái tôi trữ tình.
Nỗi cô đơn ấy càng được đẩy lên cao khi nhà thơ hướng cái nhìn về những kiếp sống nhỏ nhoi:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.”
Không gian rộng lớn nhưng lại thiếu vắng hơi ấm con người. Từ “lơ thơ”, “đìu hiu” cùng âm thanh “vãn chợ chiều” xa vắng tạo nên cảm giác hoang sơ, lạnh lẽo. Cái tôi Huy Cận dường như bị tách khỏi mọi mối liên hệ với cuộc đời.
Đỉnh điểm của nỗi cô đơn là hình ảnh:
“Củi một cành khô lạc mấy dòng.”
Chỉ với một câu thơ, Huy Cận đã tạo nên biểu tượng đặc sắc cho thân phận con người. Cành củi khô nhỏ bé, vô định giữa dòng nước mênh mang chính là hình ảnh của cái tôi bơ vơ giữa cuộc đời. Nếu Xuân Diệu muốn ôm riết lấy sự sống thì Huy Cận lại cảm nhận sâu sắc sự lạc lõng của kiếp người.
Tuy nhiên, cái tôi trong Tràng giang không chỉ là nỗi buồn cá nhân. Đằng sau nỗi cô đơn ấy còn là tình yêu quê hương đất nước thầm kín. Khổ thơ cuối là minh chứng rõ nét:
“Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”
Nỗi nhớ quê không cần đến tín hiệu của ngoại cảnh mà tự dâng lên từ đáy lòng. Đây là điểm vượt lên trên cái tôi cá nhân thông thường để chạm đến chiều sâu dân tộc. Nỗi buồn của Huy Cận vì thế không bi lụy mà mang vẻ đẹp nhân văn sâu sắc.
So sánh hai cái tôi, ta nhận ra những khác biệt cơ bản. Cái tôi Xuân Diệu hướng về sự sống, hướng về con người và thực tại; còn cái tôi Huy Cận hướng về chiều sâu suy tưởng, cảm nhận sự cô đơn trước vũ trụ. Một bên sôi nổi, nồng nhiệt, luôn muốn giao cảm với cuộc đời; một bên trầm lắng, cô tịch, thường thu mình trong nỗi buồn triết lí. Nếu Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” với tiếng nói của tuổi trẻ và tình yêu cuộc sống, thì Huy Cận lại là nhà thơ của “nỗi sầu nhân thế”, mang trong mình tâm trạng bâng khuâng của cả một thế hệ trí thức trước Cách mạng.
Sự khác biệt ấy xuất phát từ phong cách nghệ thuật riêng của mỗi nhà thơ. Xuân Diệu chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học phương Tây nên thơ ông giàu cảm xúc, mới mẻ trong cách cảm nhận thời gian và cuộc sống. Huy Cận lại có sự kết hợp hài hòa giữa tinh thần hiện đại và vẻ đẹp cổ điển phương Đông, tạo nên những vần thơ giàu chất triết lí, thấm đẫm nỗi buồn nhân sinh.
Dẫu khác nhau, cả hai cái tôi đều góp phần làm nên diện mạo rực rỡ của phong trào Thơ mới. Một bên khẳng định quyền sống, quyền hưởng thụ chính đáng của con người cá nhân; một bên diễn tả sâu sắc bi kịch tinh thần của con người trong xã hội cũ. Cả hai đều là những tiếng nói chân thành của tâm hồn Việt Nam trước những biến động của thời đại.
Tràng giang và Vội vàng giống như hai cực của một tâm hồn Thơ mới: một cực là nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, một cực là tình yêu tha thiết đối với cuộc đời. Đọc hai thi phẩm, ta không chỉ hiểu hơn phong cách của Huy Cận và Xuân Diệu mà còn cảm nhận được hành trình thức tỉnh đầy mãnh liệt của cái tôi cá nhân trong văn học Việt Nam hiện đại. Và chính từ những tiếng nói riêng tư ấy, thơ ca đã chạm đến những giá trị nhân văn lớn lao, làm rung động trái tim bao thế hệ bạn đọc.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 9
Giữa dòng chảy dữ dội của văn học Việt Nam hiện đại, cái tôi thơ ca hiện lên như hai dòng sông song song: một dòng u uất, trầm mặc trước vũ trụ bao la; một dòng cuồng nhiệt, gào thét đòi hỏi sự sống mãnh liệt. “Tràng giang” của Huy Cận và “Vội vàng” của Xuân Diệu chính là hai bến bờ ấy. Nếu Huy Cận để cái tôi tan biến vào mênh mông thiên nhiên, trở thành một tiếng thở dài cô đơn của kiếp người trước thời gian và không gian vô tận, thì Xuân Diệu lại cho cái tôi bùng nổ, lao vào cuộc sống với khát khao chiếm đoạt tất thảy vẻ đẹp trần gian trước khi nó tàn phai. Hai cái tôi ấy, một bên là nỗi buồn mênh mang của thi nhân lãng mạn thế hệ 1930-1945 trước vận nước nổi trôi, một bên là tiếng gọi cuồng si của “ông hoàng thơ tình” trước sức sống dạt dào của tuổi trẻ và thiên nhiên. Qua sự so sánh ấy, chúng ta không chỉ thấy hai phong cách thơ mà còn bắt gặp hai thái độ sống, hai triết lý nhân sinh đối lập mà bổ sung cho nhau trong dòng chảy chung của thi ca hiện đại.
Trước hết, cái tôi trong “Tràng giang” là cái tôi cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ. Toàn bài thơ là một chuỗi hình ảnh thiên nhiên rộng lớn: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, “Con thuyền xuôi mái nước song song”, “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”, “Bờ bãi bâng khuâng gió lộng dài”. Giữa không gian mênh mông ấy, cái tôi của nhà thơ hiện lên qua những từ ngữ mang nặng nỗi buồn: “đau đớn”, “buồn”, “cô liêu”, “lặng lẽ”. Đặc biệt, hai câu thơ kinh điển:
“Ôi Tràng giang! Anh nhớ em Đoài con nước ấy u hoài khôn nguôi”
không chỉ là nỗi nhớ người yêu mà còn là nỗi nhớ da diết về một cái gì lớn lao hơn: quê hương, dân tộc, và cả chính kiếp người nhỏ nhoi. Cái tôi ở đây tan hòa vào cảnh, trở thành một phần của nỗi buồn vũ trụ. Huy Cận không khẳng định mình mà để mình bị nuốt chửng bởi “bến cô liêu”, bởi “nước buồn”, bởi “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đó là cái tôi của một thi sĩ mang nặng tâm tư thời đại: trước sóng gió lịch sử, con người cảm thấy bất lực, lạc lõng. Nỗi buồn ấy sâu sắc vì nó không chỉ là buồn cá nhân mà là nỗi buồn của cả một thế hệ trí thức trước vận nước chìm nổi.
Ngược lại, cái tôi trong “Vội vàng” của Xuân Diệu là cái tôi khát khao, chủ động chiếm lĩnh cuộc sống. Nếu Huy Cận để cái tôi hòa tan thì Xuân Diệu lại để cái tôi bùng nổ. Bài thơ mở đầu bằng tiếng thở dài trước thời gian tàn nhẫn:
“Thời gian qua mau, mau qua mau Mà xuân thì tới, xuân thì qua…”
Nhưng ngay lập tức, cái tôi chuyển sang thái độ quyết liệt: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất; / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi”. Cái tôi ở đây không cam chịu, không tan biến mà muốn níu giữ, chiếm đoạt tất cả: “Tắt nắng”, “buộc gió”, “say đắm”, “thâu”, “riết”, “thấm”, “vội vàng”. Thiên nhiên trong “Vội vàng” không phải là không gian mênh mông buồn bã mà là vườn xuân rực rỡ, là “thơm nồng”, là “hơi thở”, là “má hồng”, là “cặp môi”, là “tuổi trẻ”. Cái tôi của Xuân Diệu là cái tôi của người sống hết mình với giác quan: nghe, ngửi, nhìn, sờ, nếm tất cả vẻ đẹp trần thế. Ông không sợ hãi trước sự chảy trôi của thời gian mà biến nỗi sợ ấy thành động lực sống cuồng nhiệt. Đó là triết lý “sống vội” – một thái độ tiến bộ, khẳng định giá trị hiện tại của kiếp người.
So sánh hai cái tôi, ta thấy rõ sự đối lập trong cách nhìn nhận mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Trong “Tràng giang”, con người là yếu tố nhỏ bé, bị động trước thiên nhiên và thời gian; cái tôi mang tính hòa tan, tan biến (đặc trưng của thơ lãng mạn phương Đông và ảnh hưởng của Baudelaire, Verlaine). Còn trong “Vội vàng”, con người là trung tâm, là chủ thể tích cực muốn chinh phục thiên nhiên và thời gian (ảnh hưởng rõ nét của thơ lãng mạn Pháp, đặc biệt là Hugo và Baudelaire ở khía cạnh khát khao sống). Một bên là nỗi buồn mênh mang, một bên là niềm vui cuồng si. Một bên hướng nội, chiêm nghiệm; một bên hướng ngoại, giao cảm.
Tuy nhiên, sâu sắc hơn, hai cái tôi ấy lại gặp nhau ở khát khao chân thành với cuộc đời. Cái buồn trong “Tràng giang” không phải là chán chường tiêu cực mà là nỗi buồn giàu chất nhân văn, khơi dậy lòng yêu quê hương. Còn cái “vội vàng” trong bài thơ của Xuân Diệu cũng xuất phát từ ý thức sâu sắc về sự hữu hạn của kiếp người. Cả hai đều là tiếng lòng của những thi sĩ tài năng trước dòng chảy không ngừng của thời gian và lịch sử. Nếu Huy Cận giúp ta chiêm nghiệm chiều sâu thì Xuân Diệu thôi thúc ta sống trọn vẹn chiều rộng. Sự đối lập ấy làm phong phú thêm diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại.
Qua “Tràng giang” và “Vội vàng”, cái tôi thơ ca hiện lên đa diện: vừa cô đơn chiêm nghiệm, vừa cuồng nhiệt khẳng định. Huy Cận và Xuân Diệu đã góp phần xây dựng nên một cái tôi thi ca hiện đại – cái tôi biết buồn, biết yêu, biết sống và biết trăn trở với kiếp người. Đọc hai tác phẩm, ta không chỉ thấy giá trị nghệ thuật xuất sắc mà còn nhận ra bài học sâu sắc: trong dòng đời xuôi chảy, con người cần vừa biết chiêm nghiệm để hiểu mình, vừa biết vội vàng để không phí hoài tuổi trẻ. Hai bài thơ, hai cái tôi, một bản giao hưởng hoàn hảo của thi ca lãng mạn Việt Nam.
Nghị luận So sánh, đánh giá cái tôi trong 2 tác phẩm Tràng giang và Vội vàng - mẫu 10
Trên dòng sông thơ mới Việt Nam những năm 1930-1945, có hai ngọn sóng vang vọng mãi không phai, mang dấu ấn của hai tâm hồn đối lập nhưng cùng thấm đẫm tình yêu với cuộc đời: một ngọn sóng dội lên tiếng khát khao cháy bỏng níu giữ tuổi trẻ, một ngọn sóng vỗ mãi nỗi nhớ quê hương tha thiết giữa không gian mênh mông. Đó là Xuân Diệu với bài thơ Vội vàng - ngọn lửa rực rỡ của một trái tim yêu đời đến cuồng nhiệt, và Huy Cận với Tràng giang - dòng sông dài ôm trọn nỗi buồn nhân thế của người lữ khách lạc lõng. Cả hai nhà thơ đều bộc lộ rõ nét cái tôi trữ tình độc đáo, là linh hồn của tác phẩm, nhưng lại mang những sắc thái hoàn toàn khác biệt, vừa phản ánh tính cách riêng của từng thi nhân, vừa là tiếng nói chung của thế hệ trí thức lãng mạn trước thời cuộc phức tạp. Cái tôi trong hai bài thơ không chỉ là dấu ấn cá nhân mà còn là chứng nhân cho sức sống mãnh liệt của thơ mới Việt Nam, khi các nhà thơ lần đầu tiên dám phơi bày bản ngã của mình một cách chân thực, không che giấu.
Xuân Diệu - người được Hoài Thanh gọi là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới” - đã xây dựng một cái tôi tràn đầy năng lượng, một bản ngã dám đòi hỏi, dám khao khát trước cuộc đời. Từ những câu thơ đầu tiên của Vội vàng, cái tôi của Xuân Diệu đã bộc lộ rõ tính táo bạo, kỳ lạ, khiến người đọc phải ngạc nhiên trước độ lớn của tình yêu đời: “Tôi muốn tắt nắng đi / Cho màu đừng nhạt mất / Tôi muốn buộc gió lại / Cho hương đừng bay đi”. Điệp ngữ “tôi muốn” lặp lại hai lần, kết hợp với những ước muốn tưởng chừng vô lý - muốn can dự vào quy luật của tạo hóa để ngăn chặn sự trôi chảy của thời gian - đã khẳng định một cái tôi chủ quan mãnh liệt, không muốn khuất phục trước bất kỳ giới hạn nào. Xuân Diệu không muốn nhìn thấy vẻ đẹp của cuộc đời phai nhạt, không muốn mùa xuân của tuổi trẻ trôi qua vô ích, cho nên ông dám đặt bản ngã của mình lên trên tất cả, để giữ lại những gì đẹp đẽ nhất. Cái tôi ấy càng rõ nét hơn khi nhà thơ cảm nhận mùa xuân không phải là một cảnh vật vô tri, mà là một người tình quyến rũ, đầy sức hút: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Câu thơ táo bạo này đã biến thời gian trừu tượng thành một hình ảnh có hương vị, có hình thể, gợi lên niềm khao khát được chạm vào, được sở hữu vẻ đẹp của cuộc đời. Nhưng trong cái nồng nhiệt ấy, cái tôi của Xuân Diệu cũng có những khoảnh khắc bâng khuâng, khi ý thức được sự hữu hạn của đời người trước vô tận của thời gian: “Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua / Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già / Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”. Điệp từ “xuân” lặp lại liên tục, cùng với cặp từ đối lập “tới - qua”, “non - già”, tạo nên một nhịp thơ hốt hoảng, thể hiện nỗi lo sợ mất mát ăn sâu vào tâm hồn thi nhân. Tuy nhiên, nỗi lo ấy không đưa Xuân Diệu đến tuyệt vọng, mà lại càng thôi thúc ông phải sống hết mình, phải tận hưởng mọi vẻ đẹp của cuộc đời trước khi nó trôi qua: “Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm”. Cái tôi của Xuân Diệu trong Vội vàng là một cái tôi hướng ngoại, dấn thân, luôn muốn hòa mình vào dòng chảy của cuộc đời, để không bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc đẹp đẽ nào. Đó là bản ngã của một người trẻ yêu đời, khát sống, tiêu biểu cho tinh thần của những nhà thơ mới khi họ lần đầu tiên nhận ra giá trị của cá nhân, của tuổi trẻ, của những ham muốn chính đáng của con người.
Ngược lại với cái tôi dồn dập, nồng nhiệt của Xuân Diệu, cái tôi trong Tràng giang của Huy Cận lại lặng lẽ, cô đơn, mang nặng nỗi buồn nhân thế của người lữ khách đứng trước không gian vũ trụ mênh mông. Nếu cái tôi của Xuân Diệu luôn tỏa ra ánh sáng rực rỡ của tuổi trẻ, thì cái tôi của Huy Cận lại chìm trong màu sầu của nỗi nhớ, của sự lạc lõng giữa đất trời bao la. Ngay từ lời đề từ của bài thơ, tâm trạng của chủ thể trữ tình đã được gói gọn trong bảy chữ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Từ láy “bâng khuâng” đã nói lên toàn bộ sắc thái của cái tôi Huy Cận: một tâm trạng u sầu, không rõ nguồn gốc, một nỗi nhớ miên man kéo dài như dòng sông tràng giang không bao giờ dứt. Bài thơ được sáng tác năm 1939, khi Huy Cận đứng trên đê sông Hồng nhìn dòng nước lũ cuồn cuộn chảy về phía đông, nhưng con sông trong thơ không phải là một con sông cụ thể, nó là biểu tượng của vô tận thời gian, của những nỗi buồn chất chồng của kiếp người. Cái tôi của Huy Cận luôn bị đặt trong mối đối đầu với sự lớn lao của thiên nhiên, để lộ ra sự nhỏ bé, đơn độc của con người trước vũ trụ: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp / Con thuyền xuôi mái nước song song”. Hình ảnh con thuyền đơn độc trôi giữa dòng sông dài vô tận chính là ẩn dụ cho cái tôi của thi nhân, lạc lõng, trôi nổi giữa cuộc đời, không có bến đỗ để neo vào. Từ láy “điệp điệp” để miêu tả sóng không chỉ gợi lên hình ảnh những con sóng nối tiếp nhau vỗ vào bờ, mà còn gợi lên nỗi buồn chất chồng, lặp đi lặp lại trong tâm hồn nhà thơ, như không bao giờ có thể dứt ra được. Cái tôi cô đơn ấy càng trở nên rõ nét ở những câu thơ sau: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả / Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Cành củi khô lạc dòng nước chính là thân phận của cái tôi Huy Cận, bị dòng đời cuốn đi, không có quyền lựa chọn hướng đi, nhỏ bé đến mức không thể tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào đến dòng chảy lớn lao của thế giới. Nhưng nỗi buồn của cái tôi trong Tràng giang không chỉ là nỗi buồn cá nhân của một người lữ khách, mà còn là nỗi buồn thời đại, là tình yêu quê hương đất nước thầm kín của một trí thức sống trong cảnh nước mất nhà tan. Đến cuối bài thơ, nỗi nhớ quê hương đã trở thành cảm xúc chủ đạo, bộc lộ trực tiếp từ sâu thẳm tâm hồn thi nhân: “Lòng quê dạn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Ngay cả khi không có cảnh hoàng hôn gợi nhớ - hình ảnh thường thấy trong thơ cổ xưa làm nảy sinh nỗi nhớ nhà - cái tôi của Huy Cận vẫn thường trực nỗi nhớ quê hương, một nỗi nhớ da diết, ăn sâu vào tầm hồn. Đó là bản ngã của một người con xa nhà, luôn hướng về nguồn cội, đồng thời cũng là tiếng nói của thế hệ trí thức những năm 1940, đau xót trước cảnh đất nước bị đô hộ, không tìm thấy lối ra cho tương lai, nên chỉ có thể gửi gắm nỗi buồn của mình vào thiên nhiên mênh mông.
Cái tôi trong hai bài thơ, dù có những khác biệt sâu sắc về sắc thái, vẫn có những điểm gặp gỡ quan trọng, thể hiện bản chất chung của cái tôi trữ tình trong phong trào thơ mới. Đầu tiên, cả hai cái tôi đều thể hiện tình yêu sâu sắc với cuộc đời, với thiên nhiên, với đất nước. Cái tôi của Xuân Diệu yêu đời đến mức muốn níu giữ mọi vẻ đẹp của cuộc đời, còn cái tôi của Huy Cận yêu đời đến mức đau buồn, nhớ thương khi phải xa cách quê hương, khi phải đứng nhìn đất nước chìm trong cảnh đau thương. Cả hai đều là những trái tim nhạy cảm, luôn rung động trước những biến thiên của cảnh vật và của cuộc đời, điều mà các nhà thơ trung đại ít có cơ hội bộc lộ một cách trực tiếp như vậy. Thứ hai, cả hai cái tôi đều mang nỗi lo sợ về sự trôi chảy của thời gian, về sự hữu hạn của đời người. Xuân Diệu lo sợ tuổi trẻ trôi qua vô ích, Huy Cận lo sợ nỗi nhớ quê hương không bao giờ có ngày đoàn tụ, cả hai đều ý thức được rằng thời gian là một dòng chảy một chiều, không bao giờ quay trở lại, nên những khoảnh khắc hiện tại đều vô cùng quý giá.
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai cái tôi lại là yếu tố làm nên sức hấp dẫn đặc sắc của từng tác phẩm, phản ánh rõ nét phong cách độc đáo của mỗi nhà thơ. Cái tôi của Xuân Diệu là cái tôi của tuổi trẻ, luôn hướng về phía trước, luôn khát khao được trải nghiệm, được tận hưởng cuộc đời, mang tinh thần hiện đại mạnh mẽ, phá bỏ mọi ràng buộc của khuôn sáo cổ xưa. Ngược lại, cái tôi của Huy Cận lại mang nặng nét cổ điển, luôn hướng về quá khứ, về nguồn cội, nuôi dưỡng nỗi buồn như một cách thể hiện tình yêu với quê hương, với đất nước. Nếu cái tôi của Xuân Diệu khiến người đọc cảm thấy tràn đầy năng lượng, muốn sống hết mình với tuổi trẻ, thì cái tôi của Huy Cận lại khiến người đọc phải suy ngẫm về thân phận con người, về tình yêu quê hương đất nước, những giá trị sâu sắc luôn tồn tại trong tâm hồn người Việt Nam.
Hai cái tôi trong Vội vàng và Tràng giang không chỉ là hai dấu ấn cá nhân của hai nhà thơ lớn, mà còn là hai mặt của cùng một tâm hồn thơ mới Việt Nam, vừa yêu đời tha thiết, vừa đau buồn trước những nghịch lý của cuộc đời. Xuân Diệu mang đến cho người đọc ngọn lửa của tuổi trẻ, thôi thúc chúng ta trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại, còn Huy Cận mang đến dòng sông dài của nỗi nhớ, nhắc nhở chúng ta không bao giờ quên nguồn cội, quê hương nơi mình sinh ra. Cả hai cái tôi ấy, dù khác biệt về sắc thái, đều sống mãi trong lòng người đọc, như những bằng chứng cho sức sống mãnh liệt của thơ ca Việt Nam, luôn có khả năng chạm đến những sâu thẳm nhất của tâm hồn con người.
Đọc hai bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được tài năng của hai thi nhân lớn, mà còn thấy được chính mình trong đó: có lúc là cái tôi vội vàng muốn níu giữ tuổi trẻ, có lúc là cái tôi bâng khuâng nhớ về quê hương, những cảm xúc chung của mọi thế hệ, khiến cho các tác phẩm vượt qua thời gian để trở thành bất tử.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá cảm hứng về đất nước trong Đất nước và Việt Bắc
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá hình tượng người lính trong Đồng chí và Tây Tiến
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá hình tượng người phụ nữ trong Tự tình II và Thuyền và biển
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh bức tranh mùa thu của 2 bài thơ Đây mùa thu tới (Xuân Diệu) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi)
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá về tình yêu thiên nhiên đất nước qua 2 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) và Sang thu (Hữu Thỉnh)
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: So sánh, đánh giá nội dung hai câu luận của Độc Tiểu Thanh Kí với nội dung hai câu thơ trong Truyện Kiều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Lớp 12 Kết nối tri thức
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT
- Lớp 12 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 12 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 12 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 12 - CTST
- Giải sgk Hóa học 12 - CTST
- Giải sgk Sinh học 12 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 12 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 12 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - CTST
- Giải sgk Tin học 12 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 12 - CTST
- Lớp 12 Cánh diều
- Soạn văn 12 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 12 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 12 Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 12 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 12 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

