Top 22 Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ (hay, ngắn gọn)

Tổng hợp các bài văn kể lại sự kiện lịch sử: chiến dịch Điện Biên Phủ hay nhất với dàn ý chi tiết giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.

Top 22 Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ (hay, ngắn gọn)

Quảng cáo

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 1

Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta.

Toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Diễn biến được chia làm ba đợt tiến công. Từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, ta tiêu diệt hai cứ điểm được tổ chức phòng ngự tốt nhất là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta chiếm xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại súng của ta. Quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợi 3 từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp.

Quảng cáo

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Việt Nam. Trước hết, thắng lợi này đã chấm dứt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ nhưng cũng đầy anh dũng của quân và dân ta. Đồng thời, chiến thắng lịch này đã đánh dấu một mốc son chói lọi vào lịch sử dân tộc và thời đại, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh thời đại. Với thất bại này, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại các nước Đông Dương. Đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia. Từ đó khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam. Đồng thời đã mở ra giai đoạn cách mạng mới để tiếp tục công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân một lòng chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Quảng cáo

Dàn ý Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ

a) Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về sự kiện lịch sử: Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

- Nêu ý nghĩa lớn lao của chiến thắng đối với dân tộc Việt Nam.

- Dẫn dắt vào sự việc có thật sẽ được kể lại.

b) Thân bài:

1. Hoàn cảnh lịch sử

- Cuối năm 1953, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nhằm thực hiện kế hoạch quân sự mới.

- Âm mưu của thực dân Pháp là tiêu diệt lực lượng chủ lực của ta.

- Đảng và Chính phủ ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.

2. Sự chuẩn bị của quân và dân ta

- Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

- Nhân dân cả nước tham gia phục vụ chiến dịch: vận chuyển lương thực, vũ khí.

- Tinh thần quyết tâm chiến đấu cao độ của quân và dân ta.

Quảng cáo

3. Diễn biến chính của chiến dịch

- Chiến dịch bắt đầu ngày 13/3/1954.

- Quân ta lần lượt tiến công các cứ điểm quan trọng của địch.

- Trải qua nhiều đợt chiến đấu ác liệt, quân ta từng bước giành ưu thế.

- Ngày 7/5/1954, quân ta tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

4. Kết quả và ý nghĩa lịch sử

- Quân Pháp thất bại nặng nề, kế hoạch xâm lược bị phá sản.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.

- Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam.

- Khẳng định sức mạnh, ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.

c) Kết bài:

- Khẳng định tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ.

- Bày tỏ niềm tự hào, biết ơn đối với các anh hùng liệt sĩ.

- Liên hệ bản thân: ý thức học tập, rèn luyện để xứng đáng với truyền thống dân tộc.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 2

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, để lại nhiều bài học có ý nghĩa lịch sử và thời đại; trong đó, bài học về ý chí, quyết tâm giành độc lập dân tộc của Đảng và dân tộc ta còn nguyên giá trị.

Sau gần 08 năm trở lại xâm lược Việt Nam (1945 - 1953), thực dân Pháp không những không thực hiện được mục tiêu của chúng, mà còn bị sa lầy trước ý chí đấu tranh quật khởi của quân và dân ta. Trước tình thế bất lợi, chính phủ Pháp phải điều tướng Na-va (giỏi nhất nước Pháp lúc bấy giờ) sang Đông Dương với hy vọng giành lại thế chủ động trên chiến trường; từ đó, buộc chính phủ Việt Nam phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho Pháp. Khi sang Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm trận mạc “dạn dày”, Na-va vạch ra kế hoạch tác chiến được gọi là “Kế hoạch Na-va”. Điểm mấu chốt của kế hoạch là tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở Đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại sự chủ động chiến lược (lúc cao điểm lên đến 44 tiểu đoàn) xoay chuyển tình thế trên chiến trường Đông Dương, thực hiện đòn tiến công mang tính quyết định khi có điều kiện. Được sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

Trước tình hình đó, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục cho quân và dân ta nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp; tiến hành tổng động viên mọi lực lượng để phá tan Kế hoạch Na-va của chúng. Sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị Chiến dịch và trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, ngày 07-5-1954, lá cờ “Quyết chiến, Quyết  thắng” của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Toàn bộ Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xem là “bất khả chiến bại” đã bị quân và dân ta đánh bại. Thắng lợi đó là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố; trong đó, ý chí và quyết tâm giành độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc đã được Đảng và nhân dân ta nhân lên gấp bội, tạo thành sức mạnh có ý nghĩa quyết định.

Trước hết, đó là sự lãnh đạo kháng chiến đúng đắn, bản lĩnh và trí tuệ sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Ngay từ những ngày đầu phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo.

Trong trận quyết chiến chiến lược này, lòng yêu nước, khát vọng được sống trong độc lập, tự do, hòa bình của nhân dân ta đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thắng lợi này có ý nghĩa lịch sử, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng”

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh của ý chí quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của quân và dân ta. Với vũ khí thô sơ và tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên kháng chiến, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, đóng góp sức người, sức của, bảo đảm mọi điều kiện cần thiết cho chiến trường.

Tinh thần dũng cảm chiến đấu hy sinh của quân và dân ta là nhân tố trực tiếp làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Tiến công Điện Biên Phủ, chúng ta gặp nhiều khó khăn, cả tiềm lực quân sự, kinh tế, địa hình hiểm trở, xa hậu phương,… Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã huy động được tối đa sức người, sức của, bao gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, với số lượng cao điểm có lúc lên đến hàng chục vạn người; được tổ chức, biên chế khá chặt chẽ, cùng với bộ đội đào giao thông hào, làm đường dã chiến trong điều kiện rất khó khăn, gian khổ của vùng rừng núi Tây Bắc, lại luôn bị máy bay địch oanh tạc,… Với ý chí quyết chiến, quyết thắng; bằng trí thông minh, lòng quả cảm và niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, trong khoảng thời gian hơn một tháng, bộ đội và thanh niên xung phong đã hoàn thành một khối lượng công việc vô cùng đồ sộ; mở hàng trăm tuyến hào, sửa đường từ Tuần Giáo tới Điện Biên Phủ (dài 82 km), tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng và xe kéo pháo, đặc biệt là pháo hạng nặng (105mm) có thể triển khai vào trận địa an toàn và bí mật. Chính điều đó đã gây bất ngờ lớn cho Quân đội Pháp. Về lực lượng, Quân đội ta tuy quân số có đông hơn đối phương, nhưng kinh nghiệm đánh công kiên chưa nhiều, vũ khí kém hiện đại hơn địch,…

Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà còn là bài học sâu sắc về ý chí quyết tâm giành độc lập dân tộc của Đảng và dân tộc ta. Hiện nay, dù cho sự nghiệp cách mạng của nhân ta còn nhiều khó khăn, thách thức; nhưng tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, với  tinh thần và ý chí của quân và dân ta được hun đúc từ Điện Biên Phủ, công cuộc đổi mới của đất nước sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ mới.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 3

Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ (mật danh chiến dịch là "Trận Đình"), quân và dân ta gồm cả công binh, bộ binh và thanh niên xung phong mở đường thắng lợi đi vào chiến dịch. Với kế hoạch tác chiến Đông Xuân 53 54, quân và dân ta ra sức sửa đường, làm đường. Tại các bến đò, các đèo cao địch ném bom, bắn phá ác liệt, song công tác mở đường, thông tuyến vận chuyển vẫn bảo đảm tiến độ. Ở đường thuỷ, nhiều thanh niên, bộ đội nhiều ngày ngâm mình dưới nước lạnh buốt phá thác, phá ghềnh khai thông dòng chảy để các đoàn thuyền độc mộc, các bè mang đưa gạo thóc từ các nơi ra chiến dịch. Đặc biệt, là đường bộ, biết bao thanh niên nam nữ phá núi, phá đèo để bộ đội đưa pháo vào trận địa. Hình ảnh hàng dãy người kéo pháo lên núi thật gian khổ và dũng cảm biết bao. Bên cạnh đó là hình ảnh tấp nập của đông đảo dân công hỏa tuyến bằng quang gánh, bằng xe đạp thồ đưa lương thực, đạn dược ra tuyến đầu bất chấp mưa bom bão đạn của giặc.

Mở màn chiến dịch vào lúc 17 giờ ngày 13/03/54, pháo ta từ trên núi bắn cấp tập vào đồi Him Lam, phân khu Trung tâm, sân bay Mường Thanh. Quân địch khiếp sợ trốn chui trốn nhủi vào các hầm hào. Sau đó chúng phản công nhưng bị bộ dội ta đánh trả quyết liệt...

Ngày 30/3, chúng ta bước qua giai đoạn 2 với cuộc đánh chiếm các đồi phía đông , F, D, đặc biệt là trên đồi A1, cuộc chiến đã diễn ra hết sức gay go trên từng tấc đất. Nơi đây, địch cố thủ trong các hầm ngầm, địa đạo kiên cố. Quân ta ngày đêm đào biết bao giao thông hào, đặc biệt là đào hầm vào tận căn cứ của địch...

Đợt cuối cùng của chiến dịch là vào ngày 3/5 khi quân ta tiến sâu vào trung tâm, chỉ cách sở chỉ huy địch khoảng 300 mét. Giặc thả tiểu đoàn dù cuối cùng hòng giúp phá vòng vây chạy qua Lào. Nhưng toàn bộ pháo binh và đặc biệt đại đội hỏa tiễn 6 nòng bắn dồn dập đã phá tan âm mưu này. Lúc 21 giờ ngày 6/5, khối bột phá gần 1 tấn, đặt giữa đồi bằng đường ngầm đã nổ tung vang trời, và đó là lệnh tổng tiến công. Lúc 17g30 ngày 7/5, tướng Đờ Cát-tơ-ri cùng toàn bộ tham mưu đầu hàng. Ngọn cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch phất cao trên nóc hầm của tên tướng này.

Xem xong các trận đánh ác liệt trong bộ phim, em rất cảm phục tinh thần dũng cảm của bộ đội ta đã tạo nên một chiến thắng chấn động địa cầu như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 4

Đã trôi qua hơn 60 năm, Chiến dịch Điện Biên Phủ (1953-1954) là một chiến dịch điển hình trong lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đánh thắng quân viễn chinh Pháp có tiềm lực quân sự mạnh, vũ khí trang bị hiện đại. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thắng lợi hoàn toàn thuộc về Nhân dân Việt Nam. Chiến thắng vĩ đại ở Điện Biên Phủ không những ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một mốc son rực sáng nhất trong thế kỷ XX, mà ý nghĩa và tầm vóc của sự kiện lịch sử trọng đại này không hề phai mờ, trái lại, những bài học lịch sử vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa to lớn, là sự kết tinh của nhiều nhân tố, trong đó, quan trọng nhất là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, của ý chí quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của Quân đội nhân dân, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đồng thời là chiến thắng của tình đoàn kết chiến đấu bền chặt, thủy chung, son sắt giữa quân đội, nhân dân 3 nước Đông Dương và sự đoàn kết, giúp đỡ, ủng hộ của các nước anh em và bạn bè quốc tế. Chiến thắng này đã làm thay đổi cục diện thế giới, khẳng định sức mạnh chính nghĩa của Việt Nam, của Nhân dân yêu chuộng hòa bình, độc lập trên thế giới.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 5

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Diễn biến của chiến dịch được chia làm ba giai đoạn. Đợi 1, từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, quân ta đã tiêu diệt hai cứ điểm là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc. Đợt 2, từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, quân ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn. Quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợi 3, từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp đã bị đánh bại.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 6

Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta. Sau năm mươi sáu ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ. Diễn biến của chiến dịch gồm có ba đợt tấn công. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), hai cứ điểm phòng ngự tốt nhất của địch là Him Lam và Độc Lập bị tiêu diệt, từ đó cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc được mở ra để quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), một đợt tấn công căng thẳng khi ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta, còn quân địch thì rơi vào mất cảnh giác. Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi hoàn toàn.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 7

Toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Diễn biến được chia làm ba đợt tiến công. Từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, ta tiêu diệt hai cứ điểm được tổ chức phòng ngự tốt nhất là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta chiếm xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại súng của ta. Quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợi 3 từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 8

Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta. Ba đợt tiến công diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), ta tiêu diệt hai cứ điểm được tổ chức phòng ngự tốt nhất của địch là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất quyết liệt nhất, gay go nhất. Ta đã kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta. Quân địch rơi vào thể bị động mất tinh thần cao độ. Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 9

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm, với ba đợi tấn công. Từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, hai cứ điểm được tổ chức phòng ngự tốt nhất là Him Lam và Độc Lập bị tiêu diệt, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta chiếm xuống lòng chảo và khu trung tâm. Từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại súng của ta. Quân địch rơi vào thế bị động. Cuối cùng, từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ đã thắng lợi.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 10

Đầu tiên, chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Toàn bộ chiến dịch diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm với ba đợi tấn công. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), hai cứ điểm phòng ngự tốt nhất của địch là Him Lam và Độc Lập bị tiêu diệt, từ đó cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc được mở ra để quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), một đợt tấn công căng thẳng khi ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta, còn quân địch thì rơi vào mất cảnh giác. Cuối cùng, đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch đã thắng lợi hoàn toàn.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 11

Một trong những sự kiện lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng với dân tộc Việt Nam là Chiến thắng Điện Biên Phủ. Với sự kiện này, cuộc kháng chiến chống thực dân pháp đã chính thức giành thắng lợi.

Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết:

“Chín năm làm một Điện Biên
Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”

Từ đó, chúng ta mới thấy được ý nghĩa của chiến dịch này. Trước hết, chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954. Ba đợt tiến công diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Đợt 1 (từ 13 đến 17 tháng 3), chúng ta tiêu diệt được hai cứ điểm quan trọng là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta tiến xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4), ta đã kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại sống của ta. Còn quân địch rơi vào thể bị động mất tinh thần cao độ. Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5), quân ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch toàn thắng.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã chấm dứt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ của nhân dân Việt Nam. Từ đó, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại các nước Đông Dương. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân một lòng chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Đồng thời, chiến thắng này cũng cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các nước ở châu Á, châu Phi và Mĩ La-tinh.

Có thể khẳng định rằng, Điện Biên Phủ là một trong những chiến dịch vô cùng quan trọng, góp phần đánh bại kẻ thù xâm lược - thực dân Pháp.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 12

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một mốc son chói lọi của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị đã họp và ra quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng đầu.

Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội của ta đã ở vị trí tập kết và sẵn sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh”. 

Chiến dịch Điện Biên Phủ chia thành 3 đợt:

Đợt 1: Từ ngày 13 đến 17/3/1954: Quân ta đã dũng cảm, mưu trí tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ; tiêu diệt và bắt sống trên 2.000 quân địch, xóa sổ 01 trung đoàn, phá hủy 25 máy bay, uy hiếp sân bay Mường Thanh; tư lệnh pháo binh Pháp bất lực trước pháo binh của ta nên đã dùng lựu đạn để tự sát.

Đợt 2: Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954: Quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho các tập đoàn cứ điểm. Để muốn kéo dài thời gian nên quân địch hết sức ngoan cố. Tướng Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Tại đồi C1 quân ta và quân Pháp đã giằng co nhau tới 20 ngày, tại đồi A1 đã giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn của các nình súng bên quân ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động.

Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954: Quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa quân ta và quân địch diễn ra rất quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên đã tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ để phá các hầm ngầm. Tên chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. Vào lúc 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, quân ta đã chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải xin đầu hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của quân địch. Và ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh cho địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ thì tất cả quân địch đã bị ta vây bắt.

Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta đã bắt sống tướng De Castries, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và tịch thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch. Giải phóng được nhiều vùng rộng lớn. Đã giáng một đòn mạnh, quyết định, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của thực dân Pháp.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 13

  Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 không chỉ là kết quả của tinh thần yêu nước, ý chí quật cường mà còn là minh chứng cho sự tài tình trong nghệ thuật quân sự của Đảng ta và bộ đội Việt Nam. Đặc biệt, chiến thuật "đánh chắc, tiến chắc" đã trở thành yếu tố then chốt, làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, quân Pháp đã xây dựng một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố, được mệnh danh là "pháo đài bất khả xâm phạm". Họ tin rằng với hệ thống công sự vững chắc, quân đội Việt Nam sẽ không thể nào chọc thủng được hàng rào phòng ngự này. Tuy nhiên, với tư duy quân sự sáng tạo và nhạy bén, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch đã đề ra một kế hoạch táo bạo: thay vì tấn công trực diện, ta sẽ siết chặt vòng vây, từng bước tiêu hao sinh lực địch, và cuối cùng là bao vây, tiêu diệt hoàn toàn.

Chiến thuật "đánh chắc, tiến chắc" được thể hiện rõ nét qua từng bước tiến của quân ta. Thay vì dàn quân ồ ạt tấn công, bộ đội Việt Nam đã kiên trì đào hào, kéo pháo, xây dựng trận địa theo từng bước chắc chắn. Việc kéo pháo vào trận địa bằng sức người, vượt qua những dốc núi hiểm trở, đã là một kỳ tích. Sau đó, quân ta đã tổ chức tấn công theo từng cụm cứ điểm, từ ngoài vào trong, từ dễ đến khó.

Đợt 1 của chiến dịch (từ 13 đến 17 tháng 3 năm 1954) là minh chứng rõ nét cho chiến thuật này. Quân ta đã lần lượt tiêu diệt các cứ điểm quan trọng phía Bắc và Đông Bắc của địch như Him Lam, Độc Lập, Mường Thanh. Việc chiếm được những cứ điểm này không chỉ phá vỡ hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch mà còn cho phép ta kiểm soát các tuyến đường tiếp tế, làm cho quân địch rơi vào thế bị động.

Đợt 2 (từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4 năm 1954) tiếp tục là giai đoạn "siết chặt vòng vây". Quân ta đã tấn công và kiểm soát các điểm cao quan trọng ở khu trung tâm, bao vây chặt chẽ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Từ vị trí này, ta có thể khống chế toàn bộ khu vực, cắt đứt mọi đường lui, đường tiếp viện của địch. Bộ đội ta đã thể hiện sự kiên cường, dũng cảm phi thường khi ngày đêm đào hào, tiến công, bất chấp bom đạn của quân thù.

Đợt 3 (từ 1 đến 7 tháng 5 năm 1954) là đòn quyết định. Khi toàn bộ tập đoàn cứ điểm đã nằm trong tầm ngắm của quân ta, Bộ Chỉ huy quyết định tổng công kích. Với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", bộ đội Việt Nam đã xông lên, bám sát chiến thuật "đánh chắc, tiến chắc", tiêu diệt từng ổ đề kháng, tiến thẳng vào trung tâm chỉ huy.

Sự thành công của chiến thuật "đánh chắc, tiến chắc" không chỉ nhờ vào kế hoạch tài tình mà còn nhờ vào sự hy sinh, chiến đấu anh dũng của từng người lính Việt Nam. Họ đã bất chấp gian khổ, hiểm nguy, thể hiện tinh thần kỷ luật, ý chí thép và lòng quyết tâm giải phóng dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh của con người Việt Nam, sức mạnh của chiến tranh nhân dân, và tầm vóc thời đại của nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 14

Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954 mãi mãi được khắc ghi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như một bản anh hùng ca về lòng yêu nước, ý chí quật cường và tài thao lược quân sự. Thắng lợi vĩ đại này không chỉ là cột mốc chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp tại Đông Dương mà còn mang tầm vóc quốc tế sâu sắc, làm thay đổi cục diện chính trị thế giới và cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc.

Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy tầm quan trọng chiến lược của Điện Biên Phủ. Quyết định mở chiến dịch tấn công vào "pháo đài bất khả xâm phạm" này, được Bộ Chính trị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đưa ra cuối năm 1953, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén chính trị và khả năng nắm bắt thời cơ lịch sử của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi sát sao mọi diễn biến, đưa ra những chỉ đạo kịp thời và động viên quân dân ta bằng tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Chính sự lãnh đạo sáng suốt này đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn, là kim chỉ nam cho toàn chiến dịch.

Trên chiến trường, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đã thể hiện tinh thần chiến đấu quả cảm, kỷ luật thép và nghệ thuật quân sự tài tình. Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân ta đã áp dụng thành công chiến thuật "đánh chắc, tiến chắc", từng bước siết chặt vòng vây, tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch. Việc kéo pháo vượt núi cao, đào hào sâu, tấn công dồn dập vào các cứ điểm quan trọng đã làm nên những kỳ tích. Bộ đội ta đã bất chấp bom đạn, gian khổ, thể hiện ý chí "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", minh chứng cho sức mạnh của chiến tranh nhân dân.

Tuy nhiên, chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là câu chuyện của quân đội. Đó còn là bản hùng ca của lòng dân, trí dân, sức dân. Hàng vạn dân công từ khắp các tỉnh miền Bắc đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, ngày đêm vượt Trường Sơn, đào đường, tải đạn, phục vụ chiến đấu. Họ đã biến hậu phương thành tiền tuyến vững chắc, đảm bảo cho chiến dịch diễn ra liên tục và giành thắng lợi. Đồng bào ở các vùng tự do cũng tích cực đóng góp sức người, sức của, tăng gia sản xuất, ủng hộ tài chính, tạo nên sức mạnh tổng lực chưa từng có.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn chí mạng vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc họ phải ký kết Hiệp định Genève, chính thức công nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Thắng lợi này đã chấm dứt vĩnh viễn ách đô hộ của Pháp tại Đông Dương, khẳng định sức mạnh vô địch của một dân tộc nhỏ bé nhưng kiên cường, đoàn kết.

Tầm vóc quốc tế của Điện Biên Phủ là vô cùng to lớn. Nó cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn cầu, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Thắng lợi này đã chứng minh rằng, chủ nghĩa thực dân không phải là không thể đánh bại, và các dân tộc bị áp bức hoàn toàn có thể giành lại độc lập bằng ý chí và sức mạnh của mình. Điện Biên Phủ đã thay đổi cục diện chính trị quốc tế, thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tóm lại, Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kết hợp hài hòa giữa tầm nhìn chiến lược của Đảng, tài thao lược của quân đội, tinh thần chiến đấu quật cường của bộ đội, sự hy sinh thầm lặng của dân công và ý chí đấu tranh mãnh liệt của toàn dân tộc. Đó là bản hùng ca vĩ đại của dân tộc Việt Nam, vang vọng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", là niềm tự hào và là bài học vô giá cho các thế hệ mai sau về sức mạnh của độc lập, đoàn kết và ý chí chiến thắng.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 15

  Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là minh chứng cho lòng yêu nước và tinh thần quả cảm mà còn là đỉnh cao của nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ việc xác định phương châm tác chiến đến cách bố trí lực lượng, tất cả đều thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự nhạy bén chính trị vượt trội.

Ngay từ đầu, Đảng và Bác Hồ đã nhận thức rõ tính chất của cuộc chiến tranh và xác định Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược. Việc chuyển hướng chiến lược từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" là một quyết định mang tính đột phá. Ban đầu, quân Pháp xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh với ý định nhử quân ta vào bẫy, tiêu diệt lực lượng chủ lực. Tuy nhiên, Đảng ta đã sớm nhận ra cơ hội. Thay vì lao vào "miệng cọp", ta quyết định "vây hãm", từng bước phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch. Sự thay đổi phương châm này thể hiện sự linh hoạt, khả năng thích ứng với thực tế chiến trường, đồng thời phát huy tối đa ưu thế của ta.

Việc huy động lực lượng cho chiến dịch Điện Biên Phủ cũng cho thấy nghệ thuật chỉ đạo tài tình. Đảng đã tập trung phần lớn lực lượng tinh nhuệ nhất, bao gồm 4 đại đoàn bộ binh và đại đoàn công binh, pháo binh. Tuy nhiên, việc tập trung lực lượng không có nghĩa là bỏ quên các mặt trận khác. Ta đã khéo léo phối hợp các đòn tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương, buộc địch phải phân tán lực lượng, không thể tập trung chi viện cho Điện Biên Phủ. Điều này tạo ra thế trận "lấy yếu chống mạnh", "lấy ít địch nhiều" một cách hiệu quả.

Một yếu tố quan trọng khác trong nghệ thuật chỉ đạo là việc kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao. Trong khi chiến dịch diễn ra, Đảng ta đã chủ động đưa vấn đề Đông Dương ra Hội nghị Genève. Chiến thắng vang dội tại Điện Biên Phủ đã tạo ra "chiến thắng quân sự làm nền tảng cho chiến thắng chính trị", giúp ta có vị thế mạnh mẽ trên bàn đàm phán, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Genève và giành lại độc lập cho dân tộc.

Cuối cùng, không thể không nhắc đến sự tin tưởng tuyệt đối mà Đảng và Bác Hồ đặt vào Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Chỉ huy chiến dịch. Việc trao cho Đại tướng "toàn quyền quyết định" thể hiện sự tin tưởng vào năng lực và trí tuệ của người chỉ huy. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh và Bộ Chỉ huy Mặt trận là yếu tố quyết định sự thành công của chiến dịch.

Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh trong chiến dịch Điện Biên Phủ là một bài học quý báu, thể hiện trí tuệ Việt Nam, sự sáng tạo và khả năng ứng phó linh hoạt trước mọi tình huống. Nó không chỉ làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ mà còn là nền tảng cho những thắng lợi tiếp theo của dân tộc.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 16

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu mốc vàng son, một tượng đài bất tử về lòng dũng cảm và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Khi lật mở lại những trang sử của năm tháng ấy, chúng ta không khỏi bàng hoàng và tự hào trước sức mạnh của con người khi được dẫn dắt bởi một lý tưởng đúng đắn.

Thực dân Pháp cùng tướng Na-va đã đầy tự tin khi xây dựng Điện Biên Phủ thành một "con nhím" khổng lồ giữa núi rừng Tây Bắc với 44 tiểu đoàn cơ động và hỏa lực mạnh mẽ. Họ tin rằng quân đội Việt Minh với vũ khí thô sơ sẽ "tự sát" nếu dám tấn công. Nhưng họ không hiểu được rằng, vũ khí mạnh nhất của người Việt chính là tinh thần "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước". Đảng ta đã phát động cuộc tổng động viên toàn diện, biến cả đất nước thành một mặt trận thống nhất.

Bài học lớn nhất từ Điện Biên Phủ chính là sức mạnh của nhân dân. Hình ảnh hàng vạn chiếc xe đạp thồ băng rừng lội suối, hình ảnh những chiến sĩ lấy thân mình lấp lỗ châu mai, chèn lưng cứu pháo đã khắc họa nên một chủ nghĩa anh hùng cách mạng cao đẹp nhất. Chúng ta đã biến cái "không thể" thành "có thể". Kẻ địch bất ngờ trước những giao thông hào dài hàng trăm cây số bao vây chặt lấy cứ điểm, bất ngờ trước những nòng pháo 105mm bất thình lình gầm vang từ những hầm pháo kiên cố trên đỉnh núi cao mà chúng tưởng ta không thể đưa pháo lên được.

Thắng lợi vào chiều ngày 7/5/1954 không chỉ là kết thúc của một chiến dịch, mà là khởi đầu của một thời đại mới. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, đây là chiến dịch lịch sử mang ý nghĩa quân sự và chính trị sâu sắc. Nó khẳng định một chân lý: Một dân tộc dù nhỏ bé, nếu biết đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của một Đảng chân chính, biết phát huy trí thông minh và lòng quả cảm, chắc chắn sẽ đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Ngày nay, hào khí Điện Biên vẫn vang vọng trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Tinh thần quyết chiến quyết thắng ấy chính là động lực để dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách, tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 17

Trong lịch sử quân sự thế giới, chưa bao giờ một dân tộc nhỏ bé, kinh tế nghèo nàn lại có thể đánh bại một đế quốc hùng cường với dàn vũ khí tối tân nhất. Thế nhưng, vào mùa hè năm 1954, Việt Nam đã làm nên điều kỳ diệu đó tại thung lũng Điện Biên Phủ. Đây không chỉ là thắng lợi của súng đạn, mà là đỉnh cao của ý chí độc lập, tự do và bản lĩnh sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.

Sau tám năm sa lầy trong cuộc chiến xâm lược, thực dân Pháp đã dồn toàn bộ hy vọng vào tướng Na-va cùng cái gọi là "Kế hoạch Na-va". Với sự hỗ trợ khổng lồ về tài chính và vũ khí từ đế quốc Mỹ, Pháp đã biến Điện Biên Phủ thành một "pháo đài bất khả xâm phạm", một cái bẫy khổng lồ nhằm tiêu diệt quân chủ lực của ta. Thế nhưng, kẻ thù đã sai lầm khi đánh giá thấp sức mạnh của lòng dân. Trước âm mưu ấy, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra quyết định lịch sử: tập trung toàn lực để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm này, mở đường cho độc lập dân tộc.

Sức mạnh mở rộng của chiến dịch này nằm ở sự kết hợp tuyệt vời giữa chiến trường và hậu phương. Giữa địa hình Tây Bắc hiểm trở, hàng vạn dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong đã bất chấp bom đạn, dùng xe đạp thồ, dùng sức người để vận chuyển lương thực, vũ khí qua những cung đường đèo dốc dựng đứng. Đặc biệt, việc kéo pháo bằng tay lên những đỉnh núi cao vút là một kỳ tích có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Sự thay đổi phương châm từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là biểu trưng cho trí tuệ sáng tạo và bản lĩnh quân sự tuyệt vời.

Sau 55 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, vây lấn, tấn công, ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" đã tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Chiến thắng này đã lay động địa cầu, xóa sổ hoàn toàn chế độ thực dân cũ, mở ra kỷ nguyên mới cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Điện Biên Phủ mãi là ngọn lửa sưởi ấm lòng yêu nước và là bài học vô giá về ý chí tự lực tự cường cho thế hệ trẻ hôm nay trong công cuộc đổi mới và bảo vệ Tổ quốc.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 18

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam đã lập nên nhiều kỳ tích, nhưng có lẽ "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 là một trong những bản anh hùng ca chói lọi nhất. Đó là cuộc đối đầu lịch sử kéo dài 12 ngày đêm giữa quân dân ta với không lực Hoa Kỳ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng, để lại lòng tự hào sâu sắc cho bao thế hệ.

Cuối năm 1972, sau khi đàm phán tại Paris lâm vào bế tắc, Tổng thống Mỹ Nixon đã ra lệnh thực hiện chiến dịch Linebacker II. Mục tiêu của chúng là dùng "siêu pháo đài bay" B-52 ném bom rải thảm nhằm "đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá" và ép ta phải nhân nhượng trên bàn đàm phán.

Sự việc bắt đầu vào tối ngày 18/12/1972. Bầu trời Hà Nội rung chuyển bởi tiếng động cơ gầm rú và những loạt bom đầu tiên dội xuống. Tuy nhiên, quân dân ta không hề bất ngờ. Ngay đêm đầu tiên, tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa 261 đã bắn rơi tại chỗ chiếc B-52 đầu tiên, giải mã huyền thoại về "pháo đài bay bất khả xâm phạm".

Những ngày sau đó, cuộc chiến càng trở nên khốc liệt. Đỉnh điểm là đêm 26/12, Mỹ huy động hàng trăm lượt máy bay đánh phá dữ dội phố Khâm Thiên và bệnh viện Bạch Mai, gây nên những mất mát đau thương vô cùng lớn. Thế nhưng, trong đau thương là ý chí quật cường. Những "vòng cung lửa" từ tên lửa, pháo cao xạ và cả những cánh bay của các phi công dũng cảm như Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều đã dệt nên lưới lửa phòng không tầng tầng lớp lớp. Kết quả, trong 12 ngày đêm, ta đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 chiếc B-52, bắt sống nhiều phi công Mỹ.

Thắng lợi vẻ vang này đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris năm 1973, rút quân về nước. Trận "Điện Biên Phủ trên không" không chỉ là thắng lợi quân sự mà còn là biểu tượng của tinh thần "không có gì quý hơn độc lập tự do" của dân tộc Việt Nam.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 19

Có những chiến thắng được viết bằng máu và hoa, nhưng cũng có những chiến thắng được chuẩn bị bằng tầm nhìn xa trông rộng. Trận "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972 là một minh chứng như thế. Qua các tư liệu lịch sử, em càng thêm khâm phục trí tuệ của cha ông khi đối đầu với kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần.

Ít ai biết rằng, từ nhiều năm trước đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo: "Mỹ nhất định sẽ thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội". Thực hiện lời dạy đó, quân đội ta đã âm thầm chuẩn bị phương án đánh B-52 từ rất sớm.

Dấu tích lịch sử còn ghi lại hình ảnh những cuốn "Cẩm nang đỏ" - cuốn sách ghi lại cách đánh B-52 được đúc kết từ thực tế chiến đấu ở chiến trường khu IV. Trong 12 ngày đêm ấy, không chỉ có quân đội chủ lực mà cả nhân dân Thủ đô cũng là những chiến sĩ. Hệ thống hầm hào, còi báo động được thiết lập khắp nơi. Hình ảnh các cụ già trong đội tự vệ trực chiến trên nóc nhà cao tầng, hay các nữ dân quân bám trụ trận địa giữa mưa bom đã trở thành biểu tượng bất diệt.

Sự việc đáng nhớ nhất là đêm 27/12, phi công Phạm Tuân đã điều khiển chiếc MiG-21 vượt qua hàng rào bảo vệ dày đặc của máy bay tiêm kích Mỹ để tiêu diệt B-52. Đây là lần đầu tiên trên thế giới, một chiếc máy bay tiêm kích hạ gục được "siêu pháo đài bay". Sự sáng tạo trong cách đánh, sự kết hợp giữa vũ khí hiện đại và tinh thần quả cảm đã làm nên một kỳ tích mà cả thế giới phải kinh ngạc.

Nhìn lại sự kiện lịch sử này, em hiểu rằng chiến thắng không chỉ đến từ vũ khí mà từ sức mạnh của sự đoàn kết và trí tuệ. "Điện Biên Phủ trên không" mãi là ngọn lửa sưởi ấm lòng yêu nước trong mỗi trái tim người Việt Nam hôm nay.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 20

  Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã để lại nhiều bài học có ý nghĩa lịch sử và thời đại mà vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 của quân và dân ta.

Để chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân và dân ta gồm công binh, bộ binh và thanh niên xung phong mở đường đi vào chiến dịch. Với kế hoạch tác chiến Đông Xuân 53 54, quân và dân ta ra sức sửa đường, làm đường. Tại các bến đò, các đèo cao, địch ném bom bắn phá ác liệt, song công tác mở đường thông tuyến vận chuyển vẫn được đảm bảo đúng tiến độ. Ở đường thủy, các thanh niên, bộ đội nhiều ngày ngâm mình dưới nước lạnh buốt để phá thác, phá ghềnh, khai thông dòng chảy hầu cho các đoàn thuyền độc mộc, các bè mang đưa gạo thóc từ các nơi ra chiến dịch. Đặc biệt ở đường bộ l, biết bao thanh niên nam nữ phá núi, phá đèo để bộ đội đưa pháo vào trận địa. Hình ảnh hàng dãy người kéo pháo lên núi thật gian khổ và dũng cảm biết bao. Bên cạnh đó là hình ảnh tấp nập của đông đảo dân công hỏa tuyến bằng quang gánh, bằng xe đạp thồ đưa lương thực, đạn được ra tuyến đầu bất chấp mưa bom bão đạn của giặc.

Toàn bộ chiến dịch diễn ra trong 56 ngày đêm, được chia làm ba đợt tấn công. Đợt tiến công thứ nhất từ ngày 13 đến 17 tháng 03 năm 1954, ta tiêu diệt hai cứ điểm được phòng ngự tốt nhất là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta chiếm xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt tiến công thứ hai từ ngày 30 tháng 03 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, ta kiểm soát các điểm cao khu Trung tâm Điện Biên nằm trong tầm bắn các loại súng của quân ta, khiến cho quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợt tiến công thứ ba từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” – “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp.

Trước tình hình đó, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục quân dân ta hiểu rõ về những  âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp cũng như tiến hành tổng động viên mọi lực lượng để phá tan kế hoạch Na-va của chúng. Sau nhiều tháng nỗ lực chuẩn bị cho Chiến dịch, trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên trì, dũng cảm và sáng tạo, ngày 7/5/1954, lá cờ của Quân đội ta “Quyết chiến, quyết thắng” đã được kéo lên trên nóc hầm tướng Đờ Ca-xtơ-ri. Toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được coi là “bất khả xâm phạm” đã bị quân và dân ta đánh bại. Chiến thắng đó chính là kết quả của sự tổng hợp của nhiều yếu tố: trong đó ý chí và quyết tâm giành độc lập tự do dân tộc đã được Đảng và nhân dân ta nhân lên gấp bội, tạo thành sức mạnh của ý nghĩa quyết định.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh của ý chí quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của quân và dân ta. Với vũ khí thô sơ và tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, nhân dân cả nước nhất tề đứng lên kháng chiến, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ra sức thi đua xây dựng hậu phương vững chắc, đóng góp sức người sức của bảo đảm mọi điều kiện cần thiết cho chiến trường.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là một thắng lợi quân sự mà còn là một biểu tượng của ý chí và nghị lực của dân tộc Việt Nam trong việc đấu tranh cho độc lập và tự do. Qua đó thể hiện sự sáng tạo và linh hoạt trong chiến thuật của QĐNDVN, chọn nơi sơ hở và nơi xung yếu của địch mà đánh, đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động trong suốt cuộc chiến.

Hiện nay, dù cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng tin tưởng rằng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, với tinh thần và ý chí của quân và dân ta được hun đúc từ Điện Biên Phủ, công cuộc đổi mới của đất nước sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ mới.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 21

Để chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, mật danh là "Trận Đình," quân và dân ta đã cùng nhau góp sức mở đường, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch thành công. Công binh, bộ binh và thanh niên xung phong đã hợp sức vượt qua mọi khó khăn, mở ra những con đường chiến lược quan trọng. Với kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, quân và dân ta đã không ngừng sửa đường, làm đường, bất chấp bom đạn của địch.

Tại các bến đò và những đèo cao, nơi địch ném bom và bắn phá ác liệt, công tác mở đường và thông tuyến vận chuyển vẫn được bảo đảm tiến độ. Trên đường thuỷ, nhiều thanh niên và bộ đội đã dầm mình dưới nước lạnh buốt, phá thác, phá ghềnh để khai thông dòng chảy, giúp các đoàn thuyền độc mộc và bè mang gạo thóc từ khắp nơi về chiến dịch. Đặc biệt, trên đường bộ, biết bao thanh niên nam nữ đã phá núi, phá đèo để bộ đội đưa pháo vào trận địa. Hình ảnh hàng dãy người kéo pháo lên núi giữa mưa bom bão đạn thật gian khổ và dũng cảm biết bao. Bên cạnh đó là hình ảnh tấp nập của đông đảo dân công hỏa tuyến, bằng quang gánh và xe đạp thồ, đưa lương thực và đạn dược ra tuyến đầu bất chấp mọi hiểm nguy.

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn vào lúc 17 giờ ngày 13/03/1954, khi pháo ta từ trên núi bắn cấp tập vào đồi Him Lam, phân khu Trung tâm và sân bay Mường Thanh. Quân địch hoảng sợ, chui rúc vào các hầm hào. Chúng phản công nhưng bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt.

Ngày 30/3, ta bước vào giai đoạn hai với các cuộc đánh chiếm các đồi phía đông như F và D, đặc biệt là đồi A1. Cuộc chiến tại đây diễn ra hết sức ác liệt trên từng tấc đất. Địch cố thủ trong các hầm ngầm và địa đạo kiên cố, còn quân ta ngày đêm đào biết bao giao thông hào, đặc biệt là đào hầm vào tận căn cứ của địch.

Đợt cuối cùng của chiến dịch diễn ra vào ngày 3/5 khi quân ta tiến sâu vào trung tâm, chỉ cách sở chỉ huy địch khoảng 300 mét. Địch thả tiểu đoàn dù cuối cùng với hy vọng phá vây chạy qua Lào, nhưng toàn bộ pháo binh và đặc biệt là đại đội hỏa tiễn 6 nòng của ta đã bắn dồn dập, phá tan âm mưu này. Lúc 21 giờ ngày 6/5, khối bột phá gần 1 tấn đặt giữa đồi bằng đường ngầm đã nổ tung, vang trời, mở đường cho lệnh tổng tiến công. Đến 17 giờ 30 ngày 7/5, tướng Đờ Cát-tơ-ri cùng toàn bộ tham mưu đã phải đầu hàng. Ngọn cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Hồ Chủ tịch phất cao trên nóc hầm của tên tướng này.

Khi xem lại các trận đánh ác liệt trong bộ phim, em không khỏi cảm phục tinh thần dũng cảm của bộ đội ta đã tạo nên một chiến thắng chấn động địa cầu như nhà thơ Tố Hữu đã viết:

"Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng."

Tinh thần kiên cường, bất khuất của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ sẽ mãi là nguồn cảm hứng, là biểu tượng cho sức mạnh và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.

Kể lại sự kiện chiến dịch Điện Biên Phủ - mẫu 22

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một dấu ấn rực rỡ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, để lại nhiều bài học quý giá có ý nghĩa sâu sắc về cả lịch sử và thời đại. Một trong những bài học quan trọng nhất chính là ý chí kiên cường và quyết tâm giành độc lập dân tộc của Đảng và nhân dân ta, bài học vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Sau gần tám năm quay lại xâm lược Việt Nam (1945 - 1953), thực dân Pháp không những không đạt được mục tiêu, mà còn bị sa lầy trước sức mạnh kháng chiến của quân và dân ta. Trước tình thế ngày càng bất lợi, chính phủ Pháp buộc phải cử tướng Henri Navarre - người được coi là tài giỏi nhất lúc bấy giờ - sang Đông Dương với hy vọng xoay chuyển tình hình. Navarre đã đề ra một kế hoạch chiến lược mang tên "Kế hoạch Navarre," với mục tiêu tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở Đồng bằng Bắc Bộ nhằm giành lại sự chủ động trên chiến trường. Với sự hỗ trợ của đế quốc Mỹ, thực dân Pháp đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một cứ điểm phòng ngự mạnh nhất Đông Dương, được coi là "pháo đài bất khả xâm phạm."

Trước tình hình đó, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo, tuyên truyền, giáo dục cho quân và dân nhận thức rõ âm mưu của thực dân Pháp. Đảng đã tổng động viên mọi lực lượng để phá tan Kế hoạch Navarre, chuẩn bị cho một chiến dịch lớn. Sau nhiều tháng chuẩn bị, và trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm và sáng tạo, vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” của Quân đội ta tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Cát (De Castries). Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, được xem là bất khả chiến bại, đã bị quân và dân ta đánh bại. Thắng lợi này là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó ý chí và quyết tâm giành độc lập dân tộc đã tạo thành sức mạnh quyết định.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là minh chứng hùng hồn cho sự lãnh đạo kháng chiến đúng đắn, bản lĩnh và trí tuệ sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch. Ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối kháng chiến, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo.

Trong trận quyết chiến chiến lược này, lòng yêu nước và khát vọng sống trong độc lập, tự do, hòa bình của nhân dân ta đã tạo nên tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng.”

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh của ý chí quyết tâm "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" của quân và dân ta. Với vũ khí thô sơ và tinh thần “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh,” nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên kháng chiến, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đóng góp sức người, sức của, bảo đảm mọi điều kiện cần thiết cho chiến trường.

Tinh thần dũng cảm chiến đấu, hy sinh của quân và dân ta là nhân tố trực tiếp làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Tiến công Điện Biên Phủ, chúng ta gặp nhiều khó khăn, từ tiềm lực quân sự, kinh tế đến địa hình hiểm trở, xa hậu phương. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã huy động tối đa sức người, sức của, bao gồm thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, với số lượng cao điểm có lúc lên đến hàng chục vạn người, tổ chức chặt chẽ, cùng với bộ đội đào giao thông hào, làm đường dã chiến trong điều kiện rất khó khăn của vùng rừng núi Tây Bắc, luôn bị máy bay địch oanh tạc. Với ý chí quyết chiến, quyết thắng, bằng trí thông minh, lòng quả cảm và niềm tin mãnh liệt vào chiến thắng, trong hơn một tháng, bộ đội và thanh niên xung phong đã hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ: mở hàng trăm tuyến hào, sửa đường từ Tuần Giáo tới Điện Biên Phủ (dài 82 km), tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng và xe kéo pháo, đặc biệt là pháo hạng nặng (105mm) triển khai vào trận địa an toàn và bí mật. Chính điều đó đã gây bất ngờ lớn cho quân Pháp. Mặc dù Quân đội ta đông hơn đối phương về số lượng, nhưng kinh nghiệm đánh công kiên chưa nhiều, vũ khí kém hiện đại hơn địch.

Thắng lợi của Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà còn là bài học sâu sắc về ý chí quyết tâm giành độc lập dân tộc của Đảng và nhân dân ta. Hiện nay, dù sự nghiệp cách mạng còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với tinh thần và ý chí từ Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ mới.

Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 7 hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 7 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài soạn văn lớp 7 hay nhất dựa trên đề bài và hình ảnh của sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 bộ sách Chân trời sáng tạo (NXB Giáo dục). Bản quyền soạn văn lớp 7 thuộc VietJack, nghiêm cấm mọi hành vi sao chép mà chưa được xin phép.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 7 Chân trời sáng tạo khác