5+ Phân tích nhân vật Vũ Như Tô (hay, ngắn gọn)

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt cửu trùng đài điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

5+ Phân tích nhân vật Vũ Như Tô (hay, ngắn gọn)

Quảng cáo

Dàn ý Phân tích nhân vật Vũ Như Tô

I. Mở bài

- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Huy Tưởng và tác phẩm Vũ Như Tô: Một tác giả có đóng góp to lớn trên lĩnh vực kịch. Vở kịch Vũ Như Tô là một tác phẩm gây được tiếng vang bởi vấn đề mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống là một vấn đề mới mẻ

- Giới thiệu nhân vật Vũ Như Tô: Đây là hình tượng nhân vật trung tâm trong vở kịch để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng độc giả

Quảng cáo

II. Thân bài

1. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài

- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài:

    + Ông là người “ngàn năm chưa dễ có một”

    + Tài năng của ông được thể hiện: “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên”, “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”

⇒ Ông là hiện thân cho sự say mê và sáng tạo cái đẹp, tài năng của ông được mọi người công nhận, Đan Thiềm vì tài năng mà ngưỡng mộ ông

2. Là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả

    + Ban đầu, dù Lê Tương Dực doạ giết, Vũ như Tô vẫn kiên quyết từ chối xây Cửu trùng đài.

    + Mong muốn và hòa bão của ông chính là xây dựng cho đát nước một tòa lâu đài vĩ đại và bền vững: “bền như trăng sao” để “dân ta nghìn thu còn hãnh diện”

⇒ khát khao cống hiến tài năng cho đất nước

    + Khi đã xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô dồn hết tâm sức: “để ta xây một Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thưở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành, cao cả huy hoàng”

- Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô cao cả đến mức, bản thân ông còn tự thấy đời ông “không quý bằng Cửu Trùng Đài” ⇒ Vũ Như Tô đặt đặt lí tưởng, hoài bão của mình lên trên hết

-Vũ Như Tô là người không hám lợi:

    + Khi được vua ban thưởng lụa là, vàng bạc ông đã đem chia hết cho thợ

Quảng cáo

3. Vũ Như Tô với bi kịch giữa nghệ thuật và đời sống

- Vì quá đam mê và chạy theo lí tưởng nghệ thuật của mình, Vũ Như Tô quên mất rằng chính việc xây Cửu Trùng Đài đã cướp đi mồ hôi, nước mắt và tính mạng của bao nhiêu người

- Lí tưởng, ước mơ xây một toà đài cao cả, nguy nga, tráng lệ lại cao siêu, thuần tuý hoàn toàn thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử xã hội của đất nước, xa rời đời sống nhân dân

⇒ Tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng của ông: xây Cửu trùng đài là đúng hay sai? là có công hay có tội?

⇒ Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch bởi đã mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn cả những làm lạc trong suy nghĩ và hành động.

⇒ Sự thức tỉnh của ông chỉ diễn ra vào phút cuối khi mà ông và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng Đài bị đập phá

III. Kết bài

- Khẳng định nghệ thuật xây dựng nhân vật Vũ Như Tô

- Trình bày cảm nhận bản thân về hình tượng nhân vật

Quảng cáo

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô - mẫu 1

   Nguyễn Huy Tưởng nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch có thiên hướng về các đề tài lịch sử. Thông qua những đề tài này ông đóng góp những quan điểm, tư tưởng mới mẻ về nghệ thuật và cuộc đời. Trong các tác phẩm kịch của ông nổi bật nhất là Vũ Như Tô. Tác phẩm đã khắc họa bi kịch người nghệ sĩ tài ba xong sinh nhầm thời và nêu lên mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nội dung đó đã được phản ánh chân thực và đầy đủ nhất qua đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

    Trước hết, Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”. Tài năng của ông có thể “sai khiến gạch đá như tướng cầm quân, có thể xây dựng những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Tài năng của ông là sự trác tuyệt, siêu phàm. Tài năng ấy một lần nữa được thể hiện qua lời Đan Thiềm trong đoạn trích: “Ông mà có mệnh hệ nào thù nước ta không còn ai tô điểm nữa” và bà khuyên Vũ Như Tô hãy trốn đi để không phí “tài trời” ban cho ông.

    Không chỉ vậy, ông còn là một trí thức tài năng và có bản lĩnh cứng cỏi, trước lời đề nghị của Lê Tương Dực xây dựng Cửu Trùng Đài ông đã thẳng thắn từ chối, dù tên hôn quân dọa giết nhưng ông không hề sợ hãi. Ông không muốn dùng tài năng của mình để xây dựng nơi cho tên vui độc ác ăn chơi hưởng lạc.

    Nhưng ông còn là người đam mê nghệ thuật và khao khát tạo dựng cái đẹp tô sắc cho đời. Trước những lời khuyên của người cung nữ Đan Thiềm, Vũ Như Tô đã đem hết tài năng của mình để xây dựng Cửu Trùng Đài. Lí tưởng của ông thật đẹp đẽ, đáng trân trọng, ông đem hết tài năng của bản thân để xây dựng một lâu đài tráng lệ, có thể “tranh tinh xảo với hóa công” “bền như trăng sao” để tô điểm cho vẻ đẹp của đất nước và là món quà để lại cho hậu thế. Ông dồn sức xây Cửu Trùng Đài bằng mọi giá. Ngay cả khi xảy ra bạo loạn, Vũ Như Tô cũng nhất quyết khống trốn đi để bảo toàn tính mạng cho bản thân. Những lời khuyên của Đan Thiềm với ông đều vô nghĩa lí. Ông vẫn tin tưởng vào việc mình làm không hề phương hại đến ai, việc ông làm giúp ích cho đời. Bởi vậy, cho đến tận lúc bị bắt trói, khi cận kề cái chết, ông vẫn nuôi hi vọng được tiếp tục xây dựng Cửu Trùng Đài. Và cuối cùng nhìn thấy Đài lớn bị thiêu cháy, hoa thành tro bụi, Vũ Như tô coi như đời mình đã chấm hết, ông bình thản ra pháp trường. Đối với ông Cửu Trùng Đài, đứa con tinh thần, nghệ thuật còn quan trọng hơn mạng sống của chính ông.

    Nhưng bản thân ông lại sai lầm trong suy nghĩ và hành động. Xây dựng Cửu Trùng Đài ông vấp phải mâu thuẫn với nhân dân. Để xây dựng được nó cần tiêu tốn biết bao của cải, mà của cải ấy không ở đâu khác chính là Lê Tương Dực vơ vét của nhân dân bằng những thứ thuế má nặng nề, vô lí. Đời sống nhân dân cực khổ, họ bị đẩy vào bước đường cùng. Cửu Trùng Đài cao lên bao nhiêu thì máu xương, mồ hôi của nhân dân phải đổ xuống bấy nhiều, bởi vậy mâu thuẫn, sự căm hận ngày càng bị đẩy lên cao trào. Đặc biệt, Vũ Như Tô vì mục đích hoàn thiện Cửu Trùng Đài mà không ngần ngại hạ lệnh phạt hoặc giết chết những kẻ bỏ trốn để tăng cường kỉ luật làm việc trên công trường. Dần dần Vũ Như Tô biến thành một kẻ ác, là thủ phạm gây nên cuộc sống đau khổ, bất hạnh cho nhân dân.

    Đến ngay cả khi cơn biến loạn xảy ra, nguy hiểm cận kề Vũ Như Tô vẫn không nhận ra sai lầm của bản thân, ông vẫn tự nhận thấy công việc của mình quang minh chính đại, ông nguyện sống chết cùng Cửu Trùng Đài, ông tin mình không “làm gì nên tội” và tin vào sự sáng suốt của viên quan An Hòa Hầu. Ông lấy hết lời lẽ để phân trần, để người đời hiểu cái mong mỏi lớn nhất của đời ông. Vậy ông tại sao lại có tội? Làm sao ông có thể trở thành kẻ ác. Nhưng mọi lời ông nói chí khiến cho quân sĩ cười ầm lên, chúng không hiểu mộng lớn, chúng không hiểu những khát khao của ông, họ chỉ biết “mấy nghìn người chết vì Vửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó ư? Ngườ ta oán mày hơn oán quỷ”. Vũ Như Tô càng giải thích càng khiến cho bọn chúng điên cuồng hơn. Đến phút cuối cùng ông thét lên tiếng thét kinh hoàng khi biết Cửu Trùng Đài đã bị phá hủy và sự bình thản ông ra lệnh đưa ông ra pháp trường: “Trời ơi! Phú cho tằ cái tài làm gí? ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm Ôi Cửu Trùng Đài!... Thôi thế là hết! Dẫn ta đến pháp trường..”.

    Kết cục của Vũ Như Tô là tất yếu, bởi Cửu Trùng Đài là một công trình nghệ thuật tuyệt mỹ nhưng không tuyệt thiện nó là bông hoa ác cho nên nó bị hủy diệt, còn Vũ Như Tô từ đầu chí cuối ông chỉ đứng trên lập trường của cái đẹp, của nghệ thuật thuần túy, mà không hề đứng trên lập trường của nhân dân. Ông là một người có tài năng nghệ thuật chứ không phải là một hiền tài. Nhưng việc đưa Vũ Như Tô là một người nghệ sỹ thiên tài ra pháp trường có thỏa đáng không và đốt phá Cửu Trùng Đài với tư cách là trốn để ăn chơi là hoàn toàn thỏa đáng nhưng đốt Cửu Trùng Đài với tư cách là một công trình nghệ thuật vĩ đại - vinh danh tên tuổi của dân tộc mình có thỏa đáng không. Chính Vũ Như Tô cũng không trả lời câu hỏi này như thế nào. Vũ Như Tô chưa hiểu tội của mình là gì ? Trong những hồi kịch đầu tiên thì Vũ Như Tô luôn luôn đặt ra câu hỏi khẳng định: “Tôi không làm gì lên tội” nhưng đến cuối hồi kịch Vũ Như Tô chuyển từ câu hỏi đấy sang câu nghi ngờ “Ta tội gì”.. Đồng thời, qua bi kịch của Vũ Như Tô cũng thức tỉnh ta mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, đó phải là nghệ thuật vị nhân sinh.

    Tác giả sử dụng ngôn ngữ mang tính tổng hợp cao, giàu giá trị biểu đạt. Mẫu thuẫn kịch bị đẩy lên đến cao trào, giúp bộc lộ rõ tính cách nhân vật. Các lớp kịch linh hoạt tự nhiên, giàu kịch tính, tăng sức hấp dẫn với người đọc.

    Đoạn trích đã thể hiện rõ tài năng nghệ thuật xây dựng kịch bậc thầy của Nguyễn Huy Tưởng. Thông qua lớp ngôn từ có tính tổng hợp cao, giàu ý nghĩa biểu đạt đã giúp ta hiểu sâu hơn tính cách nhân vật Vũ Như Tô. Đối với nhân vật này tác giả cùng dành tiếng nói cảm thương, trân trọng cho tài năng bị phá hủy. Đồng thời cũng là bài học cho nghệ sĩ muốn đời, nghệ thuật muốn tồn tại phải bắt rễ vào cuộc sống, phục vụ cuộc sống.

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô - mẫu 2

   Từ một sự kiện có thật ở thế kỉ XVI dưới triều “Vua lợn” Lê Tương Dực được nhà văn tài ba Nguyễn Huy Tưởng hư cấu thành vở kịch “Vũ Như Tô” để lại cho độc giả nhiều suy ngẫm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Trong đó đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” đã dùng ngôn ngữ hành động để khắc họa chân dung và tấn bi kịch của nhân vật chính. Ông là một người nghệ sĩ có tài năng, có hoài bão muốn dốc lòng cống hiến cho đất nước nhưng lại không hiểu được giá trị thực sự của nghệ thuật chân chính để rồi phải trả giá bằng tính mạng.

   “Vũ Như Tô” là vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long được Nguyễn Huy Tưởng tái bút vào mùa hè năm 1941, đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” thuộc hồi cuối của tác phẩm được coi là kịch tính, xuất sắc nhất.

   Vũ Như Tô là nhà kiến trúc sư chân chính, tài giỏi có tài “Tranh tinh xảo với hóa công”. Ông đã xây dựng được nhiều công trình kiến trúc tuyệt mĩ có tiếng đến vua quan và bị Lê Tương Dực bắt xây dựng cửu trùng đài_nơi để vui chơi, hưởng lạc với cung nữ. Vốn là con người chín chắn, gắn bó với nhân dân dù bị ép buộc, dọa giết nhưng ông quyết không đem tài năng cống hiến cho hôn quân. Sau khi được cung nữ Đan Thiềm_con người ham mê cái đẹp của nghệ thuật thuyết phục lợi dụng tiền của và quyền lực vua chúa để xây dựng cho đất nước tòa lâu đài vĩ đại cho dân ta “nghìn thu còn hãnh diện” nên ông mới đồng ý làm nên cửu trùng đài.

   Ông xây dựng nơi ấy không phải là để phục vụ cho tên bạo chúa xa hoa mà mong muốn một lòng cống hiến tài năng để có một công trình kiến trúc tuyệt mĩ cho đất nước. Một người nghệ sĩ tài ba hiện thân cho khao khát và đam mê sáng tạo cái đẹp. Nói đến đây ta chợt nhớ đến Huấn Cao và Viên quản ngục trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân cũng yêu thích cái đẹp nghệ thuật như ông. Vũ Như Tô luôn mong muốn được thực hiện hoài bão lí tưởng “Điểm tô đất nước, xây cho nòi giống một tòa đài hoa lệ, thách cả những công trình trước sau, tranh tinh xảo với hóa công”. Ông là một con người có tài năng hiếm có, khó để tìm được Vũ Như Tô thứ hai.

   Ông cũng có một tấm lòng ngay thẳng, không sợ cường quyền, không sợ chết, không hám danh hám lợi. Lúc trước một mực kiên quyết không chịu xây cửu trùng đài theo lời bạo chúa dù cho bị đe dọa đến tính mạng. Khi được nhà vua thưởng vàng bạc, ngọc lụa ông cũng đem chia cho thợ. Khi quân tạo phản sắp kéo vào biết bao nhiêu lần nhiêu lượt Đan Thiềm thúc giục chạy trốn nhưng ông cả một lòng ở lại nguyện gắn bó với cửu trùng đài_công trình kiến trúc quý hơn sinh mạng của mình. Khi bị chúng bắt chỉ mong được phân trần với chủ tướng để họ thấy nguyện vọng và tấm lòng chân chính của mình. Cửu trùng đài bị phá hủy ông sống cũng không còn ý nghĩa. Con người ông nguyện một lòng cống hiến vì nghệ thuật.

   Tuy là say mê cái đẹp nhưng ông mù quáng và chìm đắm trong nó mà không nhận thức được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ vua chúa ăn chơi xa xỉ, chỉ lo hưởng thụ bóc lột ức hiếp dân đen thì cái đẹp nghệ thuật lúc này xây dựng nên không phù hợp, nó trở thành phù phiếm, xa hoa nó giống như “bông hoa ác” làm hao tổn ngân khố, cướp đi bao nhiêu sinh mạng, đẩy dân đen vào cảnh lầm than cùng cực bởi tô thuế ngày càng tăng cao, biết bao con người phải phu lao phục dịch ngày đêm, biết bao gia đình tan cửa nát nhà mẹ già mất con, vợ hiền mất chồng, con thơ mất cha. Những người thợ bỏ trốn thì Vũ Như Tô thẳng tay hạ chém. Chính ông là người đã tiếp tay cho bọn vua chúa tàn bạo dù cho lí tưởng của ông là cao cả, dù cho ông muốn làm đẹp cho đất nước nhưng ông quên mất rằng cái đẹp phải gắn với hiện thực. Ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà ngó lơ trước hoàn cảnh của nhân dân, ông vì cái đẹp mà quên mất cái thiện.

   Vũ Như Tô vì mù quáng chìm đắm trong ảo vọng về công trình kiến trúc quên đi hiện thực nghiệt ngã cùng cực mà nhân dân chịu khổ nên đã gây nên bi kịch cho ông ở cuối tác phẩm. Ông không thể tỉnh mộng, không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng với công trình nghệ thuật có phầnviển vông, cũng không tin được rằng lí tưởng của mình lại trở thành tội ác của dân chúng. Sự đau đớn của ông bị nhân lên gấp bội khi chứng kiến cửu trùng đài bốc cháy đùng đùng, tiếng kêu chua chát: “Đốt thực rồi! Đốt thực rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan thiềm! Ôi cửu trùng đài” và cái chết là cái giá mà ông phải trả cho mộng tưởng hão huyền. Phải chăng đúng như câu nói của Nguyễn Du ở cuối Truyện Kiều:

    “Có tài mà cậy chi tài

    Chữ tài liền với chữ tai một vần”

   Vũ Như Tô là con người có khát vọng nghệ thuật chân chính xuất phát từ thiên lương của một nghệ sĩ yêu mến cái đẹp và từ tấm lòng của người con yêu nước muốn đem tài năng cống hiến, điểm tô cho vẻ đẹp dân tộc nhưng đáng tiếc thay con người ấy, tài năng ấy lại đặt không đúng nơi, đúng thời và xa rời thực tế khi chà đạp lên tính mạng và quyền lợi của nhân dân. Để rồi cha đẻ của cửu trùng đài phải trả giá bằng tính mạng cho đứa con tinh thần.

   Nếu như Vũ Như Tô là người có cái tâm một chút thì sẽ không gây nên thảm họa cuộc đời của ông về sau bởi đúng như Nguyễn Du đã từng nói:

    “Thiên căn tại ở lòng người

    Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”

   Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân trong việc xây dựng cửu trùng đài. Tội nhân vì thực thi mệnh lệnh của hôn quân dù cho đó là lợi dụng để điểm tô cho dân tộc, nạn nhân vì lí tưởng hóa mong muốn của bản thân và mâu thuẫn giữa nghệ thuật với hiện thực cuộc sống. Bi kịch của Vũ Như Tô minh chứng cho quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh đáng trân trọng và tôn thờ hơn rất nhiều lần nghệ thuật vị nghệ thuật.

   Như vậy với lối sử dụng ngôn ngữ kịch tính một mặt thể hiện được mâu thuẫn xung đột trong thời phong kiến thối nát, một mặt khắc họa được tính cách, phẩm chất của Vũ Như Tô_nhà kiến trúc tài ba, có tâm huyết với nghề, với tác phẩm nghệ thuật nhưng đáng tiếc là không phù hợp với đời sống thực tế của nhân dân lao động.

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô - mẫu 3

Nguyễn Huy Tưởng là một trong những cây bút tiên phong của nền văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt có đóng góp nổi bật trong thể loại kịch. Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử tiêu biểu của ông, không chỉ gây tiếng vang lớn mà còn đặt ra vấn đề sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống – một vấn đề mới mẻ trong văn học thời bấy giờ. Trung tâm của tác phẩm là hình tượng nhân vật Vũ Như Tô – một nghệ sĩ tài hoa, mang hoài bão lớn nhưng cũng mang trong mình bi kịch sâu sắc.

Trước hết, Vũ Như Tô hiện lên là một kiến trúc sư thiên tài. Ông được đánh giá là người “ngàn năm chưa dễ có một”, tài năng của ông được miêu tả đầy trân trọng và ngưỡng mộ: “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên”, “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân…”. Vũ Như Tô là hiện thân của sự đam mê cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật. Tài năng ấy không chỉ được dân chúng ngưỡng vọng mà còn khiến Đan Thiềm – một cung nữ của triều đình – phải cảm phục và hết lòng bảo vệ.

Không chỉ là người tài giỏi, Vũ Như Tô còn là một nghệ sĩ mang lý tưởng nghệ thuật lớn lao và trong sáng. Ông không hề bị hấp dẫn bởi quyền lực hay vật chất. Ban đầu, ông kiên quyết từ chối lời dụ dỗ của vua Lê Tương Dực dù bị đe dọa tính mạng, chỉ đến khi thấy được sự tha thiết và lý tưởng cao đẹp mà Đan Thiềm vạch ra – xây một công trình nghệ thuật vì dân tộc – ông mới đồng ý. Lý tưởng của ông không phải để thỏa mãn dục vọng cá nhân mà để dựng một “kì công muôn thuở”, để dân tộc “nghìn thu còn hãnh diện”. Ông dốc toàn tâm toàn lực xây Cửu Trùng Đài và xem nó như cuộc đời, sự nghiệp của mình, thậm chí còn khẳng định: “Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Sự trong sạch trong nhân cách của Vũ Như Tô còn thể hiện ở việc ông đem toàn bộ phần thưởng từ vua ban chia cho thợ, hoàn toàn không mưu cầu lợi lộc cá nhân.

Tuy nhiên, bi kịch của Vũ Như Tô cũng bắt đầu từ chính lý tưởng mà ông theo đuổi. Trong khi say mê nghệ thuật và dồn hết tâm huyết vào Cửu Trùng Đài, ông đã vô tình quên mất hoàn cảnh thực tế đất nước – một xã hội đang rối ren, nhân dân lầm than, cơ cực. Việc xây đài tuy là hoài bão nghệ thuật cao cả nhưng lại tiêu tốn của cải, sức lực, thậm chí là máu và nước mắt của dân. Nghệ thuật thuần túy mà ông theo đuổi đã trở nên xa rời cuộc sống, không còn phản ánh hay phục vụ con người mà trở thành gánh nặng. Bi kịch của ông cũng là bi kịch của người nghệ sĩ: lý tưởng lớn nhưng xa rời hiện thực. Cuối cùng, ông chỉ nhận ra sai lầm khi quá muộn – khi ông cùng Đan Thiềm bị bắt và Cửu Trùng Đài bị phá hủy.

Như vậy, Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch tiêu biểu – một nghệ sĩ tài hoa, lý tưởng nhưng đơn độc và lạc lõng giữa thời cuộc. Qua hình tượng này, Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa thành công bi kịch của người nghệ sĩ chân chính khi lý tưởng nghệ thuật không gắn liền với đời sống nhân dân. Đồng thời, tác phẩm cũng gợi mở một vấn đề sâu sắc: nghệ thuật chỉ có giá trị khi hòa nhập, gắn bó với cuộc sống và con người.

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô - mẫu 4

Nguyễn Huy Tưởng là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học cách mạng Việt Nam, đặc biệt nổi bật ở thể loại kịch với những vở diễn mang đậm màu sắc lịch sử và chiều sâu tư tưởng. Trong số đó, Vũ Như Tô là tác phẩm tiêu biểu phản ánh mối quan hệ đầy mâu thuẫn giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nhân vật trung tâm của vở kịch – Vũ Như Tô – hiện lên như một biểu tượng của người nghệ sĩ lý tưởng chủ nghĩa, tài năng nhưng đồng thời cũng mang trong mình bi kịch lớn của thời đại.

Ngay từ đầu vở kịch, Vũ Như Tô được giới thiệu là một bậc thầy kiến trúc, một thiên tài hiếm có. Ông không chỉ giỏi về kỹ thuật mà còn có tư duy nghệ thuật vượt thời đại, thể hiện qua việc “vẩy bút là chim hoa hiện lên”, “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân”. Vũ Như Tô không chỉ đơn thuần là người xây đài, mà là người sáng tạo ra cái đẹp, là hiện thân của nghệ thuật đỉnh cao. Tài năng ấy khiến không chỉ triều đình mà cả những người như Đan Thiềm – một cung nữ sống giữa quyền lực và âm mưu – cũng phải kính trọng và đặt niềm tin.

Không chỉ có tài, Vũ Như Tô còn là một người có nhân cách và lý tưởng nghệ thuật lớn. Ông khao khát xây dựng một công trình để đời – Cửu Trùng Đài – không phải vì danh lợi hay để thỏa mãn yêu cầu của nhà vua, mà vì mong muốn mang lại cho đất nước một biểu tượng văn hóa bất tử. Ông từng khẳng định muốn tạo dựng một tòa đài “bền như trăng sao”, để người đời sau còn có thể tự hào. Đó là khát vọng vượt lên trên đời sống thường nhật, chạm đến cái đẹp vĩnh hằng – một lý tưởng nghệ thuật thuần túy, đầy cao cả.

Đặc biệt, Vũ Như Tô không bị cuốn vào vòng xoáy vật chất, danh vọng. Dù được vua ban thưởng hậu hĩnh, ông vẫn thản nhiên chia hết cho thợ, giữ mình thanh sạch. Cả cuộc đời ông là sự dấn thân cho nghệ thuật, cho cái đẹp, không màng đến lợi ích cá nhân. Ông chính là kiểu nghệ sĩ sống chết với lý tưởng, xem nghệ thuật là cứu cánh tối thượng, sẵn sàng hy sinh tất cả để hoàn thành khát vọng ấy.

Tuy nhiên, chính sự tuyệt đối hóa lý tưởng nghệ thuật đã đẩy Vũ Như Tô vào bi kịch. Trong khi ông mải mê theo đuổi công trình vĩ đại của mình, ông không nhận ra rằng Cửu Trùng Đài đang trở thành nỗi ám ảnh đối với nhân dân – những người đang sống trong nghèo khổ, lầm than. Cái đẹp mà ông tạo dựng lại đánh đổi bằng máu, mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu người. Vũ Như Tô đã vô tình đứng đối lập với quần chúng, vì lý tưởng nghệ thuật của ông không còn phản ánh đời sống, mà tách rời khỏi hiện thực khốc liệt.

Bi kịch lên tới đỉnh điểm khi Cửu Trùng Đài bị phá hủy, ông và Đan Thiềm bị bắt. Chính lúc ấy, Vũ Như Tô mới thực sự nhận ra sự nhầm lẫn giữa cái đẹp tuyệt đối và nhu cầu thực tế. Ông tỉnh ngộ nhưng đã quá muộn, và đó là tấn bi kịch lớn nhất: bi kịch của người nghệ sĩ sống chết vì nghệ thuật nhưng không thể hòa nhập với đời sống dân tộc.

Nhân vật Vũ Như Tô được xây dựng rất thành công, vừa mang tầm vóc của một con người lớn với lý tưởng cao đẹp, vừa gợi nên nỗi xót xa sâu sắc cho bi kịch của nghệ thuật khi xa rời quần chúng. Qua nhân vật này, Nguyễn Huy Tưởng không chỉ đặt ra câu hỏi về vị trí của nghệ thuật trong đời sống, mà còn thể hiện cái nhìn nhân văn và thấu đáo về sứ mệnh của người nghệ sĩ.

Phân tích nhân vật Vũ Như Tô - mẫu 5

Nguyễn Huy Tưởng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực kịch nói với những tác phẩm mang chiều sâu tư tưởng và màu sắc lịch sử. Vở kịch Vũ Như Tô không chỉ là một dấu ấn nghệ thuật quan trọng mà còn là nơi nhà văn gửi gắm những trăn trở về vai trò của nghệ thuật trong đời sống. Nhân vật trung tâm – Vũ Như Tô – được khắc họa như một nghệ sĩ lớn, lý tưởng cao cả nhưng đồng thời cũng là một con người mang trong mình bi kịch sâu sắc khi lý tưởng ấy không gắn liền với thực tiễn cuộc sống.

Vũ Như Tô hiện lên trước hết là một con người có tài năng hiếm có trong lĩnh vực kiến trúc. Ông được xem là người “ngàn năm chưa dễ có một”, có thể “vẩy bút là chim hoa hiện lên”, có thể dựng nên những công trình kỳ vĩ với sự chính xác và tinh tế đến từng chi tiết. Với tài năng ấy, ông không chỉ được vua trọng dụng mà còn khiến những người tinh anh như Đan Thiềm ngưỡng mộ. Ông không xây dựng đơn thuần theo lệnh vua mà dốc hết tâm huyết sáng tạo, mang đến vẻ đẹp và giá trị trường tồn cho kiến trúc, thể hiện đỉnh cao của tư duy nghệ thuật.

Không chỉ là một kiến trúc sư tài ba, Vũ Như Tô còn là hiện thân của một nghệ sĩ lý tưởng chủ nghĩa. Ông không xây Cửu Trùng Đài để phục vụ quyền lực, cũng không nhằm mưu cầu danh vọng. Lý tưởng của ông là tạo ra một kiệt tác để đời – một công trình “bền như trăng sao” – để người dân đất Việt muôn đời có thể tự hào. Khát vọng ấy không phải là phù phiếm mà xuất phát từ một tâm hồn chân chính, một người nghệ sĩ mong muốn cái đẹp được tồn tại mãi mãi. Ông xem nghệ thuật là sự nghiệp thiêng liêng, là lẽ sống, thậm chí còn tuyên bố: “Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”, cho thấy sự hy sinh trọn vẹn cho lý tưởng nghệ thuật.

Vũ Như Tô còn được khắc họa như một con người thanh cao, không vướng bận vật chất. Khi được ban thưởng, ông không giữ lại gì cho bản thân mà chia hết cho thợ – những người cùng góp công xây dựng nên công trình. Đây là biểu hiện rõ nét của nhân cách cao quý, sống vì tập thể, không màng lợi danh. Tất cả những điều đó khiến ông trở thành một nghệ sĩ lý tưởng theo đúng nghĩa: tài năng, chính trực và tận tâm với cái đẹp.

Thế nhưng, lý tưởng cao đẹp ấy lại trở thành nguyên nhân dẫn đến bi kịch. Trong khi ông miệt mài theo đuổi công trình nghệ thuật lý tưởng, thì bên ngoài, cuộc sống của nhân dân lầm than, đói khổ. Cửu Trùng Đài được xây dựng bằng máu và nước mắt của biết bao người dân vô tội. Vũ Như Tô đã không nhìn thấy hoặc đã bỏ quên thực tại, bởi niềm tin mãnh liệt rằng nghệ thuật đích thực sẽ vượt lên tất cả. Tuy nhiên, nghệ thuật nếu không xuất phát từ đời sống, không gắn bó với nhân dân thì sớm muộn cũng sẽ bị phủ định.

Bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ đặt nghệ thuật lên trên cuộc sống, không nhận ra rằng cái đẹp cần được tạo ra trong sự đồng thuận và phục vụ con người. Đến cuối cùng, khi Cửu Trùng Đài bị phá hủy, ông và Đan Thiềm bị bắt, Vũ Như Tô mới bàng hoàng nhận ra rằng lý tưởng của mình, dù đẹp đẽ đến đâu, cũng đã hoàn toàn lạc lối khi không gắn bó với thực tế xã hội.

Nhân vật Vũ Như Tô là một sáng tạo nghệ thuật đầy chiều sâu của Nguyễn Huy Tưởng. Qua hình tượng này, nhà văn đặt ra câu hỏi lớn: Nghệ thuật vì ai? Sống để làm nghệ thuật hay nghệ thuật phải vì con người? Đây không chỉ là vấn đề của một thời đại mà còn mang ý nghĩa lâu dài với mọi thời đại. Bởi vậy, Vũ Như Tô không chỉ là một nhân vật bi kịch, mà còn là một biểu tượng của sự giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực trong hành trình sáng tạo nghệ thuật.

Xem thêm các bài Văn mẫu phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 11 khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

vinh-biet-cuu-trung-dai.jsp

Giải bài tập lớp 11 sách mới các môn học