10+ Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm (ngắn gọn)

Viết bài văn phân tích một nhân vật văn học yêu thích trong cuốn sách đã đọc: Cô bé bán diêm điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm (ngắn gọn)

Quảng cáo

Dàn ý Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm

1. Mở bài

- Giới thiệu khái quát tác giả An-đéc-xen, truyện ngắn “Cô bé bán diêm”.

- Dẫn dắt giới thiệu nhân vật cô bé bán diêm.

2. Thân bài

- Khái quát hoàn cảnh của cô bé bán diêm:

+ Bà và mẹ qua đời, sống cùng bố nhưng hay bị đánh mắng.

+ Nhà nghèo phải đi bán diêm kiếm sống.

- Cô bé bán diêm có số phận bất hạnh, chịu nhiều tổn thương:

+ Chịu đói chịu rét trong đêm giao thừa, có nhà nhưng không dám về.

+ Sự vô tâm thờ ơ của mọi người xung quanh.

Quảng cáo

- Cô bé bán diêm có những ước muốn và khao khát hạnh phúc:

+ Từng que diêm quẹt là những ước muốn của em: được ăn, được sưởi ấm,...

+ Muốn được đi với bà để thoát khỏi đói rét khổ sở.

- Cái chết của cô bé bán diêm:

+ Phản ánh hiện thực xã hội.

+ Bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với số phận bất hạnh trong xã hội.

3. Kết bài

Khẳng định ý nghĩa hình tượng nhân vật cô bé bán diêm.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 1

Cô bé bán diêm là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn An-đéc-xen. Nổi bật trong truyện là nhân vật cô bé bán diêm.

Quảng cáo

Nhân vật này được khắc họa qua nhiều phương diện. Trước hết về hoàn cảnh của cô bé bán diêm, mẹ mất sớm, bà nội - người yêu thương nhất cũng vừa mới qua đời. Cô bé phải sống với người bố và bị bắt đi bán diêm để kiếm tiền. Trong đêm giao thừa rét mướt, xung quanh cửa sổ của các nhà đều sáng rực, trong phố sực nức mùi ngỗng quay. Cô bé bán diêm hiện lên với hình ảnh đáng thương là đầu trần, chân đi đất, đang đi bán diêm. Cô bé không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh khi chưa bán được bao diêm nào. Sự nghèo khổ thiếu thốn của cô bé không chỉ về vật chất mà còn là về tinh thần, thiếu đi tình yêu được bao bọc của những người thân trong gia đình.

Lúc này, vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Những điều kì diệu lần lượt xuất hiện với cô bé. Que diêm thứ nhất, một chiếc lò sưởi xuất hiện. Que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Que diêm thứ ba, em nhìn thấy một cây thông Noel. Quẹt que diêm thứ tư được thắp lên, bà nội xuất hiện với khuôn mặt hiền từ. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Ảo ảnh xuất hiện sau mỗi lần quẹt diêm cho thấy mong muốn của cô bé. Dù có hoàn cảnh đáng thương, nhưng cô bé lại có một tâm hồn trong sáng, nhân hậu. Cô bé luôn khao khát được sống trong một gia đình hạnh phúc, được hưởng tình yêu thương từ những người thân.

Quảng cáo

Những mong muốn này là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với thực tế. Tuy nhiên, kết thúc truyện, cô bé bán diêm đã chết. Cái chết của cô bé chính là tiếng nói phê phán, tố cáo của nhà văn trước một xã hội vô cảm, con người dần trở nên thờ ơ trước bất hạnh của người khác.

Nhưng hình ảnh cô bé chết nhưng vẫn mỉm cười - nụ cười khi được đoàn tụ với bà được tác giả tưởng tượng nhằm giảm bớt nỗi đau cho câu chuyện. Cái kết này đã phản ánh được ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc của con người cũng như gửi gắm bài học về tình yêu thương giữa con người với con người.

Cô bé bán diêm là nhân vật chính trong truyện đã giúp gửi gắm bài học nhân văn sâu sắc của An-đéc-xen.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 2

An-đéc-xen là nhà văn người Đan Mạch. Ông có nhiều tác phẩm hay, trong đó có Cô bé bán diêm. Nổi bật trong truyện là nhân vật cô bé bán diêm.

Ở phần đầu, An-đéc-xen giới thiệu hoàn cảnh của nhân vật. Cô bé bán diêm đã mồ côi mẹ, bà nội - người yêu thương nhất cũng vừa qua đời. Cô bé phải sống cùng người bố độc ác. Trong đêm giao thừa lạnh giá, cô bé phải đi bán diêm, nêu không có tiền mang về sẽ bị đánh đập. Tác giả đã khắc họa hình ảnh nhân vật rất chân thực, sinh động. Một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói, đang dò dẫm trong bóng tối bán diêm. Những vị khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em, chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh.

Với khao khát được sưởi ấm, cô bé bán diêm đã đánh liều quẹt những que diêm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Que diêm thứ hai với một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Que diêm thứ ba sáng thì cây thông Nô-en xuất hiện. Quẹt que diêm thứ tư được thắp lên, lần này là bà nội với khuôn mặt hiền từ hiện ra. Nhưng những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Sự xuất hiện của lò sưởi, bàn ăn, cây thông và bà nội rất đúng với mong muốn của cô bé bán diêm trong hoàn cảnh bấy giờ: được sửa ấm - no bụng - niềm vui đêm giao thừa - tình yêu thương của bà).

Ở cuối truyện, nhân vật cô bé bán diêm phải nhận một kết thúc buồn bã. Sáng sớm hôm sau, mọi người thấy em nằm ở một góc tường. Tuy nhiên, hình ảnh cô bé chết nhưng vẫn mỉm cười - nụ cười khi được đoàn tụ với bà được tác giả tưởng tượng nhằm giảm bớt nỗi đau cho câu chuyện. Kết thúc này đã phản ánh được ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc của con người.

Hình ảnh cô bé bán diêm đã gửi gắm thông điệp về tình yêu thương dành cho những số phận bất hạnh, đặc biệt là trẻ em.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 3

“Cô bé bán diêm” là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn An-đéc-xen. Nổi bật trong truyện là nhân vật cô bé bán diêm, được xây dựng gửi gắm thông điệp của tác giả.

Phần mở đầu, An-đéc-xen đã giới thiệu về hoàn cảnh của nhân vật cô bé bán diêm. Cô bé ấy đã mồ côi mẹ và ngay cả bà nội - người yêu thương em nhất cũng đã qua đời. Không chỉ vậy, hình ảnh cô bé cũng được xây dựng vô cùng chân thực. Trong đêm giao thừa lạnh giá, một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói, đang dò dẫm trong bóng tối bán diêm. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh đập khi không bán được diêm. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Những vị khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em, chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh.

Những que diêm lần lượt được thắp sáng với những mong muốn cụ thể của cô bé. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi.Em vội quẹt que diêm thứ hai, một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Đến quẹt que diêm thứ ba thì một cây thông Noel. Quẹt que diêm thứ tư được thắp lên, lần này là bà nội với khuôn mặt hiền từ hiện ra. Những ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Những que diêm với những mong ước khác nhau của em bé bán diêm. Nó phù hợp với mong ước cũng như hoàn cảnh hiện tại của cô bé (thoải mãn từ nhu cầu từ vật chất đến tinh thần của cô bé: được sửa ấm - no bụng - niềm vui đêm giao thừa - tình yêu thương của bà). Có thể thấy rằng cô bé bán diêm có hoàn cảnh đáng thương, nhưng lại có một tâm hồn trong sáng, nhân hậu. Cô bé luôn khao khát được sống trong một gia đình hạnh phúc, được hưởng tình yêu thương từ những người thân.

Trước sự vô cảm của mọi người xung quanh, em bé bán diêm đã chết. Sáng sớm hôm sau, mọi người thấy em nằm ở một góc tường. Hình ảnh cô bé chết nhưng vẫn mỉm cười - nụ cười khi được đoàn tụ với bà được tác giả tưởng tượng nhằm giảm bớt nỗi đau cho câu chuyện. Cái kết này đã phản ánh được ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc của con người. Ở đây, tác giả đã thể hiện một tấm lòng nhân văn sâu sắc.

Hình ảnh cô bé bán diêm đã in đậm trong tâm trí người đọc. Qua nhân vật này, tác giả An-đéc-xen cũng thể hiện tình yêu thương dành cho những số phận bất hạnh, đặc biệt là trẻ em.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 4

Đọc giả đã từng đọc truyện Cô bé bán diêm An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây thường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy: “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã tỏa ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 5

An-đéc-xen được mệnh danh là ông già kể chuyện cổ tích, nhà văn lớn của Đan Mạch. Truyện ông viết không chỉ dành cho thiếu nhi mà ở mỗi câu chuyện viết cho thiếu nhi là những bài học nhân đạo cho người lớn. Ông có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, một trong số đó phải kể đến truyện ngắn: “Cô bé bán diêm”. Hiện lên nổi bật trong tác phẩm là hình ảnh cô bé bán diêm đáng thương.

Trước hết cô bé bán diêm được khắc tả với một gia cảnh nghèo khó, khổ cực. Mồ côi mẹ từ sớm, em sống với cha và bà. Nhưng rồi người bà yêu thương em nhất cũng để em ở lại mà bay về thiên đường. Em sống với người cha nghiện ngập, hàng ngày bắt em làm việc kiếm tiền cho mình. Một cô bé còn quá nhỏ để làm lụng vất vả như vậy. Một cô bé thiếu thốn tình yêu thương của gia đình.

Cô bé bán diêm nhỏ bé mà phải chịu đựng bao đau khổ, khó khăn ngay cả trong ngày Lễ Giáng sinh – ngày gia đình đoàn tụ ấm áp. Trong bão tuyết lạnh lẽo trắng xoá, mọi người mặc những bộ quần áo ấm áp, rực rỡ thì em lại đi đôi chân trần trên mặt đất trắng xóa đầy tuyết. Đôi chân vì lạnh mà đỏ ửng. Trên người em là bộ quần áo rách, đầu trần không đội mũ để tuyết phủ kín đầu. Nhìn bề ngoài ấy thật đáng thương đến tội nghiệp.

Em luôn miệng mời mọi người xung quanh mua diêm, nhưng không ai quan tâm đến cô bé đáng thương. Đến đây ta thấy sự trách móc ẩn sâu trong câu văn của An-đéc-xen về những con người sống quá vội, thiếu đi tình yêu thương nhân loại, bỏ qua những sinh linh nhỏ bé. Em lạnh, đói và rét nhưng không dám về nhà vì lo sợ cha sẽ đánh đập vì không bán được hộp diêm nào.

Em nhìn phố lên đèn, nhìn những ngôi nhà trang hoàng ấm cúng khiến người đọc thật xót xa. Tác giả phác hoạ những đường nét đối lập để nhấn mạnh sự đáng thương, thiếu thốn của cô bé bán diêm. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Kí ức hiện lên ngắn ngủi nhưng cũng đủ khiến em mỉm cười trong cái lạnh. Nhưng quá khứ càng đẹp thì hiện tạo càng đáng thương, càng chua xót.

Cô bé bán diêm được cảm nhận sâu sắc nhất trong những lần quẹt diêm. Lần quẹt diêm thứ nhất “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Giấc mơ giản dị, đơn giản là được ngồi trước lò sưởi ấm em không thể có. Hiện thực trước mắt em là tuyết trắng dày đặc, tiết trời mùa đông lạnh cắt da cắt thịt. Ánh sáng tắt đi, bóng tối lại bao quanh.

Em quẹt que diêm thứ hai ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Không chỉ phải chịu lạnh, em còn phải chịu đói. Bởi vậy ước muốn ấy thiết thực bao nhiêu thì càng khía sâu nỗi đáng thương đói rét của em bấy nhiêu. Nhưng chưa được bao lâu hiện thực lại bủa vây em. Em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xóa, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

Và em quẹt tiếp một que diêm. Que diêm cháy sáng, vùng ánh sáng lại hiện lên. Ánh sáng từ que diêm đã tỏa ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Que diêm lại vụt tắt mang đi niềm vui vừa mới mở ra. EM vội quẹt thêm que diêm vào tường, một ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh và em bé nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em “– Bà ơi! Em bé reo lên, cho cháu đi với! Cháu biết rằng diêm tắt thì bà cũng biến đi mất như lò sưởi, ngỗng quay và cây Nô-en ban nãy, nhưng xin bà đừng bỏ cháu ở nơi này; trước kia khi bà chưa về với Thượng đế chí nhân, bà cháu ta đã từng sung sướng biết bao! Dạo ấy bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”

Em quẹt hết số diêm còn lại. Em muốn níu bà em lại! Diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày. Chưa bao giờ em thấy bà em to lớn và đẹp lão như thế này. Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa. Họ đã về chầu Thượng đế.

Cái chết của em vừa đáng thương lại vừa kì ảo. Bởi nó nhẹ nhàng hệt như một giấc ngủ, giấc mơ. Ước mơ của em thật đẹp. Nhưng càng đẹp thì càng đau xót. Em bé bán diêm sống cuộc đời bé nhỏ nghèo khổ thiếu thốn tình yêu thương của cha mẹ và thiếu cả tình thương của cộng đồng.

Qua nhân vật cô bé bán diêm, An-đéc-xen nói lên tiếng nói yêu thương với những đứa trẻ đáng thương, tội nghiệp. Đồng thời cũng là lời phê phán những con người thờ ơ, thiếu tình yêu thương với những con người khó khăn.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 6

Cô bé bán diêm là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn An-đéc-xen. Trong truyện, nhân vật cô bé bán diêm hiện lên vô cùng chân thực, sinh động.

Cô bé bán diêm mồ côi mẹ từ nhỏ. Bà nội - người thương yêu em nhất cũng đã qua đời. Em phải sống với người cha cục cằn, thô lỗ trong một ngôi nhà tồi tàn. Cô bé còn phải bán diêm để kiếm sống. Đó là một số phận bất hạnh, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Đêm giao thừa, trời rét, tuyết rơi trắng xóa. Trong khi mọi nhà đều rực rỡ ánh đèn và sực nức mùi ngỗng quay thì cô bé nghèo khổ vẫn “đầu trần chân đất, bụng đói cật rét, lang thang kiếm sống”. Nghệ thuật đối lập đã tô đậm hoàn cảnh sống bất hạnh của cô bé bán diêm. Đó là một sinh linh bé nhỏ tội nghiệp bị bỏ rơi giữa dòng đời.

Phần cảm động nhất của câu chuyện không phải sự đáng thương của cô bé mà là khi tác giả nói về những mộng tưởng của cô bé bán diêm. Lúc đầu, em chỉ định quẹt một que diêm để sưởi cho đỡ rét và vui thích khi thấy ngọn lửa “xanh lam rồi trắng dần ra”. Từ niềm vui nhỏ nhoi ấy, cô bé đã bước vào những cơn mơ kì diệu. Lần thứ nhất quẹt diêm, một lò sưởi ấm ám sang trọng hiện ra. Đó là ước mơ của những thân phận nghèo khổ giữa mùa đông giá rét. Lần thứ hai quẹt diêm, một bàn ăn thịnh soạn bởi bát đĩa bằng sứ và có cả ngỗng quay đang mời gọi em. Đó là ước mơ được một bữa ăn no, ăn ngon trong những chuỗi ngày đói khổ, lang thang kiếm sống.

Lần thứ ba quẹt diêm, em thấy một cây thông Nô-en với hàng ngàn ngọn nến lung linh. Em ước mơ được sống trong mái ấm gia đình, được vui chơi như bao người khác. Lần thứ tư quẹt diêm, em thấy bà nội hiền hậu đang mỉm cười. Đó là ước mơ được sống trong tình yêu thương. Sau bốn lần quẹt diêm, những ước mơ về vật chất và tinh thần, em đều đã được trải qua. Tuy nó thật ngắn ngủi nhưng cũng đã sưởi ấm tâm hồn và cả trái tim cô đơn, lạnh lẽo của em. Và em muốn thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ, buồn đau này. Vì thế em đã quẹt diêm lần thứ năm, và em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao. Diêm nối nhau chiếu sáng như ban ngày. Em thấy bà nội to lớn và đẹp lão. Hai bà cháu cầm tay nhau và cùng về chầu Thượng Đế.

Hình tượng lấp lánh nhất trong bài là hình tượng ngọn lửa diêm. Mỗi ngọn lửa diêm thắp lên là thắp lên một ước mơ, khát vọng của tuổi thơ về một mái ấm gia đình. Ở đó, trẻ em được sưởi ấm, được vui chơi và được sống trong tình yêu thương. Thông qua đó, tác giả muốn bày tỏ sự cảm thông đối với những số phận bất hạnh, nghèo khổ trên thế giới. Thực tế, sau mỗi lần quẹt diêm, que diêm tắt.Chẳng có lò sưởi, bàn ăn, cây thông Noel và bà nội biến mất, chỉ còn lại đêm đông rét dữ dội và tuyết phủ trắng xóa, người qua đường lạnh lùng vô cảm và người cha cục cằn thô lỗ. Thực tế phũ phàng thế, lại là cuộc sống mà cô bé phải đối diện hằng ngày. Vì thế, cô bé đã nghĩ đến cái chết. Vì chỉ có cái chết mới giúp em thoát khỏi sự khổ đau.

Cuối cùng, cô bé bán diêm đã chết ở một xó tường, trong đêm giao thừa, giữa những bao diêm đã đốt hết nhẵn. Cái chết vì đói, vì rét, vì tuyệt vọng và còn vì cả sự thờ ơ vô cảm của người đời. Thông qua cái chết của cô bé bán diêm, tác giả đã lên án tố cao xã hội thờ ơ, vô tình đối với những số phận nghèo khổ, bất hạnh. Từ đó, nhắc khẽ mọi người hãy biết san sẻ tình yêu thương với đồng loại. Nhà văn còn nhìn thấy cái chết của cô bé là cái chết thanh thản và mãn nguyện với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Bởi với An-đéc-xen, cô bé sẽ tìm thấy hạnh phúc ở một thế giới khác.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng tuyệt vời, bên cạnh niềm vui còn lóng lánh những giọt nước mắt ở đời. Nhưng cuộc sống sẽ đẹp hơn bởi những trang văn, bởi những tấm lòng như Andersen.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 7

An-đéc-xen là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với thể loại truyện kể cho trẻ em, trong đó, tác phẩm quen thuộc với bạn đọc trên khắp thế giới phải kể đến là Cô bé bán diêm. Truyện hấp dẫn người đọc bởi sự đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, bên cạnh đó, hình ảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa đã gợi cho chúng ta lòng thương cảm sâu sắc đối với một em bé nghèo khổ, đáng thương.

Trước hết, cô bé bán diêm có một hoàn cảnh bất hạnh, sớm đã mồ côi mẹ, bà là người yêu thương em nhất cũng bỏ em mà đi, sống với cha trong hoàn cảnh nghèo khổ, em phải đi bán diêm. Ngày qua ngày, cô bé với giỏ diêm trên tay lầm lũi đi qua từng góc phố, con đường, ngày nào không bán được, em sẽ bị người cha đánh mắng. Cô bé vừa thiếu thốn tình cảm lại phải chịu đựng cảnh bạo lực gia đình, chịu nhiều tổn thương cả về tinh thần lẫn thể xác. Trong đêm giao thừa, một đêm đặc biệt nhất, đêm kết thúc một năm và bắt đầu một năm mới, ngoài kia người ta sum vầy, quây quần bên nhau ấm cúng bao nhiêu thì cô bé bán diêm lại lẻ loi, đơn độc bấy nhiêu.

Giữa trời mưa tuyết rét mướt lạnh cóng, đôi chân trần của em lê hết các con phố ngõ ngách để bán những bao diêm, cả một ngày em chưa được ăn, phải chống lại cái lạnh, cái đói để bán diêm thế nhưng cũng không bán được bao diêm nào. Càng về đêm trời càng lạnh, cái lạnh và đói đang đày đọa em, dù có vậy em vẫn không dám về nhà, bởi "về nhà mà không bán được bao diêm nào", không có tiền, em sẽ lại phải chịu đòn của cha, hơn nữa căn phòng trên gác mái của cha con em cũng chẳng khác gì ở ngoài trời.

Ở lứa tuổi của cô bé, chúng ta đang được quây quần bên ông bà, cha mẹ ăn những bữa tiệc thịnh soạn và chuẩn bị chào đón năm mới, ấy vậy mà em lại phải chịu sự thờ ơ, vô tâm và lạnh lùng đến đáng sợ của những người xung quanh. Họ không hề để ý đến em, chẳng ai quan tâm, đoái hoài đến hoàn cảnh và nỗi khổ của em. Em không nhận được sự yêu thương và đồng cảm từ mọi người, điều đó càng khiến ta cảm thấy xót xa cho tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm. Trái tim người đọc như thắt lại bởi hoàn cảnh của cô bé bán diêm quá đỗi thực tế, xã hội có rất nhiều em bé phải chịu cảnh như em, sớm đã phải chịu nhiều thiệt thòi, bất hạnh và khổ sở.

Nép mình vào một góc tường trên hè phố, cô bé bán diêm đáng thương quẹt những que diêm sưởi ấm cho đôi tay, đôi chân đã tê cứng vì lạnh. Từng que diêm được em đốt lên bằng cả niềm khao khát và ước muốn, ngọn lửa của que diêm hiện ra nào là bàn ăn thịnh soạn với ngỗng quay, nào là lò sưởi đang cháy và cây thông Noel đều là những thứ cần thiết trong hoàn cảnh đói rét bơ vơ của em. Cho đến khi gặp được bà trong ngọn lửa que diêm, em đã vui sướng biết bao, em khao khát được đi theo bà, cầu xin Thượng Đế cho em được ở cùng bà, và cuối cùng em đã được toại nguyện.

Tuy những que diêm chỉ mang lại những ảo ảnh nhưng lại là hạnh phúc thực sự đối với cô bé bán diêm, "Bà cụ cầm lấy tay em, rồi hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa". Cái chết của em thật nhẹ nhàng, như một sự giải thoát cho kiếp người bất hạnh khốn khổ của em, thế nhưng nó phản ánh một sự thật đau lòng rằng em đã phải chết giữa dòng người vô tâm, lãnh đạm và thờ ơ, chính xã hội đó đã giết chết những con người như em, nếu người ta có tình thương, có lòng nhân ái có lẽ số phận của em đã khác.

Nhân vật cô bé bán diêm đã để lại trong lòng người đọc những hoài niệm, những suy nghĩ khôn nguôi về số phận con người, khơi dậy trong mỗi chúng ta lòng thương cảm đối với những cảnh đời bất hạnh trong cuộc sống. Chúng ta may mắn là những "chiếc lá" lành lặn phải có trách nhiệm giúp đỡ và đùm bọc cho những "chiếc lá" kém may mắn hơn, đó là lòng nhân ái và tình thương mà con người cần có dành cho nhau.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 8

Trong kho tàng truyện cổ tích thế giới, Cô bé bán diêm của An-đéc-xen là một câu chuyện ngắn nhưng để lại dư âm dài lâu trong lòng người đọc. Nhân vật cô bé bán diêm hiện lên với số phận bất hạnh, nhưng ẩn sau đó là một tâm hồn trong sáng, giàu ước mơ và khát vọng được yêu thương. Chính vẻ đẹp ấy đã khiến em trở thành hình tượng khiến tôi day dứt và xúc động nhất.

Cô bé xuất hiện trong hoàn cảnh vô cùng éo le: đêm giao thừa lạnh giá, tuyết rơi dày đặc, mọi người sum vầy trong ánh đèn ấm áp thì em lại lang thang ngoài phố để bán từng bao diêm nhỏ. Em không dám về nhà vì sợ cha đánh khi chưa bán được que nào. Mẹ đã mất, bà nội – người yêu thương em nhất – cũng không còn. Em sống giữa cái lạnh cắt da của mùa đông và cái lạnh vô hình của sự thờ ơ từ con người. Sự đối lập giữa không khí rộn ràng của ngày lễ và hình ảnh cô bé co ro trong bóng tối khiến người đọc càng thêm xót xa.

Những lần quẹt diêm là điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc làm nổi bật thế giới nội tâm của nhân vật. Mỗi que diêm được thắp lên là một ước mơ giản dị nhưng tha thiết. Khi nhìn thấy lò sưởi rực hồng, em chỉ mong được sưởi ấm. Khi thấy bàn ăn thịnh soạn với con ngỗng quay béo ngậy, em khao khát được no đủ. Hình ảnh cây thông Nô-en lấp lánh ánh nến thể hiện ước mơ được hòa mình vào niềm vui chung. Đặc biệt, khi nhìn thấy bà nội hiện ra trong ánh sáng diêm, em đã quẹt hết những que diêm còn lại để níu giữ hình bóng yêu thương ấy. Ở đó, ước mơ của em không còn là vật chất mà là tình thương – điều em thiếu thốn nhất.

Cái chết của cô bé vào sáng hôm sau là một kết thúc đầy ám ảnh. Em ra đi trong giá lạnh, trên môi vẫn còn nụ cười. Người đời chỉ nhìn thấy những que diêm đã cháy dở mà không biết em đã mơ những gì. Chi tiết ấy tố cáo xã hội vô cảm, nơi con người có thể thản nhiên trước nỗi đau của một đứa trẻ. Đồng thời, tác giả cũng gửi gắm niềm tin rằng trong thế giới khác, em đã được sống trong vòng tay yêu thương của bà.

Nhân vật cô bé bán diêm không chỉ khiến tôi thương cảm mà còn giúp tôi nhận ra giá trị của tình yêu thương trong cuộc sống. Qua hình tượng ấy, An-đéc-xen đã khẳng định một thông điệp sâu sắc: chỉ có tình người mới sưởi ấm được những tâm hồn giá lạnh. Và chính điều đó đã làm nên sức sống lâu bền của câu chuyện.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 9

Nếu phải chọn một nhân vật khiến tôi ám ảnh nhất sau khi gấp lại trang sách, tôi sẽ nghĩ ngay đến cô bé trong truyện Cô bé bán diêm. Không phải vì em có những hành động phi thường, mà bởi sự mong manh, bé nhỏ của em giữa cuộc đời lạnh lẽo đã chạm đến tận cùng cảm xúc người đọc.

Câu chuyện diễn ra vào đêm giao thừa – khoảnh khắc lẽ ra phải ấm áp nhất trong năm. Nhưng với cô bé, đó lại là đêm dài lạnh lẽo nhất. Em đi chân trần trên tuyết, bụng đói, người run lên vì rét. Không ai mua giúp em một bao diêm, cũng chẳng ai mời em vào nhà sưởi ấm. Em tồn tại giữa phố phường đông đúc mà như vô hình. Hình ảnh ấy cho thấy sự tàn nhẫn của xã hội đối với những phận người nghèo khổ.

Những que diêm nhỏ bé trở thành chiếc cầu nối giữa hiện thực và mơ ước. Trong ánh lửa mong manh ấy, cô bé tìm thấy những điều mà đời thực không ban tặng: hơi ấm của lò sưởi, bữa ăn đủ đầy, cây thông rực rỡ ánh sáng. Nhưng xúc động nhất vẫn là hình ảnh bà nội. Chỉ khi nhìn thấy bà, em mới thực sự hạnh phúc. Em quẹt liên tiếp những que diêm còn lại để níu giữ khoảnh khắc được ở bên người mình yêu thương. Điều đó cho thấy khát vọng lớn nhất của em không phải vật chất, mà là tình thân.

Cái chết của cô bé không được miêu tả bằng tiếng khóc hay bi kịch dữ dội, mà lặng lẽ như một làn khói diêm tan biến. Sáng hôm sau, người ta thấy em nằm đó, má hồng và môi mỉm cười. Nụ cười ấy khiến người đọc càng đau xót hơn, bởi chỉ trong giấc mơ em mới được hạnh phúc. Tác giả đã dùng cái kết ấy để lay động lương tri con người, nhắc nhở chúng ta đừng vô cảm trước nỗi đau của người khác.

Qua nhân vật cô bé bán diêm, tôi hiểu rằng hạnh phúc đôi khi chỉ là được yêu thương và quan tâm. Câu chuyện không chỉ là tiếng khóc thương cho một số phận, mà còn là lời kêu gọi con người hãy mở lòng mình ra. Bởi có thể đâu đó quanh ta vẫn còn những “cô bé bán diêm” đang cần một ánh lửa ấm áp của tình người.

Phân tích nhân vật Cô bé bán diêm - mẫu 10

Đọc Cô bé bán diêm, tôi không khỏi tự hỏi: điều gì khiến một câu chuyện ngắn lại có sức lay động mãnh liệt đến vậy? Câu trả lời nằm ở hình tượng cô bé – một đứa trẻ nhỏ bé nhưng mang trong mình thế giới tâm hồn rộng lớn và đầy ánh sáng.

Ngay từ những dòng đầu, cô bé đã hiện lên trong hoàn cảnh đáng thương: không mẹ, không bà, chỉ có người cha nghiêm khắc và căn gác lạnh lẽo. Em phải đi bán diêm giữa đêm đông giá rét. Từng chi tiết như đôi chân trần đỏ ửng, mái tóc vàng phủ tuyết, chiếc tạp dề cũ kỹ… đều góp phần khắc họa sự nghèo khổ tột cùng. Nhưng điều đáng sợ hơn cả cái lạnh của thời tiết là cái lạnh của lòng người. Giữa dòng người tấp nập, không ai dừng lại hỏi han em.

Điểm đặc sắc của truyện là sự đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng qua những que diêm cháy sáng. Thực tại càng tăm tối bao nhiêu, ảo ảnh càng rực rỡ bấy nhiêu. Lò sưởi, bàn ăn, cây thông, bà nội – tất cả hiện lên như những mảnh ghép của hạnh phúc. Mỗi lần que diêm tắt đi là một lần em trở về với bóng tối. Chính sự lặp lại ấy tạo nên nhịp điệu buồn bã, như nhịp đập yếu dần của một trái tim bé nhỏ.

Hình ảnh cô bé quẹt hết những que diêm cuối cùng để giữ bà ở lại là chi tiết xúc động nhất. Em chấp nhận tất cả chỉ để không phải quay về với cô đơn. Khi em ra đi, tác giả không miêu tả đó là cái chết bi thương mà là sự “bay lên” cùng bà. Cách kết thúc ấy thể hiện niềm thương yêu sâu sắc và chút ánh sáng nhân văn trong bóng tối.

Nhân vật cô bé bán diêm đã khiến tôi nhận ra rằng sự vô cảm có thể giết chết một tâm hồn non nớt. Đồng thời, em cũng dạy tôi biết trân trọng những điều bình dị mình đang có. Qua câu chuyện, An-đéc-xen không chỉ kể về một đứa trẻ bất hạnh mà còn gửi gắm ước mơ về một thế giới nơi mọi đứa trẻ đều được yêu thương và che chở. Và chính thông điệp ấy đã khiến hình tượng cô bé sống mãi trong lòng người đọc.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Lời giải bài tập lớp 7 sách mới:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 7 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 7Những bài văn hay đạt điểm cao lớp 7.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 7 sách mới các môn học