10+ Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau (điểm cao)

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau

a) Mở bài:

- Giới thiệu về tác giả và tác phẩm.

b) Thân bài:

* Nguyên nhân dẫn đến câu chuyện "Người mẹ vườn cau":

- Cô giáo yêu cầu viết bài văn về mẹ, tuy nhiên “tôi” không biết viết như nào.

- Nhớ lại rằng ba có nhiều mẹ và mình có nhiều bà nội, trong đó, ba có một “người mẹ vườn cau”.

* Những kỉ niệm thời nhỏ tại quê của "Người mẹ vườn cau":

- Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu.

- Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu.

- Hôm ấy là giỗ chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản những vẫn rất ngon và ấm áp.

- Khi trời tạnh mưa, mọi người ào ào kéo đến làm nhân vật “tôi” phải thắc mắc rằng tại sao bà lại có nhiều con như thế.

Quảng cáo

- Các chú cùng bố nhậu một bữa nhưng vẫn phải xin phép bà. Mọi người vui vẻ nói chuyện ngày xưa.

- “Tôi” được Nội dẫn ra vườn cau và vườn hoa quả trĩu trái.

- Đêm hôm ấy được bà mắc mùng cho tôi ngủ và được nghe những câu chuyện bà kể khi khó ngủ.

* Trở về thực tại và bài làm văn điểm kém.

- Do ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển lên phố- Mẹ nhắc chuyện lâu chưa về thăm nội nhưng bố không lo. Chỉ khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình bạc, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định mai về lại "Người mẹ vườn cau".

- Đó là những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn với mẹ của “tôi” thì chỉ "Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc".

- Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” cũng không hề buồn vì tả về mẹ đâu chỉ bằng vài câu.

c) Kết bài:

- Khẳng định lại những giá trị về nội dung và nghệ thuật của truyện.

Quảng cáo

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 1

Khúc ca của văn chương mang một sức mạnh thật kì diệu, nó đi sâu vào tiềm thức, trái tim của người đọc, từ đó để lại biết bao rung động, suy ngẫm về cuộc đời. Giữa vườn hoa văn chương Việt Nam ấy có một khúc ca viết về người mẹ thật đẹp, được ánh lên dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Ngọc Tư. Với phong cách viết văn giản dị mà tình cảm, “Người mẹ vườn cau” đã trở thành một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng và đem lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.

Trong văn học, đề tài về mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận với các nghệ sĩ bởi tình yêu thương, sự hy sinh của người mẹ. Tấm lòng của người mẹ là những đại dương sâu thẳm mà suốt cuộc đời con người không thể đo đạc cũng không thể thấu hiểu hết. Ở đó, các nhà văn có thể bộc lộ, thể hiện tâm tư tình cảm của mình dành cho người mẹ yêu quý và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng không ngoại lệ, cô cũng đóng góp vào đề tài ấy với tác phẩm Người mẹ vườn cau. Tập truyện ngắn được trích trong “Xa xóm mũi - 2016”. Tập truyện “Xa xóm Mũi” là tập truyện gồm 11 truyện ngắn viết cho thiếu nhi mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn lấy nhan đề này để chỉ những người mẹ có công với Cách mạng, người mẹ ấy không có tên gọi cụ thể mà chỉ gọi theo đặc điểm nơi ở.

Quảng cáo

Tác phẩm mang đến cho người đọc bằng một tình huống của nhân vật “tôi” khi được cô giáo giao cho bài văn viết về mẹ. Với một đề bài như vậy nhưng nhân vật “tôi” lại không có cách nào để viết được. Sau đó “tôi" hồi tưởng về kỉ niệm hồi nhỏ, kỉ niệm cùng người bà của mình. Với việc xây dựng tình huống truyện đã khiến cho người đọc cảm nhận được sự gần gũi. Không những thế còn dễ dàng truyền tải nội dung đến các độc giả về hình ảnh người bà thông qua các chi tiết miêu tả, cuộc đối thoại của các nhân vật trong văn bản.

Với lối suy nghĩ ngây ngô trẻ con của nhân vật tôi thì không biết hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn đối với bố thì lại có tận hai mẹ, cũng chính điều này đã làm cho nhân vật tôi có tới hai bà nội: Nội ở Phố Đông, Nội ở vườn cau. Trong kỉ niệm của “tôi" đã được về nhà Nội ở vườn cau chơi. Khung cảnh nơi đây dường như vẫn như hôm qua đọng mãi trong kí ức của nhân vật. Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu, giọt tong tong. Hình ảnh về cuộc sống giản dị, đơn sơ đã in hằn vào trong tiềm thức của “tôi" mỗi khi nhớ đến người bà vườn cau. Khung cảnh bình yên bao nhiêu thì càng làm hiện lên hình ảnh Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu, sợ trời mưa mấy đứa sẽ bị cảm. Nội là một bà mẹ anh hùng, theo lời kể của bố bà làm nghề bán ve chai, đưa thư, mang thức ăn, tin tức… Mang trong mình dáng vẻ còn cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua đã khiến cho người đọc hình ảnh thân thuộc. Tất cả đã ánh lên được sự hy sinh thầm lặng của người mẹ già, cả một đời vất vả, lam lũ, nhưng vẫn luôn là hậu phương vững chắc cho những đứa con của mình đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Những hình ảnh gắn với người bà vườn cau trong tâm trí của “tôi" đó là hôm về nhà Nội do có giỗ của chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ có vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản, nhưng lại vô cùng ấm áp. Sau cơn mưa mọi người ào ào kéo đến nhà bà khiến cho nhân vật “tôi” có một thắc mắc sao nhà bà lại nhiều con như vậy. Thế nhưng khi nghe các chú kể về khung cảnh ngày xưa khiến cho “tôi" phần nào cũng hiểu ra được. Cảnh ba gắp thức ăn cho bà rồi bà lại gắp thức ăn cho “tôi” và bà xoa đầu bảo “tôi” ăn cho chóng lớn đã cho thấy khung cảnh gia đình thật ấm áp và tràn đầy hạnh phúc.

Mọi người cùng hàn huyên chuyện cũ, tiếng cười vang vọng khắp gian nhà nhỏ. Còn “tôi” lại được nội dẫn ra vườn cau. Vườn cau nhà Nội thật thú vị, chắc cũng vì lý do này, bố gọi nội là "Mẹ vườn cau". Ở vườn, cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Đêm hôm ấy, “tôi” được Nội mắc mùng cho ngủ, nhưng vì lạ giường mà mãi không ngủ được, Nội liền kể cho “tôi” nghe về câu chuyện của bà. Người trên bàn thờ hôm nay là hai đồng chí thân thiết với bố, các chú đều là những người hiên ngang, anh dũng và Nội chính là mẹ của hai đồng chí đã hi sinh đó. Nội được gọi là mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy chỉ làm nghề bán ve chai nhưng “Nội còn đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức". Sau cái gánh ve chai ấy là công việc cách mạng mà Nội đã âm thầm, không quản hiểm nguy mang đến cho ba, cho các chú. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng khiến nhân vật “tôi" hiểu ra rằng “anh hùng” đâu cần phải là người cao to hay có súng. “Anh hùng" có thể là những người rất bình thường thôi nhưng công việc họ làm cho đất nước thật phi thường!

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 2

Khúc ca của văn chương mang một sức mạnh thật kì diệu, nó đi sâu vào tiềm thức, trái tim của người đọc, từ đó để lại biết bao rung động, suy ngẫm về cuộc đời. Giữa vườn hoa văn chương Việt Nam ấy có một khúc ca viết về người mẹ thật đẹp, được ánh lên dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Ngọc Tư. Với phong cách viết văn giản dị mà tình cảm, “Người mẹ vườn cau” đã trở thành một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng và đem lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.

Trong văn học, đề tài về mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận với các nghệ sĩ bởi tình yêu thương, sự hy sinh của người mẹ. Tấm lòng của người mẹ là những đại dương sâu thẳm mà suốt cuộc đời con người không thể đo đạc cũng không thể thấu hiểu hết. Ở đó, các nhà văn có thể bộc lộ, thể hiện tâm tư tình cảm của mình dành cho người mẹ yêu quý và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cũng không ngoại lệ, cô cũng đóng góp vào đề tài ấy với tác phẩm Người mẹ vườn cau. Tập truyện ngắn được trích trong “Xa xóm mũi - 2016”. Tập truyện “Xa xóm Mũi” là tập truyện gồm 11 truyện ngắn viết cho thiếu nhi mới nhất của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Nhà văn lấy nhan đề này để chỉ những người mẹ có công với Cách mạng, người mẹ ấy không có tên gọi cụ thể mà chỉ gọi theo đặc điểm nơi ở.

Tác phẩm mang đến cho người đọc bằng một tình huống của nhân vật “tôi” khi được cô giáo giao cho bài văn viết về mẹ. Với một đề bài như vậy nhưng nhân vật “tôi” lại không có cách nào để viết được. Sau đó “tôi" hồi tưởng về kỉ niệm hồi nhỏ, kỉ niệm cùng người bà của mình. Với việc xây dựng tình huống truyện đã khiến cho người đọc cảm nhận được sự gần gũi. Không những thế còn dễ dàng truyền tải nội dung đến các độc giả về hình ảnh người bà thông qua các chi tiết miêu tả, cuộc đối thoại của các nhân vật trong văn bản.

Với lối suy nghĩ ngây ngô trẻ con của nhân vật tôi thì không biết hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn đối với bố thì lại có tận hai mẹ, cũng chính điều này đã làm cho nhân vật tôi có tới hai bà nội: Nội ở Phố Đông, Nội ở vườn cau. Trong kỉ niệm của “tôi" đã được về nhà Nội ở vườn cau chơi. Khung cảnh nơi đây dường như vẫn như hôm qua đọng mãi trong kí ức của nhân vật. Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu, giọt tong tong. Hình ảnh về cuộc sống giản dị, đơn sơ đã in hằn vào trong tiềm thức của “tôi" mỗi khi nhớ đến người bà vườn cau. Khung cảnh bình yên bao nhiêu thì càng làm hiện lên hình ảnh Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu, sợ trời mưa mấy đứa sẽ bị cảm. Nội là một bà mẹ anh hùng, theo lời kể của bố bà làm nghề bán ve chai, đưa thư, mang thức ăn, tin tức… Mang trong mình dáng vẻ còn cõi, nụ cười phúc hậu, đôi mắt già nua đã khiến cho người đọc hình ảnh thân thuộc. Tất cả đã ánh lên được sự hy sinh thầm lặng của người mẹ già, cả một đời vất vả, lam lũ, nhưng vẫn luôn là hậu phương vững chắc cho những đứa con của mình đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Những hình ảnh gắn với người bà vườn cau trong tâm trí của “tôi" đó là hôm về nhà Nội do có giỗ của chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ có vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản, nhưng lại vô cùng ấm áp. Sau cơn mưa mọi người ào ào kéo đến nhà bà khiến cho nhân vật “tôi” có một thắc mắc sao nhà bà lại nhiều con như vậy. Thế nhưng khi nghe các chú kể về khung cảnh ngày xưa khiến cho “tôi" phần nào cũng hiểu ra được. Cảnh ba gắp thức ăn cho bà rồi bà lại gắp thức ăn cho “tôi” và bà xoa đầu bảo “tôi” ăn cho chóng lớn đã cho thấy khung cảnh gia đình thật ấm áp và tràn đầy hạnh phúc.

Mọi người cùng hàn huyên chuyện cũ, tiếng cười vang vọng khắp gian nhà nhỏ. Còn “tôi” lại được nội dẫn ra vườn cau. Vườn cau nhà Nội thật thú vị, chắc cũng vì lý do này, bố gọi nội là "Mẹ vườn cau". Ở vườn, cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Đêm hôm ấy, “tôi” được Nội mắc mùng cho ngủ, nhưng vì lạ giường mà mãi không ngủ được, Nội liền kể cho “tôi” nghe về câu chuyện của bà. Người trên bàn thờ hôm nay là hai đồng chí thân thiết với bố, các chú đều là những người hiên ngang, anh dũng và Nội chính là mẹ của hai đồng chí đã hi sinh đó. Nội được gọi là mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy chỉ làm nghề bán ve chai nhưng “Nội còn đưa thư cho ba. Nội mang thức ăn, tin tức". Sau cái gánh ve chai ấy là công việc cách mạng mà Nội đã âm thầm, không quản hiểm nguy mang đến cho ba, cho các chú. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng khiến nhân vật “tôi" hiểu ra rằng “anh hùng” đâu cần phải là người cao to hay có súng. “Anh hùng" có thể là những người rất bình thường thôi nhưng công việc họ làm cho đất nước thật phi thường!

Thế nhưng hiện tại do ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển lên phố luôn. Cũng đã từ rất lâu mà nhân vật “tôi” chưa được quay lại thăm nội vườn cau, thế nhưng trong tâm hồn của “tôi" vẫn luôn dành cho bà một tình cảm đặc biệt. Chỉ còn là ký ức: “chốn ấy còn chín lừ quả ngọt, hương cau còn nồng nàn trắng xoá, tóc nội chắc bạc nhiều hơn…” Không những nhân vật “tôi” mà trong tâm trạng của người cha cũng vậy, luôn lo lắng cho bà. Và chỉ đến khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình “bạc”, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định “Mai về nội “vườn cau”, con ha?". Văn bản nói về những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn trở về thực tại, mẹ của nhân vật “tôi” chỉ “là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc”. Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” không hề buồn vì viết về mẹ đâu chỉ bằng vài câu. Đây là bài học về sự biết ơn, kính trọng đến những người mẹ. Có những người mẹ bình dị mà thật nhân hậu, lớn lao, tình mẹ là tình cảm thiêng liêng, có sức lay động và cảm hoá mạnh mẽ.

Tác phẩm đã tạo nên tình huống truyện vô cùng độc đáo. Với ngôi kể thứ nhất đã đem đến cho người đọc được sự gần gũi, dường như người đọc đang hòa mình với nhân vật tôi để trở về với kí ức tuổi thơ bên người bà của mình. Chỉ là những đoạn đối thoại ngắn, lối trần thuật tự nhiên, những câu văn đậm chất khẩu ngữ Nam bộ đã góp phần tạo nên lối kể chuyện mộc mạc, giản dị. Không tô vẽ, không cường điệu hóa, “Người mẹ vườn cau” đã hiện lên rõ nét trước mắt người đọc như chính những người con Nam Bộ chân thành, bộc trực, giàu đức hy sinh. Tất cả đã đưa đến cho người đọc hình ảnh về một người mẹ anh hùng tần tảo, yêu thương các con của mình.

Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi đến của văn học thế nên Andecxen đã từng nói: “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”. Đúng vậy, Nguyễn Ngọc Tư với những trải nghiệm của chính mình đã phát hiện cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới. Truyện ngắn "Người mẹ vườn cau" đã mang gợi đến cho mỗi chúng ta những kỉ niệm hạnh phúc về gia đình và những bài học về việc báo đáp công ơn của mẹ. Ai rồi cũng có gia đình riêng nhưng mái ấm có mẹ chờ luôn là ngôi nhà mà chúng ta nên trở về nhất. Giống như một nhà thơ đã từng viết về mẹ vậy:

“Mẹ ơi, mẹ như bình minh rạng ngời

Soi sáng con đường đời con đi

Mẹ là bầu trời, mẹ là biển rộng

Mẹ là tình yêu sâu lắng trong trái tim con.”

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 3

Nguyễn Ngọc Tư không còn là cái tên xa lạ với những bạn thích thể loại truyện ngắn. Với phong cách viết văn giản dị mà tình cảm, “Người mẹ vườn cau” đã trở thành một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng và đem lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.

Viết về mẹ, chắc chắn là không thể có từ ngữ nào có thể kể hết công lao nuôi dưỡng sinh thành và tình cảm thiêng liêng của mẹ dành cho con. Chính vì lý do đó mà mở đầu truyện ngắn, nhắc đến việc làm văn về mẹ, với đề bài mở nhưng nhân vật “tôi” vẫn không thể nghĩ ra không nên bắt đầu như nào.

Với suy nghĩ ngây ngô của trẻ con, “tôi” không thể hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn bố thì lại có hai mẹ, làm cho “tôi” có hai nội: Nội ở Phố Đông, Nội ở vườn cau. Khi còn nhỏ, “tôi” đã được về nhà Nội ở vườn cau chơi. Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu. Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu, sợ trời mưa mấy đứa sẽ bị cảm. Hôm ấy nhà “tôi” về nhà Nội là do có giỗ của chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ vài ba bát canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản những vẫn rất ngon và ấm áp. Cảnh ba gắp thức ăn cho bà rồi bà lại gắp thức ăn cho “tôi” và bà xoa đầu bảo tôi ăn cho chóng lớn đã cho thấy khung cảnh gia đình ấm áp và hạnh phúc.

Trời tạnh mưa cũng là lúc mị người ào ào về nhà Nội tụ tập. Tiếng gọi “má Tư” cứ liên tục vang vong khiến “tôi” thắc mắc rằng sao Nội lại nhiều con như thế. Mọi người tụ tập và cùng nhau nhậu một bữa. Lớn bằng ấy nhưng các chú vẫn phải xin phép bà. Mọi người cùng hàn huyên chuyện cũ, tiếng cười vang vọng khắp gian nhà nhỏ. “Tôi” được nội dẫn ra vườn cau. Vườn cau nhà Nội thật thú vị, chắc cũng vì lý do này, bố gọi nội là "Mẹ vườn cau". Ở vườn, cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Đêm hôm ấy, tôi được Nội mắc mùng cho ngủ, nhưng vì lạ giường mà mãi không ngủ được, Nội liền kể cho tôi nghe về câu chuyện của bà. Người trên bàn thờ hôm nay là hai đồng chí thân thiết với bố, các chú đều là những người hiên ngang và anh hùng, và bà chính là mẹ anh hùng, tuy chỉ là người nhặt ve chai, không có súng cũng không cao to, khỏe mạnh nhưng vẫn làm anh hùng. Làm anh hùng tuy tự hào, tuy vui nhưng Nội rất buồn, nếu các chú ấy còn sống thì giờ Nội đã không phải ở một mình.

Do ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển công tác lên phố luôn. Đã lâu lắm không trở về thăm lại Nội vườn cau nhưng bố vẫn không lo lắng vì ở dưới đó có các chú lo. Chỉ đến khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình bạc, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định mai về lại "Người mẹ vườn cau". Đó là những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn với mẹ của “tôi” thì chỉ "Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc". Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” cũng không hề buồn vì tả về mẹ đâu chỉ bằng vài câu.

Câu chuyện tuy ngắn nhưng nó lại mang giá trị nhân văn sâu sắc. Ngôn từ giản dị nhưng dạt dào cảm xúc, truyện ngắn "Người mẹ vườn cau" đã mang gợi đến cho mỗi chúng ta những kỉ niệm hạnh phúc về mẹ và những bài học về việc báo đáp công ơn mẹ. Mỗi chúng ta có thể có nhiều mẹ, nhưng mẹ sinh ra và nuôi dưỡng ta chỉ có một mà thôi. Ai rồi cũng có gia đình riêng nhưng mái ấm với mẹ chờ luôn là ngôi nhà mà chúng ta nên trở về nhất.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 4

“Đối tượng của văn học vốn là than phận con người, nên chỉ những kẻ nào đọc và hiểu nó sẽ hoá thành không phải là một chuyên gia nghiên cứu văn học mà là một kẻ hiểu biết con người một cách sâu sắc” (Văn chương lâm nguy, Todorov). Quả đúng như vây, bởi “ văn học chính là cuộc đời, cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của của văn học”. Mỗi nghệ sĩ lớn đều ý thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa con người và cuộc sống. Đời sống và con người luôn là nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn cho những sác tác văn học được nảy nở, kết tinh tư tưởng của nhà văn. Đến với kho tàng truyện ngắn Việt Nam, ta sẽ bắt gặp một nghệ sĩ chân chính, “hiểu biết con người một cách sâu sắc” mang tên Nguyễn Ngọc Tư. Trong đó, “Người mẹ vườn cau” của cô đã gây một tiếng vang lớn và chưa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc về con người. 

Một tác phẩm văn chương chân chính phải là “giao liên dẫn dắt đưa đường” dẫn người đọc đến “xứ sở của cái đẹp”. Và với “Người mẹ vườn cau” Nguyễn Ngọc Tư đã dẫn dắt độc giả đến nhiều cung bậc cảm xúc khó tả!

Nguyễn Ngọc Tư sinh ra ở Bạc Liêu, vùng đất có rừng bần lấp loáng sáng trăng những đêm rằm trong trẻo. Cô được mệnh danh là hiện tượng văn học đặc biệt ở Nam Bộ. “Vào đời sớm” nhưng có lẽ chính vì thế mà những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư đều mang đậm dấu ấn về cuộc sống, về hiện thực con người một cách sâu sắc. Là nhà văn của mộc mạc và bình dị thôn quê, độc giả yêu mến hay gọi bằng những cái tên thân thương cô Tư.

"Người Mẹ Vườn Cau" là một tác phẩm văn học ngắn nằm trong tập truyện ngắn "Chuyện đất Thổ" của tác giả. Được mệnh danh là “viên ngọc quý” trong văn học Việt Nam đương đại, nó không chỉ là một câu chuyện về cuộc sống nông thôn mà còn là một bức tranh tinh tế về tình yêu thương mẹ con và cuộc sống với những thách thức đầy khó khăn. 

Nguyễn Ngọc Tư cũng gửi gắm lòng mình thông qua nhan đề của tác phẩm. Chỉ gọi là người mẹ vườn cau chứ không đặt một cái tên cụ thể, là người mẹ có công với cách mạng, đã hy sinh con cái của mình cho Tổ quốc, người mẹ được gọi theo nơi ở bởi lẽ trên dải đất hình chữ S này vẫn còn rất nhiều mẹ Việt Nam anh hùng. Hơn thế, “người mẹ” và “vườn cau” thường được coi là biểu tượng của tình mẹ và gia đình. Vườn cau đại diện cho sự bền vững và gắn kết, trong khi người mẹ thể hiện sự hy sinh và tình yêu thương vô điều kiện. Cả hai biểu tượng này đều mang lại những ý nghĩa sâu sắc về tình mẹ và gia đình.

Bối cảnh của tác phẩm kể về nhân vật “tôi “khi được giao bài tập về nhà viết về người mẹ, nhưng “tôi” không biết viết gì nhiều. Phải chăng không một từ ngữ nào có thể diễn tả được hết công lao và tình yêu thương của người mẹ? Với suy nghĩ ngây ngô của trẻ con, “tôi” không thể hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn ba thì lại có hai mẹ, làm cho “tôi” có hai nội, trong đó ba có một “người mẹ vườn cau”.

"Người viết văn là người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngừng nghiên cứu và quan sát xã hội"(Nguyễn Minh Châu). Phải chăng, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã lặn mò trong hiện thực cuộc sống để xây dựng được hình tượng nhân vật tôi giàu tình cảm như vậy! “Tôi” đã hồi tưởng về những kí ức thưở nhỏ tại quê nhà của “Người mẹ vườn cau” khi được ba dẫn đi. Con đường đến nhà bà là con đường đất nhỏ quanh co, “đất bùn lẹp nhẹp, tôi ngã oàng oạch”, nhà Nội là nhà mái lợp lá nhỏ xíu và bình dị. Nội gầy gò, cười phô cả lợi nhưng vẫn lo lắng cho con cháu. Đây có lẽ cũng là hình ảnh bao người mẹ Việt Nam khác! Hôm ấy “tôi” về đúng ngày giỗ của bác, bữa cơm cỗ chỉ vài ba món canh cá chua rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản nhưng ấm cúng vô cùng. Ba gắp thức ăn cho bà, bà gắp thức ăn cho “tôi”. Có thể người con trai lâu ngày không về thăm mẹ, nhưng qua những giao tiếp và tương tác với người mẹ, người đọc có thể cảm nhận được mối quan hệ đặc biệt giữa họ, nơi mà tình yêu, sự bao dung và hy sinh được thể hiện một cách rõ ràng. Khi trời tạnh mưa, các cô chú lần lượt kéo nhau đến, khiến nhân vật “ tôi” cũng phải thắc mắc sao bà có nhiều con đến thế! Các chú mang đồ nhắm để nhậu cùng ba, nhưng đều xin phép bà trước. Bà ôm “tôi” vào lòng ngồi trên chiếc võng đung đưa, vui cười không ngớt, “cái vui như thức dậy sau đêm dài vươn mình ngắm bình minh” thật hạnh phúc làm sao!

“Tôi” được Nội dẫn ra vườn, khu vườn nhỏ bé mà quả gì cũng có, vườn hoa cau và vườn hoa quả sai trĩu, quả nào cũng chín mọng đỏ lừ. Làm hiên lên những hình ảnh về cuộc sống thôn quê Việt Nam, nơi mà vườn cau không chỉ là nơi trồng trọt mà còn là biểu tượng của sự mộc mạc và thanh bình. Bối cảnh này tạo ra một không gian đặc biệt, nơi mà nhân vật chính có thể tìm thấy sự bình yên và cảm nhận sâu sắc về gia đình và nguồn gốc.

“Tôi” nhìn thấy mái tóc trắng phau của Nội ngà ngà như màu hoa cau, “bàn tay bà nhăn nheo, gân guốc” đầy những vết tích của thời gian. Đêm hôm ấy, bà mắc mùng cho “tôi” ngủ và được nghe ba kể những câu chuyện ngày xưa. Ba kể Nội là “một bà mẹ anh hùng”. Trong suy nghĩ ngây thơ, non nớt của một đứa trẻ con cứ nghĩ “anh hùng là phải cao to, đẹp khoẻ”, đã thế còn phải có súng. Thế mà Nội của “tôi” lại bán ve chai. Thế nhưng, “Nội gánh giỏ đi đầu làng cuối xóm. Nội đưa thư cho ba, Nội mang thức ăn, tin tức”. Rồi ba kể về người chú đã mất, tấm ảnh còn hương khói trên ban thờ mà nói” Giá mà các chú ấy còn sống, bây giờ Nội đã có cháu, đâu phải sống một mình.” Bởi mới nói, không đơn thuần là bán ve chai mà chỉ là cái cớ để làm cách mạng, để góp phần vào công cuộc giải phóng nước nhà. Ở đây, Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng hình ảnh người mẹ anh hùng Việt Nam dũng cảm mà rất đỗi mộc mạc, tự nhiên, đi vào văn học một cách tự nhiên nhất, giống như: thứ “ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc nhưng đó chính là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người.” (Bertold Brecht).

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 5

Nguyễn Ngọc Tư không còn là cái tên xa lạ với những bạn thích thể loại truyện ngắn. Với phong cách viết văn giản dị mà tình cảm, “Người mẹ vườn cau” đã trở thành một tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng và đem lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc.

Viết về mẹ, chắc chắn là không thể có từ ngữ nào có thể kể hết công lao nuôi dưỡng sinh thành và tình cảm thiêng liêng của mẹ giành cho con. Chính vì lý do đó mà mở đầu truyện ngắn, nhắc đến việc làm văn về mẹ, với đề bài mở nhưng nhân vật “tôi” vẫn không thể nghĩ ra không nên bắt đầu như nào.

Với suy nghĩ ngây ngô của trẻ con, “tôi” không thể hiểu sao mình chỉ có một mẹ còn bố thì lại có hai mẹ, làm cho “tôi” có hai nội: Nội ở Phố Đông, Nội ở vườn cau. Khi còn nhỏ, “tôi” đã được về nhà Nội ở vườn cau chơi. Con đường đến nhà bà là con đường đất, những khi trời mưa đường bùn ướt nhẹp. Nhà Nội là nhà mái lá nhỏ xíu. Nội gầy gò, cười phô cả lợi những vẫn luôn lo lắng cho các con các cháu, sợ trời mưa mấy đứa sẽ bị cảm. Hôm ấy nhà “tôi” về nhà Nội là do có giỗ của chú Sơn. Bữa cơm giỗ chỉ vài ba bác canh chua cá rô đồng, mắm kho, bông súng đơn giản những vẫn rất ngon và ấm áp. Cảnh ba gắp thức ăn cho bà rồi bà lại gắp thức ăn cho “tôi” và bà xoa đầu bảo tôi ăn cho chóng lớn đã cho thấy khung cảnh gia đình ấm áp và hạnh phúc. 

Trời tạnh mưa cũng là lúc mị người ào ào về nhà Nội tụ tập. Tiếng gọi “má Tư” cứ liên tục vang vong khiến “tôi” thắc mắc rằng sao Nội lại nhiều con như thế. Mọi người tụ tập và cùng nhau nhậu một bữa. Lớn bằng ấy nhưng các chú vẫn phải xin phép bà. Mọi người cùng hàn huyên chuyện cũ, tiếng cười vang vọng khắp gian nhà nhỏ. “Tôi” được nội dẫn ra vườn cau. Vườn cau nhà Nội thật thú vị, chắc cũng vì lý do này, bố gọi nội là "Mẹ vườn cau". Ở vườn, cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Đêm hôm ấy, tôi được Nội mắc mùng cho ngủ, nhưng vì lạ giường mà mãi không ngủ được, Nội liền kể cho tôi nghe về câu chuyện của bà. Người trên bàn thờ hôm nay là hai đồng chí thân thiết với bố, các chú đều là những người hiên ngang và anh hùng, và bà chính là mẹ anh hùng, tuy chỉ là người nhặt ve chai, không có súng cũng không cao to, khỏe mạnh nhưng vẫn làm anh hùng. Làm anh hùng tuy tự hào, tuy vui nhưng Nội rất buồn, nếu các chú ấy còn sống thì giờ Nội đã không phải ở một mình.

o ba chuyển công tác nên gia đình cũng chuyển công tác lên phố luôn. Đã lâu lắm không trở về thăm lại Nội vườn cau nhưng bố vẫn không lo lắng vì ở dưới đó có các chú lo. Chỉ đến khi chú Biểu đến nhà, nghe câu chú nói mình bạc, bố mới thấy nằm suy nghĩ và quyết định mai về lại "Người mẹ vườn cau". Đó là những kỉ niệm về mẹ vườn cau của bố còn với mẹ của “tôi” thì chỉ "Mẹ là người sinh ra em, nuôi em lớn, ngày thường mẹ nấu cơm em ăn, giặt đồ em mặc". Bài văn tuy 4 điểm nhưng “tôi” cũng không hề buồn vì tả về mẹ đâu chỉ bằng vài câu.

Câu chuyện tuy ngắn nhưng nó lại mang giá trị nhân văn sâu sắc. Ngôn từ giản dị nhưng dạt dào cảm xúc, truyện ngắn "Người mẹ vườn cau" đã mang gợi đến cho mỗi chúng ta những kỉ niệm hạnh phúc về mẹ và những bài học về việc báo đáp công ơn mẹ. Mỗi chúng ta có thể có nhiều mẹ, nhưng mẹ sinh ra và nuôi dưỡng ta chỉ có một mà thôi. Ai rồi cũng có gia đình riêng nhưng mái ấm với mẹ chờ luôn là ngôi nhà mà chúng ta nên trở về nhất.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 6

Truyện ngắn “Người mẹ vườn cau” là một câu chuyện giản dị nhưng thấm đẫm tình người. Qua hình ảnh người bà – “má Tư”, tác giả đã khắc họa chân dung một người mẹ nông thôn nghèo khó nhưng giàu đức hi sinh và tình yêu thương.

Câu chuyện được kể qua hồi ức của nhân vật “tôi” khi về thăm nội ở vườn cau. Không gian hiện lên mộc mạc: con đường bùn lầy, mái nhà lá nhỏ bé, bữa cơm đạm bạc với canh chua cá rô, mắm kho. Thế nhưng, chính trong sự thiếu thốn ấy lại chứa đựng một tình cảm gia đình ấm áp. Bà nội tuy nghèo nhưng luôn ân cần, chăm chút cho con cháu, từ việc gắp thức ăn đến lời dặn dò “ăn cho mau lớn”.

Điểm đặc biệt của câu chuyện nằm ở việc phát hiện ra thân phận của bà: một “bà mẹ anh hùng”. Bà không cầm súng ra chiến trường mà âm thầm làm nhiệm vụ liên lạc, nuôi giấu cán bộ, đưa thư, tiếp tế. Sự hi sinh của bà lặng lẽ nhưng vô cùng lớn lao. Hai người con đã hi sinh, để lại bà sống cô đơn nơi vườn cau. Tuy vậy, điều khiến người đọc xúc động nhất không chỉ là quá khứ anh hùng, mà còn là hiện tại cô đơn của bà. Dù các con còn sống nhưng lại ít về thăm, thậm chí có phần vô tâm. Chi tiết người cha ngại về quê, hay câu nói “mấy anh dưới lo” cho thấy sự xa cách đáng buồn.

Từ đó, tác phẩm gửi gắm thông điệp sâu sắc: hãy biết trân trọng, yêu thương cha mẹ khi còn có thể. Tình mẹ luôn bao la, nhưng con cái đôi khi lại vô tình lãng quên.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 7

Có những hình ảnh chỉ cần thoáng qua cũng đủ ở lại rất lâu trong lòng người đọc. Hình ảnh người mẹ trong “Người mẹ vườn cau” là một hình ảnh như thế – gầy gò, tóc bạc, sống giữa khu vườn đầy trái chín nhưng lại mang trong mình một nỗi cô đơn lặng lẽ.

Câu chuyện mở ra bằng ký ức tuổi thơ, nơi nhân vật “tôi” theo cha về thăm nội. Con đường trơn trượt, căn nhà nhỏ, bữa cơm đơn sơ – tất cả đều gợi lên một cuộc sống nghèo khó. Nhưng trong không gian ấy, tình cảm gia đình lại ấm áp vô cùng. Bà nội hiện lên với nụ cười hiền hậu, đôi tay gân guốc nhưng đầy yêu thương.

Đằng sau dáng vẻ bình dị ấy là một quá khứ khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào. Bà là một người mẹ anh hùng, từng âm thầm góp sức cho cách mạng. Những công việc như đưa thư, tiếp tế tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại vô cùng nguy hiểm. Bà đã mất đi những người con, để lại trong lòng một nỗi đau không thể gọi tên. Thế nhưng, điều khiến ta day dứt hơn cả là sự thờ ơ của những người con còn sống. Thời gian và cuộc sống nơi phố thị đã khiến họ xa dần người mẹ ở quê. Những lần giỗ không về, những lời biện minh hờ hững… tất cả tạo nên một khoảng cách vô hình.

Hình ảnh xâu ếch bà gửi lên, hay nỗi vui khi “gặp con trên vô tuyến” khiến người đọc nghẹn lòng. Tình mẹ vẫn vậy – giản dị, chân thành, không đòi hỏi. Chỉ tiếc rằng, không phải lúc nào con cái cũng kịp nhận ra.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 8

Truyện “Người mẹ vườn cau” đặt ra một vấn đề mang tính nhân văn sâu sắc: giá trị của tình mẹ và trách nhiệm của con cái trong cuộc sống hiện đại.

Trước hết, tác phẩm xây dựng hình tượng người mẹ với vẻ đẹp truyền thống. Bà nội – “má Tư” – hiện lên trong hoàn cảnh nghèo khó nhưng giàu tình yêu thương. Bà chăm lo cho con cháu từng bữa ăn, từng giấc ngủ. Dù cuộc sống thiếu thốn, bà vẫn giữ được sự đôn hậu, bao dung.

Luận điểm thứ hai là sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Bà không trực tiếp chiến đấu nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong kháng chiến. Việc đưa thư, tiếp tế, nuôi giấu cán bộ là những công việc đầy nguy hiểm. Sự hi sinh của bà càng lớn lao khi bà mất đi những người con thân yêu.

Tuy nhiên, tác phẩm không chỉ ca ngợi mà còn phản ánh một thực tế đáng suy ngẫm: sự vô tâm của con cái. Người cha – dù thành đạt – lại ít quan tâm đến mẹ. Khoảng cách địa lí dần trở thành khoảng cách tình cảm. Điều này phản ánh một vấn đề phổ biến trong xã hội: khi cuộc sống đầy đủ hơn, con người lại dễ quên đi cội nguồn.

Từ đó, câu chuyện gửi gắm một thông điệp rõ ràng: mỗi người cần biết trân trọng và báo đáp công ơn cha mẹ. Đừng để đến khi mất đi mới nhận ra giá trị của tình thân.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 9

“Người mẹ vườn cau” không phải là một câu chuyện lớn lao, nhưng lại giống như một dòng nước ngầm len lỏi vào lòng người đọc. Ở đó, có bóng dáng một người mẹ già, một khu vườn đầy trái chín, và cả những nỗi niềm chưa kịp nói thành lời.

Hình ảnh người mẹ hiện lên thật giản dị: mái tóc bạc trắng, dáng người gầy gò, bàn tay nhăn nheo. Bà sống giữa khu vườn cau trĩu quả – nơi “cái gì cũng chín”. Nhưng dường như, chính cuộc đời bà lại chất chứa nhiều mất mát hơn là đủ đầy.

Quá khứ của bà là một bản hùng ca lặng lẽ. Không tiếng súng, không chiến công hiển hách, nhưng từng bước chân đi giao liên, từng gánh ve chai đều góp phần vào cuộc kháng chiến. Bà là minh chứng cho vẻ đẹp của những con người bình thường mà vĩ đại. Thế nhưng, hiện tại của bà lại nhuốm màu cô đơn. Những đứa con trưởng thành, mỗi người một nơi, dần xa rời vòng tay mẹ. Bà chỉ còn biết gửi gắm tình thương qua những món quà quê giản dị, qua những lời hỏi thăm mộc mạc.

Kết thúc câu chuyện, người đọc không khỏi tự hỏi: phải chăng trong cuộc sống bận rộn, con người đã vô tình quên mất những điều giản dị nhất? Tình mẹ không ồn ào, nhưng lại là điều thiêng liêng nhất mà ta có.

Viết bài văn phân tích tác phẩm (truyện): Người mẹ vườn cau - mẫu 10

Trong truyện ngắn “Người mẹ vườn cau”, tác giả không chỉ kể lại một kỉ niệm tuổi thơ mà còn khắc họa một hình tượng giàu ý nghĩa: người mẹ nông thôn âm thầm hi sinh cả cuộc đời vì con cái và đất nước. Qua đó, câu chuyện gợi lên nhiều suy ngẫm về tình mẫu tử và thái độ của con cái đối với đấng sinh thành.

Trước hết, hình ảnh “người mẹ vườn cau” hiện lên trong một không gian rất đỗi quen thuộc của làng quê. Đó là khu vườn đầy trái chín, là mái nhà lá đơn sơ, là bữa cơm nghèo nhưng ấm áp. Những chi tiết ấy không chỉ gợi nên cuộc sống thiếu thốn mà còn tạo nên một thế giới đậm chất tình người. Trong thế giới ấy, người mẹ là trung tâm – vừa lam lũ, vừa bao dung, luôn dành cho con cháu sự yêu thương chân thành.

Đặc biệt, hình ảnh vườn cau mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Cau chín đỏ, trái ngọt đầy vườn gợi lên sự đủ đầy của thiên nhiên, nhưng lại đối lập với cuộc đời nhiều mất mát của người mẹ. Bà đã hi sinh tuổi trẻ cho cách mạng, mất đi những người con thân yêu, để rồi khi hòa bình lập lại, bà sống trong cảnh cô đơn. Như vậy, “vườn cau” không chỉ là không gian sống mà còn là biểu tượng cho một cuộc đời vừa trĩu nặng hi sinh vừa lặng lẽ chịu đựng.

Một điểm đáng chú ý khác là sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật “tôi”. Từ chỗ ngây thơ không hiểu “anh hùng” là gì, đến khi nhận ra bà nội – người bán ve chai – cũng là một anh hùng, đó là quá trình trưởng thành về suy nghĩ. Qua góc nhìn của đứa trẻ, hình ảnh người mẹ càng trở nên chân thực và cảm động hơn.

Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc ca ngợi người mẹ mà còn đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ: sự vô tâm của con cái. Khi cuộc sống thay đổi, người cha dần ít quan tâm đến mẹ, coi việc chăm sóc là trách nhiệm của người khác. Chính sự xa cách ấy làm nổi bật nỗi cô đơn của người mẹ già. Những món quà quê giản dị hay niềm vui nhỏ bé của bà khi thấy con trên tivi lại càng khiến người đọc xót xa.

Từ đó, tác phẩm gửi gắm một thông điệp sâu sắc: tình mẹ luôn bền bỉ, hi sinh và không đòi hỏi, nhưng con cái cần biết trân trọng và đáp đền. Đừng để khoảng cách của thời gian và cuộc sống làm phai nhạt tình thân.

Có thể nói, “Người mẹ vườn cau” không chỉ là một câu chuyện cảm động mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà thấm thía. Nó khiến mỗi người tự nhìn lại chính mình, để biết yêu thương và quan tâm đến cha mẹ nhiều hơn, khi vẫn còn có thể.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học