Câu hỏi 1 (trang 95 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Theo quan sát của bạn, hiện nay vấn đề "cá tính" được giới trẻ nhìn nhận như thế nào?
Trả lời:
Thời trang Gen Z: Khi cá tính thể hiện trong từng bộ trang phục. Mỗi bộ đồ, phụ kiện được nam thanh niên lựa chọn đều nhằm thể hiện cá tính riêng của họ. quan niệm: “Không có quy chuẩn nào cho một phong cách thời trang đẹp. Chỉ có phù hợp với người mặc hay không. Thời trang có thể phai nhạt nhưng phong cách là bất tử. Lúc này, tôi hài lòng với phong cách mình theo đuổi. Bởi vì nó không chỉ khiến tôi có cơ hội thể hiện cá tính của mình và tôi được người khác chú ý. “Xu hướng thời trang sẽ đa dạng hóa và mang đậm cá tính riêng của giới trẻ. Nhưng cũng có ưu và khuyết điểm. Nếu xu hướng thời trang tốt, mang lại nhiều thiện cảm thì nên theo đuổi. Còn nếu xu hướng xấu thì không nên theo đuổi. Vì Nó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giới trẻ “. Có thể thấy, nếu các bạn trẻ thuộc thế hệ millennials (Gen Y) thích bắt kịp thời đại. Thì Gen Z lại muốn thể hiện bản sắc cá nhân của mình. Nhìn chung, Gen Z, một thanh niên hiện đại, cởi mở hơn trong nhiều vấn đề. Luôn tích cực thể hiện bản thân bằng cách thoát ra khỏi định kiến giới. Đặc biệt là trong lĩnh vực thời trang.
Hiện nay, giới trẻ nhìn nhận “cá tính” theo cả hướng tích cực và tiêu cực. Ở mặt tích cực, cá tính được hiểu là bản sắc riêng của mỗi người, thể hiện qua suy nghĩ, phong cách sống và cách khẳng định bản thân một cách tự tin. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận hiểu sai, cho rằng cá tính là phải khác người, nổi loạn hoặc gây chú ý. Vì vậy, cá tính đúng nghĩa cần là sự khác biệt có ý thức, phù hợp với chuẩn mực và mang giá trị tích cực.
Câu hỏi 2 (trang 95 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nêu ý nghĩa của bạn khi nghe nhận xét về một người nào đó có "vị trí cao ngất ngưởng" và khi nghe đánh giá về một ai đó có "thái độ ngất ngưởng". Từ "ngất ngưởng" trong hai trường hợp trên có giống nhau không?
Trả lời:
Vị trí cao ngất ngưởng: là một vị trí cao trong xã hội có quyền thế.
Thái độ ngất ngưởng: là một thái độ ngang tàng, vượt thế tục của con người.
- Khi nói một người có “vị trí cao ngất ngưởng”, em hiểu đó là cách nói nhấn mạnh vị trí rất cao, nổi bật, khó đạt tới; mang ý nghĩa khách quan, trung tính hoặc tích cực.
- Khi nói một người có “thái độ ngất ngưởng”, em hiểu đó là thái độ khác thường, ngang tàng, tự do, có phần coi thường khuôn phép, mang sắc thái biểu cảm rõ hơn.
Quảng cáo
* Đọc văn bản
Gợi ý trả lời câu hỏi trong khi đọc:
1. Tự thuật của tác giả về hành trang cuộc đời mình:
- "Ngất ngưởng" trên đường công danh;
- "Ngất ngưởng" khi rời chốn quan trường.
"Ngất ngưởng" trên đường công danh: chỉ sự thao lược, tài năng, phong cách ngạo nghễ khi làm quan của tác giả.
"Ngất ngưởng" khi rời chốn quan trường: chỉ sự ngang tàng của ông khi làm dân thường.
- “Ngất ngưởng” trên đường công danh thể hiện thái độ tự hào về tài năng và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ, đồng thời cho thấy ông ý thức rõ giá trị bản thân và luôn nổi bật, khác biệt giữa chốn quan trường.
- “Ngất ngưởng” khi rời chốn quan trường thể hiện lối sống tự do, phóng khoáng, không bị ràng buộc bởi lễ nghi hay danh lợi, khẳng định cá tính mạnh mẽ và bản lĩnh sống riêng của tác giả.
2. Thái độ, cảm xúc của tác giả khi "tổng kết" về cuộc đời mình.
Nguyễn Công Trứ đã tự kể về mình, tự thuật, tự đánh giá về bản thân
+ Giọng điệu tự thuật khảng khái, đầy cá tính
+ Ông ý thức được rõ ràng tài năng, phong cách sống của bản thân
+ Ông tự hào vì có cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội
+ Ông tự hào vì dám sống cho mình, bỏ qua sự gò bó của lễ và danh giáo
- Tác giả bộc lộ thái độ tự hào, tự tin về tài năng, sự nghiệp và nhân cách của bản thân.
- Đồng thời, ông thể hiện phong thái ung dung, coi nhẹ danh lợi, sống tự do và không bị ràng buộc bởi khuôn phép xã hội.
- Qua đó, tác giả khẳng định cá tính “ngất ngưởng” độc đáo, vừa tài hoa vừa bản lĩnh, khác biệt với số đông.
* Sau khi đọc
Quảng cáo
Nội dung chính: Qua thái độ ngất ngưởng, tác giả muốn thể hiện một phong cách sống tốt đẹp, một bản lĩnh cá nhân của mình trong khuôn khổ của xã hội phong kiến chuyên chế: Hết lòng vì vua, vì nước, bất chấp hết những được - mất, những lời khen - chê ở đời. Đồng thời, bài thơ cũng cho người đọc thấy được sự tự ý thức của tác giả về giá trị của bản thân mình: tài năng, địa vị, phẩm chất - một con người toàn tài với những giá trị mà không phải ai cũng có được.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:
Câu 1 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Liệt kê những từ ngữ mang tính chất tự xưng của tác giả trong bài hát nói. Những từ ngữ ấy đã thể hiện được điều gì về phong cách, tư tưởng của Nguyễn Công Trứ khi tự nhìn nhận về mình?
Trả lời:
Trong bài thơ tác giả đã sử dụng các từ, cụm từ mang tính chất tự xưng, đó là: Ông Hi Văn tài bộ, tay ngất ngưởng, ông ngất ngưởng, phường Hàn Phú. Những cách tự xưng này đã góp phần thể hiện cái ngất ngưởng, thái độ tự tôn, sự ngông ngạo của Nguyễn Công Trứ, làm nổi bật hình ảnh cái tôi cá nhân cao ngạo của tác giả.
- Thơ ca thời trung đại nhìn chung ít dùng các từ ngữ tự xưng, nhất là ở những giai đoạn đầu. Về sau, do nhu cầu trực tiếp bộc lộ cảm xúc và cá tính, các từ ngữ có tính chất tự xưng được dùng phổ biến hơn. Hệ thống từ ngữ tự xưng này cũng rất đa dạng và linh hoạt, có khi là đại từ nhân xưng, có khi xưng danh (tên thật hoặc tự hiệu, bút danh, biệt danh), có khi dùng tên chức tước, phẩm hàm,… Bài ca ngất ngưởng sử dụng nhiều cách tự xưng, mỗi cách đều có dụng ý riêng:
+ Dùng biệt danh kết hợp đại từ: “ông Hy Văn”, “ông ngất ngưởng”,… Từ “ông” tự xưng lặp lại nhiều lần cho thấy sự ngạo nghễ, khẳng định vị thế cao, có phần tự phụ. Chữ “Hy” trong biệt danh này có nghĩa là hiếm, hiếm có; chữ “Văn” là văn chương, học thức, hiểu biết.
+ Dùng đại từ thay thế: “tay” ngất ngưởng, “tay” kiếm cung. Từ “tay” ở đây biểu thị ý “ngông”, “ngạo”, tự giễu,… của nhà thơ.
- Các từ ngữ tự xưng trên trong bài hát nói này (và nhiều bài thơ khác của tác giả) cho thấy phong cách, cá tính riêng, mạnh mẽ. Sự tự tin vào bản lĩnh và tài năng, ý vị ngạo thế khinh đời, phong cách trào lộng phóng túng,… đều ít nhiều được thể hiện trong các ngữ cảnh khác nhau.
Câu 2 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Căn cứ vào mạch ý của bài thơ, có thể chia bố cục tác phẩm thành mấy phần? Nêu ý chính của mỗi phần.
Quảng cáo
Trả lời:
- Phần 1 (6 câu thơ đầu): quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan
- Phần 2 (10 câu thơ tiếp): quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu
- Phần 3 (còn lại): quãng đời khi cáo quan về hưu
Có thể coi Bài ca ngất ngưởng là bản giản thuật về cuộc đời từ khi làm quan đến khi về trí sĩ của Nguyễn Công Trứ. Nhiều tư liệu cho biết, ông làm bài này khi đã về hưu, đi chơi chưa vắng cảnh ở quê. Bài thơ có thể chia làm bốn phần, ứng với bốn lần xuất hiện của từ “ngất ngưởng” để xoay quanh chủ đề “ngất ngưởng”:
- Phần 1 (6 câu đầu): cuộc đời làm quan đạt tới danh vọng “ngất ngưởng”.
- Phần 2 (4 câu tiếp): cởi mũ áo từ quan về quê với hành động “ngất ngưởng”.
- Phần 3 (6 câu tiếp): cuộc sống trí sĩ phong tình “ngất ngưởng”.
- Phần 4 (3 câu kết): đạo nghĩa quân thần và đúc kết cả cuộc đời kinh lịch, “ngất ngưởng”.
Câu 3 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tra từ điển và chỉ ra những nét nghĩa khác nhau của từ "ngất ngưởng". Căn cứ vào mạch ý của văn bản để xác định ý nghĩa của từ này ở từng trường hợp xuất hiện.
Trả lời:
- Lần 1: Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng. Từ “ngất ngưởng” gắn với việc thi thố tài năng, gắn với cuộc đời làm quan đạt tới đỉnh cao danh vọng, ngất ngưởng thiên về nét nghĩa cao ngất, tột đỉnh.
- Lần 2: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng. Từ “ngất ngưởng” gắn với hành động cởi mũ áo từ quan, cưỡi bò rời kinh thành chẳng giống ai, ngất ngưởng thiên về nét nghĩa ngạo thế khinh đời, không vướng bận chuyện thị phi.
- Lần 3: Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng. Tuổi đã cao nhưng vẫn có cuộc sống phong tình, đi chơi chùa vẫn đủng đỉnh dắt theo một đôi dì, ngất ngưởng thiên về nét nghĩa tự mình tự tại, cốt thỏa đạt thú vui.
- Lần 4: “Đời ai ngất ngưởng như ông!” Giữ vẹn đạp nghĩa trung thần nhưng vẫn thỏa được chí hướng riêng, làm quan hay trí sĩ đều khẳng định được tính cách, bản lĩnh, khí phách của mình,... Từ “ngất ngưởng” này ứng với nhan đề bài hát nói, mang ý nghĩa khái quát, tổng hợp các nét nghĩa ở trên.
- Ở lần thứ nhất (“Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”), “ngất ngưởng” gắn với tài năng và con đường công danh đạt tới đỉnh cao, thể hiện sự xuất chúng, nổi bật của tác giả.
- Ở lần thứ hai (“Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”), “ngất ngưởng” thể hiện hành động khác thường khi từ quan về quê, biểu hiện thái độ ngạo nghễ, coi nhẹ khuôn phép, không vướng bận danh lợi.
- Ở lần thứ ba (“Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”), “ngất ngưởng” thể hiện lối sống phóng túng, tự do, ung dung tận hưởng cuộc sống theo ý mình.
- Ở lần thứ tư (“Đời ai ngất ngưởng như ông!”), “ngất ngưởng” mang ý nghĩa khái quát, thể hiện bản lĩnh, cá tính độc đáo và phong cách sống riêng biệt của Nguyễn Công Trứ.
Câu 4 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Thái độ sống, phong cách sống "ngất ngưỡng" đã được tác giả thể hiện ở những phương diện, khía cạnh cụ thể nào? Suy nghĩ của bạn về cách lựa chọn lối sống, cách ứng xử cũng như cá tính của tác giả.
Trả lời:
- Quan điểm sống ngất ngưởng khi làm quan: đây là quan niệm mà ông đã nói nhiều bài thơ, cho rằng con người sinh ra do "ý của trời đất", nên phải có trách nhiệm, phải gánh vác việc đời.
- Quan niệm sống ngất ngưởng khi về hưu: tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian.
→ Quan niệm sống kì lạ khác thường mang đậm dấu ấn riêng của tác giả
- Thái độ sống, phong cách sống “ngất ngưởng” đã được tác giả thể hiện ở những phương diện, khía cạnh cụ thể:
+ Tinh thần nhập thế, hành đạo, có trách nhiệm với thời cuộc: Câu thơ mở đầu, Nguyễn Công Trứ xác định rõ “trong trời đất không có gì không phải là phận sự của kẻ nam nhi trượng phu này”. Đó là thái độ sống tích cực và có trách nhiệm. Nguyễn Công Trứ điểm lược các vị trí, thứ bậc, chức vụ mà ông đã trải qua (Thủ khoa – đứng đầu khoa thi Hương; tước Giải nguyên; Tham tán – đứng hàng quan văn tham gia quân vụ; Tổng đốc – đứng đầu một tỉnh hoặc một xứ; Đại tướng – thống suất quân đội; Phủ doãn – quan đứng đầu ở kinh đô). Rõ ràng, cái “ngất ngưởng” mà ông muốn nói ở đây là vị trí đạt được do tài năng, khí phách chứ không phải là một ông quan ngông nghênh, tài tử, tự cao tự mãn với địa vị danh vọng thông thường. Thực tế, Nguyễn Công Trứ là một ông quan tài năng, có tầm nhìn khác đời khác người, tận tụy với chức trách, không quản khó nhọc, lập nhiều công trạng ở nhiều lĩnh vực. Nguyễn Công Trứ tự đặt mình vào guồng lịch sử, vào bộ máy chính trị đương thời để ra sức thi thố tài năng, giúp đời giúp người, đồng thời luôn coi đó là phận sự của mình.
+ Thái độ, lối sống, cách ứng xử với công danh phú quý theo tinh thần tự do tự tại: Từ đỉnh cao vinh hoa, ông lập tức “ngất ngưởng” trở về mà không tham luyến “bả” công danh. Cáo lão từ quan là chuyện thường tình nhưng cái cách, cái tư thế rời kinh của ông mới là điều đáng nói: “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” (giải thoại còn có cả chuyện đeo mo cau vào đuôi bò để chế giễu thiên hạ) là một hình ảnh hài hước, nghịch ngợm không ai có thể tưởng tượng được ở một ông quan lớn đạo mạo đường bệ. Theo đó, “ngất ngưởng” ở đây để chỉ việc dám hành động khác người, thể hiện rõ tính cách ngông, rất cá tính và độc đáo của ông. Ngoài cái ý nghịch ngợm hài hước, cách đó như đã nói, còn cho thấy rõ thái độ dứt khoát của Nguyễn Công Trứ là chứng minh cuộc đời thanh bạch của mình trước thiên hạ. Cả đời làm quan nhưng trở về thanh sạch. Con người thanh liêm chính trực thì luôn bình thản, bình tâm và biết cách chứng minh sự trong sạch để bảo vệ chính mình.
+ Con người tận tụy với đất nước và nghĩa tình với quê hương: “Đạo sơ chung”, nghĩa vua tôi là lí tưởng đạo đức Nho học. Về căn bản con người của Nguyễn Công Trứ, qua thực tế và thơ văn của ông, là hình ảnh người trượng phu hành động, xả thân vì lí tưởng, vì khát vọng hành hóa, suốt đời cần mẫn theo đuổi ước mơ hưng quốc an dân. Bên trong con người hành động ấy lại là một tâm hồn nhạy cảm, giàu cốt cách của một văn nhân tài tử. Có nhiều câu thơ tỏ rõ tình yêu quê hương, nỗi nhớ nhà da diết của ông. Tay kiếm cung và vùng ngang dọc nhưng lập tức hòa mình vào đời sống bình dị, chất phác, chân thành. Tâm hồn ông ẩn trong mây trắng phau phau ở non quê ngày nọ.
+ Tâm hồn phóng túng, cốt cách tài tử, cá tính mạnh mẽ: Phong cách ngông, ngất ngưởng, khác biệt mà Nguyễn Công Trứ thể hiện trong bài này (và nhiều bài thơ khác) bao gồm những đối lập, mâu thuẫn của các thời kì mà ông đã trải qua: làm quan văn đến Tổng đốc, Phủ doãn; quan võ thì đến Tham tán, Đại tướng. Tính cách thì gồm cả mạnh mẽ (tay kiếm cung, tài thao lược) nhưng vẫn có tâm hồn thiện lành, bình dị (dạng từ bi). Hành lạc thì vừa thoát tục (gót tiên, Bụt) vừa trần tục (đứng đỉnh một đôi dì). “Ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ theo phương diện này không phải là kì quái, cố tạo ra dị biệt hình thức, càng không phải là lệch chuẩn, là phá phách mà chính là sự thể hiện bản lĩnh đa tài, mạnh mẽ, bộc lộ khí chất cao cả của mình. Phóng túng, tài tử, cá tính là một sự lựa chọn chỉ có ở kẻ xuất chúng, quảng bác,…
- Cách lựa chọn lối sống, cách ứng xử cũng như cá tính của tác giả tạo nguồn cảm hứng và năng lượng sống dồi dào; do thế luôn mới mẻ, độc đáo và có tính gợi mở. Là một tài năng và nhân cách toàn diện, cho nên Nguyễn Công Trứ là khối thống nhất của nhiều khía cạnh đối lập. Thực tế ông đã sống một cách “ngất ngưởng” và bộc lộ niềm tự hào về điều đó. Như đã phân tích, câu thơ cuối có hai dị bản: “Đời ai ngất ngưởng như ông!” và “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!”. Sự xuất hiện dị bản này trong số các truyền bản thơ có cái lí của nó, ở chỗ, Nguyễn Công Trứ ngất ngưởng với cả “đời” (nhân gian, đời thế chứ không chỉ “trong triều”. Cái ngất ngưởng ở câu kết bài và ở nhan đề là tổng hợp của tất cả cái ngất ngưởng: tài cao (sự nghiệp) ngất ngưởng, về hưu ngất ngưởng, sống đời sống ngất ngưởng.
Câu 5 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Nêu nhận xét về phong cách ngôn ngữ của tác giả thể hiện trong bài hát nói (chú ý các phương diện: cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh; các biện pháp tu từ; vần và nhịp điệu).
Trả lời:
Ngôn ngữ hát nói của Nguyễn Công Trứ cũng rất đa dạng về nhạc điệu, màu sắc, đường nét. Nhà thơ sử dụng tiếng Việt hết sức uyển chuyển để khai thác tối đa sức biểu hiện, biểu cảm của câu thơ quốc âm. Vì vậy, cảm nhận thơ Nguyễn Công Trứ không nên chỉ bằng ngữ nghĩa, mà còn phải chú ý nhiều phương diện khác như âm điệu, âm hưởng.
Nguyễn Công Trứ sáng tạo ra nhiều câu thơ có chức năng cú pháp như một loại câu mang tính định nghĩa về chính bản thân. Bài ca ngất ngưởng là một điển hình: Ông Hy Văn tài bộ… (là vị đã từng): khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông… Khi ca, khi tửu, khi cắc khi tùng. Không Phật, không Tiên, không vướng tục (vậy cho nên): Trong triều ai ngất ngưởng như ông, (thế mà lại phải)… đã vào lồng. Hoặc: “Chẳng phải rằng ngây, chẳng phải đần/ Bởi vì nhà khó hóa bần thân” (Vịnh cảnh nghèo).
- Về từ ngữ, hình ảnh: Có sự kết hợp những từ ngữ có sắc thái trang trọng (hệ thống các từ Hán Việt: vũ trụ, phận sự, tài bộ, đô môn, giải tổ,…) và sắc thái tự nhiên, dân dã (các từ thuần Việt: ngất ngưởng, phau phau, đùng đỉnh, nực cười, tùng,…), đem lại hiệu quả biểu đạt cao, sắc thái biểu cảm phong phú, linh hoạt; sử dụng nhiều hình ảnh có sắc thái cụ thể, gây ấn tượng mạnh; sử dụng điển cố,…
- Về các biện pháp tu từ: Sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ như: lặp từ, lặp cấu trúc; liệt kê; đối từ và cú pháp,… Trong đó, thủ pháp đối được sử dụng có hiệu quả, đặc biệt là đối về ý, ví dụ: nghiêm trang (Phật) >< hài hước (nực cười); được >< mất; khen >< chê; hành lạc, phóng lãng (ca, tửu, cắc, tùng) >< thoát tục, thiêng liêng (Tiên, Bụt); vua >< tôi; sơ >< chung;…
- Về vần và nhịp điệu:
+ Nhịp điệu: theo thể thức, âm hưởng của lối hát nói, nhưng nhìn chung vẫn khá linh hoạt, phóng túng, không gò bó. Có những câu tăng đột ngột số chữ so với thông thường, khiến nhịp điệu cũng biến đổi theo. Cách thay đổi nhịp, tiết tấu cũng đa dạng và linh hoạt, ít gặp trong hát nói, ví dụ nhịp 2/2/2/2 (“Khi ca/, khi tửu/, khi cắc/, khi tùng,”).
+ Cách gieo vần về cơ bản tuân theo quy định, nhưng vẫn có những biến cách và sáng tạo riêng. Cách gieo vần trong bài hát nói: hát nói là một thể thơ vừa có cước vận (vần ở cuối câu) vừa có yêu vận (vần ở giữa câu); vừa dùng vần bằng, vừa dùng vần trắc. Trong mỗi khổ, cước vận của câu đầu và câu cuối là thanh trắc, cước vận của hai câu giữa là thanh bằng. Còn yêu vận của câu thứ hai thì dùng thanh trắc, câu thứ tư thì dùng thanh bằng. Các quy tắc chính: Bài hát nói bao giờ cũng bắt đầu bằng một cước vận trắc. Tiếp sau cước vận trắc đầu tiên → hai cước vận bằng → hai cước vận trắc → hai cước vận bằng → hai cước vận trắc, cứ như vậy cho đến hết bài; kết thúc là một cước vận bằng.
Câu 6 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Trình bày suy nghĩ của bạn về sự hội tụ những yếu tố đối lập trong phong cách hành xử của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở bài hát nói. Ngoài chủ đề chính, Bài ca ngất ngưởng còn có chủ đề nào khác?
Trả lời:
Những yếu tố đối lập trong phong cách hành xử của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở bài hát nói:
+ Con người dốc lòng dốc sức phụng sự quốc gia nhưng vẫn chăm chút cho đời sống cá nhân cá tính.
+ Quyết liệt, cương nghị, nhưng vẫn hào hoa phong nhã.
+ Nghiêm trang, cẩn trọng, chu toàn nhưng vẫn cười cợt, dí dỏm, hài hước.
- Ngoài chủ đề chính, Bài ca ngất ngưởng còn có chủ đề là khẳng định vị thế, chức phận của con người trong mối quan hệ với xã hội và thời đại. Bài ca ngất ngưởng bao gồm những chủ đề khác: đời sống cá nhân và cái tôi cá tính, cách thức lựa chọn và hành động để tạo ra những giá trị sống có ý nghĩa đích thực,...
Trong Bài ca ngất ngưởng, phong cách hành xử của Nguyễn Công Trứ là sự hội tụ độc đáo của nhiều yếu tố đối lập. Ông vừa là một nhà Nho nhập thế, luôn ý thức rõ trách nhiệm “phận sự” với đất nước, vừa là một con người phóng túng, sống tự do, vượt ra khỏi khuôn phép thông thường. Ở ông có sự kết hợp giữa nghiêm túc và hài hước, giữa tài năng thao lược và tâm hồn tài tử, giữa ý thức trách nhiệm và nhu cầu hưởng thụ cuộc sống. Khi làm quan, ông tận tụy, lập nhiều công trạng; khi về hưu, ông sống ngất ngưởng, dám khác người, không màng danh lợi. Những yếu tố tưởng như đối lập ấy không mâu thuẫn mà thống nhất trong một cá tính mạnh mẽ, bản lĩnh, thể hiện con người sống hết mình, trung thực với chính mình.
Ngoài chủ đề chính là ca ngợi lối sống “ngất ngưởng”, tác phẩm còn thể hiện chủ đề khẳng định cái tôi cá nhân, đề cao bản lĩnh và tài năng của con người; đồng thời bộc lộ quan niệm sống tự do, vượt lên lễ giáo khuôn phép nhưng vẫn giữ trọn đạo nghĩa. Qua đó, bài thơ góp phần khẳng định giá trị cá nhân trong xã hội và thể hiện tư tưởng nhân văn tiến bộ của tác giả.
Câu 7 (trang 98 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Theo bạn, hình ảnh con người nhà Nho nhập thế - hành đạo và hình ảnh con người phóng túng - tài tử trong bài thơ có tạo nên sự đối lập về nhân cách không? Vì sao?
Trả lời:
Trong thực tế, có rất nhiều người vưa đạt được công trạng – danh vọng cao lại vừa thỏa nguyện được đời sống phong lưu – tài tử như Nguyễn Công Trứ. Bằng tài năng vượt trội, tinh thần dấn thân và thái độ sống, cách hành xử đầy tự tin, Nguyễn Công Trứ là hiện thân của một hình mẫu nhân cách nhà Nho đặc biệt: vừa nhập thế - hành đạo, vừa hưởng lạc – tài tử; ở một phương diện nào, ông cũng đạt đến độ khác biệt. Đạt công tích sự nghiệp nhưng không để danh lợi, phú quý, uy vũ khuất phục, phóng túng phong tình nhưng không buông tuồng phá phách, tự tin vào bản lĩnh và trí tuệ đến mức bình thản đối diện với mọi thăng trầm của cuộc đời,...
Theo tôi, hai hình ảnh nhà Nho nhập thế – hành đạo và con người phóng túng – tài tử trong bài thơ không tạo nên sự đối lập về nhân cách.
Bởi vì, dù biểu hiện khác nhau, cả hai đều thống nhất trong một con người Nguyễn Công Trứ. Khi làm quan, ông sống có trách nhiệm, tận tụy với đất nước, thể hiện lí tưởng của một nhà Nho hành đạo. Khi về hưu, ông sống phóng túng, tự do, dám thể hiện cá tính riêng. Đây không phải là sự mâu thuẫn mà là sự bổ sung cho nhau, cho thấy một con người toàn diện: vừa có trách nhiệm với xã hội, vừa trung thực với bản thân.
Như vậy, hai hình ảnh ấy làm nổi bật một nhân cách bản lĩnh, tự tin và nhất quán, chứ không hề đối lập hay xung đột.
Qua bài “Bài ca ngất ngưởng”, ta có thể thấy rằng, lối sống ngất ngưởng của ông đều được xuất phát từ quan niệm Nho giáo đó là đề cao lòng trung quân, đây cũng chính là nhân cách của một nhà nho chân chính. Nhân cách ấy thật đặc biệt, khác lạ, ông không khuôn mình, trói buộc theo những tư tưởng Nho học, mà “ngất ngưởng” theo cách của riêng mình nhưng vẫn vẹn đạo với vua, với nước. Đây cũng chính là điểm nhấn tạo nên dấu ấn riêng biệt cho Nguyễn Công Trứ. Ông đã từng nắm giữ các vị trí quan trọng như Thủ khoa đứng đầu khoa thi Hương tức Giải nguyên, Tham tán đại thần chỉ huy quân sự ở vùng Tây Nam Bộ, Tổng đốc Đông đứng đầu một tỉnh hoặc vài ba tỉnh, Đại tướng tức là người cầm đầu đội quân bình Trấn Tây, phủ doãn đứng đầu ở kinh đô. Ngoài ra, ông còn có đóng góp khác như: khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, trị thủy ở đê sông Hồng; đấu tranh với tệ cường hào ở nông thôn… Tất cả công việc ấy đều được Nguyễn Công Trứ thực hiện với tinh thần trách nhiệm, có hiệu quả cao. Con đường công danh của ông thênh thang rộng mở cho đến khi ông được ‘Giải tố chi niên”. Ông tự tin khẳng định mình là người “Tài bộ” tức là kẻ có “tài năng lỗi lạc xuất chúng” trong vũ trụ. Theo quan niệm của nho giáo thì dù có tài giỏi đến đâu cũng cần phải khiêm tốn giữ mình nhưng Nguyễn Công Trứ đi ngược lại điều ấy tự tin, mạnh dạn đề cao vai trò của bản thân, thể hiện tài năng của mình phá vỡ bức tường thành của nho gia. Nhà nho chân chính là những người coi thường danh lợi, không màng vinh hoa phú quý. Lập thân cốt chỉ để giúp vua giúp nước. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy khi triều chính rối ren bao kẻ tranh giành chức tước, hơn thua nhau nhưng họ lựa cho mình con đường cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Công Trứ cũng vậy khi nói về các chức vị của mình ông chỉ dùng những từ cộc lộc, ngắn gọn chứng tỏ ông không phải là người coi trọng công danh, mà tất cả chỉ là phận sự của đấng nam nhi đứng trong vũ trụ. Nguyễn Công Trứ đã từng có một câu nói nổi tiếng: “Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục”. Dù đã giữ nhiều chức quan lớn trong triều nhưng đối với ông cũng thật nhẹ tênh, không có gì quan trọng. Chính điều ấy khiến ông thể hiện mình với cái tôi “Ngất ngưởng” trong toàn bài.
Trong Bài ca ngất ngưởng, Nguyễn Công Trứ thể hiện một cách ứng xử rất bản lĩnh trước những biến động của cuộc đời như được – mất, khen – chê, may – rủi. Trước hết, ông không tuyệt đối hóa danh lợi: khi ở đỉnh cao công danh, ông ý thức rõ tài năng và đóng góp của mình nhưng không vì thế mà tự trói buộc vào địa vị; khi rời quan trường, ông dứt khoát buông bỏ, sống ung dung, tự tại. Điều đó cho thấy ông coi được – mất là lẽ thường, không để chúng chi phối tâm thế. Đồng thời, trước khen – chê của thế gian, Nguyễn Công Trứ giữ thái độ bình thản, tự tin vào giá trị bản thân, dám sống khác, dám “ngất ngưởng” mà không chạy theo dư luận. Với ông, may – rủi cũng chỉ là những biến động tất yếu của cuộc đời, không làm thay đổi chí hướng và cách sống. Cách ứng xử ấy thể hiện một nhân cách mạnh mẽ, tự chủ, biết làm chủ cuộc đời mình. Từ đó, có thể thấy bài thơ không chỉ ca ngợi cá tính riêng mà còn gửi gắm một quan niệm sống tích cực: con người cần giữ vững bản lĩnh, không lệ thuộc vào danh lợi hay lời khen chê, để sống tự do và có ý nghĩa.
Bài giảng: Bài ca ngất ngưởng - Cô Trang Thủy (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: