10+ Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (điểm cao)
Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 1)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 2)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 3)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 4)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 5)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 6)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 7)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 8)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu 9)
- Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (mẫu khác)
10+ Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt (điểm cao)
Dàn ý Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt
I. Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.
- Dẫn vào vấn đề: nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người – một vấn đề mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc được gợi lên từ tác phẩm.
II. Thân bài
1. Khái quát nội dung liên quan
- Tác phẩm kể về việc Tràng “nhặt” được vợ giữa hoàn cảnh đói khát.
- Bối cảnh là Nạn đói năm 1945 – thời kì hàng triệu người chết đói.→ Qua đó phản ánh hiện thực tàn khốc của xã hội.
2. Giải thích vấn đề
- Nạn đói: tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, đẩy con người vào cảnh sống khốn cùng.
- Trách nhiệm của xã hội: sự quan tâm, bảo vệ, đảm bảo quyền sống cho con người, đặc biệt là những người yếu thế.
3. Phân tích qua tác phẩm
a. Thực trạng nạn đói
- Không khí ảm đạm, chết chóc bao trùm.
- Con người gầy đói, vật vờ, mất dần sức sống.
- Giá trị con người bị hạ thấp (chỉ vì miếng ăn mà chấp nhận đánh đổi).
b. Hậu quả
- Con người rơi vào cảnh cùng quẫn, mất đi phẩm giá.
- Sự sống trở nên mong manh, cái chết cận kề.
- Xã hội bộc lộ sự vô trách nhiệm, bất công.
c. Trách nhiệm của xã hội (gợi ra từ tác phẩm)
- Xã hội cần đảm bảo quyền sống, quyền được no đủ.
- Cần có sự sẻ chia, cứu giúp những người nghèo khổ.
- Phê phán xã hội cũ thờ ơ, đẩy con người vào bi kịch.
4. Giá trị, ý nghĩa
- Tác phẩm tố cáo xã hội vô nhân đạo.
- Đề cao tình người, khát vọng sống.
- Gợi nhắc trách nhiệm của cộng đồng đối với mỗi cá nhân.
5. Liên hệ thực tế
- Ngày nay: vẫn còn đói nghèo, bất công ở nhiều nơi.
- Cần sự chung tay của xã hội: hỗ trợ người khó khăn, chính sách an sinh.
- Phê phán sự vô cảm, thiếu trách nhiệm.
6. Bài học, giải pháp
- Xã hội cần quan tâm đến người yếu thế.
- Cá nhân cần sống có trách nhiệm, biết sẻ chia.
- Xây dựng xã hội công bằng, nhân văn.
III. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa vấn đề.
- Liên hệ: mỗi người cần góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 1
Trong lịch sử Việt Nam, Nạn đói năm 1945 là một vết thương khó phai, khi cái chết và đói khát đe dọa đến từng gia đình, từng con người. “Vợ nhặt” của Kim Lân không chỉ là một truyện ngắn về số phận con người trong thời loạn lạc, mà còn đặt ra một vấn đề xã hội sâu sắc: nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người. Qua tác phẩm, người đọc nhận ra rằng cái đói không chỉ hủy hoại thân xác mà còn bào mòn nhân phẩm, và xã hội có trách nhiệm không để con người phải chịu cảnh cùng cực ấy một mình.
Tràng – một người đàn ông nghèo khổ, sống lay lắt qua ngày – “nhặt” được vợ trong lúc cái đói đang hoành hành. Nhìn bề ngoài, hành động này có vẻ bất thường, thậm chí khó hiểu. Nhưng nhìn kỹ, đó là biểu hiện của sức sống, của lòng nhân hậu và niềm khát khao tình người giữa cảnh khốn cùng. Nếu cái đói khiến con người dễ trở nên ích kỉ, lạnh lùng, thì Tràng lại chọn cách chia sẻ. Anh trao đi không chỉ miếng ăn mà còn một cơ hội sống, một hy vọng mới. Từ đó, tác phẩm gợi lên một thông điệp mạnh mẽ: xã hội, với những định chế, cơ quan quản lý và con người sống trong đó, phải bảo vệ mạng sống và phẩm giá của mỗi cá nhân, đặc biệt là những người yếu thế.
Hình ảnh bà cụ Tứ càng làm nổi bật trách nhiệm xã hội và sức mạnh của tình thương. Bà đón nhận nàng dâu mới không chỉ vì lễ nghĩa mà còn vì lòng thương cảm. Trong cảnh nghèo đói, bà vẫn hướng tới niềm hy vọng, nhắc nhở các con rằng, sự quan tâm và sẻ chia sẽ giúp con người vượt qua khó khăn. Bà cụ không thay đổi được thực tại tàn nhẫn, nhưng bà giữ cho gia đình mình một nền tảng tinh thần vững chắc. Qua đó, tác phẩm gợi ra một chân lý: trách nhiệm của xã hội không chỉ nằm ở các chính sách lớn mà còn thể hiện qua sự quan tâm, đồng cảm của từng con người trong cộng đồng.
Không chỉ tố cáo hiện thực khắc nghiệt, “Vợ nhặt” còn nhắc nhở chúng ta về hậu quả của sự thờ ơ, vô trách nhiệm. Khi xã hội bất lực hay thờ ơ trước cái đói, con người bị đẩy đến bờ vực sinh tồn, phải đối diện với sự tha hóa, mất phẩm giá và niềm tin. Những bi kịch cá nhân trong tác phẩm chính là lời cảnh tỉnh: xã hội phải quan tâm đến tất cả các thành viên, phải đảm bảo điều kiện sống tối thiểu để mọi người có cơ hội duy trì nhân phẩm và khát vọng sống.
Liên hệ với thực tế, mặc dù ngày nay nạn đói không còn diễn ra ở quy mô như thời xưa, nhưng nghèo đói, bất công và những hoàn cảnh khó khăn vẫn tồn tại. Trách nhiệm của xã hội – từ chính quyền đến cộng đồng, từ tổ chức đến mỗi cá nhân – vẫn quan trọng như ngày xưa: bảo vệ những người yếu thế, sẻ chia và chung tay xây dựng cộng đồng nhân văn. Không chỉ vậy, việc giáo dục ý thức trách nhiệm, đồng cảm và lòng nhân ái cho mỗi người là cách để xã hội tránh lặp lại những bi kịch từng xảy ra.
Tác phẩm của Kim Lân nhấn mạnh rằng, nạn đói không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà còn là phép thử về nhân cách con người và trách nhiệm của xã hội. Qua câu chuyện của Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, chúng ta nhận ra rằng: xã hội chỉ thực sự đáng sống khi biết bảo vệ những con người yếu thế, khi mỗi cá nhân biết quan tâm, chia sẻ và đồng cảm. Và chính tình thương, sự quan tâm ấy mới là sức mạnh giúp con người vượt qua khổ đau, tìm thấy hi vọng giữa cảnh cùng cực.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 2
Nạn đói năm 1945 là một trong những bi kịch đau thương nhất của lịch sử Việt Nam. Hàng triệu người rơi vào cảnh khốn cùng, không đủ miếng ăn để sống qua ngày. Trong bối cảnh đó, “Vợ nhặt” của Kim Lân không chỉ phản ánh thực trạng khắc nghiệt mà còn đặt ra một vấn đề xã hội sâu sắc: trách nhiệm của xã hội đối với con người khi họ bị đẩy đến tận cùng của đói khát. Qua tác phẩm, người đọc cảm nhận rõ ràng rằng một xã hội chỉ thực sự đáng sống khi biết bảo vệ những con người yếu thế, và tình thương luôn là điều giữ cho nhân cách con người không bị mất đi.
Truyện kể về Tràng, một người nông dân nghèo, trong lúc đói khát đã “nhặt” được vợ. Hành động tưởng chừng liều lĩnh này lại là biểu hiện của lòng nhân hậu, sự sẻ chia giữa cảnh cùng cực. Nếu nhìn bề ngoài, Tràng không có gì để cho, nhưng anh vẫn trao đi một cơ hội sống, một mái ấm cho người phụ nữ xa lạ. Hình ảnh này khiến người đọc nhận ra rằng nạn đói không chỉ là thiếu lương thực, mà còn là thước đo nhân phẩm con người. Khi xã hội bỏ mặc những mảnh đời yếu thế, con người buộc phải vật lộn để sống, phẩm giá dễ dàng bị đánh đổi. Và đây chính là thông điệp sâu sắc về trách nhiệm của xã hội: phải đảm bảo điều kiện sống tối thiểu cho mọi người, đặc biệt những người nghèo khổ, để họ không bị mất đi nhân phẩm và hy vọng.
Bên cạnh Tràng, hình ảnh bà cụ Tứ làm nổi bật trách nhiệm của xã hội thể hiện qua tình thương và sự quan tâm. Dù bản thân cũng nghèo khổ, bà vẫn đón nhận nàng dâu mới, không phải vì lễ nghĩa, mà vì thương. Bà dùng lời nói, ánh mắt và hành động để nuôi dưỡng niềm tin, giữ cho gia đình mình một điểm tựa tinh thần giữa cảnh cùng cực. Qua đó, tác phẩm cho thấy trách nhiệm xã hội không chỉ là những chính sách lớn mà còn là những hành động chia sẻ, cảm thông từ người này sang người khác.
“Vợ nhặt” cũng là lời cảnh báo về hậu quả của sự thờ ơ. Khi xã hội thiếu quan tâm, con người dễ rơi vào tuyệt vọng, mất đi phẩm giá và hy vọng. Nạn đói không chỉ giết chết thân xác mà còn bào mòn tâm hồn. Chính vì vậy, trách nhiệm của xã hội là bảo vệ mọi người khỏi hoàn cảnh cùng cực, đảm bảo quyền sống và quyền được tôn trọng.
Liên hệ với hiện tại, mặc dù ngày nay nạn đói không còn lan tràn như trước, nhưng vẫn tồn tại nghèo đói, bất công, và những hoàn cảnh khó khăn cần được hỗ trợ. Trách nhiệm của xã hội, của cộng đồng và từng cá nhân là vô cùng quan trọng: giúp đỡ những người yếu thế, xây dựng cộng đồng nhân văn và công bằng. Bên cạnh đó, việc giáo dục lòng nhân ái, sự sẻ chia và ý thức trách nhiệm cũng giúp xã hội phát triển bền vững, tránh lặp lại những bi kịch từ quá khứ.
Tác phẩm của Kim Lân nhấn mạnh rằng nạn đói không chỉ là vấn đề vật chất, mà còn là phép thử về trách nhiệm của xã hội và phẩm giá con người. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ đều là những minh chứng sống động cho sức mạnh của tình thương và sự quan tâm trong việc cứu rỗi con người giữa cảnh cùng cực. Nhân vật trong truyện dạy chúng ta một bài học sâu sắc: xã hội có trách nhiệm với con người, và mỗi cá nhân cũng phải biết sẻ chia, quan tâm để xây dựng một cộng đồng nhân văn, nơi tình người luôn tỏa sáng.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 3
“Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu phản ánh hiện thực đau thương của Nạn đói năm 1945. Qua câu chuyện về Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, tác phẩm gợi lên một vấn đề xã hội quan trọng: nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người. Cái đói không chỉ giết chết thể xác, mà còn bào mòn nhân phẩm, và chỉ có một xã hội quan tâm, chia sẻ mới có thể cứu được con người khỏi tuyệt vọng.
Nạn đói trong truyện được miêu tả khắc nghiệt đến mức từng hình ảnh, từng chi tiết đều gợi cảm giác bức bối, đau thương. Con người gầy đói, vật vờ, đôi tay run rẩy, ánh mắt vô hồn – tất cả đều cho thấy sức tàn phá của cái đói không chỉ ở cơ thể mà còn ở tinh thần. Tràng, một người nông dân nghèo, “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh ấy. Hành động tưởng như đơn giản lại là minh chứng cho sức sống của tình người. Dù chính bản thân cũng đang lâm vào đói khát, Tràng vẫn trao đi một cơ hội sống, một hy vọng mới cho người phụ nữ xa lạ. Qua đó, tác phẩm cho thấy rằng nạn đói không chỉ là vấn đề cá nhân mà là vấn đề xã hội: xã hội phải có trách nhiệm bảo vệ con người, đặc biệt là những người yếu thế, không để họ bị bỏ mặc trong cảnh cùng cực.
Bà cụ Tứ trong truyện là hình ảnh tiêu biểu cho trách nhiệm xã hội được thể hiện qua tình thương và sự cảm thông. Bà đón nhận nàng dâu mới không chỉ vì lễ nghĩa, mà vì thương, vì thấy con người trong cảnh khó khăn cần được cứu giúp. Những hành động, lời nói giản dị của bà nhưng lại mang sức mạnh tinh thần to lớn, giúp các con nhận ra giá trị của tình thương và sự sẻ chia. Điều này nhắc nhở rằng, trách nhiệm xã hội không chỉ là chính sách, pháp luật mà còn là lòng đồng cảm, sự quan tâm của mỗi con người trong cộng đồng.
Tác phẩm cũng tố cáo sự thờ ơ của xã hội cũ. Khi xã hội bỏ mặc con người trong cảnh đói khát, hậu quả là nhân phẩm bị bào mòn, con người dễ bị tuyệt vọng và tha hóa. Trước hiện thực ấy, “Vợ nhặt” nhấn mạnh rằng trách nhiệm của xã hội là bảo vệ quyền sống và phẩm giá con người, giúp họ vượt qua khó khăn, giữ được khát vọng sống.
Liên hệ với thực tế hiện nay, mặc dù nạn đói không còn nghiêm trọng như thời trước, nhưng nghèo đói, bất công vẫn tồn tại ở nhiều nơi. Trách nhiệm của xã hội, của chính quyền và từng cá nhân là cần thiết: đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ những người khó khăn, giáo dục lòng nhân ái và sự sẻ chia. Bởi chỉ khi con người biết quan tâm và giúp đỡ nhau, xã hội mới thực sự nhân văn và phát triển bền vững.
Tác phẩm của Kim Lân nhấn mạnh rằng nạn đói không chỉ là thảm họa vật chất mà còn là phép thử về đạo đức và nhân cách con người. Qua Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, ta thấy rằng trách nhiệm xã hội và tình thương là hai yếu tố cứu rỗi con người giữa nghịch cảnh. Học từ tác phẩm, mỗi người nên nhận thức rõ vai trò của mình trong cộng đồng, sống có trách nhiệm, biết sẻ chia và giữ gìn nhân phẩm – để xã hội luôn là nơi con người tìm thấy hy vọng và niềm tin vào cuộc sống.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 4
Năm 1945, nạn đói đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người Việt Nam, để lại những nỗi đau khôn nguôi trong từng gia đình, từng làng quê. Trong bối cảnh ấy, Kim Lân đã viết “Vợ nhặt” – một truyện ngắn vừa chân thực, vừa giàu tính nhân văn, khiến người đọc phải suy ngẫm về nỗi khổ của con người và trách nhiệm của xã hội đối với những mảnh đời yếu thế.
Truyện mở ra bằng hình ảnh Tràng “nhặt” được vợ giữa lúc đói kém. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản nhưng lại chất chứa nhiều tầng ý nghĩa. Tràng – một người nghèo khổ, sống lay lắt qua ngày – vẫn sẵn lòng đón nhận một người phụ nữ xa lạ vào nhà. Hành động ấy không chỉ là sự cứu giúp mà còn là biểu hiện của tình thương và trách nhiệm của con người đối với nhau. Trong hoàn cảnh mà cái đói có thể biến con người trở nên ích kỉ, vô cảm, Tràng vẫn giữ được nhân phẩm và lòng trắc ẩn. Tác phẩm từ đó nhấn mạnh rằng nạn đói không chỉ là vấn đề cá nhân mà là thước đo trách nhiệm của xã hội: xã hội không thể bỏ mặc những con người yếu thế chịu cảnh cùng cực mà phải bảo vệ quyền sống, quyền được no đủ, quyền được giữ nhân phẩm của họ.
Hình ảnh bà cụ Tứ càng làm nổi bật trách nhiệm và tình thương trong xã hội. Dù bản thân cũng nghèo khổ, bà vẫn cảm thông, đón nhận nàng dâu mới bằng sự dịu dàng và bao dung. Bà không thể xóa đi cái đói, nhưng bà gieo niềm tin và hy vọng cho các con, cho gia đình. Qua bà, tác phẩm nhắc nhở rằng trách nhiệm của xã hội không chỉ nằm ở những chính sách hay luật pháp, mà còn được thể hiện qua lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm thông của mỗi cá nhân. Khi con người quan tâm và bảo vệ nhau, xã hội mới trở nên nhân văn và đáng sống.
“Vợ nhặt” cũng cảnh báo hậu quả của sự thờ ơ. Khi xã hội bỏ mặc người dân trong nạn đói, con người dễ rơi vào tuyệt vọng, phẩm giá bị bào mòn, thậm chí mất đi niềm tin vào cuộc sống. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ đều là minh chứng cho sức mạnh của tình thương và sự quan tâm: chúng có thể cứu rỗi con người, giúp họ vượt qua nghịch cảnh.
Liên hệ với xã hội hiện nay, mặc dù nạn đói không còn phổ biến, nhưng nghèo đói, bất công và những hoàn cảnh khó khăn vẫn tồn tại. Trách nhiệm của xã hội, chính quyền và từng cá nhân vẫn quan trọng như xưa: đảm bảo an sinh, chia sẻ khó khăn và giáo dục lòng nhân ái. Bởi nếu con người biết quan tâm, giúp đỡ nhau, xã hội sẽ không còn là nơi lạnh lùng và vô cảm, mà là nơi nuôi dưỡng niềm tin, hy vọng và phẩm giá con người.
Tác phẩm của Kim Lân nhắc nhở rằng nạn đói không chỉ là bi kịch vật chất mà còn là phép thử về đạo đức và trách nhiệm xã hội. Qua “Vợ nhặt”, ta học được rằng mỗi con người đều có trách nhiệm với cộng đồng, biết sẻ chia và gìn giữ nhân phẩm, để xã hội trở thành nơi con người tìm thấy hy vọng, tình thương và niềm tin vào cuộc sống.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 5
Năm 1945, nạn đói kinh hoàng đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người Việt Nam, để lại trong lòng dân tộc những nỗi đau khôn nguôi. Khi ấy, cái đói không chỉ là sự thiếu thốn vật chất mà còn là phép thử về phẩm giá, nhân cách và lương tri con người. Trong bối cảnh ấy, Kim Lân đã viết nên truyện ngắn “Vợ nhặt” – tác phẩm không chỉ tái hiện hiện thực tàn khốc mà còn đặt ra một vấn đề xã hội sâu sắc: trách nhiệm của xã hội đối với những con người yếu thế. Qua câu chuyện của Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, chúng ta nhận thấy rằng tình thương, sự sẻ chia và trách nhiệm xã hội là những yếu tố quan trọng cứu rỗi con người khỏi bi kịch cùng cực.
Truyện mở ra bằng một chi tiết giản dị nhưng giàu sức nặng: Tràng “nhặt” được vợ giữa lúc đói khát. Hành động tưởng như liều lĩnh, thậm chí kỳ lạ này lại chất chứa sức mạnh nhân văn sâu sắc. Tràng – một người nông dân nghèo khổ, sống lay lắt qua ngày – vẫn sẵn lòng mở cửa đón nhận một người phụ nữ xa lạ, trao cho nàng cơ hội sống, một mái ấm dù bản thân anh cũng đang chịu đói khát. Chi tiết này cho thấy: trong hoàn cảnh cùng cực, con người vẫn giữ được tình thương, và trách nhiệm của xã hội là tạo điều kiện để những hành động nhân ái ấy được tỏa sáng, thay vì để mọi người bị bỏ mặc trong tuyệt vọng.
Không chỉ Tràng, bà cụ Tứ còn làm nổi bật giá trị của trách nhiệm xã hội qua tình thương và sự quan tâm. Dù bản thân bà cũng nghèo khổ, bà đón nhận nàng dâu mới với sự dịu dàng, bao dung và thấu hiểu. Bà không thể xóa đi cái đói, nhưng bà gieo niềm tin và hy vọng, nuôi dưỡng tinh thần cho gia đình. Tác phẩm cho thấy rằng trách nhiệm xã hội không chỉ nằm ở những chính sách hay luật pháp, mà còn thể hiện qua lòng nhân ái, sự sẻ chia và cảm thông từ mỗi cá nhân. Khi con người biết quan tâm và bảo vệ nhau, xã hội mới thực sự nhân văn, nơi con người không bị bỏ rơi giữa nghịch cảnh.
Cảnh đói khát và những hành động nhỏ bé nhưng giàu tình người trong truyện cũng phơi bày hậu quả của sự thờ ơ. Khi xã hội bất lực hay vô cảm trước những con người yếu thế, hậu quả là nhân phẩm bị bào mòn, con người dễ rơi vào tuyệt vọng, đánh mất niềm tin và khát vọng sống. Ngược lại, xã hội biết quan tâm, chia sẻ và bảo vệ sẽ giúp con người duy trì phẩm giá, vượt qua nghịch cảnh, và tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống.
Liên hệ với thực tế hiện nay, mặc dù nạn đói không còn diễn ra như trước, nhưng nghèo đói, bất công và những hoàn cảnh khó khăn vẫn tồn tại ở nhiều nơi. Trách nhiệm của xã hội – từ chính quyền đến cộng đồng, từ tổ chức đến từng cá nhân – vẫn vô cùng quan trọng. Đó là đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ những người khó khăn, giáo dục lòng nhân ái, khuyến khích sự sẻ chia. Khi con người quan tâm lẫn nhau, xã hội mới thực sự nhân văn, bền vững và đầy hy vọng.
Từ “Vợ nhặt”, ta rút ra một bài học sâu sắc: nạn đói không chỉ là bi kịch vật chất mà còn là phép thử về đạo đức và trách nhiệm xã hội. Qua Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ, chúng ta thấy rằng tình thương và sự quan tâm có thể cứu rỗi con người giữa nghịch cảnh. Đồng thời, tác phẩm nhắc nhở mỗi người rằng sống có trách nhiệm, biết sẻ chia và giữ gìn nhân phẩm là cách để xây dựng một cộng đồng nhân văn, nơi con người tìm thấy hy vọng, niềm tin và sức mạnh vượt qua khó khăn.
Như vậy, “Vợ nhặt” không chỉ là câu chuyện về nạn đói, mà còn là lời nhắc nhở về trách nhiệm của xã hội đối với con người, nhấn mạnh rằng tình thương và sẻ chia chính là sức mạnh giúp con người sống và vươn lên giữa thử thách khắc nghiệt. Mỗi cá nhân trong cộng đồng đều có vai trò trong việc duy trì và lan tỏa giá trị nhân văn ấy, để xã hội trở thành nơi con người không chỉ sống mà còn được sống trọn vẹn phẩm giá và hy vọng.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 6
Cái đói – một thực tại tàn nhẫn của con người – đôi khi không chỉ giết chết thân xác mà còn bào mòn cả tâm hồn, nhân phẩm và niềm tin vào cuộc sống. Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam đã trở thành nỗi ám ảnh trong ký ức dân tộc, cướp đi sinh mạng hàng triệu người và đẩy biết bao gia đình vào cảnh cùng cực. Trong bối cảnh ấy, Kim Lân đã viết truyện ngắn “Vợ nhặt” – tác phẩm vừa phản ánh hiện thực nghiệt ngã, vừa gợi lên bài học về tình thương và trách nhiệm của xã hội đối với con người.
Tràng – nhân vật trung tâm – là hình ảnh tiêu biểu cho sự sống kiên cường và lòng nhân ái giữa cảnh đói khát. Trong khi mọi người xung quanh chỉ lo mưu sinh, tự bảo vệ bản thân, Tràng lại “nhặt” được vợ – một hành động tưởng như bất thường, nhưng lại chứa đựng sức mạnh nhân văn. Anh không chỉ trao cho nàng cơ hội sống, mà còn chia sẻ với nàng hy vọng, một mái nhà ấm áp, dù chính bản thân anh cũng đang thiếu thốn trăm bề. Qua hình ảnh Tràng, tác phẩm nhấn mạnh rằng nạn đói không chỉ là vấn đề vật chất mà còn là phép thử về trách nhiệm xã hội và khả năng duy trì nhân phẩm trong con người. Một xã hội văn minh không thể để những người yếu thế chịu cảnh cùng cực một mình; xã hội phải có trách nhiệm bảo vệ quyền sống, phẩm giá và hy vọng của họ.
Hình ảnh bà cụ Tứ càng làm nổi bật trách nhiệm và tình thương trong xã hội. Dù nghèo khổ, bà đón nhận nàng dâu mới bằng sự dịu dàng, thấu hiểu và bao dung. Bà không thể xua đi cái đói, nhưng bà giúp các con nhận ra giá trị của tình thương, nhắc nhở rằng sự sẻ chia và đồng cảm là cách giữ gìn phẩm giá con người trong cảnh nghèo cùng. Từ đó, tác phẩm cho thấy rằng trách nhiệm xã hội không chỉ là chính sách hay luật pháp, mà còn là tình người, là những hành động cụ thể, giản dị mà đầy sức mạnh.
Cái đói trong “Vợ nhặt” còn tố cáo sự thờ ơ và vô cảm của xã hội cũ. Khi xã hội bỏ mặc con người trong cảnh thiếu thốn, hậu quả là nhân phẩm bị bào mòn, con người dễ tuyệt vọng và tha hóa. Ngược lại, khi xã hội quan tâm, chia sẻ, và bảo vệ những người yếu thế, con người sẽ vượt qua nghịch cảnh, duy trì phẩm giá và tìm thấy ý nghĩa sống. Tác phẩm như một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng trách nhiệm xã hội và tình thương phải đi đôi với nhau, để cứu rỗi con người khỏi bi kịch.
Liên hệ với hiện thực hôm nay, mặc dù nạn đói không còn phổ biến như xưa, nhưng nghèo đói, bất công và những hoàn cảnh khó khăn vẫn tồn tại. Trách nhiệm của xã hội – từ chính quyền đến cộng đồng, từ tổ chức đến từng cá nhân – vẫn luôn cần thiết: hỗ trợ những người khó khăn, xây dựng cộng đồng nhân văn, giáo dục lòng đồng cảm và ý thức sẻ chia. Khi con người biết quan tâm, sẻ chia, xã hội không chỉ là nơi sinh tồn mà còn là nơi nuôi dưỡng nhân phẩm, hy vọng và khát vọng sống.
Từ “Vợ nhặt”, ta nhận ra rằng nạn đói không chỉ là bi kịch vật chất, mà còn là phép thử về đạo đức, lương tri và trách nhiệm của xã hội đối với con người. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ đều là minh chứng cho sức mạnh của tình thương và sự quan tâm. Đồng thời, tác phẩm nhắc nhở mỗi người rằng, sống có trách nhiệm, biết sẻ chia, gìn giữ phẩm giá và nuôi dưỡng hy vọng là cách để xây dựng một xã hội nhân văn, nơi con người tìm thấy sự sống trọn vẹn cả về thể xác lẫn tinh thần.
“Vợ nhặt” không chỉ là câu chuyện về nạn đói, mà còn là bài học về trách nhiệm, nhân cách và tình thương – những giá trị bất tử mà xã hội nào cũng cần gìn giữ. Khi mỗi người biết quan tâm và sẻ chia, khi cộng đồng biết bảo vệ những mảnh đời yếu thế, con người sẽ không còn bị bỏ rơi giữa nghịch cảnh, và xã hội sẽ thực sự trở thành mái nhà chung đầy hy vọng và nhân ái.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 7
Nạn đói năm 1945 – một bi kịch của lịch sử – đã biến những cánh đồng xanh thành sa mạc của tuyệt vọng, cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người và để lại nỗi đau dai dẳng trong lòng dân tộc. Trong bối cảnh ấy, Kim Lân đã viết truyện ngắn “Vợ nhặt”, không chỉ tái hiện hiện thực khắc nghiệt mà còn đặt ra vấn đề cấp thiết: trách nhiệm của xã hội đối với con người, đặc biệt là những mảnh đời yếu thế, bất hạnh.
Nhân vật Tràng là biểu tượng sống động của con người trong nghịch cảnh. Giữa cảnh đói khát, anh “nhặt” được vợ – hành động tưởng như giản đơn nhưng chứa đựng sức mạnh nhân văn to lớn. Tràng trao cho nàng một cơ hội sống, một mái nhà, dù bản thân cũng đang đói khổ, bơ vơ. Hành động này nhấn mạnh rằng tình thương và sự sẻ chia là ánh sáng dẫn lối con người trong những ngày tối tăm nhất. Đồng thời, tác phẩm khẳng định trách nhiệm của xã hội: không thể để những con người yếu thế chịu cảnh cùng cực, mà phải tạo môi trường để tình thương và lòng nhân ái được nuôi dưỡng và phát triển.
Bà cụ Tứ – hình ảnh đại diện cho lòng nhân hậu – càng làm nổi bật thông điệp này. Dù nghèo khổ, bà đón nhận nàng dâu mới bằng sự bao dung và thấu hiểu. Bà không thể xua đi cái đói, nhưng bà gieo niềm tin, nuôi dưỡng hy vọng và phẩm giá cho các con. Qua hình ảnh bà cụ, tác phẩm nhắc nhở rằng trách nhiệm xã hội không chỉ là chính sách hay pháp luật, mà còn là những hành động giản dị nhưng chứa đựng sức mạnh to lớn: tình thương, sự quan tâm và sẻ chia giữa con người với nhau.
Cái đói trong “Vợ nhặt” cũng tố cáo sự thờ ơ, vô cảm của xã hội cũ. Khi con người bị bỏ mặc, nhân phẩm dễ bị bào mòn, niềm tin vào cuộc sống bị lung lay. Ngược lại, xã hội quan tâm, chia sẻ sẽ giúp con người vượt qua nghịch cảnh, duy trì phẩm giá và tìm thấy ý nghĩa sống. Truyện là lời nhắc nhở rằng tình thương và trách nhiệm xã hội phải đi đôi, để cứu rỗi con người khỏi bi kịch cùng cực.
Liên hệ với thực tế hôm nay, dù nạn đói không còn tràn lan, nhưng nghèo đói, bất công và những hoàn cảnh khó khăn vẫn tồn tại. Trách nhiệm của xã hội – từ chính quyền, cộng đồng đến từng cá nhân – vẫn luôn cần thiết. Đó là đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ những người khó khăn, giáo dục lòng đồng cảm và ý thức sẻ chia. Khi con người biết quan tâm, chia sẻ, xã hội sẽ không còn là nơi lạnh lùng, mà là mái nhà nuôi dưỡng nhân phẩm, hy vọng và khát vọng sống.
Từ “Vợ nhặt”, ta nhận ra rằng nạn đói không chỉ là bi kịch vật chất, mà còn là phép thử về đạo đức và lương tri của con người. Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ là minh chứng sống động cho sức mạnh của tình thương và sự quan tâm. Đồng thời, tác phẩm nhắc nhở mỗi cá nhân rằng sống có trách nhiệm, biết sẻ chia, giữ gìn phẩm giá và nuôi dưỡng hy vọng là cách để xây dựng một xã hội nhân văn, nơi con người tìm thấy sự sống trọn vẹn cả về thể xác lẫn tinh thần.
“Vợ nhặt” không chỉ là câu chuyện về nạn đói, mà còn là bài học sâu sắc về trách nhiệm, nhân cách và tình thương – những giá trị bất tử mà xã hội nào cũng cần gìn giữ. Khi mỗi người biết quan tâm, sẻ chia, và bảo vệ nhân phẩm lẫn hy vọng của nhau, con người sẽ không còn bị bỏ rơi giữa nghịch cảnh, và xã hội sẽ thực sự trở thành mái nhà chung đầy nhân ái và hy vọng.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 8
Trong văn học Việt Nam, những tác phẩm viết về nỗi đau của con người thường không chỉ phản ánh hiện thực mà còn đặt ra những câu hỏi lớn về trách nhiệm xã hội. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một truyện ngắn như thế. Lấy bối cảnh nạn đói năm 1945, tác phẩm không chỉ tái hiện một thảm cảnh lịch sử mà còn gợi lên vấn đề sâu sắc: trước nỗi khổ của con người, xã hội cần có trách nhiệm như thế nào?
Trước hết, nạn đói trong tác phẩm hiện lên vô cùng ám ảnh. Đó không chỉ là cái đói về vật chất mà còn là sự đe dọa trực tiếp đến sự sống và phẩm giá con người. Hình ảnh những người đói “xanh xám như những bóng ma”, tiếng quạ kêu, mùi gây của xác chết… đã vẽ nên một bức tranh hiện thực tàn khốc. Con người bị đẩy đến bước đường cùng, phải đánh đổi cả danh dự để giành giật sự sống. Việc người đàn bà theo Tràng chỉ vì mấy bát bánh đúc là minh chứng rõ ràng cho sự cùng cực ấy. Qua đó, Kim Lân không chỉ phản ánh nỗi đau mà còn tố cáo một xã hội đã bỏ rơi con người, để họ rơi vào cảnh đói khát, tuyệt vọng.
Từ thực trạng đó, vấn đề trách nhiệm của xã hội được đặt ra một cách day dứt. Một xã hội đúng nghĩa không thể thờ ơ trước nỗi khổ của con người. Khi con người phải sống trong cảnh đói nghèo, thiếu thốn, điều đó cho thấy những bất cập trong tổ chức và quản lí xã hội. Nạn đói năm 1945 không chỉ là hậu quả của thiên tai mà còn bắt nguồn từ những chính sách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến. Vì vậy, trách nhiệm của xã hội là phải đảm bảo điều kiện sống tối thiểu cho mỗi cá nhân, bảo vệ quyền được sống và được mưu cầu hạnh phúc.
Bên cạnh đó, tác phẩm cũng cho thấy trong hoàn cảnh khắc nghiệt, tình người vẫn là điểm tựa. Tràng cưu mang người đàn bà xa lạ, bà cụ Tứ đón nhận con dâu bằng tấm lòng bao dung. Những hành động ấy tuy nhỏ bé nhưng lại mang ý nghĩa lớn lao: khi xã hội chưa làm tròn trách nhiệm, chính con người phải nâng đỡ nhau bằng tình thương. Tuy nhiên, điều đó không thể thay thế vai trò của xã hội. Một cộng đồng văn minh cần có những cơ chế, chính sách cụ thể để không ai bị bỏ lại phía sau.
Liên hệ với thực tế hiện nay, dù không còn nạn đói khủng khiếp như trong tác phẩm, nhưng vấn đề trách nhiệm xã hội vẫn luôn актуально. Vẫn còn những người sống trong nghèo đói, thiếu thốn, cần được quan tâm và hỗ trợ. Nhà nước và các tổ chức xã hội cần có những chính sách an sinh hiệu quả, đồng thời mỗi cá nhân cũng cần biết sẻ chia, giúp đỡ những người xung quanh. Chỉ khi có sự chung tay của cả cộng đồng, xã hội mới trở nên công bằng và nhân văn hơn.
Đối với thế hệ trẻ, việc nhận thức về trách nhiệm xã hội là vô cùng quan trọng. Mỗi người cần ý thức được vai trò của mình trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, biết quan tâm đến những vấn đề chung, không sống thờ ơ, ích kỉ. Những hành động nhỏ như tham gia hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ người khó khăn… chính là cách thể hiện trách nhiệm ấy.
Tóm lại, “Vợ nhặt” không chỉ là bức tranh hiện thực về nạn đói mà còn đặt ra một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc: trách nhiệm của xã hội đối với con người. Qua tác phẩm, Kim Lân đã nhắc nhở rằng một xã hội văn minh phải biết quan tâm, bảo vệ và tạo điều kiện để mỗi con người được sống xứng đáng. Đây cũng là bài học có giá trị lâu dài đối với chúng ta hôm nay.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 9
Trong văn học Việt Nam hiện đại, nhiều tác phẩm đã trở thành tiếng nói tố cáo hiện thực và thức tỉnh lương tri xã hội. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một trong những tác phẩm tiêu biểu như vậy. Không chỉ tái hiện thảm cảnh nạn đói năm 1945, truyện còn gợi lên một vấn đề xã hội sâu sắc: trách nhiệm của xã hội đối với con người khi họ bị đẩy vào bước đường cùng.
Bức tranh nạn đói trong tác phẩm được khắc họa bằng những chi tiết ám ảnh. Không khí xóm ngụ cư trĩu nặng sự chết chóc, người đói dật dờ như những cái bóng, tiếng quạ kêu như dự báo tai họa. Cái đói không chỉ cướp đi sức sống mà còn bào mòn cả nhân phẩm. Người đàn bà theo Tràng về làm vợ chỉ vì mấy bát bánh đúc, một quyết định tưởng như đơn giản nhưng lại phản ánh sự tuyệt vọng đến cùng cực. Qua đó, Kim Lân đã phơi bày một hiện thực đau lòng: khi xã hội không đảm bảo được những điều kiện sống tối thiểu, con người sẽ rơi vào tình trạng bị dồn ép, đánh mất cả giá trị bản thân.
Từ hiện thực ấy, vấn đề trách nhiệm xã hội hiện lên rõ nét. Một xã hội đúng nghĩa không thể để con người chết đói, không thể thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại. Nạn đói năm 1945 không chỉ do thiên nhiên khắc nghiệt mà còn là hệ quả của những chính sách bóc lột, áp bức của thực dân và phong kiến. Điều đó cho thấy trách nhiệm của xã hội không chỉ là cứu trợ trước mắt mà còn phải xây dựng một hệ thống công bằng, bảo vệ quyền sống của con người. Khi xã hội thất bại trong vai trò này, hậu quả không chỉ là cái chết thể xác mà còn là sự suy sụp về tinh thần và đạo đức.
Tuy vậy, giữa bối cảnh đen tối ấy, tác phẩm vẫn le lói ánh sáng của tình người. Tràng cưu mang người đàn bà xa lạ, bà cụ Tứ mở lòng đón nhận con dâu với sự cảm thông sâu sắc. Những hành động ấy cho thấy khi xã hội chưa tròn trách nhiệm, chính con người phải nâng đỡ nhau bằng tình thương. Nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời; về lâu dài, cần có một xã hội biết quan tâm, bảo vệ và chăm lo cho mỗi cá nhân.
Liên hệ với thực tế hôm nay, dù cuộc sống đã cải thiện, vấn đề trách nhiệm xã hội vẫn luôn mang tính thời sự. Vẫn còn những người nghèo, người yếu thế cần được giúp đỡ. Nhà nước cần có chính sách an sinh hiệu quả, còn cộng đồng cần phát huy tinh thần tương thân tương ái. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cũng phải ý thức được trách nhiệm của mình, không thờ ơ trước khó khăn của người khác.
Đối với thế hệ trẻ, bài học từ “Vợ nhặt” là lời nhắc nhở về trách nhiệm công dân. Sống trong xã hội, mỗi người không chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân mà còn cần hướng đến lợi ích chung, biết chia sẻ và góp phần xây dựng một cộng đồng tốt đẹp hơn.
Có thể khẳng định rằng, “Vợ nhặt” không chỉ là bức tranh chân thực về nạn đói mà còn là lời cảnh tỉnh về trách nhiệm xã hội. Tác phẩm gửi gắm một thông điệp sâu sắc: một xã hội văn minh phải biết bảo vệ con người, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây chính là giá trị nhân văn bền vững mà tác phẩm mang lại.
Nghị luận Nạn đói và trách nhiệm của xã hội đối với con người qua tác phẩm Vợ nhặt - mẫu 10
Trong nền văn học hiện thực, có những tác phẩm không chỉ phản ánh nỗi đau mà còn buộc con người phải suy nghĩ về trách nhiệm của mình trước những bi kịch xã hội. “Vợ nhặt” của Kim Lân là một tác phẩm như vậy. Qua việc tái hiện nạn đói năm 1945 – một thảm họa kinh hoàng trong lịch sử dân tộc – nhà văn đã đặt ra vấn đề sâu sắc: trước nỗi khổ của con người, xã hội cần có trách nhiệm ra sao để bảo vệ sự sống và phẩm giá của họ.
Nạn đói trong tác phẩm hiện lên bằng những chi tiết chân thực và ám ảnh. Không gian xóm ngụ cư phủ đầy không khí chết chóc, những con người đói khát vật vờ, kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói không chỉ hành hạ thân xác mà còn đẩy con người đến ranh giới của sự tha hóa. Người đàn bà theo Tràng chỉ vì vài bát bánh đúc – một hành động tưởng như giản đơn nhưng lại phản ánh sự tuyệt vọng tột cùng. Khi miếng ăn trở thành vấn đề sống còn, con người buộc phải gạt bỏ nhiều giá trị để tồn tại. Qua đó, Kim Lân đã cho thấy một hiện thực đau đớn: khi xã hội không đảm bảo được những điều kiện sống tối thiểu, con người sẽ bị đẩy vào cảnh cùng quẫn.
Từ bức tranh hiện thực ấy, vấn đề trách nhiệm xã hội được đặt ra một cách rõ ràng. Một xã hội công bằng và nhân văn không thể để con người rơi vào cảnh chết đói, không thể đứng ngoài nỗi đau của đồng loại. Nạn đói năm 1945 không chỉ là hậu quả của thiên tai mà còn bắt nguồn từ sự bóc lột và quản lí yếu kém của chế độ thực dân, phong kiến. Điều đó cho thấy trách nhiệm của xã hội không chỉ dừng lại ở việc cứu trợ mà còn phải xây dựng một hệ thống bảo vệ con người, đảm bảo quyền được sống và được đối xử công bằng.
Dù vậy, giữa hoàn cảnh khắc nghiệt, tác phẩm vẫn làm sáng lên vẻ đẹp của tình người. Tràng cưu mang người đàn bà xa lạ, bà cụ Tứ đón nhận con dâu bằng tấm lòng bao dung. Những hành động ấy chứng tỏ rằng khi xã hội chưa làm tròn trách nhiệm, chính tình thương giữa con người với con người trở thành điểm tựa để họ vượt qua khó khăn. Tuy nhiên, đó không thể là giải pháp lâu dài. Một xã hội tiến bộ cần có sự quan tâm toàn diện, để không ai phải sống trong cảnh bị bỏ rơi.
Liên hệ với hiện tại, dù nạn đói khủng khiếp như trong tác phẩm không còn, nhưng vấn đề trách nhiệm xã hội vẫn luôn актуально. Vẫn có những hoàn cảnh khó khăn, những con người yếu thế cần được hỗ trợ. Vì vậy, cần có sự kết hợp giữa chính sách an sinh của Nhà nước và tinh thần sẻ chia của cộng đồng. Đồng thời, mỗi cá nhân cũng phải ý thức được trách nhiệm của mình, không sống thờ ơ trước những vấn đề chung.
Đối với thế hệ trẻ, thông điệp từ “Vợ nhặt” là lời nhắc nhở về trách nhiệm và sự quan tâm đến xã hội. Sống không chỉ vì bản thân mà còn vì cộng đồng chính là cách để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn.
Tóm lại, “Vợ nhặt” không chỉ là bức tranh hiện thực về nạn đói mà còn là lời cảnh tỉnh sâu sắc về trách nhiệm của xã hội đối với con người. Tác phẩm khẳng định rằng: một xã hội văn minh phải biết bảo vệ sự sống, tôn trọng phẩm giá và không để bất cứ ai bị bỏ lại phía sau. Đây chính là giá trị nhân văn bền vững mà tác phẩm mang lại.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Giá trị và phẩm giá con người trong hoàn cảnh khó khăn qua tác phẩm Vợ nhặt
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Khát vọng sống và niềm tin vào tương lai qua Vợ nhặt
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Vai trò của gia đình qua tác phẩm Vợ nhặt
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Sự vô cảm và định kiến của cộng đồng trong tác phẩm Chí Phèo
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Giá trị của tình thương trong tác phẩm Chí Phèo
- Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học: Định kiến xã hội trong tác phẩm Chí Phèo
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 11 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Friends Global
- Lớp 11 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 11 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 11 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 11 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 11 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 11 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - KNTT
- Giải sgk Tin học 11 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 11 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 11 - KNTT
- Lớp 11 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 11 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 11 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 11 - CTST
- Giải sgk Hóa học 11 - CTST
- Giải sgk Sinh học 11 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 11 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 11 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 11 - CTST
- Lớp 11 - Cánh diều
- Soạn văn 11 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 11 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 11 - Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 11 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 11 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

