Soạn bài Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại - Kết nối tri thức

Với soạn bài Phần 1: Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn giúp học sinh dễ dàng làm bài tập Chuyên đề học tập Ngữ văn 12.

Soạn bài Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại - Kết nối tri thức

Quảng cáo

* Yêu cầu

- Hiểu được các hướng nghiên cứu khác nhau đối với văn học hiện đại.

- Lựa chọn được hướng nghiên cứu, đề tài nghiên cứu, xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu phù hợp.

- Vận dụng được các khái niệm, thao tác nghiên cứu thích đáng để xây dựng đề cương cho một đề tài nghiên cứu văn học hiện đại.

I. Nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại

1. Đọc bài viết tham khảo

Bài viết: Thế giới tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu (Trần Ngọc Hiếu)

* Phân tích bài viết tham khảo

1. Giới thiệu vấn đề, cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu.

- Vấn đề: Sự thể hiện tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu.

- Cách tiếp cận: Bắt đầu tự việc tìm hiểu ý niệm về tuổi già trong văn hóa, khảo sát thế giới nhân vật và kí hiệu về tuổi già; từ đó, làm nổi bật cảm quan của nhà văn về con người và thời thế trong sự liên hệ với một số nhà văn thời kì Đổi mới.

- Phạm vi: Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu.

Quảng cáo

2. Trình bày các kết quả nghiên cứu chính.

- Tuổi già không có mốc tuổi cố định, mà phụ thuộc vào bối cảnh văn hoá – lịch sử; quan niệm xưa (như thời Dante) không còn phù hợp với xã hội hiện đại khi tuổi thọ tăng lên.

- Tuổi già không chỉ được xác định bằng dấu hiệu sinh học (da nhăn, tóc bạc, sức khoẻ giảm) mà còn qua trạng thái tâm lí – xã hội (cảm giác mệt mỏi, nhiều trải nghiệm, địa vị, quyền uy hay sự bị lạc hậu).

- Tuổi già là một kiến tạo văn hoá – xã hội, gắn với cách xã hội gán cho người già những phẩm chất, quyền lực, vị thế và giới hạn nhất định trong từng ngữ cảnh cụ thể.

3. Diễn giải khái niệm chính được sử dụng trong bài nghiên cứu.

Khái niệm chính trong bài nghiên cứu “tuổi già”: là một ý niệm mang tính giao cắt: vừa là một hiện tượng thuộc về quá trình sinh lí của con người, vừa là một kiến tạo văn hóa; vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, lại vừa hàn gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù.

4. Trình bày các luận điểm chính về cảm quan hiện đại trong các truyện ngắn viết về tuổi già của Nguyễn Minh Châu.

Các luận điểm chính: Tính bi kịch của nhân vật tuổi già trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nằm ở chỗ chính vào khoảnh khắc chạm vào ngưỡng cuối cùng của đời người, họ đối mặt với cuộc khủng hoảng hiện sinh không thể né tránh.

Quảng cáo

5. Nêu luận điểm.

Luận điểm: Cỏ lauPhiên chợ Giát – hai tác phẩm quan trọng nhất trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu sau 1975, cũng là hai tác phẩm đào sâu vào những khủng hoảng hiện sinh xuất hiện đúng vào thời điểm con người chạm ngưỡng của sự già.

6. Phân tích các ví dụ để chứng minh luận điểm.

- Motif trở về của Lực: Trở về không mang ý nghĩa đoàn tụ mà gây cảm giác lạc lõng, bị phủ nhận, bộc lộ khủng hoảng hiện sinh.

- Đối diện ảnh thời trẻ: Lực xa lạ với chính mình, ý thức rõ sự già đi và đứt gãy bản thể.

- Không gian hậu chiến: Cỏ lau, núi Tử Sĩ, trò chơi trận giả làm mất ý nghĩa hi sinh, tạo cảm giác trống rỗng.

- Nhận thức về chiến tranh: Chiến tranh chia cắt đời người, để lại chấn thương tinh thần kéo dài.

7. Nêu luận điểm.

- Luận điểm: Đến cuối đời, cái mà người ta nhận ra được là sự mất ý nghĩa của tất cả những gì từng khiến con người phải nhọc lòng.

Quảng cáo

8. Phân tích ví dụ để làm sáng tỏ luận điểm.

Ví dụ về lão Khúng cho thấy con người có thể không tìm thấy ý nghĩa đời mình, mà ngược lại nhận ra sự vô nghĩa của những gì từng dốc sức theo đuổi. Cuộc đời khai hoang của lão giống hành động Sisyphus đẩy đá: lao lực nhưng vô vọng. Hành động thả con bò về rừng tuy vô ích về kết quả nhưng là một lựa chọn hiện sinh, giúp lão giữ lại tư cách làm người. Qua đó, luận điểm được làm rõ: ý nghĩa không nằm ở kết cục mà ở khoảnh khắc tự do đạo đức trong hành động.

9. So sánh, mở rộng vấn đề.

- So sánh:

+ Giống Sisyphus, lão Khúng nhận ra đời mình là một vòng lao lực vô nghĩa nếu nhìn từ kết cục: khai hoang, bám đất nhưng vẫn bị hoang vu bao vây.

+ Gần với Santiago, lão Khúng khẳng định tư cách làm người không bằng kết quả mà bằng lựa chọn đạo đức ở thời khắc quyết định: thả con bò để giải thoát cho nó cũng là giải thoát cho chính mình.

- Mở rộng vấn đề: trong đời sống, con người dễ rơi vào cảm giác vô nghĩa khi nhìn lại cả một đời đã qua. Tuy nhiên, ý nghĩa sống không nằm ở thành tựu cuối cùng mà ở khoảnh khắc con người giữ được tự do nội tại và nhân tính, dù chỉ ngắn ngủi.

10. Trích dẫn tài liệu tham khảo khác để củng cố cho luận điểm.

- Hoàng Ngọc Hiến: hành động thả bò của lão Khúng là “ảo tưởng tự do hoang dã”, cho thấy nếu nhìn từ kết cục, đời người có thể rơi vào cảm giác vô nghĩa, luẩn quẩn.

- Độc thoại của lão Khúng (“một công việc vô cùng vô nhân đạo…”) khẳng định việc giữ tư cách làm người là giá trị cốt lõi, quan trọng hơn mọi thành quả vật chất.

- So sánh với Santiago (Ông già và biển cả): ý nghĩa sống không nằm ở kết quả mà ở tự do nội tại và nhân tính trong hành động.

11. Nêu luận điểm.

Luận điểm: Khủng hoảng hiện sinh ở nhân vật tuổi già trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu còn được khắc họa ở những trải nghiệm ăn năn, sám hối và ý thức chuộc tội.

12. Phân tích ví dụ để làm sáng tỏ luận điểm.

- Ở Cỏ lau, khủng hoảng hiện sinh của Lực thể hiện qua ý thức tội lỗi và sám hối: anh nhận ra chiến tranh không chỉ là chiến công mà còn gây đổ nát, ly tán, cái chết cho người khác. Lực tự xem mình là “một con người của chiến tranh”, chấp nhận sống cô độc như một cách chuộc tội cho những mất mát mình gây ra.

- Ở Phiên chợ Giát, lão Khúng rơi vào khủng hoảng đạo đức khi đối diện phần tăm tối trong chính mình qua cơn ác mộng giết bò. Nỗi sợ trước khả năng trở nên tàn nhẫn dẫn đến ăn năn, sám hối nội tâm, thúc đẩy hành động giải thoát con bò – một lựa chọn mang ý nghĩa chuộc lỗi và giữ lại nhân tính.

13. So sánh, mở dộng vấn đề.

- So với Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) – nơi người già tuy lạc lõng nhưng vẫn có khả năng thức tỉnh, kết nối và hòa giải thế hệ, thế giới người già trong truyện Nguyễn Minh Châu u ám hơn: họ cô độc, mất con cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, bất lực trước chính gia đình mình, chỉ còn con đường tự vấn, ăn năn, sám hối.

- Đặt cạnh Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), người già của Nguyễn Minh Châu chưa hoàn toàn “lạc loài” theo nghĩa tuyệt vọng. Họ vẫn giữ ý thức đạo đức, còn niềm tin vào sự tự thanh lọc nội tâm, trong khi Nguyễn Huy Thiệp cho thấy sự suy giảm triệt để vị thế và tiếng nói của người già trong một xã hội thời bình đầy xáo trộn, khó cứu chữa.

14. Tóm tắt nội dung chính; mở rộng, nâng cao vấn đề.

- Nội dung chính: Thế giới tuổi giad trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là thế giới mang nhiều nếm trải bi kịch.

- Mở rộng, nâng cao vấn đề:

+ Yêu cầu về sự trung thực không chỉ dành cho nhân vật mà còn là nguyên tắc sáng tác Nguyễn Minh Châu tự đặt ra cho bản thân.

+ Chính tinh thần tự vấn, sám hối và trung thực ấy làm nên chiều sâu tư tưởng và sức sống lâu bền cho văn chương Nguyễn Minh Châu.

2. Thực hành nghiên cứu

2.1. Tìm hiểu khái niệm

Cảm quan nghệ thuật

Cảm quan nghệ thuật là tổng hòa những sự cảm nhận, quan niệm, lí giải về thế giới và con người của chủ thể sáng tạo. Cảm quan nghệ thuật được thể hiện thông qua cách xây dựng hệ thống nhân vật, hình ảnh, biểu tượng; sử dụng các mô típ không gian, thời gian; tổ chức điểm nhìn; lựa chọn giọng điệu;... trong tác phẩm văn học.

Cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại

Nếu như văn học trung đại thường miêu tả con người trong mối quan hệ hoà hợp với vũ trụ, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức của cộng đồng, thì văn học hiện đại quan tâm tới con người cá nhân với sự phong phú, phức tạp của cảm xúc, cảm giác, thậm chí của tiềm thức, vô thức; mô tả những chiều kích trần thế của con người như thân thể, bản năng,...; nhấn mạnh sự độc lập tư tưởng của con người. Ví dụ, Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam đi sâu khám phá thế giới vô cùng phong phú và tinh tế của cảm giác khi Thanh trở về căn nhà đá gắn bó với mình từ thời thơ ấu. Trong Chí Phèo, Nam Cao chú ý miêu tả những trạng thái phi lí trí của con người: nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức của Chí Phèo khi bước chân vào nhà bá Kiến sau khi ra tù, cuộc sống chìm trong vô thức của Chí Phèo lúc làm tay sai cho bá Kiến, hành động đến nhà bá Kiến để trả thù,... Sự đề cao cá nhân, đối lập cá nhân với toàn bộ tồn tại cũng tạo nên cảm thức cô đơn, bất an thường trực trong văn học hiện đại.

Nếu thời gian trong văn học trung đại là thời gian vũ trụ, mang tính chất tuần hoàn, thời gian quá khứ lịch sử đã hoàn tất, thì thời gian trong văn học hiện đại gắn liền với cảm thụ của cá nhân về thế giới. Văn học hiện đại đề cao hiện tại, nhấn mạnh sự trôi chảy, một đi không trở lại của thời gian, thể hiện nỗi lo âu, bất an của con người trước sự phôi pha của thời gian “Cái bay không đợi cái trôi/ Từ tôi phút trước sang tôi phút này” (Xuân Diệu). Miêu tả thời gian gắn với cảm thụ cá nhân về thế giới, văn học hiện đại cũng phát hiện ra sự biến dạng của thời gian trong ý thức con người. Đi tìm thời gian đã mất của Mác-xen Prút (Marcel Proust), Uy-li-xơ của Giêm Gioi-xi (James Joyce), Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu,... đều miêu tả dòng thời gian không ngừng bị đảo ngược, kéo căng, dồn nén, đứt đoạn,... theo dòng ý thức của nhân vật. Nếu không gian trong văn học trung đại chủ yếu là không gian vũ trụ, thì không gian trong văn học hiện đại là không gian cá nhân, gắn liền với cảm xúc, trải nghiệm, cảnh ngộ, số phận của mỗi cá nhân. “Rừng” trong Nhớ rừng của Thế Lữ gắn liền với niềm khao khát tự do của con hổ bị giam cầm. “Nhà” trong thơ Xuân Quỳnh là không gian ấm cúng của tình yêu. Văn học hiện đại cũng tái hiện một hiện thực rất đa dạng, trong đó có cả huyền thoại, những điều phi lí, bất khả giải.

Nếu văn học trung đại đề cao sự khuôn mẫu, những chuẩn mực của quá khứ, truy tìm một cái đẹp thuần khiết, thì văn học hiện đại đề cao cái đẹp mang tính chất cá biệt, coi trọng sự độc đáo, phá cách, mới mẻ, miêu tả cái đẹp trong sự dung hợp với cái xấu, cái nghịch dị, thô kệch. Quan niệm thẩm mĩ này được thể hiện qua sự đa dạng và cách tân không ngừng của thể loại, các khuynh hướng sáng tác, các thủ pháp nghệ thuật.

2.2. Xác định đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

- Xác định đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là sự vật, hiện tượng cần được xem xét, khảo sát trong một đề tài khoa học. Bởi nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại là hướng tiếp cận phương diện chủ thể của sáng tạo nghệ thuật nên có thể lựa chọn đối tượng nghiên cứu là một quan niệm, triết lí, cách kiến giải của nhà văn về thế giới, con người, cái đẹp (ví dụ: Nghiên cứu quan niệm về tuổi trẻ trong thơ Xuân Diệu; Nghiên cứu quan niệm về cái đẹp trong tác phẩm của Nam Cao; Nghiên cứu quan niệm về cái hoang dã trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp;...); hoặc nghiên cứu quan niệm, diễn giải của nhà văn về thế giới và con người được biểu đạt một cách gián tiếp qua hệ thống hình tượng, biểu tượng trong tác phẩm (ví dụ: Nghiên cứu về kiểu nhân vật anh hùng trong văn học cách mạng; Nghiên cứu về biểu tượng khu vườn trong Thơ mới;...).

- Xác định phạm vi nghiên cứu: Để có thể khảo sát được một cách kî lưỡng về vấn đề, cần đặt ra những giới hạn cho để tài nghiên cứu sao cho phù hợp với năng lực, thời gian và điều kiện của mình. Chẳng hạn, khi nghiên cứu quan niệm về cái hoang dã trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp, có thể giới hạn phạm vi đề tài vào một tác phẩm (ví dụ: Muối của rừng), hoặc một nhóm tác phẩm (ví dụ: các truyện ngắn trong tập Những ngọn gió Hua Tát).

- Xác định mục đích nghiên cứu: Cần trả lời câu hỏi Nghiên cứu để làm gì? Ví dụ, khi nghiên cứu đề tài Quan niệm về cái hoang dã trong "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, mục đích nhằm khẳng định: Nguyễn Huy Thiệp đã mang lại cái nhìn mới mẻ về tự nhiên so với các tác giả của giai đoạn văn học trước, thậm chí so với các nhà văn cùng thời.

2.3. Thu thập, phân tích và xử lí thông tin

Ngoài việc đọc các tài liệu nghiên cứu về vấn đề bạn quan tâm, cần đọc kĩ các tác phẩm văn học nhằm nhận diện yếu tố thể hiện cảm quan nghệ thuật trong tác phẩm. Dưới đây là một số gợi ý:

- Nhận diện quan niệm nghệ thuật về con người được thể hiện qua cách miêu tả nhân vật, tổ chức hình tượng, sử dụng biểu tượng, điểm nhìn; qua cách nhận xét, đánh giá của người trần thuật hoặc chân vật trữ tình.

- Nhận diện quan niệm nghệ thuật về thế giới được thể hiện qua những biểu tượng lặp đi lặp lại; qua các mô típ không gian, thời gian, cốt truyện trong tác phẩm.

- Nhận diện quan niệm thẩm mĩ được thể hiện qua cách xây dựng hình tượng; cách sử dụng ngôn từ; các thủ pháp nghệ thuật;...

Ngoài ra, để lí giải, cắt nghĩa căn nguyên của những cảm quan nghệ thuật riêng biệt, độc đáo đó, cần đọc thêm các tài liệu về tiểu sử nhà văn, bối cảnh thời đại, các tư tưởng triết học, tôn giáo, nghệ thuật ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan, lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Trong khi đọc, cần sử dụng các thao tác thu thạ̀p, phân tích và xử lí thông tin đã được hướng dẫn trong sách giáo khoa Chuyên đề học tập Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 để lĩnh hội thông tin một cách hiệu quả.

Câu hỏi 1 (trang 15 Chuyên đề Ngữ văn 12): Xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận của tác giả.

Trả lời:

- Đối tượng: thế giới tuổi già.

- Phạm vi nghiên cứu: truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu.

- Cách tiếp cận được sử dụng: nghiên cứu diễn ngôn.

Câu hỏi 2 (trang 15 Chuyên đề Ngữ văn 12): Khái niệm chính được sử dụng trong bài viết là gì? Tác giả đã diễn giải khái niệm đó như thế nào?

Trả lời:

- Khái niệm chính được sử dụng trong bài viết là “tuổi già”.

- Tác giả đã chỉ ra tuổi già là một ý niệm mang tính giao cắt, vừa là một hiện tượng mang tính chất sinh lí, vừa là một kiến tạo văn hóa, vừa biểu hiện ở những đặc điểm và triệu chứng thể chất, vừa gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù.

Câu hỏi 3 (trang 15 Chuyên đề Ngữ văn 12): Khái quát những kết luận chính của tác giả. Tác giả căn cứ vào đâu để đưa ra những kết luận đó?

Quảng cáo

Trả lời:

- Những kết luận chính của tác giả:

+ Thứ nhất, tuổi già là một kiến tạo văn hóa, gắn với những trải nghiệm tinh thần đặc thù mà không đơn thuần là một hiện tượng sinh lí với những biểu hiện về mặt thể chất.

+ Thứ hai, khủng hoảng hiện sinh là cảm quan bao trùm lên tất cả các truyện ngắn viết về tuổi già của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975.

- Tác giả dựa trên những cơ sở nghiên cứu để đưa ra những kết luận đó:

+ Quan sát, khái quát đặc điểm của thế giới nhân vật người già trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975.

+ Chọn lọc và phân tích những dẫn chứng tiêu biểu, sát hợp, đắt giá để làm nổi bật luận điểm.

+ So sánh với sáng tác của các nhà văn khác để làm nổi bật cảm quan riêng về thế giới trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu.

Câu hỏi 4 (trang 15 Chuyên đề Ngữ văn 12): Tác giả đã sử dụng những thao tác nào để làm sáng tỏ các luận điểm chính?

Quảng cáo

Trả lời:

- Những thao tác được tác giả sử dụng để làm sáng tỏ các luận điểm chính: chứng minh, liên hệ, phân tích để làm sáng tỏ luận điểm chính.

Câu hỏi 5 (trang 15 Chuyên đề Ngữ văn 12): Các trích dẫn, tài liệu tham khảo được trình bày như thế nào và có ý nghĩa gì?

Trả lời:

Cách trích dẫn tài liệu tham khảo được lồng ghép khi phân tích so sánh, mở rộng vấn đề. Có tác dụng để củng cố thêm cho tính thuyết phục của luận điểm.

2. Thực hành nghiên cứu

2.1. Tìm hiểu khái niệm

Cảm quan nghệ thuật

Cảm quan nghệ thuật là tổng hòa những sự cảm nhận, quan niệm, lí giải về thế giới và con người của chủ thể sáng tạo. Cảm quan nghệ thuật được thể hiện thông qua cách xây dựng hệ thống nhân vật, hình ảnh, biểu tượng; sử dụng các mô típ không gian, thời gian; tổ chức điểm nhìn; lựa chọn giọng điệu;... trong tác phẩm văn học.

Cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại

Nếu như văn học trung đại thường miêu tả con người trong mối quan hệ hoà hợp với vũ trụ, tôn giáo, chuẩn mực đạo đức của cộng đồng, thì văn học hiện đại quan tâm tới con người cá nhân với sự phong phú, phức tạp của cảm xúc, cảm giác, thậm chí của tiềm thức, vô thức; mô tả những chiều kích trần thế của con người như thân thể, bản năng,...; nhấn mạnh sự độc lập tư tưởng của con người. Ví dụ, Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam di sâu khám phá thế giới vô cùng phong phú và tinh tế của cảm giác khi Thanh trở về căn nhà đá gắn bó với mình từ thời thơ ấu. Trong Chí Phèo, Nam Cao chú ý miêu tả những trạng thái phi lý trí của con người: nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức của Chí Phèo khi bước chân vào nhà bá Kiến sau khi ra tù, cuộc sống chìm trong vô thúc của Chí Phèo lúc làm tay sai cho bá Kiến, hành đọ̀ng đến nhà bá Kiến để trả thù,... Sự đế cao cá nhân, đối lạ̀p cá nhân với toàn bộ tồn tại cũng tạo nên cảm thức cô đơn, bất an thường trực trong văn học hiện đại.

Quảng cáo

Nếu văn học trung đại đề cao sự khuôn mẫu, những chuẩn mực của quá khứ, truy tìm một cái đẹp thuần khiết, thì văn học hiện đại đề cao cái đẹp mang tính chất cá biệt, coi trọng sự độc đáo, phá cách, mới mẻ, miêu tả cái đẹp trong sự dung hợp với cái xấu, cái nghịch dị, thô kệch. Quan niệm thẩm mĩ này được thể hiện qua sự đa dạng và cách tân không ngừng của thể loại, các khuynh hướng sáng tác, các thủ pháp nghệ thuật.

2.2. Xác định đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

- Xác định đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là sự vật, hiện tượng cần được xem xét, khảo sát trong một đề tài khoa học. Bởi nghiên cứu cảm quan nghệ thuật trong văn học hiện đại là hướng tiếp cận phương diện chủ thể của sáng tạo nghệ thuật nên có thể lựa chọn đối tượng nghiên cứu là một quan niệm, triết lí, cách kiến giải của nhà văn về thế giới, con người, cái đẹp; hoặc nghiên cứu quan niệm, diễn giải của nhà văn về thế giới và con người được biểu đạt một cách gián tiếp qua hệ thống hình tượng, biểu tượng trong tác phẩm.

- Xác định phạm vi nghiên cứu: Để có thể khảo sát được một cách kî lưỡng về vấn đề, cần đặt ra những giới hạn cho để tài nghiên cứu sao cho phù hợp với năng lực, thời gian và điều kiện của mình.

- Xác định mục đích nghiên cứu: Cần trả lời câu hỏi Nghiên cứu để làm gì? Ví dụ, khi nghiên cứu đề tài Quan niệm về cái hoang dã trong "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp, mục đích nhằm khẳng định: Nguyễn Huy Thiệp đã mang lại cái nhìn mới mẻ về tự nhiên so với các tác giả của giai đoạn văn học trước, thậm chí so với các nhà văn cùng thời.

2.3. Thu thập, phân tích và xử lí thông tin

Ngoài việc đọc các tài liệu nghiên cứu về vấn đề bạn quan tâm, cần đọc kĩ các tác phẩm văn học nhằm nhận diện yếu tố thể hiện cảm quan nghệ thuật trong tác phẩm. Dưới đây là một số gợi ý:

- Nhận diện quan niệm nghệ thuật về con người được thể hiện qua cách miêu tả nhân vật, tổ chức hình tượng, sử dụng biểu tượng, điểm nhìn; qua cách nhận xét, đánh giá của người trần thuật hoặc chân vật trữ tình.

- Nhận diện quan niệm nghệ thuật về thế giới được thể hiện qua những biểu tượng lặp đi lặp lại; qua các mô típ không gian, thời gian, cốt truyện trong tác phẩm.

- Nhận diện quan niệm thẩm mĩ được thể hiện qua cách xây dựng hình tượng; cách sử dụng ngôn từ; các thủ pháp nghệ thuật;...

Ngoài ra, để lí giải, cắt nghĩa căn nguyên của những cảm quan nghệ thuật riêng biệt, độc đáo đó, cần đọc thêm các tài liệu về tiểu sử nhà văn, bối cảnh thời đại, các tư tưởng triết học, tôn giáo, nghệ thuật ảnh hưởng đến thế giới quan, nhân sinh quan, lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Trong khi đọc, cần sử dụng các thao tác thu thạ̀p, phân tích và xử lí thông tin đã được hướng dẫn trong sách giáo khoa Chuyên đề học tập Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 để lĩnh hội thông tin một cách hiệu quả.

II. Nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại

1. Đọc bài viết tham khảo

Bài viết: Ông già và biển cả - cốt truyện và điểm nhìn; hiện thực và biểu tượng (Đặng Anh Đào)

Trả lời câu hỏi giữa bài

1. Cách đặt vấn đề ngắn gọn, súc tích nhưng giàu tính thông tin.

Vấn đề: Làm rõ nét mới và độc đáo của Ông già và biển cả trong mối liên hệ với sáng tác trước đó của Hemingway, qua đó khẳng định tác phẩm vừa kế thừa vừa phát triển sâu sắc hình tượng người anh hùng và nghệ thuật kể chuyện của nhà văn.

2. Luận điểm được triển khai từ nhiều góc độ.

Luận điểm: Tính chất gần như không có cốt truyện của Ông già và biển cả.

3. Sử dụng thao tác so sánh.

- Những tác phẩm nổi tiếng về đối thoại như Giã từ vũ khí, Mặt trời vẫn mọc, Thiên đường đã mất có điểm nhìn đặt từ bên ngoaid vào còn Ông già và biển cả điểm nhìn được di động vào bên trong.

4. Các lí lẽ, dẫn chứng được trình bày để chứng minh cho luận điểm.

- Lí lẽ: Trong một cuốn tiểu thuyết, những quan hệ xã hội trước hết có thể xuất hiện qua quan hệ giữa các nhân vật.

- Dẫn chứng: mối liên hệ giữa các nhân vật xuất hiện rất ít, chủ yếu qua ông giad Xan-ti-a-gô và chú bé Ma-nô-lin.

5. Kết nối vấn đề đang được bàn luận với các vấn đề liên quan rộng lớn hơn.

Vấn đề: Thời gian tương lai, chiều thứ ba của thực tế ở đây xuất hiện một cách hàm ẩn, qua một biểu tượng: chú bé Ma-nô-lin.

6. Sử dụng trích dẫn làm tăng sức thuyết phục cho luận điểm.

Trích dẫn: “Con người bị kết án phải chết và phải sống, nhưng họ có thể tìm thấy nguồn khuây khỏa trong ý nghĩ mà Rô-bớt Gio-đan đã linh cảm thấy và ông già đánh cá biết thể nghiệm đến cùng, khi hiểu được rằng không ai phải cô đơn nơi biển cả. Tiếp nối ý niệm về sự cô đơn khôn thể tiêu diệt nổi của nhân vật, kết thúc tác phẩm này là suy tưởng về sự liên kết toàn vũ trụ; nó gắn bó với tất cả mọi vật và mọi người”.

7. Phân tích các phương diện khác nhau để làm rõ tính chất “biểu tượng” của nhân vật.

Các phương diện được phân tích: ngôn từ của nhân vật, hành động của nhân vật.

8. Các bình luận mang tính liên tưởng.

- Liên tưởng hình ảnh ông lão với Chúa Giê-su qua bàn tay bị thương và tư thế chịu đau đớn → gợi ý nghĩa hi sinh, cứu rỗi.

- Tên Xan-ti-a-gô được hiểu như một biểu tượng (liên hệ Thánh Igo), làm tăng chiều kích tôn giáo – huyền thoại cho nhân vật.

- Không khí truyện được liên tưởng như một huyền thoại cổ xưa (“ngày xửa ngày xưa”), vượt khỏi thời gian lịch sử cụ thể, tạo sắc thái siêu thời gian cho tác phẩm.

9. Sử dụng kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác.

- Kết quả của các nhà nghiên cứu khác: “Lòng dũng cảm, ý chí quyết thắng, sự hợp đồng lớn lao với biển, với đất và trời, cá và chim: tác phẩm khích lệ những tình cảm giản dị và thuần khiết ấy, dù có lấy khung cảnh nước ngoài chăng nữa, vẫn mang tính chất Mỹ một cách sâu sắc”. (Mi-sen Mô-hớt – Michel Mohort).

10. Kết bài theo hướng tổng kết và gợi mở.

- Tổng kết: Xan-ti-a-gô giống như một biểu tượng về cuộc đấu tranh của con người hiện đại trên thế giới này.

- Gợi mở: Tuy nhiên, bên cạnh ông, vẫn còn chú ké Ma-nô-lin đang nhìn ông mơ giấc mơ sư tử, đang khóc vì bàn tay rách nát của ông,...

Câu hỏi 1 (trang 23 Chuyên đề Ngữ văn 12): Nhan đề “Ông già và biển cả - cốt truyện và điểm nhìn; hiện thực và biểu tượng cho bạn biết gì về phạm vi nghiên cứu của bài viết?

Trả lời:

Phạm vi nghiên cứu: cốt truyện và điểm nhìn; hiện thực và biểu tượng trong Ông già và biển cả.

Câu hỏi 2 (trang 23 Chuyên đề Ngữ văn 12): Mục đích của bài viết được thể hiện như thế nào trong phần mở đầu?

Trả lời:

- Mục đích nghiên cứu của bài viết khẳng định phong cách sáng tác độc đáo của tác giả và vị trí của Hê-minh-uê trong nền văn học hiện đại thế giới.

Câu hỏi 3 (trang 23 Chuyên đề Ngữ văn 12): Bài viết đã phân tích các yếu tố nghệ thuật nào trong tiểu thuyết Ông già và biển cả? Từ những phân tích đó, tác giả đã rút ra những kết luận gì?

Trả lời:

- Bài viết đã phân tích yếu tố nghệ thuật như độc thoại nội tâm, phân tích tác phẩm từ điểm nhìn để thấy được chiều sâu của nhân vật trong tác phẩm. Các yếu tố nghệ thuật bao gồm cốt truyện, điểm nhìn, nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ độc thoại, không gian và thời gian nghệ thuật, biểu tượng.

Câu hỏi 4 (trang 23 Chuyên đề Ngữ văn 12): Dựa vào những hiểu biết của bạn về văn học hiện đại đã được học trong chuyên đề, hãy bình luận về nhận định ở phần kết: “Xan-ti-a-gô giống như một biểu tượng về cuộc đấu tranh của con người hiện đại trên thế giới này”.

Trả lời:

- Phần kết của bài nghiên cứu có tính mở, mời gọi các bình luận và suy tưởng khác nhau, đó cũng là tinh thần của văn học hiện đại. Lão ngư dân Xan-ti-a-gô trong tác phẩm "Ông già và biển cả" hiện lên như một hình ảnh biểu tượng cho cuộc đấu tranh của con người hiện đại. Cuộc đời của ông là một hành trình gian khổ, đầy thử thách và cũng đầy ý nghĩa. Xan-ti-a-gô là một lão ngư dân nghèo khổ, sống trong cảnh túng thiếu và cô đơn. Tuy nhiên, con người hiện đại cũng có thể vượt qua mọi khó khăn nếu họ có ý chí kiên định và nghị lực phi thường. Xan-ti-a-gô là minh chứng cho điều đó. Mặc dù già yếu và gặp nhiều khó khăn, ông vẫn dũng cảm ra khơi đánh bắt cá lớn và chiến thắng con cá marlin khổng lồ.Như vậy, nhận định "Xan-ti-a-gô giống như một biểu tượng về cuộc đấu tranh của con người hiện đại trên thế giới này" là hoàn toàn đúng đắn. Xan-ti-a-gô là một hình ảnh đẹp về con người hiện đại, với những phẩm chất tốt đẹp như lòng dũng cảm, kiên cường, ý chí và nghị lực phi thường. Hình ảnh của Xan-ti-a-gô sẽ mãi là nguồn cảm hứng cho con người trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ để chiến thắng mọi khó khăn và thử thách.

Câu hỏi 5 (trang 23 Chuyên đề Ngữ văn 12): Sau khi đọc bài viết, bạn có hứng thú tìm đọc thêm các tác phẩm khác của Hê-minh-uê không? Tại sao?

Trả lời:

Em rất hứng thú tìm đọc thêm các tác phẩm của Hê-minh-uê. Hê-minh-uê, nhà văn người Mỹ, được mệnh danh là "cha đẻ của tảng băng trôi" với lối viết giản lược, sử dụng ngôn ngữ một cách tiết kiệm nhưng đầy hiệu quả. Nhiều tác giả Hoa Kỳ đương đại suy tôn ông làm người khai sinh ra trường phái Chủ nghĩa cực hạn (Minimalism). Một trường phái văn học xuất hiện ở Hoa Kỳ từ những năm 1920 với phương châm sáng tạo cơ bản là tinh giản văn chương đến mức tối đa, kiệm lời và kiệm cả cảm xúc...

2. Thực hành nghiên cứu

2.1. Tìm hiểu khái niệm

Cách tân nghệ thuật là những đổi mới, sáng tạo trong các tác phẩm nghệ thuật trên nhiều phương diện như thể loại, ngôn từ, thủ pháp, kĩ thuật biểu đạt,... Do ý thức đề cao cá tính, coi trọng sự tự do biểu đạt của người nghệ sĭ, văn học hiện đại có rất nhiều cách tân, thậm chí là đột phá về nghệ thuật.

Về thể loại, các nhà văn hiện đại có xu hướng phá vỡ những quy phạm, chuẩn mực của các thể loại truyền thống và không ngừng sáng tạo ra những thể loại mới như thơ tự do, phóng sự, truyện ngắn, truyện cực ngắn, tiểu thuyết điện ảnh, kịch tự sự, kịch phi lí,... Cấu trúc các thể loại cũng biến đổi một cách linh hoạt nhằm biểu đạt sự tự do sáng tạo và phong cách nghệ thuật riêng của từng nhà văn.

Về ngôn từ và thủ pháp nghệ thuật, văn học hiện đại khước từ những công thức, ước lệ, phát hiện ra những cách diễn đạt mới, khám phá những giới hạn mới của ngôn từ bằng những thử nghiệm nghệ thuật mang tính chất đột phá. Các nhà thơ tượng trưng sử dụng các biểu tượng, ám dụ để tạo nên sự mơ hồ, nhòe mờ về nghĩa, giúp văn học có thể diễn tả được sự màu nhiệm của vũ trụ và thế giới bí ẩn của trực giác. Các nhà thơ siêu thực lại thực hành lối viết tự động. Các nhà thơ đa sáng tạo thơ ca bằng cách kết hợp và sắp đặt ngẫu nhiên các từ ngữ trong từ điển. Mác-xen Prút, Giêm Gioi-xi, Uy-li-am Phoóc-nơ (William Faulkner), Ka-oa-ba-ta (Kwabata), Bảo Ninh,... sử dụng kĩ thuật dòng ý thức trong trần thuật tạo nên dòng chảy của những tư tưởng, cảm xúc, liên tưởng đan bện vào nhau tưởng như phi logic, phá vỡ tính chất tuyến tính của cốt truyện và sự xác định của nhân vật. Ban-dắc, Cáp-ca, Mác-két, Nguyễn Huy Thiệp,... sử dụng huyền thoại như một phương thức nghệ thuật để sáng tạo nên một hiện thực có thể được tri giác bằng lí trí và các giác quan, khiến cho tác phẩm trở nên mơ hồ, lung linh, đa nghĩa,... Những cách tân nghệ thuật này một mặt thể hiện cảm quan thẩm mĩ mới của thời hiện đại, trong đó đổi mới, sáng tạo, phá cách được coi là một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của cái đẹp; mặt khác, tạo nên sự phong phú và sức hấp dẫn đặc biệt của văn học hiện đại.

2.2. Xác định đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

- Xác định đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu có thể là cách tân nghệ thuật trên các phương diện khác nhau của văn học hiện đại như: thể loại, ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật.

- Xác định phạm vi nghiên cứu: Với báo cáo nghiên cứu về những cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại, có thể chọn một tác giả, tác phẩm hoặc một nhóm tác giả, tác phẩm (chọn nhóm tác phẩm theo trường phái hoặc thể loại văn học,...); một vài phương diện cách tân nghệ thuật.

Chẳng hạn, với bài viết tham khảo trên, người viết đã chọn tác giả là Hê-minh-uê, tiểu thuyết là Ông già và biển cả và một số phương diện cách tân nghệ thuật để nghiên cứu.

- Xác định mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại có thể nhằm các mục đích khác nhau: khẳng định giá trị của những cách tân nghệ thuật trong tác phẩm, xác định vị trí của tác phẩm trong sự nghiệp văn học của tác giả, làm rõ phong cách sáng tác của tác giả,...

2.3. Thu thập, phân tích và xử lí thông tin

Trong quá trình thu thập, phân tích và xử lí thông tin để viết bài nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại, cần lưu ý một số điểm sau:

- Tùy vào thể loại được lựa chọn, có thể trình bày cách tân trên các phương diện khác nhau và triển khai thành các luận điểm theo cách của riêng mình. Chẳng hạn, nếu là thơ: Tác phẩm đã thể hiện sự phá cách trong việc sử dụng từ ngữ, vần, nhịp, đối ra sao? Các hình ảnh trong bài thơ có gì khác biệt so với thơ ca truyền thống? Nhân vật trữ tình được đổi mới như thế nào? Nếu là kịch: Xung đột kịch có bị làm mờ nhạt hay bị xoá bỏ hay không? Tình huống trong vở kịch có gì mới so với kịch truyền thống? Tác phẩm đã xoá bỏ các công thức trong hành động và ngôn ngữ kịch ra sao? Nếu là truyện ngắn hay tiểu thuyết: Cốt truyện được đổi mới như thế nào? Tác giả xác lập điểm nhìn bên ngoài hay bên trong, cố định hay di động? Tác phẩm có tạo ra kiểu nhân vật mới nào hay không? Ngôn ngữ trong truyện có gì khác so với ngôn ngữ truyền thống?

- Qua việc tìm hiểu những cách tân nghệ thuật cụ thể trong tác phẩm, có thể tự đặt ra các câu hỏi mang tính khái quát như: Tác phẩm thể hiện cảm quan nghệ thuật mới về thế giới và con người như thế nào? Tác phẩm đã làm thay đổi sự hình dung vốn có về thể loại ra sao? Tác phẩm có khơi được dòng chảy nào mới cho văn học đương thời hay không? Sư "đối thoại" giữa tác phẩm với truyền thống văn học thể hiện ở những điểm nào? Tác phẩm cho người đọc thấy cá tính và phong cách sáng tác của tác giả ra sao?

Chẳng hạn, để hiểu rõ về bước thu thập, phân tích và xử lí thông tin trong văn bản "Ông già và biển cả" - cốt truyện và điểm nhìn; hiện thực và biểu tượng, có thể trả lời các câu hỏi gợi ý trong bảng sau:

Soạn bài Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại | Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức

Soạn bài Tìm hiểu một số hướng nghiên cứu văn học hiện đại | Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức

Một số lưu ý khi nghiên cứu cách tân nghệ thuật trong văn học hiện đại:

- Một vấn đề cách tân nghệ thuật có thể được soi chiếu dưới nhiều góc độ khác nhau và theo đó, cũng có thể triển khai bằng nhiều cách.

- Nghiên cứu cách tân nghệ thuật tức là nghiên cứu sự đổi mới. Để trình bày sự đổi mới một cách thuyết phục, luôn cần có ý thức liên hệ và so sánh, dù trực tiếp hay gián tiếp. Có thể liên hệ cái mới mà mình đang bàn luận với cái cũ, cái trước đó hoặc liên hệ, so sánh tác phẩm đang phân tích với các tác phẩm khác của cùng tác giả hay của các tác giả khác.

- Trong báo cáo nghiên cứu về cách tân nghệ thuật, nên có các ý tưởng mang tính gợi mở. Không nhất thiết phải tìm ra câu trả lời cho tất cả các ý tưởng, có thể chỉ cần đưa ra ý tưởng để người đọc tiếp tục suy nghĩ.

Tham khảo các bài soạn Chuyên đề Văn 12 Chuyên đề 1: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học hiện đại hay khác:

Xem thêm các bài Soạn Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 Kết nối tri thức hay, chi tiết khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 12 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học