10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (điểm cao)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 1)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 2)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 3)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 4)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 5)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 6)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 7)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 8)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu 9)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (mẫu khác)
10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn
1. Mở bài
- Ngô Tất Tố là nhà văn hiện thực xuất sắc, được mệnh danh là “con mọn của làng quê Việt Nam” trước Cách mạng tháng Tám.
- Tắt đèn là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông, vẽ nên bức tranh ngột ngạt, đen tối của nông thôn Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân phong kiến.
- Vấn đề phân tích: Hình tượng nhân vật chị Dậu - điển hình cho người phụ nữ nông dân vừa giàu tình yêu thương, vừa có sức sống tiềm tàng mãnh liệt.
2. Thân bài
a. Bức tranh nông thôn Việt Nam trong “vụ thuế”
- Hoàn cảnh: Không khí căng thẳng, tiếng trống, tiếng tù và thúc thuế dồn dập. Nông dân bị dồn vào đường cùng bởi những thứ thuế vô lý (đặc biệt là thuế thân).
- Hình ảnh cai lệ và người nhà lí trưởng đại diện cho trật tự phong kiến bất công, dã man, sẵn sàng chà đạp lên con người.
b. Hoàn cảnh đáng thương của gia đình chị Dậu
- Tài sản không còn gì, anh Dậu đang ốm nặng nhưng vẫn bị đánh đập, lôi ra đình vì thiếu thuế thân của người em chồng đã chết.
- Chị Dậu buộc phải bán con (cái Tý) và bán chó để lấy tiền nộp thuế – một bi kịch đau đớn, xé lòng.
c. Vẻ đẹp tâm hồn và sức sống tiềm tàng của chị Dậu
- Người vợ, người mẹ tần tảo, giàu tình thương:
+ Hết lòng chăm sóc người chồng ốm yếu giữa lúc nguy kịch.
+ Nén nỗi đau bán con để cứu chồng.
+ Sức phản kháng mãnh liệt (Phân tích đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”):
· Giai đoạn đầu: Chị Dậu nhẫn nhịn, van xin thiết tha (“Cháu van ông...”).
· Giai đoạn biến chuyển: Khi lòng tự trọng và sự sống của chồng bị đe dọa, chị chuyển sang lý lẽ (“Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”).
· Giai đoạn bùng nổ: Chị vùng lên bằng hành động, quật ngã tên cai lệ (“Thà ngồi tù chứ không để chúng nó làm nhục”). Đây là quy luật tất yếu: Có áp bức, có đấu tranh.
d. Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật, tâm lý nhân vật biến chuyển logic, sắc sảo.
- Nghệ thuật kể chuyện: Ngôn ngữ đối thoại sinh động, đậm chất nông thôn; nhịp điệu truyện nhanh, kịch tính cao.
3. Kết bài
- Tác phẩm là bản cáo trạng đanh thép tố cáo chế độ thực dân phong kiến.
- Ý nghĩa: Khẳng định vẻ đẹp và sức mạnh của người nông dân Việt Nam. Dù kết thúc truyện là cảnh chị Dậu chạy ra ngoài trời tối đen như tiền đồ của chị, nhưng hành động phản kháng đã mở ra tia sáng về ý thức nhân phẩm.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 1
Ngô Tất Tố là nhà văn của nông dân và là một trong những tác giả tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ông có vị trí tương đối vẻ vang trong lịch sử văn học Việt Nam trước Cách mạng.
Tắt đèn là tác phẩm có giá trị hiện thực và sức mạnh tố cáo sâu sắc. Viết về nạn thuế thân, tập trung vào mấy ngày thu thuế, Ngô Tất Tố đã phản ánh hiện thực nông thôn đương thời một cách tập trung và điển hình. Qua mấy ngày “sưu thuế giới kỳ” này, tình cảnh thảm thương của người nông dân cũng như bản chát tham lam tàn ác của bọn thống trị phơi bày ra rõ nét hơn lúc nào hết. Tắt đèn mô tả khá đủ mặt những lực lượng thống trị ở nông thôn trước Cách mạng. Đấy là bọn cường hào tàn nhẫn đè nén ức hiếp nông dân, chỉ chờ có dịp “đục nước” để được “béo cò”. Chúng nịnh bợ quan trên bòn hút của người nghèo. Đây là bọn địa chủ “đầu trâu mặt ngựa ăn thịt người không biết tanh”, vừa dốt nát, vừa keo kiệt ti tiện, mà điển hình là Nghị Quế. Hắn làm giàu một cách rất “cổ điển” là cho vay nặng lãi và chiếm đoạt ruộng đất của nông dân. Luôn luôn tỏ ra “am hiểu thời thế”, “cái gì cũng nhắc đến Tây”. Là nghị viện hẳn hoi, nhưng hắn có đức “không thèm biết chữ”. Đó là bọn quan lại bỉ ổi dùng vợ làm một phương tiện thăng quan tiến chức như tri phủ Tư Ân. Đằng sau chúng.
Ngô Tất Tô bằng ngòi bút thâm thúy của mình vẫn cho người đọc hình dung ra ít nhiều hình ảnh đen tối của bọn thực dân – tác giả của những tấm thẻ sưu. Bằng một ngòi bút hiện thực sắc sảo, chỉ cần một vài nét, nhà văn đã vạch trần bản chất xấu xa của chúng, mặc dù mỗi đứa lại có một dáng vẻ riêng.
Tuy vậy, giá trị to lớn độc đáo của tác phẩm Tắt đèn không phải ở chỗ phê phán xã hội đương thời, mà ở chỗ nhà văn đã xây dựng được một hình tượng chân thực đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân. Xây dựng thành công nhân vật chị Dậu, Ngô Tất Tố đã góp vào văn học Việt Nam một nhân vật hấp dẫn. Nói như Nguyễn Tuân, chị Dậu xứng đáng là “tất cả của Tắt đèn”. Chị Dậu có thể tiêu biểu cho hàng triệu phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng. Hai vợ chồng chị “đầu tắt mặt tối không dám chơi ngày nào” mà vẫn “cơm không đủ no, áo không đủ mặc”, gia đình “lên đến bậc nhì, bậc nhất trong hạng cùng đinh”. Thế rồi, anh Dậu đau ốm, vụ thuế đến cùng với biết bao tai họa… Viết về số phận của người phụ nữ nông thôn, Ngô Tất Tố đã đặt ra được một vấn đề bức thiết nhất: cơm áo quyền sống của con người. Hình tượng chị Dậu có sức khái quát cao chính ở điểm này.
Giống như nhiều nhân vật phụ nữ trong văn chương truyền thống, chị Dậu vốn là một phụ nữ xinh đẹp nết na… Gặp hoàn cảnh hoạn nạn, nhân vật này trở thành “đốm sáng đặc biệt” (Nguyễn Tuân) khiến người đọc cảm thương trân trọng. Chị Dậu một phụ nữ có tinh thần vị tha yêu chồng, thương con tha thiết. Việc chị tìm mọi cách đổ cứu chồng ra khỏi cảnh cùm kẹp, chị ân cần săn sóc anh Dậu, đặc biệt hành động dũng cảm lấy thân mình che chở cho người chồng đau ốm trước thái độ hung hãn của hai tên tay sai… cũng làm cho người đọc yêu mến và khâm phục. Chính tình yêu thương chồng đã tạo nên ở chị một sức mạnh quyết liệt bất ngờ.
Đứng trước khó khăn bất ngờ, tưởng chừng không thể vượt qua – phải nộp “một lúc hai suất sưu, anh Dậu thì đau ốm, đàn con thì bé dại… tất cả trông chờ vào sự chèo chống của chị. Trên thực tế, chị thành chỗ dựa của cả gia đình. Đây cũng là một phụ nữ có ý thức sâu sắc về nhân phẩm. Chị đã từng phải “chịu đứng vì số” tiền nộp sưu, nhưng chị vẫn đủ can đảm ném thẳng nắm giấy vào mặt tên tri phủ Tư Ân. Hai lần bị cưỡng hiếp, chị đều thoát ra được. Đây chính là những biểu hiện đẹp đẽ của nhân phẩm, của tinh thần tự trọng. Thông minh sắc sảo, có tinh thần quật khởi, ý thức sâu sắc về nhân phẩm… nhân vật chị Dậu còn toát lên vẻ đẹp mộc mạc của người phụ nữ nông thôn. Chị vống ở nơi tăm tối bị ức hiếp đè nén, nhưng tâm hồn vẫn sáng trong như đóa hoa sen “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Tóm lại, bằng thái độ trân trọng và sự hiểu biết sâu sắc về nông thôn và nông dân, Ngô Tất Tố đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu, với tất cả những nỗi khổ sở đau xót, và đặc biệt với những phẩm cách trong sạch. Chính những yếu tố tích cực này khiến cho chị Dậu trở thành một “chân dung lạc quan”, luôn muốn “tung ra, khỏi bóng tối” (Nguyễn Tuân), vượt qua cái nhìn bi quan bế tắc của tác giả về tiền đồ của người nông dân.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 2
Nguyễn Tuân đã từng khẳng định về tác phẩm Tắt đèn và Ngô Tất Tố rằng “Theo tôi tiên tri, thì cuốn Tắt đèn còn phải sống lâu thọ hơn cả một số văn gia đương kim hôm nay. Chị Dậu, đích là tác giả Ngô Tất Tố hóa thân ra mà thôi. Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn.
Nếu ví toàn truyện Tắt đèn là một khóm cây thì chị Dậu là cả gốc cả ngọn cả cành, và chính chị Dậu đã nổi gió lên mà rung cho cả cái cây dạ hương Tắt đèn đó lên.” Đây là một trong những tác phẩm hay và xuất sắc nhất của Ngô Tất Tố và điều góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm phải kể đến nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Ngô Tất Tố là một nhà văn tài ba, ông dành một cái nhìn vô cùng trân trọng và yêu thương cho phẩm chất của người nông dân trong xã hội cũ, không chỉ có vậy, ông còn vô cùng căm phẫn những tầng lớp thống trị dựa vào quyền lợi của mình mà chèn ép những người dân vô tội.
Những điều đó đã tạo nên một phong cách sáng tác hoàn toàn độc đáo và khác biệt mang đậm chất Ngô Tất Tố. Thông qua Tắt đèn, ta cảm nhận được cái nhìn đầy trân trọng và tin tưởng vào những đức tính tốt đẹp không bao giờ bị phai mờ của người nông dân. Ngô Tất Tố đã xây dựng một tình huống truyện vô cùng đặc biệt khi nó không đơn thuần chỉ là cuộc cãi nhau và đánh nhau của chị Dậu và tên Cai lệ. Đó còn thể hiện sự vùng lên phản kháng của tầng lớp bị áp bức, bóc lột trong xã hội phong kiến ngày xưa, họ đứng lên và bảo vệ quyền lợi của chính mình, quyết không cúi đầu trước bọn cầm quyền độc ác.
Gia đình chị Dậu vốn nghèo khó, thông qua nghệ thuật kể chuyện theo trình tự ta có thể cảm nhận được sự khó khăn của gia đình chị Dậu thông qua các câu văn “Chuyện xảy ra ở làng Đông Xá trong những ngày sưu thuế. Gia đình chị Dậu nghèo nhất nhì trong hạng cùng đinh. Đến kì nộp sưu, anh chị phải chạy vạy ngược xuôi nhưng vẫn không đủ tiền.” Thế nhưng bọn cầm quyền vẫn quyết tâm bóc lột và chèn ép những người dân vô tội tới bước đường cùng, họ bị bắt nộp sưu thuế hết lần này đến lần khác, thậm chí phải nộp cho những người đã mất. Và chính những điều ấy đã đẩy tình huống truyện lên cao nhất khi người đọc cảm nhận được sự phản kháng đang dần dần vùng dậy bên trong chị Dậu. Ban đầu, chị Dậu còn nhún nhường và nhường nhịn tên Cai lệ, thế nhưng khi bị dồn vào bước đường cùng, chị đã không nhẫn nhịn được nữa mà thay đổi cách xưng hô. Thậm chí chị còn đánh tên Cai lệ, thể hiện được rằng chị vô cùng gan dạ, dũng cảm, yêu chồng và thương con, chị biết cách đối nhân xử thế và bảo vệ quyền lợi của riêng mình. Nghệ thuật kể chuyện cũng đã miêu tả thành công nhân vật Cai lệ để người đọc thấy được bộ mặt xấu xa, chèn ép người dân vô tội để đạt được tiền bạc và quyền lợi. Cái nhìn của Ngô Tất Tố thể hiện sự căm phẫn đối với thế lực cầm quyền đáng ghét và độc ác. Những diễn biến trong toàn bộ đoạn trích diễn ra vô cùng hợp lý và đặc biệt. Khiến người đọc hiểu rõ và cảm nhận hơn các tình tiết trong câu chuyện thông qua nghệ thuật kể chuyện của Ngô Tất Tố.
Có thể thấy Ngô Tất Tố vô cùng tài ba, nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm vô cùng đặc biệt và lôi cuốn, khắc hoạ rõ ràng các nhân vật và thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm đến cho bạn đọc rằng “Ở đâu có áp bức chắc chắn ở đó sẽ có đấu tranh.”. Nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích tác phẩm Tắt đèn đã góp phần tạo nên sự thành công trong tác phẩm, khiến tác phẩm ghi dấu ấn đặc biệt và neo đậu mãi trong trái tim bạn đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 3
Tác phẩm lấy bối cảnh xã hội Việt Nam trước năm 1945 để kể về gia đình chị Dậu trong những ngày đến hạn nộp sưu thuế, phải dùng đủ mọi cách để xoay tiền, phải quỳ gối trước đám lính, trước quan lại. Từ đó làm nổi bật nên sự thống khổ của người dân Việt Nam trước ách đô hộ của thực dân Pháp và chế độ phong kiến.
Tác phẩm “Tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán với nội dung nói về cuộc sống khốn khổ của tầng lớp nông dân Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp. Tác giả Ngô Tất Tố đã xây dựng thành công nhân vật chị Dậu, một người phụ nữ sống trong hoàn cảnh tối tăm cực khổ nhưng có phẩm chất cao đẹp.
Ngoài ra, tác giả cũng dựng lên được một chuỗi những tình huống mâu thuẫn giàu kịch tính. Các tình huống ấy đã đẩy chị Dậu vào cái thế quẫn cùng mà vùng lên “nổi loạn”. Sự nổi loạn ấy hoàn toàn tự phát. Đó là sự vùng lên rất tự nhiên của con người khi cái giới hạn chịu đựng đã bị phá vỡ. Chị Dậu có một cuộc đời bất hạnh. Dù có cố gắng, vất vả làm đây làm đó thì cuộc đời của chị cũng không thay đổi, thậm chí còn tệ hơn trước kia. Cả cuộc đời chị đối diện với những nỗi khổ sở (chị cần cù làm ăn hết năm này sang năm khác, cùng chồng đấu tắt mặt tối, không dám chơi ngày nào, mà vẫn cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.
Gia đình ở trong một căn nhà chật hẹp mà chủ nợ còn doạ cắm làm chuồng xí. Với chúng, ngôi nhà ngoài giá trị ấy ra không còn giá trị nào khác. Chị không còn một tài sản nào có thể bán để nộp sưu, ngoài mấy đứa con, đàn chó, hai gánh khoai …), những nỗi đau xót (vì phải nhìn đám con ngồi mót khoai, nhưng đã đói vàng cả mắt không nhặt được nữa; đau xót vì phải nghe đứa con van xin “thầy u đừng bán con”. Đau xót vì phải bỏ cả gia đình, làng mạc lên tỉnh đi ở vú …). Nhưng vẫn còn đó những đức tính phẩm chất trong sạch (chị hi sinh tất cả cuộc đời cho chồng, cho con; chị luôn luôn bảo vệ phẩm cách trong sạch và đã có dũng khí để đấu tranh …). Vậy rốt cuộc chị là ai mà lại khổ đến vậy?
Mỗi khi đến mùa sưu, chị đều phải bán sạch mọi thứ có giá trong nhà. Vậy mà năm nay, chị đã bán hết mọi thứ có giá mà cũng chẳng đủ một xuất thuế. CHồng chị vì vậy mà bị bọn cai lệ đến trói rồi bắt đi đập tơi tả ở ngoài đình làng. Anh Dậu đã nhiều lần chết đi sống lại, người thì nhìn cứ như một cái xác chết mà bọn chúng vẫn đánh không thương tiếc. Nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” có lẽ là nhận vật nữ chính xấu số, có kết cục bi thảm nhất từ trước đến nay. Một người phụ nữ luôn gặp rủi ro. Rủi ro gắn bó với chị suốt cả cuộc rồi như một người “bạn tri kỷ”. Người bạn này đã khiến cho chị phải buồn lòng, đau khổ và rồi cuối cùng dẫn kến một cái kết bi thảm.
Tắt đèn là một trong những tiểu thuyết văn học tiêu biết và đặc sắc của Việt Nam ta ở thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám. Thông qua nhân vật Chị Dậu, tác phẩm này đã có một tác dụng tố cáo lớn, rạch toang cái màn nhung che đậy sự thối nát của bọn quan lại cường hào, địa chủ sống phè phỡn, dâm dục trên xương máu mồ hôi, nước mắt của nông dân
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 4
Ngô Tất Tố là nhà văn xuất sắc trong dòng văn học hiện thực 1930-1945. Viết về nạn sưu thuế dã man đã bần cùng hóa nhân dân ta, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân, tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố là một thành công đặc sắc. Nhân vật chị Dậu đã được khắc họa thành một nhân vật điển hình về người phụ nữ nông dân trong xã hội cũ.
Bình luận về tác phẩm “Tắt đèn”, nhà văn Nguyễn Tuân có nhận xét vé nhân vật chị Dậu như sau: “Trên cái tối giời, tối đất của đồng lúa ngày xưa, hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu”. Giữa cái xã hội đen tối, hãi hùng ấy đã “Hiện lên một cái chân dung lạc quan của chị Dậu”. Ngô Tất Tố không chỉ thấu hiểu đời sống nông thôn mà còn có tình cảm gắn bó với những người dân cày lam lũ, nghèo khổ. Ông đã dành cho nhân vật chị Dậu sự đồng cảm, xót thương và quý trọng. Ông đã viết nên những lời tốt đẹp nhất về cái chân dung lạc quan của chị Dậu.
Chị Dậu cần cù chịu khó làm ăn “đầu tắt mặt tối” thế mà “cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc”. Tai họa dồn dập: hai cái tang mẹ chồng và em chồng, rồi anh Dậu bị ốm nặng kéo dài mấy tháng trời, gia đình chị trở thành “cùng đinh”. Thiếu sưu, chồng bị bắt, bị đánh trói dã man. Một nách ba đứa con thơ, trong nhà không còn một hột gạo, chị Dậu tất tả ngược xuôi tìm mọi cách để cứu chồng. Chị đã phải bán gánh khoai, bán ổ chó, đứt ruột bán cái Tí lên 7 tuổi cho mụ Nghị, mới trả đủ một suất sưu cho chồng! Chị còn phải đi ở vú để trang trải “món nợ Nhà nước” cho đứa em chồng đã chết. Trước mọi tai họa, chị đã vững vàng chống đỡ.
Trong cảnh “Tức nước vỡ bờ”, “cái chân dung lạc quan của chị Dậu” đã tỏa sáng. Chị nấu cháo, lấỵ quạt quạt cho cháo chóng nguội, ân cần mời chồng, an ủi chồng đang ốm “rề rề” ăn cháo. Trước sự chửi mắng và thái độ hách dịch côn đồ của tên cai lệ, chị đã nhún mình van xin “tha cho chồng” … Nhưng khi bị tên cai lệ “bịch vào ngực”, “tát đánh bốp vào mặt”, anh Dậu sắp bị trói, chị Dậu đã “nghiến hai hàm răng” thách thức: “Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Với quyết tâm bảo vệ chồng, với sức mạnh và lòng dũng cảm, chị Dậu đã đánh ngã nhào hai tên côn đồ độc ác, những kẻ “hút nhiều xái cũ”. Chị căm giận phủ định mọi thế lực tàn ác của chính quyền thực dân. Chị nói với chồng sau khi đã trừng trị lũ đầu trâu mặt ngựa: “Thà ngồi tù. Để cho chúng làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được …”. Cái chân dung chị Dậu “lạc quan” lắm chứ! Đẹp lắm chứ!
Đói cho sạch, rách cho thơm. Đọc “Tắt đèn”, ta khâm phục trước phẩm cách trong sạch của chị Dậu. Chị Dậu đã “vứt toẹt nắm bạc” vào mặt tên Tri phủ Tư Ân khi hắn giở trò chó má! Chị cũng đã đẩy cụ cố Thượng ra, khi lão già ôm lấy chị… Bạo lực, tù đày, chị không sợ. Tiền bạc không mua chuộc được người đàn bà nhà quê này! Trong đêm tối như mực, ta thấy “hiện lên một cái chân dung lạc quan của chi Dậu”.
Có người cho rằng chị Dậu manh động! Lại có ý kiến cho rằng cái kết của Tắt đèn nhuốm màu bi quan? Nhà văn Nguyễn Tuân đã phát hiện ra “Bản chất của chị Dậu rất khoẻ, cứ thấy lăn xà vào bóng tối mà phá ra “. Đó là một ý rất hay, rất đặc sắc. Ngày nay, nông thôn Việt Nam đã có nhiều đổi mới. Xóm làng đã “ngói hoá”. Ánh điện đã toả sáng nhiều xóm thôn. Những cái Tí đã được cắp sách đến trường. Đọc “Tắt đèn “là một dịp để mọi người “ôn cũ biết mới”. Ta càng thấy cái tâm và cái tài của Ngô Tất Tố khi ông miêu tả bức chân dung lạc quan của chị Dậu.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 5
Tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã vẽ lên một bức tranh chân thực và sống động cuộc sống lầm than của những người nông dân nghèo khổ dưới chế độ thực dân phong kiến. Ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố đã toát lên một tinh thần nhân đạo vô cùng cao quý. Đồng thời cũng khắc họa được bức chân dung tuyệt đẹp về người phụ nữ nông thôn trước Cách mạng tháng Tám.
Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật khắc họa sinh động, tác giả đã vẽ lên hình tượng chị Dậu đẹp đẽ tiêu biểu cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Ta nhận thấy rằng trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy nhưng người đọc không hề bắt gặp một lời oán than kêu ca của chị cho riêng mình. Chị Dậu là người hết mực yêu thương chồng con. Hoàn cảnh khiến chị phải bán cái Tí cho nhà Nghị Quế, cứ tưởng con mình có thể sống tốt ở một gia đình như thế này, nào ngờ gia đình Nghị Quế lại coi cái Tí chả bằng một con chó, bắt nó nhặt cơm của chó từ dưới đất lên ăn. Vậy mới biết lòng chị Dậu đau xót như thế nào.
Độc giả như cảm nhận được sự giằng xé, đau như cắt trong tâm can của chị. Mới hai mươi tư tuổi những chị đã phải trải qua nhiều nỗi đau đớn trong cuộc đời, bởi vì nghèo khó nó đã làm cho con người ta trở nên bần cùng. Những Ngô Tất Tố đã khéo léo đan xen những sự kiện lại với nhau để chị Dậu bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của mình.
Chị là người phụ nữ có tấm lòng vị tha, yêu thương chồng con tha thiết. Việc chị tìm mọi cách để cứu chồng ra khỏi cùm kẹp, chị ân cần chăm sóc anh Dậu, đặc biệt là hành động dũng cảm lấy thân mình che chở cho chồng đau ốm trước thái độ hung hãn của hai tên tay sai đã làm cho người đọc phải yêu mến, khâm phục chị hơn. Chính lòng yêu thương chồng đã tạo cho chị một sức mạnh, một lòng can đảm bất ngờ. Ngay khi bị giải lên huyện, nhịn đói với sợi dây thưng gò ở hai tay, chị vẫn nghĩ đến cái Tửu, thằng Dần, cái Tý.
Chị còn là một người phụ nữ thông minh sắc sảo. Chị không biết chữ, chẳng khỏi bỡ ngỡ trước bao mưu ma chước quỷ của bọn thống trị, nhưng chị không sợ sệt, chị không lạ gì bụng dạ của vợ chồng Nghị Quế, nhịn bọn tai to mặt lớn ở đình chị hiểu ra nhiều điều…đứng trước những khó khăn bất ngờ tưởng chừng như không vượt qua được, một lúc hai suất sưu chị không gục ngã mà tìm mọi cách để cứu chồng mình ra.
Chị có đủ can đảm để ném thẳng giấy bạc vào mặt tên tri phủ Tư Ân, hai lần bị cưỡng hiếp những chị đều tự thoát ra được. Tất cả những chi tiết đó đã làm nên hình ảnh một chị Dậu đảm đang, thương chồng, luôn quật cường, mạnh mẽ, dám đứng lên chống lại cái xấu, cái ác.
Ở chị Dậu không chỉ bộc lộ tình yêu thương, sự quan tâm, lòng tận tụy mà còn nhẫn nhịn cứng cỏi toát lên một cốt cách mạnh mẽ, một sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông dân vốn ngàn đời lao động và đấu tranh cho cuộc sống của chính mình. Chị là niềm tự hào của người dân Việt, của nhà văn Ngô Tất Tố. Qua nhân vật chị Dậu, tác giả không những hiểu sâu nổi khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột mà còn khẳng định phẩm chất đẹp đẽ của họ, không gì có thể vùi dập.
Chị Dậu có nét đẹp tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam, sống trong nghèo khổ vẫn có ý thức về nhân phẩm trong trắng mà mạnh mẽ, tiền tài không thể làm vẩn đục, bạo lực không thể khuất phục. Chị Dậu rất mực hiền dịu nhưng không yếu đuối. Khi cần, chị đã phản kháng dũng cảm, thể hiện một sức sống mãnh liệt, kiên cường, bất khuất của người phụ nữ nông dân Việt Nam.
Nếu uy lực không thể đè bẹp được chị, thì tiền tài cũng không thể mua chuộc được con người chị. Có lúc chỉ vì một đồng bạc mà chị phải bán đi đứa con gái của mình. Chị có thể bán đi tất cả nhưng quyết không thể bán đi nhân phẩm của một con người. Thật đúng như nhận xét của Nguyễn Tuân: “Chị Dậu là cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn”.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 6
Đọc tiểu thuyết “Tắt đèn”, người đọc không thể quên chị Dậu – người phụ nữ rất mực dịu dàng và biết chịu đựng nhẫn nhục, đã ba lần vùng lên chống trả quyết liệt sự áp bức của bọn thống trị để bảo vệ nhân phẩm của mình và bảo vệ chồng con. Làm nên thành công của tác phẩm phải kể đến nghệ thuật kể chuyện của Ngô Tất Tố. Trong đó nổi bật là cảnh “tức nước vỡ bờ” mà nhà văn viết thành một chương truyện đầy ấn tượng khó phai, chương thứ 19 của tiểu thuyết.
Như chúng ta đều biết “Tắt đèn” là một tác phẩm giàu giá trị hiện thực. Tiểu thuyết tố cáo và lên án chế độ sưu thuế dã man của thực dân Pháp đã bần cùng hóa nhân dân. “Tắt đèn” là một bức tranh xã hội chân thực, một bản án đanh thép kết tội chế độ thực dân nửa phong kiến. “Tắt đèn” cũng rất giàu giá trị nhân đạo. Tình vợ chồng, tình mẹ con, tình xóm nghĩa làng giữa những con người cùng khổ, số phận những người phụ nữ, những em bé, những người cùng đinh được tác giả nêu lên với bao xót thương, nhức nhối và đau lòng. “Tắt đèn” đã xây dựng nhân vật chị Dậu, một hình tượng chân thực đẹp đẽ về người phụ nữ nông dân Việt Nam. Chị Dậu có bao phẩm chất tốt đẹp: cần cù, tần tảo, giầu tình thương, nhẫn nhục và dũng cảm chống cường hào, áp bức. Chị Dậu là hiện thân của người vợ, người mẹ vừa sắc sảo, vừa đôn hậu, vừa trong sạch. Đây cũng là tác phẩm thành công về nghệ thuật. Với kết cấu chặt chẽ, tập trung. Các tình tiết, chi tiết đan cài chặt chẽ, đầy ấn tượng làm nổi bật chủ đề. Nhân vật chị Dậu xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm. Tính xung đột, tính bi kịch cuốn hút, hấp dẫn. Khắc hoạ thành công nhân vật: các hạng người từ người dân cày nghèo khổ đến dịa chủ, từ bọn cường hào đến quan lại đều có nét riêng rất chân thực, sống động. Ngôn ngữ từ miêu tả đến tự sự, rồi đến ngôn ngữ nhân vật đều nhuần nhuyễn đậm đà. Nhưng trên hết vẫn là nghệ thuật kể chuyện tuyệt vời.
Thưởng thức tác phẩm nói chung, chương 19 nói riêng ta bắt gặp tình huống truyện hấp dẫn thể hiện mối xung đột cao độ giữa kẻ áp bức và người bị áp bức. Giữa vụ sưu thuế căng thẳng, gia đình chị Dậu bị dồn đến bước đường cùng trong cơn khốn quẫn nhất: phải bán con, bán đàn chó mới đẻ mới đủ suất tiền sưu cho anh Dậu để cứu chồng đang ốm yếu bị đánh đập ngoài đình. Nhưng nguy cơ anh Dậu lại bị bắt nữa vì chưa có tiền nộp sưu cho người em ruột đã chết từ năm ngoái. Nhờ hàng xóm giúp, chị Dậu ra sức cứu sống chồng nhưng trời vừa sáng, cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào với những roi song tay thước và dây thừng, tính mạng của anh Dậu bị đe doạ nghiêm trọng. Anh chưa kịp húp ít cháo cho đỡ xót ruột như mong muốn của người vợ thương chồng thì bọn đầu trâu mặt ngựa đã ào vào như một cơn lốc dữ khiến anh lăn đùng ra không nói được câu gì. Như vậy, tình huống vừa mới mở ra mà xung đột đã nổi lên ngay, báo trước kịch tính rất cao đề dẫn đến cảnh “tức nước vỡ bờ” như là một quy luật không thể nào tránh khỏi.
Bên cạnh tình huống truyện độc đáo là nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc. Trong phần hai của văn bản này xuất hiện các nhân vật đối lập với chị Dậu. Trong đó nổi bật là tên cai lệ. Cai lệ là viên cai chỉ huy một tốp lính lệ. Hắn cùng với người nhà lí trưởng kéo đến nhà chị Dậu để tróc thuế sưu, thứ thuế nộp bằng tiền mà người đàn ông là dân thường từ 18 đến 60 tuổi (gọi là dân đinh) hằng năm phải nộp cho nhà nước phong kiến thực dân; sưu là công việc lao động nặng nhọc mà dân đinh phải làm cho nhà nước đó. Gia đình chị Dậu phải đóng suất thuế sưu cho người em chồng đã mất từ năm ngoái cho thấy thực trạng xã hội thời đó thật bất công, tàn nhẫn và không có luật lệ.
Theo dõi nhân vật cai lệ, ta thấy ngòi bút hiện thực Ngô Tất Tố đã khắc họa hình ảnh tên cai lệ bằng những chi tiết điển hình thật sắc sảo:
Vừa vào nhà, cai lệ đã lập tức ra oai “gõ đầu roi xuống đất”, hách dịch gọi anh Dậu là “thằng kia”, “mày” và xưng “ông”, “cha mày”. “Thằng kia! Ông tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu mau!”
Cai Lệ trợn ngược hai mắt, hắn quát: “mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất!” Vẫn giọng hầm hè: “Nếu không có tiền nộp sưu cho ông bây giờ, thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi, chửi mắng thôi à! ….”
Đùng đùng, cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu : “tha này! tha này!.. Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu.”
Ngòi bút của Ngô Tất Tố thật sắc sảo, tinh tế khi ông không dùng một chi tiết nào để miêu tả suy nghĩ tên cai lệ trong cảnh này. Bởi vì lũ đầu trâu mặt ngựa xem việc đánh người, trói người như là việc tự nhiên hàng ngày, chẳng bao giờ thấy động lòng trắc ẩn thì làm gì chúng còn biết suy nghĩ? Nhà văn đã kết hợp các chi tiết điển hình về bộ dạng, lời nói, hành động để khắc hoạ nhân vật. Từ đó ta thấy tên cai lệ đã bộc lộ tính cách hống hách, thô bạo, không còn nhân tính. Từ hình ảnh tên cai lệ này, ta thấy bản chất xã hội thực dân phong kiến là một xã hội đầy rẫy bất công tàn ác, một xã hội có thể gieo hoạ xuống người dân lương thiện bất kì lúc nào, một xã hội tồn tại trên cơ sỏ của các lí lẽ và hành động bạo ngược.
Hình ảnh đẹp đẽ của người nông dân lao động nghèo khổ cũng được tác giả tái hiện hấp dẫn. Truyện “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố đã tạo dựng được hình ảnh chân thực về người phụ nữ nông dân bị áp bức cùng quẫn trong xã hội phong kiến nhưng vẫn giữ được bản chất tốt đẹp của người lao đông, đó là chị Dậu. Trước hết là tấm lòng của người vợ đối với người chồng đang đau ốm được diễn tả chân thật và xúc động từ lời nói đến hành động. Chị Dậu chăm sóc anh Dậu trong hoàn cảnh éo le. Giữa vụ sưu thuế căng thẳng, nhà nghèo, phải bán chó, bán con mà vẫn không lo đủ tiền sưu. Còn anh Dậu thì bị tra tấn, đánh đập và bị ném về nhà như một cái xác rũ rượi…Trước hoàn cảnh khốn khó, chị Dậu đã chịu đựng rất dẻo dai, không gục ngã. Trong cơn nguy biến chị đã tìm mọi cách cứu chữa cho chồng: Cháo chín, chị Dậu mang ra giữa nhà, ngả mâm bát múc la liệt. Rồi chị lấy quạt quạt cho chóng nguội. Chị rón rén bưng một bát đến chỗ chồng nằm: Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. Rồi chị đón lấy cái Tỉu và ngồi xuống đó như có ý chờ xem chồng ăn có ngon miệng không. Đó là những cử chỉ yêu thương đằm thắm, dịu dàng của một người vợ yêu chồng. Tình cảm ấy như hơi ấm dịu dàng thức tỉnh sự sống cho anh Dậu. Tác giả miêu tả thật tỉ mỉ, kĩ lưỡng từng hành động cử chỉ, từng dấu hiệu chuyển biến của anh Dậu: “anh Dậu uốn vai ngáp dài một tiếng”… Dường như mỗi cử chỉ, hành động của anh Dạu đều có ánh mắt thấp thỏm, lo lắng của chị Dậu dõi theo da diết. Cứ tưởng rằng đây là một phút giây ngắn ngủi trong cả cuộc đời đau khổ của chị Dậu để chị có thể vui sướng tràn trề khi anh Dậu hoàn toàn sống lại. Nhưng dường như chị Dậu sinh ra là để khổ đau và bất hạnh nên dù chị có khao khát một giây phút hạnh phúc ngắn ngủi nhưng nào có được. Bọn Cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập tiến vào như cơn lốc dữ dập tắt ngọn lửa sống đang nhen nhóm trong anh Dậu. Nỗi cay đắng trong chị Dậu không biết lớn đến mức nào. Nhưng giờ đây chị sẽ phải xử sự ra sao để cứu được chồng thoát khỏi đòn roi.
Trong phần thứ hai của văn bản “tức nước vỡ bờ”, ta thấy chị Dậu là một người phụ nữ cứng cỏi đã dũng cảm chống lại bọn cường hào để bảo vệ chồng. Ban đầu chị nhẫn nhục chịu đựng. Chị Dậu cố van xin thiết tha bằng giọng run run cầu khẩn: “Hai ông làm phúc nói với ông lí cho cháu khất”. Cách cư xử và xưng hô của chị thể hiện thái độ nhẫn nhục chịu đựng. Chị có thái độ như vậy là vì chị biết thân phận bé mọn của mình, người nông dân thấp cổ bé họng, biết cái tình thế khó khăn, ngặt nghèo của gia đình mình (anh Dậu là kẻ có tội thiếu suất sưu của người em đã chết, lại đang ốm nặng). Trong hoàn cảnh này, chị chỉ mong chúng tha cho anh Dậu, không đánh trói hành hạ anh. Khi tên cai lệ chạy sầm sập đến trói anh Dậu, tính mạng người chồng bị đe doạ, chị Dậu “xám mặt” vội vàng chạy đến đỡ lấy tay hắn, nhưng vẫn cố van xin thảm thiết: “Cháu van ông! Nhà cháu vừa mới tỉnh được mọt lúc, ông tha cho”. (“Xám mặt” tức là chị đã rất tức giận, bất bình trước sự vô lương tâm của lũ tay sai.) Mặc dù vậy, lời nói của chị vẫn rất nhũn nhặn, chị đã nhẫn nhục hạ mình xuống- chứng tỏ sức chịu đựng của chị rất lớn. Tất cả chỉ là để cứu chồng qua cơn hoạn nạn. Nhưng chị Dậu không thuộc loại người yếu đuối chỉ biết nhẫn nhục van xin mà còn tiềm tàng một khả năng phản kháng mãnh liệt. Khi tên cai lệ mỗi lúc lại lồng lên như một con chó điên “bịch vào ngực chị mấy bịch” rồi “tát đánh bốp vò mặt chị thậm chí nhảy vào chỗ anh Dậu”…. tức là hắn hành động một cách dã man thì mọi sự nhẫn nhục đều có giới hạn. Chị Dậu đã kiên quyết cự lại. Sự cự lại của chị Dậu cũng có một quá trình gồm hai bước. Thoạt đầu, chị cự lại bằng lí lẽ: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”. Lời nói đanh thép như một lời cảnh cáo. Thực ra chị không viện đến pháp luật mà chỉ nói cái lí đương nhiên, cái đạo lí tối thiểu của con người. Lúc này chị đã thay đổi cách xưng hô ngang hàng nhìn vào mặt đối thủ. Với thái độ quyết liệt ấy, một chị Dậu dịu dàng đã trở nên mạnh mẽ, đáo để. Đến khi tên cai lệ dã thú ấy vẫn không thèm trả lời còn tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi cứ nhảy vào cạnh anh Dậu thì chị đã vụt đứng dậy với niềm căm giận ngùn ngụt: Chị Dậu nghiến hai hàm răng “mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Một cách xưng hô hết sức đanh đá của phụ nữ bình dân thể hiện tư thế “đứng trên đầu thù” sẵn sàng đè bẹp đối phương. Rồi chị “túm cổ cai lệ ấn dúi ra cửa, lẳng người nhà lí trưởng ngã nhào ra thềm”. Chị Dậu vẫn chưa nguôi giận. Với chị, nhà tù thực dân cũng chẳng có thể làm cho chị run sợ nên trước sự can ngăn của chồng, chị trả lời: “thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được”. Nhân vật chị Dậu được miêu tả hành động lời nói để làm toát lên diễn biến tâm lí và tính cách. Đối với chồng thì dịu dàng, chu đáo quan tâm chăm sóc. Đối với bọn cai lệ và người nhà lí trưởng lúc đầu thì nhún nhường van xin tha thiết. Sau vì bị bọn chúng dồn ép đến chân tường nên đã vùng lên phản kháng thể hiện khí chất mạnh mẽ tiềm tàng, tâm lý phát triển biến đổi một cách hợp lý và nhất quán với tính cách, hiện lên đầy sức sống trong đoạn trích. Tạo ra một diễn biến giàu tính kịch với cả xung đột, phát triển, cao trào, thắt nút và mở nút khiến người đọc hồi hộp theo dõi và sung sướng hả hê ở đoạn mở nút câu chuyện. Lời người kể chuyện hấp dẫn với những chi tiết miêu tả ít nhưng có tác dụng đắc địa tạo lên không khí truyện.Lời kể có sự dẫn dắt chi tiết và cụ thể khiến người đọc dễ dàng hình dung ra hành động và sự việc diễn ra trong truyện. Lời nhân vật được lựa chọn kỹ càng góp phần làm toát lên tính cách nhân vật. Mọi phương diện nghệ thuật của đoạn trích đều đặc sắc. Nhà văn tỏ ra am tường và tinh tế trong quan sát, miêu tả và hiểu tâm lý nhân vật. Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm có tác dụng khắc hoạ nhân vật và sự việc một cách chân thực và sinh động.
Trái ngược với sự mạnh mẽ của chị Dậu, nhân vật anh Dậu ốm yếu được xây dựng chủ yếu thông qua hành động: uể oải, vừa rên vừa ngỏng đầu lên, run rẩy, lăn đùng ra, hoảng quá, sợ quá, vừa run vừa kêu. Hình ảnh người ốm được xây dựng khá sinh động, tạo ấn tượng về sự yếu đuối.
Không dừng lại ở đó, sức hấp dẫn của Tắt đèn còn ở ngôn ngữ kể chuyện chính xác và tinh tế. Lời người kể chuyện hấp dẫn với những chi tiết miêu tả ít nhưng có tác dụng đắc địa tạo lên không khí truyện. Lời kể có sự dẫn dắt chi tiết và cụ thể khiến người đọc dễ dàng hình dung ra hành động và sự việc diễn ra trong truyện. Lời nhân vật được lựa chọn kỹ càng góp phần làm toát lên tính cách nhân vật.
Như vậy, với kết cấu chặt chẽ, tập trung, các tình tiết, chi tiết đan cài chặt chẽ, đầy ấn tượng Ngô Tất Tố đã làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Tác giả cũng khắc hoạ thành công nhân vật: có nét riêng rất chân thực, sống động. Nhân vật chị Dậu xuất hiện từ đầu đến cuối. Tính xung đột, tính bi kịch cuốn hút, hấp dẫn. Ngôn ngữ từ miêu tả đến tự sự, rồi đến ngôn ngữ nhân vật đều nhuần nhuyễn đậm đà. Đoạn trích xứng đáng với lời khen ngợi của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan là tuyệt khéo. Đúng như Vũ Trọng Phụng nhận xét: “Tắt đèn” là một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội hoàn toàn phụng sự dân quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 7
“Tắt đèn” của Ngô Tất Tố không chỉ là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945 mà còn là một bức tranh chân thực, đầy bi kịch về cuộc sống cực khổ của người nông dân dưới ách áp bức của xã hội thực dân phong kiến. Tác phẩm đã khắc họa một cách sâu sắc số phận của chị Dậu, một người phụ nữ nông thôn điển hình, qua đó phơi bày những bất công, tàn nhẫn của chế độ cũ và khơi gợi lòng thương cảm, sự phẫn uất trong lòng độc giả.
Trước hết, “Tắt đèn” đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật chị Dậu, một người phụ nữ nông thôn tần tảo, giàu đức hi sinh và lòng yêu thương. Chồng ốm co bờ bên. Chị hiền lành với những phẩm chất cao đẹp: nhẫn nại, tháo vát, đảm đang đã vươn lên vượt qua khó khăn để bảo vệ gia đình. Từ việc bán chó, bán con đến việc chấp nhận những tủi nhục để cứu chồng, tất cả đều xuất phát từ tình yêu thương chồng con sâu sắc. Ngô Tất Tố đã miêu tả chân thực những giọt nước mắt, những nỗi lo lắng, những hành động quyết liệt của chị, khiến người đọc không khỏi xót xa, cảm phục. Chị Dậu không chỉ là hình ảnh của một người vợ, người mẹ mà còn là biểu tượng cho sức sống tiềm tàng, sự phản kháng âm thầm nhưng mạnh mẽ của người phụ nữ Việt Nam trong hoàn cảnh khốn cùng.
Bên cạnh đó, “Tắt đèn” còn phản ánh một cách chân thực bức tranh xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám đầy rẫy những bất công và áp bức. Ngô Tất Tố đã khắc họa rõ nét sự tàn bạo của bọn cường hào ác bá, những kẻ lợi dụng quyền lực để bóc lột, chèn ép người dân lương thiện. Hình ảnh tên cai lệ và người nhà lý trưởng hiện lên như những con quỷ dữ, sẵn sàng dùng vũ lực, đòn roi để đòi sưu thuế, đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Tác phẩm đã tố cáo mạnh mẽ sự mục ruỗng của bộ máy cai trị, sự cấu kết giữa quan lại và địa chủ, đẩy người dân vào cảnh một cổ hai tròng, sống trong đói nghèo, bệnh tật và sự đe dọa thường trực.
Ngòi bút hiện thực sắc sảo của Ngô Tất Tố còn thể hiện ở việc miêu tả chân thực cuộc sống khốn khó của gia đình chị Dậu nói riêng và người nông dân nói chung. Cảnh sưu thuế nặng nề, những trận đòn roi tàn nhẫn, sự đói khát bủa vây, những đứa con nheo nhóc… tất cả đã được tái hiện một cách sống động, đầy ám ảnh. Tên gọi “Tắt đèn” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, không chỉ là sự tắt đi ánh sáng vật chất mà còn là sự tắt đi hy vọng, niềm tin vào một tương lai tươi sáng của người nông dân nghèo khổ. Bóng tối bao trùm lên cuộc đời họ, đẩy họ vào những ngõ cụt, buộc họ phải đưa ra những quyết định đau đớn.
Không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực, “Tắt đèn” còn mang giá trị nhân đạo sâu sắc. Ngô Tất Tố đã thể hiện sự đồng cảm, xót thương sâu sắc đối với số phận của người nông dân. Ông không chỉ miêu tả nỗi khổ của họ mà còn khám phá những phẩm chất tốt đẹp, sức mạnh tiềm tàng trong tâm hồn họ. Tình yêu thương gia đình, sự đùm bọc lẫn nhau trong hoạn nạn, khát vọng sống mãnh liệt của những người nông dân nghèo đã được nhà văn khắc họa một cách cảm động. Tác phẩm đã khơi gợi trong lòng độc giả sự phẫn nộ đối với cái ác, cái bất công và lòng trắc ẩn đối với những kiếp người lầm than.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị to lớn, “Tắt đèn” cũng có một số hạn chế nhất định. Một số ý kiến cho rằng, tác phẩm tập trung quá nhiều vào việc miêu tả nỗi khổ, sự bi kịch mà chưa đề cập đến những con đường giải phóng mạnh mẽ hơn của người nông dân. Dù vậy, không thể phủ nhận rằng “Tắt đèn” đã có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của văn học hiện thực phê phán Việt Nam, đặt nền móng cho những tác phẩm sau này đi sâu hơn vào việc phân tích nguyên nhân sâu xa của sự áp bức và tìm kiếm con đường giải phóng cho người lao động.
Tóm lại, “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố là một tác phẩm văn học xuất sắc, có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Qua hình tượng nhân vật chị Dậu và bức tranh xã hội nông thôn đầy rẫy bất công, tác phẩm đã tố cáo mạnh mẽ chế độ thực dân phong kiến tàn bạo, đồng thời thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với số phận khổ cực của người nông dân. “Tắt đèn” không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một tiếng kêu thống thiết, một lời cảnh tỉnh về những vấn đề xã hội nhức nhối của một thời kỳ lịch sử đầy biến động. Đến nay, tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị và sức lay động mạnh mẽ trong lòng độc giả.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 8
Tác giả Ngô Tất Tố là một nhà văn, nhà báo, nhà Nho học, dịch giả và nhà nghiên cứu nổi tiếng của Việt Nam. Ông được đánh giá là nhà văn xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng tháng Tám 1945. Trong đó, Tắt Đèn là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông.
Tắt đèn kể về cuộc đời chị Dậu – một người phụ nữ nông dân nghèo khổ bị áp bức bóc lột bởi chế độ sưu thuế hà khắc dưới thời Pháp thuộc. Tác phẩm đã phản ánh chân thực cuộc sống cơ cực, tăm tối của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Đồng thời, tác phẩm cũng thể hiện tinh thần đấu tranh chống lại áp bức bất công của họ.
Mở đầu tác phẩm là cảnh chị Dậu chăm sóc chồng sau trận đòn roi của bọn cường hào. Chị Dậu là một người phụ nữ đảm đang, yêu thương chồng con hết mực. Khi thấy anh Dậu bị bọn cai lệ đánh đập dã man, chị Dậu vô cùng đau xót. Chị đã cố gắng hết sức để chăm sóc cho anh Dậu, mong anh mau chóng hồi phục. Tuy nhiên, do không có tiền nộp sưu nên anh Dậu vẫn bị bọn cai lệ bắt đi. Chúng còn định lôi chị Dậu đi theo nhưng chị đã van xin chúng tha cho mình. Sau khi anh Dậu được thả về, chị Dậu đã phải bán con gái đầu lòng để lấy tiền nộp sưu cho chồng. Nhưng bọn cai lệ vẫn tiếp tục đòi món sưu của người em chồng đã chết từ năm ngoái. Anh Dậu lại bị bắt đi. Lần này, chị Dậu quyết tâm đứng lên chống lại bọn cường hào. Chị đã dùng lời lẽ khôn khéo để thuyết phục bọn cai lệ tha cho chồng mình. Khi chúng vẫn tiếp tục hung hãn, chị Dậu đã vùng dậy đánh trả. Hành động của chị Dậu đã khiến cho bọn cai lệ phải khiếp sợ.
Qua tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình. Ông đã đồng cảm với nỗi khổ của người nông dân Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ nông thôn. Ông đã lên án gay gắt chế độ sưu thuế hà khắc, đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Đồng thời, ông cũng ca ngợi tinh thần đấu tranh chống lại áp bức bất công của họ.
Nhìn chung, Tắt đèn là một tác phẩm văn học xuất sắc của Ngô Tất Tố. Tác phẩm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc bởi nội dung giàu tính nhân văn và nghệ thuật xây dựng nhân vật tài tình.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 9
Trong nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, Ngô Tất Tố là một trong những cây bút tiêu biểu với lối viết sắc sảo, giàu tính chiến đấu và nhân đạo. Tiêu biểu cho phong cách ấy là tiểu thuyết Tắt đèn – một tác phẩm đã khắc họa chân thực, đau xót cuộc sống của người nông dân dưới ách thống trị tàn bạo của chế độ thực dân phong kiến. Qua hình tượng nhân vật chị Dậu, nhà văn không chỉ tố cáo xã hội bất công mà còn ca ngợi vẻ đẹp và sức sống tiềm tàng của người phụ nữ nông dân Việt Nam.
Trước hết, Tắt đèn đã dựng lên một bức tranh hiện thực đầy u ám về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Đó là một xã hội bị chi phối bởi sưu thuế nặng nề và bộ máy cường hào ác bá tàn nhẫn. Những tên cai lệ, lý trưởng hiện lên như những công cụ vô nhân tính, sẵn sàng dùng roi vọt, bạo lực để bóc lột người dân. Chỉ vì không có tiền nộp sưu, gia đình chị Dậu bị dồn vào bước đường cùng: chồng bị đánh đập, bản thân chị phải bán con, bán chó mà vẫn không đủ trả nợ. Qua đó, Ngô Tất Tố đã vạch trần bản chất tàn bạo, phi nhân đạo của xã hội đương thời – nơi mà người nông dân bị chà đạp cả về thể xác lẫn tinh thần.
Nổi bật trong tác phẩm là hình tượng chị Dậu – một người phụ nữ nông dân giàu lòng yêu thương và đức hi sinh. Chị hết lòng chăm sóc chồng con, sẵn sàng làm mọi thứ để bảo vệ gia đình. Từ việc nhẫn nhục van xin bọn cai lệ đến hành động đau đớn bán con, tất cả đều xuất phát từ tình yêu thương sâu sắc. Những giọt nước mắt, những nỗi đau âm thầm của chị đã khiến người đọc không khỏi xót xa, cảm thương. Ở chị hội tụ đầy đủ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, nhân hậu, giàu tình nghĩa.
Không dừng lại ở đó, nhân vật chị Dậu còn mang trong mình sức phản kháng tiềm tàng mạnh mẽ. Khi bị dồn đến đường cùng, chị đã vùng lên chống lại bọn cai lệ bằng hành động quyết liệt. Từ chỗ nhún nhường, nhẫn nhịn, chị chuyển sang đấu tranh để bảo vệ chồng. Hành động “tức nước vỡ bờ” ấy không chỉ là phản ứng nhất thời mà còn thể hiện quy luật tất yếu: khi bị áp bức quá mức, con người sẽ đứng lên đấu tranh. Qua đó, Ngô Tất Tố đã khẳng định sức sống mãnh liệt và tiềm năng phản kháng của người nông dân.
Bên cạnh giá trị hiện thực, Tắt đèn còn mang đậm giá trị nhân đạo sâu sắc. Nhà văn thể hiện sự đồng cảm, xót thương chân thành đối với số phận khổ cực của người nông dân. Ông không chỉ phản ánh nỗi đau mà còn trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của họ. Đồng thời, tác phẩm còn khơi dậy trong lòng người đọc sự căm phẫn trước cái ác, cái bất công, từ đó thức tỉnh ý thức đấu tranh cho công lý.
Về nghệ thuật, Tắt đèn thành công ở lối kể chuyện chân thực, giàu sức gợi. Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình, đặc biệt là chị Dậu, được khắc họa sống động qua hành động và tâm lý. Ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống nông thôn đã góp phần làm tăng tính chân thực và sức truyền cảm của tác phẩm.
Có thể nói, Tắt đèn là một tác phẩm xuất sắc của Ngô Tất Tố, vừa có giá trị hiện thực sâu sắc, vừa mang ý nghĩa nhân đạo lớn lao. Qua câu chuyện về chị Dậu, nhà văn đã lên án mạnh mẽ xã hội bất công và khẳng định vẻ đẹp, sức sống của người nông dân Việt Nam. Đến nay, tác phẩm vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục lay động lòng người đọc bởi thông điệp sâu sắc về con người và cuộc sống.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn - mẫu 10
Trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, nếu Nam Cao khiến người ta đau đớn trước sự xói mòn về nhân phẩm của người trí thức hay người nông dân tha hóa, thì Ngô Tất Tố lại dựng lên một bức tranh ngột ngạt về nỗi khổ vật chất và sưu thuế. Tiểu thuyết “Tắt đèn” không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là một bản cáo trạng đanh thép đập tan bộ mặt giả nhân giả nghĩa của xã hội thực dân phong kiến, đồng thời là bài ca về vẻ đẹp quật khởi của người phụ nữ nông dân Việt Nam.
Toàn bộ tác phẩm bao trùm bởi một bầu không khí tang tóc, căng thẳng của vụ thuế tại làng Đông Xá. Ngô Tất Tố đã chọn thời điểm nghiệt ngã nhất trong năm ở nông thôn để phơi bày bản chất tàn khốc của xã hội bấy giờ. Tiếng trống thúc thuế, tiếng quát tháo của cai lệ và tiếng khóc than của những gia đình nghèo khổ tạo nên một khung cảnh như địa ngục trần gian. Ở đó, nhân phẩm con người bị rẻ rúng, mạng sống bị cân đo bằng những đồng bạc sưu thuế phi lý. Đau đớn nhất là gia đình chị Dậu, vì không có tiền nộp suất sưu cho cả người em chồng đã chết, chị bị đẩy vào bi kịch tận cùng: phải bán đi những hạt ngô cuối cùng, bán cả đàn chó con và đau xót nhất là bán đi cái Tý – đứa con gái đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo.
Nhân vật chị Dậu hiện lên là hình ảnh biểu tượng cho người phụ nữ nông dân truyền thống: tần tảo, giàu đức hy sinh và hết lòng yêu thương chồng con. Trong khi anh Dậu đang ốm đau bị bọn tay sai đánh đập chết đi sống lại, một mình chị phải gồng gánh cả gia đình, chạy vạy ngược xuôi giữa cái nắng gắt của vụ thuế và cái lạnh lùng của lòng người. Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” chính là đỉnh cao của bút pháp miêu tả tâm lý và hành động của Ngô Tất Tố. Ở đó, ta thấy một chị Dậu nhẫn nhục hết mức, “uốn gối khom lưng” van xin bọn cai lệ hung hãn. Nhưng khi lòng trắc ẩn bị chà đạp, khi tính mạng của người chồng thân yêu bị đe dọa, con người hiền lành ấy đã đứng lên với một sức mạnh bão táp.
Sự chuyển biến từ “cháu – ông” sang “tôi – ông” và cuối cùng là “mày – bà” không chỉ là sự thay đổi về ngôn ngữ mà còn là sự thức tỉnh về nhân quyền. Hành động “quật ngã” tên cai lệ và tên hầu cận lý trưởng của chị Dậu là một minh chứng hùng hồn cho quy luật: “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Dù chỉ là sự phản kháng tự phát, nhưng nó đã tát một cú trực diện vào mặt giai cấp thống trị, khẳng định rằng sức mạnh của lòng nhân hậu và tình yêu thương khi bị dồn vào đường cùng sẽ trở thành vũ khí sắc bén nhất.
Tuy nhiên, tiểu thuyết kết thúc bằng một hình ảnh đầy ám ảnh: Chị Dậu chạy ra ngoài trời giữa đêm tối “đen kịt như cái tiền đồ của chị”. Cái kết ấy không đơn thuần là sự bế tắc, mà nó phản ánh một hiện thực khách quan của lịch sử: Khi chưa có ánh sáng cách mạng dẫn đường, người nông dân dù có mạnh mẽ phản kháng đến đâu vẫn chưa thể tự giải phóng mình khỏi bóng tối của chế độ cũ.
Về nghệ thuật, Ngô Tất Tố đã thể hiện ngòi bút hiện thực sắc sảo qua cách xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Ngôn ngữ của tác phẩm giàu chất sống, mộc mạc nhưng đầy sức nặng phê phán. Cách điều phối nhịp điệu truyện nhanh, dồn dập khiến người đọc như nghẹt thở cùng nhân vật trong từng trang sách.
Nhìn chung, “Tắt đèn” là một viên ngọc quý của văn học hiện thực Việt Nam. Qua tác phẩm, nhà văn không chỉ bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc với nỗi khổ của người dân lao động mà còn phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn, sức sống mãnh liệt của họ. Chị Dậu sẽ mãi là hình tượng bất tử, đại diện cho những người phụ nữ Việt Nam dẫu trong đêm tối của cuộc đời vẫn tỏa sáng rạng ngời phẩm giá và tinh thần bất khuất.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Những ngày thơ ấu
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Chiến tranh và hòa bình
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Ruồi trâu
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Không gia đình
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học: Truyện về các vị thần sáng tạo thế giới (Nguyễn Đổng Chi)
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học: Tê – dê (Ê-đi Ha-min-tơn)
Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:
- Giải bài tập Lớp 10 Kết nối tri thức
- Giải bài tập Lớp 10 Chân trời sáng tạo
- Giải bài tập Lớp 10 Cánh diều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 10 Global Success
- Giải Tiếng Anh 10 Friends Global
- Giải sgk Tiếng Anh 10 iLearn Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 10 Explore New Worlds
- Lớp 10 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 10 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - KNTT
- Giải sgk Toán 10 - KNTT
- Giải sgk Vật lí 10 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 10 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 10 - KNTT
- Giải sgk Địa lí 10 - KNTT
- Giải sgk Lịch sử 10 - KNTT
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - KNTT
- Giải sgk Tin học 10 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 10 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - KNTT
- Lớp 10 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 10 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - CTST
- Giải Toán 10 - CTST
- Giải sgk Vật lí 10 - CTST
- Giải sgk Hóa học 10 - CTST
- Giải sgk Sinh học 10 - CTST
- Giải sgk Địa lí 10 - CTST
- Giải sgk Lịch sử 10 - CTST
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - CTST
- Lớp 10 - Cánh diều
- Soạn văn 10 (hay nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - Cánh diều
- Giải sgk Toán 10 - Cánh diều
- Giải sgk Vật lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Địa lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử 10 - Cánh diều
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

