Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt (15 mẫu)

Tổng hợp các đoạn văn Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 hay nhất giúp bạn có thêm đoạn văn, bài văn mẫu tham khảo để học tốt môn Tiếng Việt lớp 4.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt (15 mẫu)

Quảng cáo

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 1

Trong cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, em được đọc rất nhiều những câu chuyện hay với nhiều nội dung khác nhau. Trong đó, em đặc biệt yêu thích những câu chuyện có các bài học ý nghĩa được đúc kết sau khi đọc. Tiêu biểu là câu chuyện Con vẹt xanh.

Câu chuyện Con vẹt xanh kể về một bạn nhỏ có tên là Tú. Tú có một người anh trai rất yêu thương và quan tâm mình. Một ngày nọ, trong vườn nhà Tú xuất hiện một chú vẹt nhỏ bị thương ở cánh. Thế là cậu đã đưa chú chim ấy về nhà để chăm sóc. Khi anh trai bảo với cậu rằng, loài vẹt có thể bắt chước giọng nói của con người, Tú rất háo hức mong chờ được nghe vẹt nói chuyện. Từ hôm đó, mỗi khi đi học về, Tú sẽ chạy ngay về phía con vẹt. Thấy cậu, con vẹt vui lắm, liên nhục nhảy nhót, há mỏ đòi ăn. Tú yêu thương vẹt lắm, chăm chú đút cho nó ăn, rồi còn cưng nựng nó như trẻ con. Dù vẹt chưa thể nói được từ nào, cậu cũng thấy nó thật ngoan.

Một hôm, khi Tú đang chơi với vẹt, thì có tiếng anh trai gọi cậu ra phụ việc nhà. Cậu không vui chút nào, nên phụng phịu đáp lại anh bằng những lời nói trống không. Khi anh gọi thì cậu trả lời là “Cái gì?”, rồi còn lẩm bẩm “Kêu chi kêu hoài”. Hành động này lặp đi lặp lại nhiều lần, khiến anh trai rất buồn nhưng Tú chẳng để tâm.

Quảng cáo

Cho đến một hôm, con vẹt bất ngờ nói chuyện. Tú sung sướng và tự hào lắm, vội gọi bạn bè đến nhà để xem vẹt nói chuyện. Tuy nhiên, mỗi khi Tú gọi “Vẹt ơi”, thì vẹt lại chỉ đáp trống không “Cái gì?” chứ không “Dạ” như lời cậu đã dạy. Điều này làm Tú buồn lắm, liền mắng nó rằng “Anh chăm sóc vẹt cực khổ, vậy mà anh gội, vẹt trả lời “cái gì” à?”. Nhưng vừa nói xong, thì vẹt lại bảo “Kêu chi kêu hoài”. Lúc này, Tú nhận ra rằng vẹt đang bắt chước những lời mình nói khi anh trai gọi. Thì ra, chú vẹt đã không lễ phép, là vì đang học theo một người bạn không lễ phép như Tú. Có phải những lúc ấy, anh trai cũng buồn và thất vọng như Tú bây giờ không nhỉ. Càng nghĩ, Tú càng ân hận và buồn bã. Cậu mong thật nhanh được sửa chữa lỗi sai của mình. Từ hôm nay, cậu sẽ ngoan ngoãn và lễ phép hơn, sẽ “dạ” thật to mỗi khi anh trai gọi mình.

Câu chuyện Con vẹt xanh có kết thúc mở, giúp em có thể tự tương tượng ra những cách mà Tú sẽ sửa chữa lỗi sai của mình. Cũng từ đó, giúp em hiểu thêm một bài học ý nghĩa về việc phải biết lễ phép, ngoan ngoãn vâng lời với người lớn. Bởi nếu mình nói chuyện trống không, thì người thân sẽ buồn lắm.

Dàn ý Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt

a) Mở bài:

- Giới thiệu tên câu chuyện mà em muốn kể.

- Cho biết câu chuyện em đã đọc ở đâu, trong sách nào hoặc vào dịp nào.

- Nói ngắn gọn cảm xúc, ấn tượng của em về câu chuyện

b) Thân bài:

1. Giới thiệu hoàn cảnh và các nhân vật

- Câu chuyện xảy ra ở đâu, vào thời gian nào?

- Có những nhân vật nào?

Quảng cáo

- Nhân vật chính là ai?

- Nhân vật chính có đặc điểm gì nổi bật?

2. Kể sự việc mở đầu

- Kể sự việc đầu tiên làm cho câu chuyện bắt đầu.

- Chú ý giới thiệu nguyên nhân dẫn đến những sự việc tiếp theo.

- Có thể sử dụng các từ ngữ: một hôm, bỗng nhiên, chẳng bao lâu sau, lúc ấy, vào một ngày nọ... 

3. Kể các sự việc chính theo trình tự

- Kể lần lượt các sự việc xảy ra.

- Không đảo lộn trình tự câu chuyện.

- Nêu rõ hành động, lời nói, suy nghĩ của các nhân vật.

- Những đoạn quan trọng cần kể kĩ hơn.

- Có thể kết hợp miêu tả nét mặt, cử chỉ, thái độ của nhân vật để câu chuyện sinh động.

c) Kết bài:

- Nêu cảm xúc của em sau khi đọc và kể lại câu chuyện.

- Em yêu thích hoặc ấn tượng với nhân vật nào nhất? Vì sao?

- Câu chuyện giúp em hiểu thêm điều gì?

- Em rút ra bài học gì cho bản thân?

Quảng cáo

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 2

Thuở ấy có một bà già sống độc thân nhà lại rất nghèo, suốt ngày bà phải ra đồng mò cua bắt ốc kiếm sống qua ngày. Một hôm tình cờ bà nhặt được một con ốc. Vỏ nó phủ một màu xanh biển trông rất lạ, rất xinh. Bà không nỡ bán mà đem thả vào một cái chum nước.

Lạ thay từ ngày đó trở đi, mỗi lần bà đi làm về đều thấy nhà cửa sạch sẽ, tươm tất, gọn gàng, vườn tược cây cối được vun xới, lợn gà ăn uống no say. Và một mâm cơm được sắp sẵn trên bàn. Bà quyết định tìm ra cho bằng được người đã ngấm lén giúp bà. Rồi một hôm, bà vẫn đi làm bình thường nhưng đến nửa ngày bà thấy một người con gái tuổi mới mười tám đôi mươi đẹp như tiên sa giáng trần từ trong chum nước bước ra, nhẹ nhàng đi vào nhà. Cô gái cầm chổi quét nhà, dọn dẹp nhà cửa, cho lợn gà ăn,… Lúc đó bà lặng lẽ đến bên chum nước, cầm vỏ ốc rồi lén đập vỡ ra thành từng mảnh. Nghe tiếng động, cô gái vội vàng đến bên chum nước để ẩn mình vỏ ốc, nhưng đá quá muộn. Bà lão nhìn người con gái xinh đẹp cất tiếng nói:

- Con gái ơi! Hãy ở lại với ta!

Từ đó nàng tiên Ốc trở thành người con yêu quý của bà lão. Hai mẹ con bà sống thật đầm ấm hạnh phúc.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 3

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em nhà kia cha mẹ mất sớm. Người anh tham lam, khi chia gia tài liền chiếm hết nhà cửa, ruộng vườn cha mẹ để lại, chỉ cho người em một túp lều nhỏ và mảnh vườn, trong đó có cây khế ngọt. Người em không chút phàn nàn, ngày ngày chăm bón cho mảnh vườn và cây khế.

Năm ấy, cây khế trong vườn nhà người em ra quả rất sai. Từng chùm quả chín vàng như nặng lúc lỉu trên cành. Người em nhìn cây khế mà vui mừng, tính đem bán để lấy tiền mua gạo.

Một hôm, có con chim lạ từ đâu bay đến ăn khế. Thấy cây khế bị chim ăn xơ xác người em ôm mặt khóc. Chim bỗng cất lời: “Ăn một quả trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng”

Người em nghe chim nói tiếng người lấy làm kinh ngạc, bèn về kể cho vợ nghe. Hai vợ chồng may một chiếc túi vừa đúng ba gang, chờ chim đến. Hôm sau, chim bay đến, bảo người em ngồi lên lòng mình. Chim bay rất xa, đến một hòn đảo đầy vàng bạc giữa biển khơi bao la. Người em lấy vàng bỏ đầy túi ba gang rồi lại theo chim trở về nhà. Từ đó, người em trở nên giàu có.

Người anh nghe thấy em giàu liền sang chơi và lân la hỏi chuyện. Em không giấu giếm kể lại cho anh tường tận mọi điều. Người anh nằng nặc đòi đổi nhà cửa ruộng vườn của mình lấy mảnh vườn và cây khế, người em dù không muốn nhưng thấy anh cương quyết quá cũng đành đổi cho anh.

Mùa năm sau, cây khế lại sai trĩu những quả vàng chín mọng, người anh khấp khởi mừng thầm, ngày ngày ngóng chờ con chim lạ tới. Thế rồi một hôm, chim tới ăn khế, người anh giả vờ khóc lóc, chim cũng nói: “Ăn một quả trả một cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng”

Người anh nghe vậy, mừng như mở cờ trong bụng, vội vã cùng vợ may một chiếc túi to thật là to. Hôm sau chim tới đưa người anh đi lấy vàng ở hòn đảo xa lạ nọ. Nhìn thấy vàng bạc châu báu trên đảo, người anh vội vàng nhét đầy túi to, lại còn giắt khắp người. Khi người anh leo lên lưng chim, chim phải vỗ cánh mấy lần mới bay lên được. Vì quá nặng nên chim bay chậm, mãi vẫn ở trên biển. Chim bảo người anh vứt bớt vàng bạc đi nhưng anh ta không chịu. Chim nặng quá, nghiêng cánh, thế là người anh tham lam cùng túi vàng rơi xuống biển sâu, không bao giờ trở về được nữa.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 4

Ở chương trình Tiếng Việt lớp 4, em được học các câu chuyện hay và ý nghĩa. Các câu chuyện ấy kể về các bạn nhỏ trạc tuổi em, nên câu chuyện cũng nhờ vậy mà trở nên gần gũi hơn. Trong đó, em đặc biệt ấn tượng câu chuyện Anh em sinh đôi.

Câu chuyện kể về hai anh em sinh đôi là Long và Khánh. Họ có ngoại hình giống nhau đến mức có thể bị người khác nhận nhầm. Khi còn nhỏ, Long rất khoái chí với điều này. Nhưng dần dần khi đã trưởng thành, cậu lại không cảm thấy vui nữa, thậm chí là cáu gắt khi bị nhận nhầm với anh Khánh.Để hạn chế tối đa điều này xảy ra, Long đã nỗ lực làm mọi cách trở nên thật khác anh trai của mình. Cậu cắt tóc, ăn mọc, tập dáng đi, cách nói chuyện cho thật khác biệt với anh.

Nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ một hội thao của trường. Hôm đó, Long và anh Khánh phải mặc đồng phục giống nhau để cùng tham gia thi chạy. Cậu lo lắm. Sợ khi mặc áo quần giống nhau, thì các bạn sẽ nhầm cậu với anh, rồi cổ vũ nhầm người. Thế nhưng, mọi lo lắng của Long đều là dư thừa. Vì trong suốt cuộc thi, không ai cổ vũ nhầm cho Long và anh Khánh cả. Cậu cảm thấy thật kì lạ. Vì thế, ngay khi hội thao kết thúc, cậu đã tìm gặp các bạn để hỏi chuyện. Lúc này, mọi người đã giải thích cho Long hiểu rằng, mọi người không nhầm lẫn hai anh em, vì mỗi người có một tính cách khác biệt hoàn toàn. Khi chỉ nhìn lướt qua thì mới có thể nhầm lẫn, nhưng khi trò chuyện thì không thể nào nhầm Long với anh Khánh được. Lời giải thích ấy của các bạn khiến Long vui như mở cờ trong bụng. Cậu cảm thấy hạnh phúc vô cùng, và buồn cười về những lo lắng của bản thân.

Từ câu chuyện Anh em sinh đôi, em hiểu rõ hơn về nét riêng của mỗi người. Nét riêng ấy không phải dựa vào áo quần hay dáng đứng như Long từng nghĩ. Mà nó thể hiện ở tính cách và phẩm chất của một người. Do đó, hãy trau dồi và phát triển bản thân từ sâu bên trong, để xây dựng một bản thân thật riêng biệt.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 5

Ngày xưa, ở bản kia có một chú bé tuy nhỏ người nhưng ăn một lúc hết chín chõ xôi. Dân bản đặt tên cho chú là Cẩu Khây. Cẩu Khây lên mười tuổi, sức đã bằng trai mười tám; mười lăm tuổi đã tinh thông võ nghệ.

Hồi ấy, trong vùng xuất hiện một con yêu tinh chuyên bắt người và súc vật. Chẳng mấy chốc, làng bản tan hoang, nhiều nơi không còn ai sống sót. Thương dân bản, Cẩu Khây quyết chí lên đường diệt trừ yêu tinh.

Đến một cánh đồng khô cạn, Cẩu Khây thấy một cậu bé vạm vỡ đang dùng tay làm vồ đóng cọc để đắp đập dẫn nước vào ruộng. Mỗi quả đấm của cậu giáng xuống, cọc tre thụt sâu hàng gang tay. Hỏi chuyện, Cẩu Khây biết tên cậu là Nắm Tay Đóng Cọc. Nắm Tay Đóng Cọc sốt sắng xin được cùng Cẩu Khây đi diệt trừ yêu tinh.

Đến một vùng khác, hai người nghe có tiếng tát nước ầm ầm. Họ ngạc nhiên thấy một cậu bé đang lấy vành tai tát nước suối lên một thửa ruộng cao bằng mái nhà. Nghe Cẩu Khây nói chuyện, Lấy Tai Tát Nước hăm hở cùng hai bạn lên đường.

Đi được ít lâu, ba người lại gặp một cậu bé đang ngồi dưới gốc cây, lấy móng tay đục gỗ thành lòng máng dẫn nước vào ruộng. Cẩu Khây cùng các bạn đến làm quen và nói rõ chí hướng của ba người. Móng Tay Đục Máng hăng hái xin được làm em út đi theo.

Bốn anh em tìm tới chỗ yêu tinh ở. Nơi đây bản làng vắng teo, chỉ còn mỗi một bà cụ được yêu tinh cho sống sót để chăn bò cho nó. Thấy anh em Cẩu Khây kêu đói, bà cụ nấu cơm cho ăn. Ăn no, bốn cậu bé lăn ra ngủ. Tờ mờ sáng, bỗng có tiếng đập cửa. Biết yêu tinh đã đánh hơi thấy thịt trẻ con, bà cụ liền lay anh em Cẩu Khây dậy, giục chạy trốn. Cẩu Khây bèn nói:

– Bà đừng sợ, anh em chúng cháu đến đây để bắt yêu tinh đấy.

Cẩu Khây hé cửa. Yêu tinh thò đầu vào, lè lưỡi dài như quả núc nác, trợn mắt xanh lè. Nắm Tay Đóng Cọc đấm một cái làm nó gãy gần hết hàm răng. Yêu tinh bỏ chạy. Bốn anh em Cẩu Khây liền đuổi theo nó. Cẩu Khây nhổ cây bên đường quật túi bụi. Yêu tinh đau quá hét lên, gió bão nổi ầm ầm, đất trời tối sầm lại. Đến một thung lũng, yêu tinh dừng lại, phun nước ra như mưa. Nước dâng ngập cả cánh đồng. Nắm Tay Đóng Cọc đóng cọc be bờ ngăn nước lụt, Lấy Tai Tát Nước tát nước ầm ầm qua núi cao, Móng Tay Đục Máng ngả cây khoét máng, khơi dòng nước chảy đi. Chỉ một lúc, mặt đất lại cạn khô. Yêu tinh núng thế, đành phải quy hàng.

Từ đấy, bản làng lại đông vui.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 6

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, em thích nhất là câu chuyện Thằn lằn xanh và tắc kè. Một câu chuyện ngộ nghĩnh, đáng yêu kể về cuộc sống của đôi bạn Thằn lằn và tăc kề, mang lại cho em bài học đáng nhớ.

Chuyện kể rằng vào một hôm nọ, khi thằn lằn xanh đang bò trên cành cây thì đột nhiên, thằn lằn phát hiện "người bạn mới" tắc kè đang bò trên bức tường ở một ngôi nhà và cất tiếng chào:

- Chào cậu! Tớ là thằn lằn xanh. Tớ thích đi kiếm thức ăn vào ban ngày.

- Chào cậu! Tớ là tắc kè. Tớ thích đi kiếm thức ăn vào buổi tối. – Tắc kè đáp lời thằn lằn xanh.

Cả hai bạn cảm thấy thích thú về cuộc sống của nhau: Tắc kè thì thấy chán những bức tường lắm rồi và muốn kiếm ăn trên cây, trong các bụi cỏ giống Thằn lằn. Còn Thằn lằn xanh lại muốn bò lên tường để tìm thức ăn giống tắc kè. Thế là đôi bạn quyết định đổi cuộc sống cho nhau.

Vài ngày sau, Thằn lằn xanh nhận ra tay và chân của mình không bám dính như tắc kè. Trong khi đó, tắc kẻ cũng cảm thấy mình không thể chịu được sức nóng của ban ngày. Cuối cùng họ cùng đổi lại cuộc sống như trước. Thằn lằn xanh trở về với cái cây của mình và thích thú đi kiếm ăn vào ban ngày. Tắc kè quay trở lại bức tường thân yêu và vui vẻ đi tìm thức ăn vào buổi tối. Đôi bạn vẫn thi thoảng gặp nhau và trò chuyện về cuộc sống.

Em rất yêu thích những trải nghiệm cuộc sống thú vị, đầy mới lạ của Thằn lằn xanh và tắc kè. Đồng thời nhờ đó em cũng nhận ra mỗi người đều có những ưu điểm, nên biết trân trọng và yêu mến cuộc sống hiện tại.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 7

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, em đã được đọc một câu chuyện rất hay và ý nghĩa, đó là Công chúa và người dẫn chuyện. Sau đây mời cô và các bạn cùng lắng nghe.

Chuyện diễn ra sau bữa ăn trưa, khi cô giáo thông báo Giét-xi được chọn đóng vai công chúa trong vở kịch sắp tới. Cảm nhận được ánh mắt ngưỡng mộ của bạn bė, Giét-xi vui lắm.

Về nhà, Giét-xi hào hứng kể cho mẹ nghe. Cả tuần ấy, tối nào mẹ cũng tập lời thoại cùng Giét-xi. Giét-xi siêng năng luyện tập và nhớ lời thoại rất nhanh. Nhưng khi lên sân khấu diễn thử, mọi lời thoại trong đầu Giét-xi đều bay đi đâu hết. Cuối cùng, cô giáo đành phải đổi vai cho cô bé. Giét-xi thấy buồn lắm. Sao không buồn khi phải nhường vai chính cho bạn khác diễn được! Thấy Giét-xi buồn, mẹ rủ cô bé cùng ra nhổ cỏ trong vườn nhà. Khu vườn vào xuân, những cây hồng leo khoác tấm áo xanh mới. Mẹ cô bé định nhổ hết cỏ và hoa dại ở đây để từ giờ trong vườn chỉ trồng hoa hồng thôi. Nhưng Giét-xi ngăn cản mẹ vì cô bé thích cả hoa bồ công anh. Mẹ mỉm cười và nói: mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng, con người cũng vậy, không phải ai cũng thành công chúa, nhưng điều đó không có gì đáng xấu hổ. Giét-xi đoán mẹ đã biết chuyện thay vai diễn của mình. Mẹ dịu dàng nói: "Con gái bé nhỏ của mẹ, con có giọng đọc truyền cảm, rất hợp với vai người dẫn chuyện. Nếu thiếu người dẫn chuyện, vở kịch cũng khó mà thành công được con ạ."

Câu chuyện đã giúp em nhận được một bài học thật ý nghĩa, đó là mỗi người đều có vẻ đẹp và giá trị riêng của mình. Hãy tự tin và hạnh phúc với điều đó, phát huy sở trường của bản thân để làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp hơn.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 8

Trong những câu chuyện em đã được học trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, câu chuyện “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” là câu chuyện để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất. Qua hình ảnh chú Dế Mèn mạnh mẽ, dũng cảm và giàu lòng nghĩa hiệp, em hiểu rằng trong cuộc sống, chúng ta không nên thờ ơ trước nỗi đau của người khác mà cần biết yêu thương, bảo vệ những người yếu đuối và bất hạnh.

Một hôm, Dế Mèn đang trên đường phiêu lưu thì nhìn thấy một chị Nhà Trò nhỏ bé đang ngồi gục bên tảng đá. Thấy dáng vẻ đáng thương của chị, Dế Mèn liền đến gần hỏi chuyện. Nhà Trò vừa khóc vừa kể cho Dế Mèn nghe hoàn cảnh của mình. Gia đình chị vốn rất nghèo khó. Mẹ mất sớm, chị phải sống một mình. Những ngày mưa lũ, mẹ con chị phải vay lương thực của bọn Nhện. Vì không có tiền trả nợ nên bọn Nhện ngày nào cũng đến đòi, thậm chí còn dọa bắt chị. Nghe Nhà Trò kể, Dế Mèn vô cùng thương cảm. Nhìn thân hình nhỏ bé, gầy gò của chị, Dế Mèn càng tức giận trước sự hung dữ và bất công của bọn Nhện. Dế Mèn hỏi Nhà Trò:

-  Bọn Nhện có đông không?

Nhà Trò run rẩy trả lời rằng bọn chúng rất đông và vô cùng hung dữ. Chúng còn giăng tơ kín đường, chặn lối đi khiến chị không thể trốn thoát. Dế Mèn nghe xong liền nói:

- Em đừng sợ! Hãy đi theo anh. Anh sẽ bảo vệ em.

Nói rồi, Dế Mèn đưa Nhà Trò đến chỗ bọn Nhện. Trước mặt Dế Mèn là một lũ Nhện đông đúc, hung hăng. Chúng giăng tơ chằng chịt, định bắt Nhà Trò. Dế Mèn không hề sợ hãi. Chú bước tới, giọng đầy cương quyết:

- Ai đứng đầu bọn này? Ra đây nói chuyện!

Bọn Nhện thấy Dế Mèn to khỏe thì có phần hoảng sợ nhưng vẫn cố tỏ vẻ hung hăng. Dế Mèn nói rõ rằng Nhà Trò yếu đuối, gia đình lại nghèo khổ, không thể trả nợ ngay được. Việc bọn Nhện dựa vào sức đông để bắt nạt một người yếu hơn là điều không thể chấp nhận. Dế Mèn còn cảnh cáo bọn Nhện rằng nếu chúng tiếp tục ức hiếp Nhà Trò, chú sẽ không để yên. Trước thái độ mạnh mẽ và chính nghĩa của Dế Mèn, bọn Nhện cuối cùng phải nghe lời. Chúng không còn dám bắt nạt Nhà Trò nữa. Nhà Trò vô cùng xúc động. Chị cảm ơn Dế Mèn vì đã giúp mình thoát khỏi cảnh bị bắt nạt. Còn Dế Mèn tuy đã giúp được một người yếu đuối nhưng không hề khoe khoang. Chú chỉ coi đó là việc mình nên làm. Câu chuyện kết thúc nhưng bài học mà nó để lại trong em vẫn còn nguyên vẹn. Dế Mèn không chỉ có sức khỏe mà còn có một trái tim nhân hậu và tinh thần nghĩa hiệp. Nếu Dế Mèn nhìn thấy Nhà Trò mà bỏ đi, có lẽ chị sẽ tiếp tục phải chịu sự ức hiếp của bọn Nhện. Chính sự dũng cảm và biết bênh vực lẽ phải của Dế Mèn đã giúp Nhà Trò tìm lại được sự bình yên.

Em rất yêu thích nhân vật Dế Mèn. Qua câu chuyện, em hiểu rằng người mạnh không phải là người luôn chiến thắng người khác, mà là người biết dùng sức mạnh của mình để bảo vệ những người yếu hơn. Trong cuộc sống, em cũng sẽ cố gắng không thờ ơ trước khó khăn của bạn bè, biết giúp đỡ người gặp hoạn nạn và luôn đứng về phía điều đúng đắn. “Dế Mèn bênh vực kẻ yếu” vì thế không chỉ là một câu chuyện hay mà còn là bài học đẹp về lòng nhân ái, sự dũng cảm và tinh thần bảo vệ lẽ phải.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 9

Trên con đường bạt mạng đi du ngoạn đất trời, tôi - Dế Mèn - đã gặp không biết bao nhiêu chuyện bất bình, nhưng kỷ niệm lần đầu tiên tôi ra tay bênh vực Chị Nhà Trò vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí.

Hôm ấy là một ngày mùa hạ oi nồng. Khi tôi đang sải những bước chân kiêu hãnh qua vùng cỏ xước thì nghe thấy tiếng khóc tỉ tê, nhỏ giọt phát ra từ sau gốc cây. Mò mẫm tiến lại gần, tôi thấy chị Nhà Trò đang gục đầu bên gờ đá. Nhìn chị thật tội nghiệp: thân hình gầy gò, nhỏ thó như mới sinh, hai cánh mỏng dảnh lại ngắn ngủn, run rẩy như cánh bướm non gặp bão. Tôi gặng hỏi, chị mới thút thít kể lại tai họa của gia đình mình. Mẹ chị ngày xưa có vay lương ăn của bọn Nhện, nhưng chưa trả hết thì đã qua đời. Chị sống một mình nghèo túng, lại yếu ốm nên chẳng làm lụng được là bao. Mấy hôm nay, bọn Nhện đánh thiệp đe dọa, chăng lưới khắp các ngả đường để bắt chị ăn thịt. Nghe đến đây, máu giang hồ trong tôi sôi lên sùng sục. Tôi giậm chân tanh tách, quát lớn: "Chị đừng sợ! Hãy về cùng tôi. Bọn gian ác không thể cậy khỏe bắt nạt kẻ yếu được!". Tôi dẫn chị Nhà Trò đến sào huyệt của bọn Nhện. Trận địa của chúng căng ra vô cùng đáng sợ với những sợi tơ chăng ngang dọc. Giữa lối đi, một tên Nhện Sừng sừng sỏ đứng gác với dáng vẻ hung tợn. Tôi không chút sợ hãi, tiến thẳng tới, vung cái chân càng mẫm bóng đá phắt một cái vào không trung để uy hiếp. Tên Nhện gác vội vàng co rúm lại. Tôi cất giọng oai nghiêm, lên án hành động tàn nhẫn, tham lam của chúng đối với một cô gái yếu đuối như Nhà Trò.

Lời lẽ cứng rắn cùng khí thế hừng hực của tôi khiến cả bọn Nhện sợ hãi cuống quýt. Chúng rối rít xin lỗi, vội vã đốt hết các vòng lưới tơ đã chăng và hứa từ nay không bao giờ đe dọa chị Nhà Trò nữa. Nhìn chị Nhà Trò nở nụ cười rạng rỡ giữa không gian tự do, tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc vô bờ của một hiệp sĩ vừa làm được việc tốt.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 10

Trong kho tàng những câu chuyện em được đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, em đặc biệt yêu thích câu chuyện “Những hạt thóc giống”. Câu chuyện kể về một vị vua muốn tìm người thật thà để truyền ngôi. Qua thử thách tưởng như đơn giản nhưng vô cùng đặc biệt, nhà vua đã tìm được một cậu bé nghèo có tấm lòng trung thực. Câu chuyện khiến em hiểu rằng trung thực là một phẩm chất vô cùng quý giá, đôi khi còn đáng trân trọng hơn cả tài năng hay sự giàu có.

Ngày xưa, có một vị vua đã già và muốn tìm người kế vị. Nhà vua không muốn lựa chọn người nối ngôi chỉ dựa vào sức khỏe, tài năng hay xuất thân. Ngài muốn tìm một người có đức tính thật thà để có thể cai quản đất nước một cách công bằng. Sau nhiều ngày suy nghĩ, nhà vua quyết định tổ chức một cuộc thử tài rất đặc biệt. Ngài cho gọi các cậu bé trong cả nước đến rồi phát cho mỗi người một thúng thóc giống. Nhà vua tuyên bố rằng:

- Ai thu hoạch được nhiều thóc nhất sau một thời gian sẽ được ta truyền ngôi.

Nhận thóc giống từ nhà vua, các cậu bé đều vô cùng háo hức. Ai cũng nghĩ rằng đây là cơ hội để mình trở thành người kế vị. Những hạt thóc được mang về nhà cẩn thận. Các cậu bé ngày đêm chăm sóc, tưới nước, vun đất, mong thóc nảy mầm thật nhanh.

Trong số những người nhận thóc giống có một cậu bé tên là Chôm. Nhà Chôm nghèo nhưng cậu rất chăm chỉ. Sau khi nhận thóc, Chôm đem số thóc ấy về gieo. Ngày nào cậu cũng chăm sóc cẩn thận. Thế nhưng thật kỳ lạ, dù đã cố gắng hết sức, những hạt thóc vẫn không nảy mầm. Chôm vô cùng lo lắng. Cậu đem thóc gieo lại lần nữa, thay đất, tưới nước, chăm sóc cẩn thận hơn. Thời gian cứ trôi qua nhưng những hạt thóc vẫn nằm im trong đất. Nhìn những mảnh đất trống không, Chôm buồn bã vô cùng. Cậu biết rằng đến ngày phải mang thóc đến cung điện, mình sẽ chẳng có gì để dâng lên nhà vua. Ngày hội cuối cùng cũng đến. Từ khắp nơi, các cậu bé nô nức mang những thúng thóc đầy đến kinh thành. Có người mang cả những hạt thóc to, vàng óng. Có người khoe rằng mình đã thu hoạch được rất nhiều. Khắp sân điện tràn ngập những thúng thóc đẹp đẽ. Chỉ có Chôm bước vào với hai bàn tay gần như trống không. Cậu rất buồn và lo sợ. Chôm cúi đầu, lí nhí nói với nhà vua rằng mình đã cố gắng chăm sóc thóc nhưng thóc không chịu nảy mầm. Cậu không dám thay thóc mới vì sợ nói dối nhà vua. Nhìn thấy Chôm chỉ mang một thúng thóc lép, những người xung quanh bắt đầu xì xào. Có lẽ Chôm nghĩ mình sẽ bị trách phạt. Nhưng nhà vua không tức giận. Ngược lại, ngài nhìn Chôm thật lâu rồi mỉm cười. Nhà vua nói rằng những hạt thóc giống đã được luộc chín trước khi phát cho mọi người, nên chúng không thể nào nảy mầm được. Như vậy, những thúng thóc đầy mà các cậu bé mang đến đều là thóc khác. Chỉ có Chôm là người dám nói sự thật. Nhà vua tuyên bố rằng Chôm chính là người mà mình muốn tìm. Ngài quyết định truyền ngôi cho cậu vì Chôm là một người trung thực, không vì sợ hãi hay ham muốn quyền lực mà nói dối. Nghe lời nhà vua, Chôm vô cùng bất ngờ và xúc động. Cậu không ngờ rằng chính sự thật thà của mình lại giúp cậu nhận được phần thưởng lớn lao đến như vậy. Câu chuyện “Những hạt thóc giống” khiến em suy nghĩ rất nhiều. Trong cuộc sống, đôi khi nói thật có thể khiến chúng ta gặp khó khăn trước mắt. Chôm hoàn toàn có thể đem một thúng thóc khác đến cung điện để được khen ngợi. Nhưng cậu đã không làm như vậy. Cậu chấp nhận nói ra sự thật dù biết mình có thể bị nhà vua trách phạt.

Em rất khâm phục Chôm bởi cậu hiểu rằng điều quan trọng nhất không phải là được mọi người khen ngợi mà là giữ được sự trong sáng của lòng mình. Câu chuyện cũng nhắc nhở em rằng khi mắc lỗi hoặc gặp thất bại, chúng ta không nên che giấu bằng lời nói dối. Hãy dũng cảm nói lên sự thật và chịu trách nhiệm về việc mình đã làm. Bởi cuối cùng, sự trung thực luôn có giá trị và luôn được mọi người trân trọng.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 11

Trong số những câu chuyện từng học ở lớp 4, câu chuyện về bạn nhỏ An-đrê-ca tuổi luôn để lại trong lòng em một nỗi niềm xúc động sâu sắc về lòng hiếu thảo và sự trung thực.

An-đrê-ca sống cùng mẹ và ông nội đã chín mươi tuổi. Một buổi chiều, ông nội đột nhiên cảm thấy khó thở và bảo mẹ gọi bác sĩ. Mẹ vội vã bảo An-đrê-ca chạy nhanh ra cửa hàng mua thuốc cho ông. Cậu bé vâng lời, tung tăng chạy đi ngay. Thế nhưng, trên đường tới tiệm thuốc, An-đrê-ca gặp mấy bạn nhỏ đang đá bóng ngoài sân. Niềm hăng hái của tuổi thơ khiến cậu vô tình quên mất lời mẹ dặn. Cậu đã sà vào chơi bóng cùng các bạn một lúc lâu. Đến khi nhớ ra nhiệm vụ, An-đrê-ca hoảng hốt chạy thật nhanh đến cửa hàng mua thuốc rồi hối hả ôm gói thuốc về nhà. Nhưng vừa bước qua ngưỡng cửa, cậu đã thấy mẹ đang khóc nấc lên bên giường ông. Ông nội đã trút hơi thở cuối cùng. Chú bàng hoàng, quăng gói thuốc vào góc phòng và gục đầu bên giường ông khóc nức nở. Mặc dù mẹ ôm An-đrê-ca vào lòng, nhẹ nhàng giải thích rằng ông đã ốm rất nặng từ trước và dù có thuốc ngay cũng không thể cứu sống ông, nhưng cậu bé vẫn không thể tự tha thứ cho bản thân. An-đrê-ca luôn dằn dặt rằng nếu mình không mải chơi, nếu mình mang thuốc về sớm hơn thì ông đã có thể sống thêm một thời gian nữa.

Nỗi dằn dặt ấy theo An-đrê-ca mãi đến khi trưởng thành. Câu chuyện nhỏ nhưng chứa đựng bài học vô cùng lớn lao: sự trung thực với chính bản thân và ý thức trách nhiệm trước tình cảm gia đình là những điều vô cùng thiêng liêng mà mỗi chúng ta cần ghi nhớ.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 12

Trong những câu chuyện đã được học trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, “Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca” là câu chuyện khiến em xúc động và suy nghĩ nhiều nhất. Câu chuyện kể về một cậu bé vô tình mải chơi khiến bản thân luôn day dứt vì nghĩ rằng mình đã làm mẹ buồn và có lỗi với người cha đang hấp hối. Qua câu chuyện, em cảm nhận sâu sắc tình yêu thương của con cái dành cho cha mẹ cũng như sự trung thực và lòng tự trách đáng quý của một tâm hồn trong sáng.

An-đrây-ca là một cậu bé sống cùng mẹ và ông. Một hôm, ông của cậu bị ốm nặng. Ông đã lớn tuổi nên sức khỏe ngày càng yếu. Mẹ An-đrây-ca rất lo lắng. Một buổi sáng, bà nói với cậu rằng ông đang rất mệt và bảo cậu đi mua thuốc cho ông. An-đrây-ca vội vàng nhận lời. Cậu cầm tiền rồi chạy ra ngoài. Trên đường đi, cậu gặp một nhóm bạn đang chơi bóng. Nhìn thấy trò chơi vui vẻ, An-đrây-ca không cưỡng lại được sự thích thú. Cậu đứng lại xem các bạn chơi rồi nhanh chóng hòa vào cuộc chơi. Ban đầu, An-đrây-ca nghĩ rằng mình chỉ chơi một lát rồi sẽ đi mua thuốc. Nhưng cuộc chơi càng lúc càng hấp dẫn. Cậu chạy nhảy, cười đùa cùng các bạn mà quên mất lời mẹ dặn. Mãi đến khi nhớ ra nhiệm vụ của mình, An-đrây-ca mới vội vàng chạy đến cửa hàng mua thuốc rồi trở về nhà. Thế nhưng khi An-đrây-ca về đến nơi, một điều đau buồn đã xảy ra. Ông cậu đã qua đời. An-đrây-ca sững người. Cậu đứng lặng bên giường ông, không thể tin rằng người ông thân yêu sẽ không bao giờ tỉnh lại nữa. Cậu đau đớn, ân hận vô cùng. Trong đầu cậu cứ hiện lên hình ảnh mình mải chơi bóng với các bạn thay vì nhanh chóng đi mua thuốc cho ông. An-đrây-ca nghĩ rằng nếu mình không mải chơi, nếu mình về nhà sớm hơn, có lẽ ông đã được uống thuốc kịp thời và biết đâu ông sẽ không mất. Cậu tự trách bản thân:

“Giá mình không mải chơi thì ông đã không mất!”

Từ giây phút ấy, nỗi ân hận cứ đeo đẳng An-đrây-ca. Cậu không thể quên được cái chết của ông. Mặc dù mẹ an ủi rằng ông mất vì bệnh nặng và việc cậu mải chơi không phải là nguyên nhân khiến ông qua đời, An-đrây-ca vẫn cảm thấy mình có lỗi. Cậu cứ nghĩ mãi về khoảng thời gian đã chơi bóng hôm ấy. Nếu được quay trở lại, cậu sẽ không bao giờ bỏ quên lời mẹ dặn. Cậu sẽ chạy thật nhanh đến cửa hàng, mua thuốc rồi trở về bên ông. Nhiều năm sau, khi đã lớn, An-đrây-ca vẫn không quên chuyện cũ. Mỗi lần nhớ đến ông, cậu lại cảm thấy đau lòng. Nỗi dằn vặt ấy trở thành một bài học sâu sắc theo cậu suốt cuộc đời. Em rất xúc động trước tâm trạng của An-đrây-ca. Cậu bé không phải là người xấu. Cậu chỉ vô tình ham chơi mà quên mất nhiệm vụ mẹ giao. Nhưng chính vì yêu thương ông và có một lương tâm trong sáng nên cậu luôn cảm thấy ân hận. Điều khiến em khâm phục nhất là An-đrây-ca không tìm cách đổ lỗi cho người khác. Cậu thành thật nhìn nhận lỗi lầm của mình. Câu chuyện giúp em hiểu rằng trong cuộc sống, mỗi lời hứa và mỗi nhiệm vụ được giao đều cần được thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, khi cha mẹ hoặc người thân cần sự giúp đỡ, chúng ta càng phải biết đặt trách nhiệm lên trên những thú vui của bản thân. Đừng để đến khi mất đi một điều quý giá, chúng ta mới nhận ra mình đã vô tâm.

“Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca” không có những sự việc quá lớn lao, nhưng lại chạm đến trái tim người đọc bằng một cảm xúc rất chân thành. Em sẽ luôn ghi nhớ câu chuyện ấy để tự nhắc mình phải biết yêu thương ông bà, cha mẹ, biết vâng lời và hoàn thành tốt những việc được giao. Bởi có những sai lầm dù nhỏ nhưng nếu không cẩn thận, chúng có thể trở thành nỗi ân hận theo ta suốt đời.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 13

Lịch sử dân tộc ghi nhận nhiều tấm gương giàu nghị lực, và câu chuyện về cuộc đời của doanh nhân Bạch Thái Bưởi trong sách Tiếng Việt lớp 4 chính là một bản hùng ca tuyệt đẹp về chí tiến thủ của người Việt.

Mồ côi cha từ nhỏ, Bạch Thái Bưởi phải theo mẹ đi bán hàng rong. Tuy hoàn cảnh gieo neo, cậu bé Bưởi lại có một ham học và chí lớn phi thường. Nhờ sự thông minh, cậu được một gia đình họ Bạch nhận làm con nuôi và cho đi học. Khi trưởng thành, ông kinh qua đủ mọi nghề: từ làm thư ký, buôn gỗ, buôn than cho đến mở hiệu cầm đồ. Dù gặp không biết bao nhiêu thất bại, ông chưa bao giờ chùn bước. Thời điểm bấy giờ, ngành vận tải đường sông hoàn toàn bị các chủ tàu người Pháp và người Hoa thao túng. Với lòng tự tôn dân tộc sâu sắc, Bạch Thái Bưởi quyết định bước vào cuộc cạnh tranh đầy khốc liệt này. Ông thuê lại những chiếc tàu cũ, dán dòng chữ "Người Nam đi tàu Nam" lên từng chiếc tàu và cử người đến các bến sông diễn thuyết, kêu gọi đồng bào ủng hộ hàng nội địa. Bằng sự kiên trì, uy tín và tinh thần dân tộc, ông đã tranh thủ được sự ủng hộ nhiệt thành của đông đảo hành khách. Các tàu của người Hoa, người Pháp dần vắng khách và phải bán lại tàu cho ông. Từ hai bàn tay trắng, Bạch Thái Bưởi đã vươn lên sở hữu một đội tàu hùng hậu gồm hơn ba mươi chiếc lớn nhỏ, tung hoành khắp các tuyến đường sông miền Bắc.

Cuộc đời của "Vua tàu thủy" Bạch Thái Bưởi là minh chứng hùng hồn cho câu tục ngữ "Có công mài sắt, có ngày nên kim". Câu chuyện không chỉ giúp em cảm phục một tài năng mà còn khơi dậy trong lòng thế hệ trẻ niềm tự hào và khát vọng vươn lên không ngừng.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 14

Trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, em đã được đọc rất nhiều câu chuyện hay và ý nghĩa. Nhưng câu chuyện “Một người chính trực” để lại trong em một ấn tượng đặc biệt. Câu chuyện kể về Tô Hiến Thành, một vị quan nổi tiếng chính trực, luôn đặt lợi ích của đất nước lên trên tình cảm riêng tư. Qua câu chuyện, em càng hiểu rằng người có phẩm chất cao quý không phải là người chỉ nói những lời hay, mà là người luôn giữ vững nguyên tắc đúng đắn ngay cả khi đứng trước những lựa chọn khó khăn.

Ngày xưa, dưới triều Lý, Tô Hiến Thành là một vị quan nổi tiếng tài giỏi và chính trực. Khi vua Lý Anh Tông lâm bệnh nặng, nhà vua biết sức khỏe của mình không còn tốt nên rất lo lắng cho đất nước. Vua gọi Tô Hiến Thành đến và giao cho ông nhiệm vụ giúp đỡ thái tử Long Cán còn nhỏ tuổi. Nhà vua mong rằng khi mình qua đời, Tô Hiến Thành sẽ hết lòng phò tá thái tử để giữ gìn cơ nghiệp của triều đình. Sau đó, vua Lý Anh Tông qua đời. Thái tử Long Cán lên ngôi khi tuổi còn rất nhỏ. Vì nhà vua mới còn nhỏ tuổi nên việc triều chính chủ yếu do các quan lớn đảm nhiệm. Tô Hiến Thành được giao trọng trách giúp vua nhỏ cai quản đất nước. Trong thời gian ấy, Đỗ thái hậu muốn lập người con khác lên ngôi. Bà tìm cách gây sức ép với Tô Hiến Thành nhưng ông vẫn một lòng trung thành với di chiếu của vua Lý Anh Tông. Ông kiên quyết bảo vệ thái tử Long Cán. Đỗ thái hậu thấy không thể lay chuyển được Tô Hiến Thành nên rất tức giận. Bà tìm cách dùng tiền bạc và những lời hứa hẹn để mua chuộc ông. Nhưng trước những lợi ích lớn lao ấy, Tô Hiến Thành vẫn không hề thay đổi. Ông hiểu rằng nếu vì lợi ích riêng mà làm trái di mệnh của tiên vương thì không chỉ phản bội lời vua mà còn có thể khiến đất nước rơi vào cảnh rối ren. Vì vậy, ông quyết tâm bảo vệ thái tử Long Cán. Một thời gian sau, Tô Hiến Thành lâm bệnh nặng. Biết ông sắp qua đời, vua và các quan đều lo lắng về người sẽ thay ông đảm nhiệm việc triều chính. Thái hậu muốn nhân cơ hội này đưa một người thân cận lên thay nên tìm cách tác động đến ông. Thế nhưng Tô Hiến Thành vẫn giữ nguyên sự chính trực của mình. Ông không chọn người vì thân quen, giàu có hay có thể đem lại lợi ích cho bản thân. Ông chỉ căn cứ vào tài năng và phẩm chất của người đó. Khi được hỏi ai là người có thể thay mình gánh vác công việc, Tô Hiến Thành đã nhắc đến Vũ Tán Đường, người luôn tận tình chăm sóc ông khi ông đau ốm. Tuy nhiên, khi được hỏi ai có khả năng đảm nhiệm việc nước tốt nhất, ông lại chọn Trần Trung Tá. Bởi theo ông, Trung Tá là người tài giỏi, có thể lo việc lớn của triều đình. Điều đó cho thấy Tô Hiến Thành không hề để tình cảm riêng tư ảnh hưởng đến việc lựa chọn người tài. Ông có thể biết ơn người đã chăm sóc mình, nhưng ông hiểu rằng việc nước cần một người có năng lực thực sự. Sau cùng, Tô Hiến Thành qua đời. Tuy ông không còn nữa nhưng tấm gương chính trực của ông vẫn được lưu truyền. Người đời nhắc đến ông như một vị quan thanh liêm, trung thành và hết lòng vì đất nước. Câu chuyện khiến em vô cùng khâm phục Tô Hiến Thành. Điều đáng quý nhất ở ông chính là sự ngay thẳng. Trước tiền bạc, ông không dao động. Trước quyền lực, ông không khuất phục. Trước tình cảm cá nhân, ông vẫn biết đặt việc chung lên trên. Chính vì vậy, ông trở thành một tấm gương sáng về lòng trung thực và trách nhiệm. Qua câu chuyện, em hiểu rằng chính trực không phải là một điều gì xa vời. Chính trực bắt đầu từ những việc rất nhỏ: không gian dối trong học tập, không nhận công lao của người khác, không bao che cho việc làm sai trái và biết bảo vệ điều đúng. Nếu mỗi người đều sống ngay thẳng và công bằng, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Em rất yêu thích câu chuyện “Một người chính trực” bởi câu chuyện không chỉ kể về một nhân vật lịch sử mà còn gửi đến người đọc một bài học sâu sắc về cách làm người. Em tự nhủ sẽ học tập phẩm chất của Tô Hiến Thành: sống trung thực, công bằng, có trách nhiệm và luôn biết đặt điều đúng đắn lên trên lợi ích riêng của bản thân.

Kể lại một câu chuyện mà em đã đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt - mẫu 15

Đêm rằm tháng Giêng, trăng tròn vạch một đường sáng lung linh xuống con sông quê yên bình. Đó là đêm mà các cô gái tròn mười lăm tuổi trong làng được đến hồ A-ma hứng giọt sương mai đọng trên lá sen và ước một điều ước linh thiêng.

Năm ấy, chị Y Mơ vừa tròn mười lăm. Chị háo hức cùng các bạn trong làng chuẩn bị cho đêm hội. Nhưng khi đến bên bờ hồ, giữa tiếng cười đùa rộn rã và niềm hy vọng của bao bạn bè đồng lứa, Y Mơ lại lặng lẽ quay trở ra. Chị bước tìm đến nhà bà cụ Mây - một người bà mù lòa, sống cô đơn ở cuối làng. Lúc ấy, bà cụ Mây đang ngồi lặng lẽ bên bậc cửa, đôi mắt mờ đục hướng ra khoảng không ngập ánh trăng. Y Mơ quỳ xuống bên bà, nắm lấy bàn tay gầy gộc, nhăn nheo và thì thầm: "Bà ơi, hôm nay là đêm hội ước. Con muốn dành điều ước đêm nay cho bà. Con ước sao cho mắt bà sáng lại để bà được nhìn thấy ánh mặt trời, nhìn thấy làng quê mình đẹp biết bao!" Bà cụ Mây xúc động ôm chồm lấy Y Mơ, giọt nước mắt lăn dài trên gò má hóp. Bà bảo rằng tình yêu thương và lòng nhân hậu của Y Mơ đã là món quà vô giá, là ánh sáng ấm áp nhất soi chiếu cuộc đời tối tăm của bà rồi. Dù đôi mắt bà không thể sáng lại theo phép màu, nhưng lời ước xuất phát từ trái tim chân thành của cô gái nhỏ đã làm ấm lòng cả xóm làng.

Câu chuyện nhẹ nhàng như một khúc ca đêm rằm, nhắc nhở em về lòng nhân ái: Điều ước cao đẹp nhất không phải là điều ước cho bản thân, mà là điều ước mang lại hạnh phúc cho người khác.

Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 4 hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 4 hay khác:

Loạt bài Soạn, giải Tiếng Việt lớp 4 của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Tiếng Việt lớp 4 Tập 1 và Tập 2 Kết nối tri thức (NXB Giáo dục).