Với soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc trang 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Kết nối tri thức
Quảng cáo
* Trước khi đọc
Câu hỏi 1 (trang 99 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Hãy kể văn tắt hiểu biết của bạn về một tấm gương đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập tự chủ của dân tộc trong thời kì chống thực dân Pháp xâm lược.
Trả lời:
Hoàng Hoa Thám, còn gọi là Đề Dương, Đề Thám hay Hùm thiêng Yên Thế, là một anh hùng dân tộc, người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống Pháp (1885 – 1913). Cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Ðề Thám là một trong những cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn nhất trong lịch sử đấu tranh chống Pháp của dân tộc Việt Nam và cũng là một trong những cuộc khởi nghĩa cuộc khởi nghĩa duy nhất mà người Pháp đã lưu lại trên bưu thiệp.
"Yên Thế - Loạn quân nhóm Đề Thám."Bức ảnh này trung úy Romain Desfossés chụp người đồng hương của mình bên cạnh Đề Thám và các chiến hữu của ông. Mối quan hệ giữa Đề Thám và người Pháp lúc này có vẻ hữu hảo. Cậu bé trai, con Cả Huỳnh (đứng trước viên sĩ quan Pháp) còn được kê ghế đứng để không bị khuất giữa đám cha chú. Tất nhiên, khi quan hệ thù tạc trở thành thù địch, chân dung từng người được nghiên cứu, ghi nhận rất kĩ lưỡng nhằm mục đích tiêu diệt. Ở một khía cạnh khác, ta hiểu thêm ngoài những bức ảnh do chính mình chụp, Pierre Dieulefils đã sử dụng các nguồn ảnh khác nhau để phát hành thành bưu ảnh.
Một tấm gương anh dũng hi sinh tiêu biểu trong thời kì chống thực dân Pháp là anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu. Chị sinh năm 1933 tại Bà Rịa – Vũng Tàu, tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ. Khi mới 14–15 tuổi, chị đã làm nhiệm vụ liên lạc, trinh sát và tham gia nhiều hoạt động chống lại thực dân Pháp. Nổi bật nhất là việc chị ném lựu đạn tiêu diệt lính địch và trừng trị tên tay sai nguy hiểm.
Năm 1950, chị bị địch bắt và giam cầm trong nhà tù Côn Đảo. Dù bị tra tấn dã man, chị vẫn giữ vững khí tiết, không khai báo, không khuất phục. Trước khi bị xử bắn vào năm 1952, Võ Thị Sáu vẫn bình tĩnh, hiên ngang, cất cao tiếng hát, thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cách mạng.
Sự hi sinh của Võ Thị Sáu là biểu tượng cho lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần đấu tranh anh dũng của dân tộc Việt Nam. Tấm gương của chị mãi mãi là niềm tự hào và là nguồn động lực cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Câu hỏi 2 (trang 99 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Theo bạn, việc tưởng nhớ và tôn vinh những người đã hi sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa như thế nào trong việc giáo dục thế hệ trẻ hôm nay?
Trả lời:
Giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, thanh thiếu niên trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế thế giới là góp phần đào tạo, giáo dục thế hệ thanh niên vừa "hồng", vừa "chuyên", chủ nhân tương lai đưa nước nhà vững bước tiến cùng các dân tộc tiên tiến, xứng đáng với mong ước của Bác Hồ kính yêu. Góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc, gắn liền với CNXH với đội ngũ thanh thiếu niên vững vàng về bản lĩnh chính trị, tuyệt đối không dao động và luôn trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, với Đảng, và với dân tộc.
Việc tưởng nhớ và tôn vinh những người đã hi sinh cho Tổ quốc có ý nghĩa rất quan trọng trong giáo dục thế hệ trẻ. Trước hết, đó là cách giúp thế hệ trẻ hiểu về lịch sử, nhận thức rõ giá trị của độc lập, tự do và những hi sinh to lớn của cha ông. Từ đó, hình thành lòng biết ơn, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm với đất nước. Bên cạnh đó, những tấm gương anh dũng còn truyền cảm hứng về tinh thần dũng cảm, ý chí vượt khó và sẵn sàng cống hiến. Đồng thời, việc tưởng nhớ cũng góp phần bồi dưỡng nhân cách, giáo dục đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, giúp người trẻ sống có lí tưởng, có mục tiêu và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Quảng cáo
* Đọc văn bản:
1. Chú ý cách ngắt nhịp câu văn biền ngẫu.
Đây là một bài văn tế viết theo thế biền ngẫu có nhịp, có đôi, có vần. Văn tế là một thể văn thường dùng để bày tỏ lòng thương cảm với người đã khuất, có nội dung ca ngợi phẩm hạnh, công đức và giải bày sự tiếc thương đau xót đối với số phận của họ.
- Các câu văn được ngắt nhịp linh hoạt, thường theo nhịp 2/2, 3/3 hoặc 4/4, tạo nên âm hưởng trang trọng, dồn dập.
- Cách ngắt nhịp này góp phần làm nổi bật cảm xúc đau xót, căm phẫn và khí thế bi tráng của bài văn tế.
2. Hoàn cảnh xuất thân nghèo khó của nghĩa binh.
Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân (những người bỏ quê đến khai khẩn đất mới để kiếm sống): “cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó”: hoàn cảnh sống cô đơn, thiếu người nương tựa, âm thầm lặng lẽ lao động mà vẫn nghèo khó suốt đời.
- Nghĩa binh xuất thân là những người nông dân nghèo khổ, quen với ruộng đồng, “cui cút làm ăn”, “toan lo nghèo khó”.
- Họ chưa từng quen việc binh đao, “chưa quen cung ngựa”, “tập khiên, tập súng… mắt chưa từng ngó”, cho thấy sự bỡ ngỡ khi bước vào chiến trận.
3. Thái độ của nghĩa binh đối với bọn cướp nước.
Khi thực dân Pháp xâm lược người nông dân cảm thấy: Ban đầu lo sợ rồi đến trông chờ tin quan - ghét - căm thù - đứng lên chống lại.
Vốn là những người nông dân nghèo khó không biết đến việc binh đao, họ lo sợ là chuyện bình thường
Sự chờ đợi “quan”: như “trời hạn trông mưa”
Quảng cáo
Thái độ đối với giặc: “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”
- Thái độ căm ghét, căm thù đến tột độ được diễn tả bằng những hình ảnh cường điệu mạnh mẽ mà chân thực
- Nhận thức về tổ quốc: Họ không dung tha những kẻ thù lừa dối, bịp bợm. => Họ chiến đấu một cách tự nguyện: “nào đợi đòi ai bắt…”
-> Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ, chính lòng yêu nước và niềm căm thù giặc, cộng với sự thờ ơ thiếu trách nhiệm của “quan” đã khiến họ tự lực tự nguyện đứng lên chiến đấu
- Nghĩa binh thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, coi giặc như kẻ thù không đội trời chung.
- Họ luôn sẵn sàng tiêu diệt giặc với tinh thần quyết liệt, không khoan nhượng.
4. Tinh thần chiến đấu quả cảm của nghĩa binh. Chủ ý các hình ảnh đối lập.
Trả lời:
Tinh thần chiến đấu tuyệt vời: Vốn không phải lính diễn binh, chỉ là dân ấp dân lân mà “mến nghĩa làm quân chiêu mộ”
- Quân trang rất thô sơ: một manh áo vải, ngọn tầm vông, lưỡi dao phay, rơm con cúi đã đi vào lịch sử => làm rõ nét hơn sự anh dũng của những người nông dân nghĩa sĩ
- Lập được những chiến công đáng tự hào: “đốt xong nhà dạy đạo”, “chém rớt đầu quan hai nọ”.
- “đạp rào”, “xô cửa”, “liều mình”, “đâm ngang”, “chém ngược”…: động từ mạnh chỉ hành động mạnh mẽ với mật độ cao nhịp độ khẩn trương sôi nổi.
Quảng cáo
- Sử dụng các động từ chéo “đâm ngang, chém ngược” => làm tăng thêm sự quyết liệt của trận đánh.
-> Tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ đánh giặc cứu nước.
- Nghĩa binh dù thiếu thốn vũ khí, chỉ có “tầm vông”, “dao phay” nhưng vẫn xông pha chiến đấu.
- Đối lập với họ là kẻ thù có vũ khí hiện đại, tàu sắt, súng lớn, làm nổi bật tinh thần dũng cảm, không sợ hi sinh của nghĩa binh.
- Họ chiến đấu với khí thế mạnh mẽ, “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, thể hiện ý chí kiên cường.
5. Giọng văn trầm hùng, âm hưởng bi tráng.
Giọng điệu bài văn tế khi là tiếng khóc đau thương, khi là lời khẳng định ngợi ca mang âm hưởng sử thi đã góp phần khắc họa bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ với vẻ đẹp bi tráng.
- Giọng văn kết hợp giữa hào hùng và bi thương, vừa ca ngợi, vừa xót xa. Âm hưởng bi tráng giúp khắc họa rõ hình tượng người nghĩa binh anh dũng hi sinh nhưng vẫn mang vẻ đẹp lớn lao.
6. Cảm xúc xót thương.
Giọng văn thay đổi linh hoạt, phù hợp với những nội dung biểu đạt, trạng thái cảm xúc, trên nền âm hưởng chủ đạo là thống thiết. Khi gợi lại cuộc sống lam lũ, nghèo khó của người nông dân, giọng văn bùi ngùi, trầm lắng: cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó, chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở làng bộ.
- Tác giả bày tỏ niềm xót thương sâu sắc trước sự hi sinh của nghĩa binh.
- Nỗi đau còn thể hiện qua hình ảnh gia đình: mẹ già, vợ yếu, con thơ chịu cảnh mất mát, chia lìa.
7. Ngợi ca tinh thần và sự hi sinh anh dũng của nghĩa binh.
Những vần thơ cuối là sự khẳng định cho sự bất tử của những nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc. Đồng thời cũng là tiếng nói biểu dương công trạng xả thân vì nghĩa lớn của các nghĩa sĩ. Đặc biệt trong câu "Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiêng dân; cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cắm bởi một câu vương thổ" vừa thể hiện được nỗi xót thương và lòng tưởng nhớ những người đã mất, đồng thời tôn vinh công trạng của họ.
- Nghĩa binh được ca ngợi vì đã chiến đấu vì nghĩa lớn, vì đất nước.
- Sự hi sinh của họ được nâng lên tầm bất tử, “danh thơm đồn sáu tỉnh”, được nhân dân kính trọng, tưởng nhớ.
- Tác giả khẳng định công lao và ý nghĩa lớn lao của họ đối với dân tộc.
* Sau khi đọc
Nội dung chính:Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì tổ quốc.
Gợi ý trả lời câu hỏi sau khi đọc:
Câu 1 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Căn cứ vào hiểu biết chung về cấu trúc nội dung thể văn tế, hãy xác định bố cục và nêu nội dung chính của mỗi phần trong văn bản.
Trả lời:
- Lung khởi (Từ đầu đến ...tiếng vang như mõ): Cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người nghĩa sĩ Cần Giuộc.
- Thích thực (Tiếp theo đến ...tàu đồng súng nổ): Hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghĩa sĩ.
- Ai vãn (Tiếp theo đến ...cơn bóng xế dật dờ trước ngõ): Lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân của các nghĩa sĩ.
- Kết (Còn lại): Tình cảm xót thương của người đứng tế đối với linh hồn người chết.
Văn bản được chia thành bốn phần theo cấu trúc của thể văn tế.
- Phần mở đầu (lung khởi): nêu hoàn cảnh đất nước bị xâm lược và khẳng định chính nghĩa của nhân dân.
- Phần thích thực: tái hiện hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân từ cuộc sống đời thường đến khi cầm vũ khí chống giặc.
- Phần ai vãn: bày tỏ niềm xót thương trước sự hi sinh của các nghĩa sĩ.
- Phần kết (kết tế): ca ngợi công lao, khẳng định sự bất tử của các nghĩa sĩ trong lòng nhân dân.
Câu 2. (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Câu văn mở đầu "Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ." có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng chung của bài văn tế?
Trả lời:
- Câu văn nhấn mạnh cuộc đối đầu giữa lòng dân và súng đạn kẻ thù:
+ Tình thế đất nước nguy cấp, tiếng súng quân giặc làm rung chuyển non sông.
+ Lúc đất nước nguy nan, mới hiểu hết lòng dân.
+ Lòng dân là cái vô hình nhưng sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh vật chất cụ thể; súng giặc đất rền là uy lực vũ khí kẻ thù đang tâm chĩa vào lương tri nhân loại, là tội ác không thể dung tha.
- Câu văn mang ý nghĩa khái quát bối cảnh thời đại và chân dung tinh thần của người nghĩa binh Cần Giuộc. Chỉ với hai vế câu ngắn gọn đã cho thấy tinh thần, suy nghĩ, hành động của người nghĩa sĩ nông dân tay không tấc sắt nhưng có lòng căm thù giặc sâu sắc và đã anh dũng xả thân cứu nước.
- Câu văn mở đầu mang tính chất nghị luận, giữ vai trò khái quát tư tưởng chung của toàn bài. Câu văn làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa sức mạnh của nhân dân và vũ khí của kẻ thù.
+ Đất nước rơi vào tình thế nguy cấp, tiếng súng giặc vang lên làm chấn động non sông. Trong hoàn cảnh đó, mỗi người dân đều ý thức sâu sắc rằng vận mệnh dân tộc là thiêng liêng và cần được đặt lên trên hết.
+ Chính trong lúc nguy nan, sức mạnh của lòng dân mới được bộc lộ rõ ràng. Xuất phát từ cách nhìn của người xưa và từ sự chiêm nghiệm về thời cuộc, tác giả nhấn mạnh rằng chỉ có “lòng dân” mới đủ sức xoay chuyển vận mệnh đất nước.
+ “Lòng dân” tuy vô hình nhưng có thể biến thành sức mạnh hiện thực; còn “súng giặc đất rền” là biểu tượng cho bạo lực xâm lược, cho tội ác không thể dung thứ.
- Câu văn không chỉ phản ánh bối cảnh lịch sử mà còn khắc họa rõ tinh thần của người nghĩa binh Cần Giuộc. Với kết cấu đối ngẫu ngắn gọn “súng giặc” – “lòng dân”, tác giả đã xác định rõ trọng tâm của hình tượng: sức mạnh của nhân dân trong hoàn cảnh giặc đến xâm lược. Toàn bộ bài văn đều xoay quanh và làm nổi bật “lòng dân” ấy – một tấm lòng yêu nước mãnh liệt, sẵn sàng đứng lên chống lại kẻ thù dù vũ khí còn thô sơ.
→ Như vậy, câu mở đầu vừa mang ý nghĩa khái quát, vừa có tính định hướng rõ rệt cho nội dung và tư tưởng của toàn bài: ca ngợi tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu và sự hi sinh anh dũng của người nông dân nghĩa sĩ.
Câu 3 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Lòng căm thù giặc của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc được tác giả thể hiện trong tác phẩm như thế nào?
Trả lời:
Thông qua phần Lung khởi, tác giả đã hồi tưởng lại hình tượng người nông dân nghĩa sĩ với những phẩm chất cần cù, lam lũ, đặc biệt là tinh thần căm thù giặc sâu sắc: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ”. Những câu văn gợi liên tưởng đến những tinh thần sục sôi chiến đấu của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong tác phẩm “Hịch tướng sĩ”: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”. Như vậy, qua những động từ mạnh như “ăn gan”, “cắn cổ”, chúng ta có thể thấy được tinh thần căm thù giặc sâu sắc của người nông dân khi chứng kiến giặc ngoại xâm xâm chiếm bờ cõi.
- Người nông dân chân lấm tay bùn, cuộc sống nghèo khó cơ cực, vốn chẳng có gì để mất nhưng lại là những con người có ý thức sâu sắc về tự chủ quốc gia dân tộc. Ý thức tự chủ quốc gia của họ không gắn với tư tưởng có tính lí luận cao siêu mà gắn với nỗi bất bình khi cuộc sống bình dị an phận bỗng dưng bị tàn phá. Cuộc sống thanh bình yên ổn là điều lớn lao đã bị xâm phạm trực tiếp dẫn đến hành động khẳng khái nghĩa hiệp, quyết không đội trời chung với kẻ cướp nước. Họ đã hồi hộp lo lắng với tâm lí thụ động, trông đợi vào hành động của triều đình: “Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;” nhưng sự nhịn nhục của những người dân bộc trực là có giới hạn.
- Lòng căm thù giặc của người nông dân hiển lộ tiềm ẩn trong tình yêu quê hương, trong sự nhẫn nại gắn bó với cuộc sống lao động vất vả. Những gì đi ngược lại với lẽ yêu thương mà họ trân trọng đều chắc chắn dẫn đến sự khinh bỉ, căm ghét. Thái độ yêu ghét của nhân dân lao động hết sức mạnh liệt: “Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.” Nỗi oán hận quân cướp nước của người nông dân được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bằng nhiều từ ngữ, hình ảnh có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ, cụ thể: “Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.” Tính cách ngay thẳng bộc trực của dân chúng lục tỉnh thể hiện rõ ràng qua cách phản ứng cảm giác rất tự nhiên nhưng cũng hết sức quyết liệt. Điều đó sẽ lí giải vì sao họ sẵn sàng hành động trong “trận nghĩa đánh Tây” một cách anh dũng.
- Lòng căm thù giặc sâu sắc của người nghĩa sĩ nông dân được chuyển hóa thành ý thức sống cao thượng, thái độ lựa chọn dứt khoát và cách hành động xả thân đầy trượng nghĩa. Người “dân ấp dân lân”, trước tình thế của đất nước, đã hoàn toàn tự nguyện xác định bổn phận của mình với quê hương: “Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.” Một loạt từ ngữ, diễn tả thể hiện ý thức về vận mệnh dân tộc và chân lí chính nghĩa cao cả mang tầm quốc gia (một mối xa thư đồ sộ, hai vầng nhật nguyệt chói lòa) đặt trong cấu trúc câu văn biền ngẫu mang hàm ý lựa chọn và quan hệ tăng tiến (há để… đâu dung…, nào đợi… phen này xin…, chẳng thèm… chuyến này dốc…) đã thể hiện chân lí: lòng căm thù sẽ biến thành sức mạnh chiến đấu. Là người am hiểu tâm tư cảm xúc của những nghĩa binh nông dân Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu đã giúp chúng ta hiểu được đời sống tâm thức giản đơn như lẽ sống tự nhiên của người nông dân Việt Nam: Mỗi cá nhân đều gắn số phận của bản thân với sự tồn vong của núi sông; trong mỗi con người bình thường đều sẵn có ý niệm thường trực hướng về Tổ quốc thiêng liêng. Từ tình yêu cuộc sống, khát vọng giữ gìn quê hương, thái độ căm ghét sự tàn ác xấu xa dẫn đến ý thức tự nguyện giữ nước và cuối cùng là hành động quên mình trong đánh giặc là một logic tất yếu, có tính biện luận sâu sắc.
Câu 4 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Liệt kê các động từ mà tác giả đã sử dụng để thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của các nghĩa sĩ Cần Giuộ trong đoạn 2 của văn bản. Nêu nhận xét về cách sử dụng các động từ này.
Trả lời:
- Các động từ được sử dụng: đánh, đốt, chém, đạp, lướt, xô, xông, đâm, hè, ó,...
- Đây đều là các động từ đơn âm tiết, nét nghĩa cụ thể, dứt khoát, mạnh mẽ; lại là những từ thuần Việt, thể hiện rõ tính tương phản với điều kiện thiếu thốn, trang bị thô sơ và lực lượng ít ỏi nên có giá trị biểu cảm trực tiếp, gây xúc cảm mạnh trong lòng người đọc.
- Tác giả sử dụng nhiều động từ mạnh để khắc họa rõ nét tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa sĩ Cần Giuộc. Các động từ này tập trung chủ yếu ở đoạn văn thứ hai, bao quát khí thế xung trận của nghĩa binh như: đánh, đốt, chém, đạp, lướt, xô, xông, đâm, hè,…
- Những động từ ấy được kết hợp với các từ chỉ cách thức (bằng, xông, tới,…), chỉ mức độ hoàn thành (xong, rồi,…), hoặc phương hướng (ngang, ngược, trước, sau,…) đã tạo nên nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ. Nhờ đó, sức mạnh chiến đấu của nghĩa binh hiện lên quyết liệt, ào ạt như nước vỡ bờ, thể hiện tinh thần không hề nao núng trước kẻ thù. Về hình thức, các động từ còn được sắp xếp thành từng cặp đối trong câu văn biền ngẫu, làm nổi bật sự tăng tiến về cường độ và không khí khẩn trương của trận đánh.
- Đặc biệt, hệ thống động từ này phần lớn là từ thuần Việt, mang sắc thái cụ thể, trực tiếp, giàu sức gợi. Đây cũng là những từ quen thuộc trong đời sống thường ngày của người nông dân, góp phần làm nổi bật sự tương phản giữa điều kiện chiến đấu thiếu thốn, vũ khí thô sơ với tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, từ đó tạo ấn tượng sâu sắc và gây xúc động mạnh cho người đọc.
Câu 5 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Tinh thần chiến đấu anh dũng của người nghĩa sĩ nông dân trong trận quyết chiến tấn công đồn giặc được tác giả hiểu như thế nào?
Trả lời:
Những câu thơ như câm lặng trôi trong niềm kí ức của tác giả. Nhà thơ gửi một nỗi tiếc thương vô hạn cho những người đã khuất. Cái chết của họ làm cho cả trời đất, cây cỏ tang thương, nhỏ lệ, cái chết nhuốm màu sầu ải lên vạn vật. Cả một bầu trời âm u, tối tăm trước sự hi sinh mất mát của những người nghĩa sĩ. Những hình ảnh thương tâm ấy gặm nhấm tâm can ta, linh hồn ta đau nhức. Nguyễn Đình Chiểu đã nhân danh lịch sử mà cất tiếng khóc cho những người anh hùng hi sinh vì Tổ quốc. Từ những âm thanh sầu thảm vang vọng lên qua đoạn văn, chúng ta không phân biệt được đâu là tiếng khóc của tác giả, của nhân dân, gia đình mà như nghe thấy một tiếng khóc chung của đất nước. Ngòi bút của Nguyễn Đình Chiểu đã hội tụ lại mọi nỗi đau để cất lên tiếng khóc cao cả. Sau phút giây đau thương, nức nở, lời ván đang đắm chìm trong thảm đạm bỗng tỉnh táo hẳn lên, nêu bật một quan niệm tuyệt vời về nhân sinh, về lẽ sống và cái chết.
- Người nghĩa sĩ Cần Giuộc bước vào trận đánh với tư cách người lính bất đắc dĩ: Họ chỉ là “dân ấp dân lân”, vốn chỉ biết việc cày việc cuốc chứ không thuộc bất kì lực lượng chuyên nghiệp nào (để có thể được trực tiếp tham chiến) trong các cuộc chiến đấu. Họ đánh trận mà không có bất kì sự chuẩn bị nào: chưa thuộc binh thư, chưa từng được luyện tập sử dụng vũ khí; thậm chí việc tập rèn võ nghệ của quân đội cũng “mắt chưa từng ngó”; họ chỉ vì lòng mến nghĩa mà “liều mình như chẳng có”.
- Người nghĩa sĩ nông dân “ngoài cật có một manh áo vải” tự trang bị cho mình vũ khí xung trận là những công cụ lao động, những vật dụng thô sơ quen thuộc với nghề nông: ngọn tầm vông thay cho súng đạn, hỏa mai đốt bằng rơm con cúi, gươm giáo thay bằng lưỡi dao phay,… Tác giả khái quát sự đối lập giữa lòng dân và súng đạn thành sự đối lập giữa chính nghĩa và bạo tàn.
- Người nghĩa sĩ nông dân có lòng nghĩa hiệp và tinh thần tự nhiệm, tự giác cao độ. Họ hiểu rõ về tương quan lực lượng trong cuộc đối đầu nhưng nhất quyết xả thân vì nghĩa, “nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to”; “trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ”; họ hăng hái xung trận, “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”; “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”. Hành động xả thân vì nghĩa, ý thức đem thân hóa quốc của người nghĩa binh được thể hiện trong tác phẩm với giọng văn trầm hùng và âm hưởng bi tráng. Hình ảnh những con người chân chất bình dị đã hóa thân thành biểu tượng anh hùng bất tử.
Câu 6 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Từ câu 16 đến câu 25, tác giả đã nhìn nhận ra sao về hành động xả thân vì nghĩa của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc.
Trả lời:
Kết thúc bài tế chính là lời ca ngợi những linh hồn đã khuất của Nguyễn Đình Chiểu. Tuy đã ra đi nhưng những công lao của họ luôn lưu mãi với thời gian. “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” cho dù sống hay chết thì tinh thần vì tổ quốc mà chiến đấu vẫn còn đó, linh hồn của họ vẫn luôn dõi theo đất nước.
- Người nghĩa sĩ nông dân đã xả thân vì nghĩa đúng như cốt cách, phẩm chất, lẽ sống bình dị của họ. Dẫu biết là đã xông pha vào chiến trận, chỉ may mắn mới sống sót; họ cũng chẳng cần biết đến lí tưởng “da ngựa bọc thây” hay “gươm hùm treo mộ” của kẻ theo nghiệp binh đao mong muốn lưu danh sử sách; họ tự nguyện xung trận vì tình yêu quê hương và lòng căm thù giặc cướp.
- Người nghĩa sĩ chấp nhận sự hi sinh mà lẽ ra sự hi sinh đó không thuộc chức trách, bổn phận của họ. Họ không phải lực lượng quân đội của triều đình; cũng chẳng phải vì phạm tội mắc lỗi mà bị đẩy vào chỗ chết, chẳng phải vì ai đòi ai bắt,… Sự hi sinh của họ để lại niềm đau thương khôn nguôi, khiến cả thiên nhiên và con người xúc động: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;”.
- Người nghĩa sĩ Cần Giuộc xả thân vì nước trước hết xuất phát từ sự lựa chọn một cuộc sống có ý nghĩa: người có “lòng nghĩa” luôn nghĩ tới ơn vua ơn nước (“tấc đất ngọn rau ơn chúa”); kẻ có lòng nhân không chấp nhận việc “quăng vùa hương, xô bàn độc”, vứt bỏ tổ tiên nguồn cội. Cả đời cui cút khó nhọc nhưng họ là những người giàu lòng tự trọng, thấu hiểu đạo lí làm người.
- Hành động xả thân vì nghĩa còn xuất phát từ nhận thức về kẻ thù của người nông dân nghĩa binh: vô cớ xâm lăng một đất nước có chủ quyền, chẳng “mắc mớ chi” mà giày xéo quê hương, làm tan tác cả “bát cơm manh áo” người khác; kẻ “man di” đã khinh nhờn văn hóa, tín ngưỡng ngàn đời của dân tộc bằng cách truyền đạo ngoại lai,…
- Thà chết vinh còn hơn sống nhục là một lựa chọn khẳng khái, dứt khoát: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh”; họ không chấp nhận cuộc sống đớn hèn trong hổ thẹn, “thà thác” chứ không chịu “đầu Tây”. Sự lựa chọn cách sống, hay đúng hơn là chấp nhận cái chết để bảo toàn khí tiết, danh dự,… một cách tự nhiên của người nghĩa sĩ Cần Giuộc đã được Nguyễn Đình Chiểu nâng lên ngang tầm cách ứng xử của một mẫu anh hùng lí tưởng.
Câu 7. (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Ý nghĩa của sự hi sinh và tình cảm của nhân dân dành cho người nghĩa sĩ được tác giả thể hiện trong phần cuối bài thơ (từ “Ôi thôi thôi! Đến hết) gợi cho bạn những suy nghĩ gì về lẽ sống?
Trả lời:
Tác giả luận về ý nghĩa cao cả của sự hi sinh và bày tỏ tình cảm xót thương của nhân dân đối với những người vì nước quên thân.
- Sự xót thương dành cho người nghĩa sĩ, nỗi đau thương trùm lên đời sống và số phận người mẹ già ngồi khóc trẻ trong lều khuya leo lét ánh đèn.
- Cái chết của nghĩa binh đánh động người còn sống ý thức hơn về số phận của đồng bào, nhắc nhở rằng binh tướng giặc còn đó đã làm cho bốn phía mây đen, phải tiếp tục vùng lên để cứu nước, cứu nòi.
- Chết mà như sống, linh hồn nghĩa binh vẫn cùng nhân dân đánh giặc, vẫn tiếp tục nuền trung quân ái quốc. Ước nguyện trả đền nợ nước, trở thành lời thề thiêng liêng vang vọng núi sông. Cái chết hóa thân vào núi sông, cái chết hóa thành bất tử.
- Sự xót thương dành cho người nghĩa sĩ được tác giả thể hiện trong niềm xúc động mạnh mẽ. Nỗi đau thương trùm lên đời sống và số phận của “mẹ già ngồi khóc trẻ” trong lều khuya leo lét ánh đèn, của hình ảnh “vợ yếu chạy tìm chồng” dạt dào bóng xế.
- Thương đau mất mát không khiến nhân dân gục ngã, mà biến thành sức mạnh. Cái chết của nghĩa binh đánh động con người có ý thức hơn về số phận cộng đồng, nhắc nhở rằng bọn giặc còn đó đã làm cho “bốn phía mây đen”, phải tiếp tục vùng lên để cứu nước cứu nòi.
- Sự hi sinh của người nghĩa sĩ đã hoá thân vào trời đất núi sông, sống mãi với thời gian: “Ôi! Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ”; “tấm lòng son” và gương hi sinh của họ vằng vặc như “bóng trăng rằm”.
- Sống một đời bình dị nhưng biết xả thân vì nghĩa, cái chết đầy khí phách hào hùng của người nghĩa sĩ khiến họ được tôn vinh, tiếng thơm lưu truyền; nhân dân kính ngưỡng thờ phụng: “Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”.
- Chết mà như sống, linh hồn nghĩa binh vẫn cùng nhân dân đánh giặc, vẫn tiếp tục niềm trung quân ái quốc. Ước nguyện trả đền nợ nước trở thành lời thề thiêng liêng vang vọng núi sông: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia; Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.”
→ Cái chết hoá thân vào núi sông, cái chết hoá thành bất tử.
Câu 8 (trang 106 sgk Ngữ văn 11 Tập 2): Khái quát những nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Trả lời:
Bài văn tế mang đậm chất trữ tình, với những hình ảnh và giọng điệu xót thương, ca ngợi những người nghĩa sĩ nông dân. Thủ pháp tương phản và cấu trúc của thể văn biền ngẫu đã tạo cho bài văn tế một sự trang trọng khi soi chiếu cuộc đời của những người nông dân Cần Giuộc trước đây với những nghĩa sĩ Cần Giuộc bây giờ. Ngôn ngữ vừa trân trọng, vừa dân dã, gần gũi mang đậm sắc thái Nam Bộ.
- Thể văn biền ngẫu được sử dụng linh hoạt, đa dạng, với nhiều hình thức tổ chức câu văn đạt đến trình độ mẫu mực; góp phần phục vụ đắc lực cho việc chuyển tải nội dung tư tưởng và lập luận của tác giả, ứng với các phần trong mạch lập luận của văn bản.
- Sự phá cách của thể loại phú (cấu trúc, ngôn từ, thủ pháp,…) được vận dụng thích hợp, có hiệu quả đặc biệt trong một kiểu loại văn học chức năng là văn tế.
- Sự phá cách về đặc điểm kiểu loại văn tế: “vai” của người chủ tế trong bài văn tế thường có vai trò quyết định đến nội dung các thông điệp. Với tác phẩm này, theo cách nhìn tác giả thể hiện, người chủ tế là cộng đồng dân tộc, là nhân dân; dường như không có sự phân cách giữa các góc nhìn quan phương và bình dân, cá nhân và quốc gia. Tuy hình tượng tác giả có xuất hiện ở đoạn cuối bài văn, nhưng cảm xúc của ông đã hòa vào cách nhìn của cộng đồng dân tộc.
- Sự kết hợp nhuần nhuyễn của các bút pháp, thủ pháp và phương thức nghị luận: nghệ thuật tự sự và bút pháp trữ tình; thủ pháp tương phản và nghệ thuật đối; tính cụ thể – xác thực và giá trị khái quát – biểu trưng; tính quy phạm – khuôn mẫu và nghệ thuật biểu cảm – tạo hình; tính logic – biện luận và nghệ thuật phô diễn – tán thán,…
- Sự kết hợp thuần thục giữa ngôn ngữ bác học và bình dân: điển tích Hán học và thành ngữ dân gian, điển cố văn chương và quán ngữ địa phương, thuật ngữ chuyên biệt và lời nói dân dã,…
→ Tất cả các đặc điểm nghệ thuật trên đã góp phần tạo nên giá trị tổng hợp, đa diện, đa phong cách của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: vừa mang tính lịch sử vừa giàu chất văn chương; kết hợp giữa chức năng và nghệ thuật; có âm hưởng bi thương mà vẫn hào hùng; mang đậm chất anh hùng ca và chiều sâu cảm xúc.
Hình tượng người nông dân, những người nghĩa sĩ yêu nước hiện lên thật quả cảm hào hùng. Lòng yêu đất nước tha thiết xuất phát từ chính trái tim của họ đã khiến cho họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh. Vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được toát ra chính lòng căm thù giặc sục sôi. Chính lòng căm thù giặc đã biến thành hành động vùng lên quật khởi rất hào hùng. Họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, ấy là nét đẹp bản chất nhất trong hành động của người nông dân - nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đến đây không chỉ vẻ đẹp trong tâm hồn mà ngay cả vẻ đẹp trong hành động của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước cũng đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa lên một cách rõ rệt. Từ cái động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử mà đã tạo ra cho họ sức mạnh vô cùng lớn. Họ đã hành động, đứng lên chống giặc ngoại xâm. Không chờ bày bố mà chỉ "ngoài cật có một manh áo vải nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ". Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến cho chúng ta vừa cảm thấy tự hào và xen lẫn niềm xót xa. Những người nghĩa sĩ dường như đóng vai trò là hiện thân của cả một sức mạnh dân tộc. Đối mặt với kẻ thù lớn mạnh với " đạn nhỏ, đạn to", "tàu thiếc, tàu đồng" với đội quân xâm lược nhà nghề, vậy mà vũ khí để họ dùng chống lại chỉ là "một manh áo vải", "một ngọn tầm vông", chỉ có " dao phay" và chỉ là những "hỏa mai đánh bằng rơm con cúi". Thử hỏi rằng đem những thứ đó ra đối chọi với súng đạn của thực dân khác nào bước chân vào chỗ chết. Cái sự thật phũ phàng đó như phô bày ra trước mắt ta thật xót đau biết mấy. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy. Tấn bi kịch này đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỉ.
Lựa chọn và hành động của nghĩa sĩ Cần Giuộc khi đối đầu với kẻ thù xâm lược là biểu hiện đẹp đẽ của lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với dân tộc. Họ vốn chỉ là những người nông dân chân lấm tay bùn, cuộc sống bình dị, chưa từng được huấn luyện chiến đấu, nhưng khi quê hương bị giày xéo, họ đã dứt khoát lựa chọn đứng lên chống giặc. Đó không phải là lựa chọn dễ dàng, bởi phía trước là hiểm nguy và cái chết, nhưng họ vẫn “liều mình như chẳng có”, lấy chính nghĩa làm điểm tựa tinh thần. Từ lựa chọn đúng đắn ấy, hành động của họ trở nên mạnh mẽ, quyết liệt: dùng những công cụ thô sơ như tầm vông, dao phay để xông vào trận đánh với khí thế không hề nao núng. Chính hành động xả thân vì nghĩa đã nâng tầm họ từ những con người bình thường trở thành những anh hùng bất tử trong lòng dân tộc. Qua đó, ta nhận ra rằng giá trị của con người không chỉ nằm ở hoàn cảnh hay điều kiện, mà ở sự lựa chọn đúng đắn và dũng khí biến lựa chọn ấy thành hành động. Đây cũng là bài học sâu sắc cho mỗi chúng ta hôm nay: hãy biết chọn điều đúng đắn và kiên trì hành động để sống một cuộc đời có ý nghĩa.
Bài giảng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Cô Trang Thủy (Giáo viên VietJack)
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: