10+ Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (điểm cao)
Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Thị Kính nuôi con cho Thị Màu điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 1)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 2)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 3)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 4)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 5)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 6)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 7)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 8)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu 9)
- Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (mẫu khác)
10+ Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu (điểm cao)
Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu
a) Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh ra đời của đoạn trích “Thị Kính nuôi con Thị Mầu”
b) Thân bài:
- Hoàn cảnh của Thị Kính: xuất thân từ một gia đình nghèo, bị hiểu lầm là muốn giết chồng
- Thị Kính đã cải trang thành một người đàn ông và đi tu tại chùa Vân Tự, đồng thời thay đổi tên thành Kính Tâm.
- Trong làng sống có nàng Thị Mầu, một người phụ nữ lười biếng, và cô đã đam mê phật tử Kính Tâm.
=> Điều này đã khiến cô lỡ dỡ và mang thai với đầy tớ.
- Tình yêu thương bao la của Thị Kính giành cho đứa trẻ
c) Kết bài:
- Tác phẩm này đáng được đánh giá cao về cả nội dung và nghệ thuật. Nó mang lại những trải nghiệm tinh tế và sâu sắc cho người đọc.
- Đoạn trích trên truyền đạt thông điệp về sự hiểu lầm và oan trái trong xã hội, đồng thời làm nổi bật sự chịu đựng, lòng từ bi và tình yêu thương vô điều kiện của nhân vật Kính Tâm. Nó cũng nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của lòng hiếu thảo và đạo đức trong cuộc sống.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 1
Truyện thơ Nôm đóng vai trò như một kho báu văn hóa của dân tộc Việt Nam, có giá trị vô cùng quan trọng. Trong kho tàng này, chúng ta tìm thấy không chỉ những kinh nghiệm sống, phong tục tập quán, mà còn cả kiến thức lịch sử của cộng đồng. Bằng thể thơ lục bát đặc trưng, truyện thơ Nôm truyền tải được sự biểu đạt giàu cảm xúc, với những câu từ giản dị và âm điệu tình cảm. Điều này khiến truyện thơ Nôm mang trong mình một sự đậm nét dân tộc đặc trưng. Trong kho tàng ấy, có một câu chuyện kinh điển, vẫn mãi còn ấn tượng trong tâm trí người đọc, với sự sâu sắc của tư tưởng mà tác phẩm truyền tải. Đó chính là đoạn trích "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" từ tác phẩm "Quan Âm Thị Kính". Trong đoạn trích trên, chúng ta được khám phá tấm lòng nhân từ của Thị Kính khi bị vu oan và bị Thị Mầu ép buộc đón nhận đứa con. Mặc dù bị đẩy vào tình thế khó khăn, nhưng vì sự sống của đứa bé bé nhỏ, Thị Kính quyết định giữ lại và chăm sóc nó như con của mình.
Thị Kính sinh ra trong một gia đình nghèo khó, và cô lấy chồng là Thiện Sỹ, con trai của một người giàu có. Một đêm nọ, khi Thiện Sỹ đang ngủ quên trong lúc đọc sách, Thị Kính nhìn thấy một chút râu mọc ngược dưới cằm anh ta. Cô muốn cắt đi điểm không đẹp này, nhưng khi Thiện Sỹ tỉnh giấc, anh hiểu lầm rằng Thị Kính định sát hại mình. Anh gây sự và tố cáo Thị Kính trước cha mẹ của mình, Sùng ông và Sùng bà. Họ tức giận và đuổi Thị Kính về quê sống cùng cha mẹ ruột. Thị Kính mang trong lòng nỗi oan trái mà cô muốn từ bỏ cuộc sống này, nhưng tình yêu và lòng hiếu thảo với cha mẹ già đã trói buộc cô. Thị Kính quyết định thay đổi danh tính và cải trang thành một người đàn ông, rồi đi tu tại chùa Vân Tự. Cô đổi tên thành Kính Tâm để bắt đầu một cuộc sống mới.
Ở một ngôi làng, tồn tại một người phụ nữ tên là Thị Mầu, nguyên bản là một người hời hợt và dại dột. Cô đã đắm chìm trong tình yêu với Kính Tâm, một người tu sĩ. Thị Mầu vô tình mang bầu với một người hầu của gia đình. Khi bị người dân trong làng đưa ra xét xử, cô đã ngay lập tức đổ tội cho Kính Tâm. Và như vậy, người phụ nữ đáng thương này đã phải chịu đựng một lần nữa sự oan trái. Sau khi sinh con, Thị Mầu "trả lại" đứa bé cho Kính Tâm:
Tiểu đường tụng niệm khấn nguyền
…
Trân trân rằng giá con đây mà về.
Kính Tâm, một chú tiểu từng đi tu suốt ngày đêm, nghe tiếng "tụng niệm khấn nguyền", nhưng bây giờ lại giật mình với tiếng khóc của đứa trẻ. Dường như nhà sư chân chính đã bị mắc vào một sợi duyên trái ngang. Kính Tâm bối rối và khó quyết định, không thể bỏ rơi đứa bé, nhưng cũng không dễ dàng chấp nhận và chăm sóc nó. Nếu từ bỏ đứa bé, lòng an ủi cũng chẳng đành, nhưng nếu nhận nuôi và chăm sóc nó, mọi chuyện trở thành "mối tình không thuận lợi". Thật khốn khổ khi Thị Mầu không có lòng thương xót, "không biết xấu hổ" và từ chối chịu trách nhiệm với con của mình. Dù biết rằng việc nhận đứa bé về nuôi sẽ gây ra lời đàm tiếu và chỉ trích, nhưng Kính Tâm vẫn kiên quyết quyết định nhận nuôi nó:
Cơ thiển kể đã khắt khe
…
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay
Tâm hồn của Kính Tâm, từ cõi "cơ thiển" đã trở nên nổi sóng, khắt khe. "Cơ thiền" ở đây ám chỉ trạng thái tâm hồn đã đạt đến mức thanh tịnh, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Nhưng bây giờ, anh phải chịu đựng oan ức từ Thị Mầu, người đã "mưu đồ ra đứa" và gây tổn thương cho danh dự của mình. Tuy nhiên, vì Kính Tâm quý trọng giá trị cuộc sống và lòng hiếu thảo, anh từ bỏ mọi lời chỉ trích và lời đàm tiếu. Dù người khác có nói xấu như thế nào, anh tin rằng "hạnh phúc vẫn nằm trong việc làm điều tốt". Mặc dù anh không được sinh ra và lớn lên như người thường, anh vẫn đáng nhận "cù lao", tức là sự công ơn nuôi dưỡng. Tuy nhiên, hành động này của Kính Tâm cũng khiến Sư Cụ có sự nghi ngờ không thể tránh khỏi:
Bữa sau sư phụ mới hay
Dạy rằng: “Như thế thì thầy cũng nghi
Phỏng như khác máu ru thì
...
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: “Cũng có ít nhiều từ tâm”
Rõ là nước lã mà nhầm
Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào
Thật sự, khi nhìn vào tình cảnh của Kính Tâm, ta có thể hiểu và thương cảm cho số phận anh. Nhưng đối với những người không biết chính xác sự thật, và là một đứa con "không cùng máu" sinh ra không do mình, tại sao Kính Tâm lại đồng ý nhận nuôi đứa bé của người đã gây ra nỗi oan ức và xấu hổ suốt đời? Tuy vậy, sư phụ đã bị cảm hóa bởi lòng hiếu thảo và ý nghĩa cao đẹp của việc làm này từ Kính Tâm. Kính Tâm nói rằng dù có xây chín tầng tháp "phù đồ", cũng không thể sánh bằng việc cứu một sinh mạng. Tấm lòng thiêng liêng và cao quý đó đã nhận được sự ca ngợi từ sư Cụ, chứng tỏ anh là người có tấm lòng từ bi. Từ lòng nhân ái đáng trân trọng như "nước lã", Kính Tâm đã đem hết tấm lòng đó để hòa quyện với "giọt máu thâm tình". Anh coi đứa bé như con của mình, yêu thương và chăm sóc nó hết mực, như một người mẹ nuôi con của mình:
Mẹ vò thì sữa khát khao
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền
…
Biết chăng một đứa thương đâu
Mình là hai với Thị Mầu là ba
Dẫu biết việc "nuôi con nhện" không phải là nuôi con của mình, dù không có "sữa khát khao" nhưng Kính Tâm vẫn lo lắng để đứa bé không bị thiếu điều gì. Anh ta dành cả ngày đêm để chăm sóc, nâng niu và tìm cách để nuôi con, hy vọng rằng đứa bé sẽ lớn lên thành người. Đúng là cuộc sống thật tàn nhẫn, mọi người vẫn không ngừng đồn đại rằng Kính Tâm không thể đạt được quả báo từ việc tu hành. Nhưng đến bây giờ, sự thật vẫn bị chôn vùi, chỉ có đứa bé, mình và "Thị Mầu là ba" mới biết rõ. Nuôi dưỡng một đứa trẻ không phải chuyện dễ dàng, nhưng mỗi ngày khi nghe tiếng cười trong trẻo của đứa bé, những lo lắng và mối trăn trở đều tan biến vào hư vô:
Ra công nuôi bộ thực là
Nhưng buồn có trẻ hóa ra đỡ buồn
Khi trống tàn, lúc chuông dồn
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày
...
Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bán sinh.
Mai ngày đến lúc trường thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
Trong không gian yên bình và thanh tịnh của ngôi chùa linh thiêng, âm thanh dịu dàng của "tiếng ru" của đứa con Kính Tâm truyền đến. Chúng ta có thể cảm nhận rằng tình mẫu tử không chỉ tồn tại giữa cha mẹ và con cái sinh ra mình, mà nó còn hòa hợp trong tâm hồn khi gặp tấm lòng từ bi cao thượng. Dù không phải là con ruột, Kính Tâm vẫn đầy đủ tròn vai làm cha mẹ, đảm bảo rằng đứa trẻ được nuôi dưỡng đầy đủ, có cả "lọ phương hoạt ấu" và "lọ thầy bảo anh", hai biểu tượng cho việc chăm sóc sức khỏe của trẻ nhỏ. Thấm thoát đã ba năm trôi qua, đứa bé đã lớn lên, trở thành một người giống hệt "cha nuôi" của mình. "Cha nuôi" ấy chính là Kính Tâm, người đã từ bỏ cuộc sống thế tục để tu hành trong ngôi chùa thanh tịnh. Bất kể là cha mẹ nào, ai cũng mong muốn con cái của mình trưởng thành với thành công lẫy lừng. Kính Tâm cũng không ngoại lệ, anh ước mong rằng con của mình sẽ trở thành một "cơ cầu" xuất sắc, tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên. Anh cũng hy vọng rằng tương lai sẽ dẫn bước con đi đến thành công vượt bậc, hơn cả những gì ông cha đời trước đã đạt được.
Nhà văn Aimatov đã từng nhận định rằng: “Một tác phẩm chân chính không bao giờ kết thúc ở trang cuối cùng”. Vì khi trang sách kết thúc, tác phẩm mới thực sự còn sống, sống trong những suy nghĩ và cảm xúc của người đọc. Trích đoạn "Thị Kính nuôi con Thị Mầu" với vần thơ lục bát và cách diễn đạt tinh tế, là một ví dụ đặc trưng cho số phận của người phụ nữ trong xã hội xưa, phải đối mặt với bất công và oan trái. Từ câu chuyện cuộc đời Thị Kính, tác giả tạo ra một bức tranh xã hội phong kiến rối ren và đầy mâu thuẫn. Điều này như một lời cảnh tỉnh cho những người đang suy nghĩ về việc tu hành và tìm đường đắc đạo. Để chọn con đường đích thực, ta phải chịu khó đối mặt với khổ đau và oan trái, giống như Thị Kính đã trải qua. Dù có gắng đối diện với mọi oan uổng, nhưng tâm hồn từ bi và thiện lương của Thị Kính đã giúp cô vượt qua mọi khó khăn.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 2
Truyện thơ Nôm là kho tàng văn học của dân tộc Việt Nam có giá trị to lớn. Kho tàng này chứa đựng, cất giữ biết bao kinh nghiệm sống, phong tục tập quán và cả kiến thức lịch sử về cộng đồng. Với thể thơ lục bát giàu biểu cảm, ca từ giản dị và âm hưởng tha thiết, truyện thơ Nôm mang đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó có một câu chuyện kinh điển mà cho đến nay nó vẫn luôn đọng lại trong tâm trí của người đọc về chiều sâu tư tưởng mà tác phẩm gửi gắm. Đó là đoạn trích “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu” trích “Quan Âm Thị Kính”.
Đoạn trích trên nói về tấm lòng nhân từ của Thị Kính khi bị Thị Mầu vu oan và đùn đẩy đứa con cho mình nhưng vì sinh mạng nhỏ bé, Thị Kính vẫn giữ lại đứa bé để nuôi nấng.
Thị Kính xuất thân là con gái nhà nghèo, lấy chồng tên Thiện Sỹ, con của phú ông. Vào một đêm nọ, khi Thiện Sỹ ngồi đọc sách mà ngủ quên mất. Thị Kính thấy dưới cằm chồng mình có râu mọc ngược, nàng biết là điềm gở nên lấy kéo muốn cắt nó đi. Đúng lúc Thiện Sỹ bừng tỉnh thì hiểu lầm rằng Thị Kính muốn sát hại mình nên hô hoán làm to chuyện. Cha mẹ Thiện sĩ là Sùng ông, Sùng bà nổi giận đuổi Thị Kính về quê với cha mẹ đẻ. Thị Kính ôm nỗi oan trong lòng mà buồn tủi định quyên sinh, nhưng lại thương cha mẹ già không ai báo hiếu, phụ dưỡng, nàng cải trang thành nam nhi và đi tu ở chùa Vân Tự, đổi cả tên thành Kính Tâm.
Làng có nàng Thị Mầu vốn tính lẳng lơ, dám say mê cả phật tử là Kính Tâm. Nàng ta lỡ dở có chửa với đầy tớ. Khi bị hào lí trong làng tra hỏi, nàng ta đổi tội ngay cho Kính Tâm. Cứ thế người phụ nữ tội nghiệp lại phải chịu nỗi oan ức lần thứ hai. Sau khi sinh con, Thị Mầu đem “trả” cho Kính Tâm:
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền
Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình
Ngoảnh đi thị dạ chẳng đành
Nhận ra thì hóa là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày
Trân trân rằng giá con đây mà về.
Vốn là chú tiểu đi tu ngày đêm nghe tiếng “tụng niệm khấn nguyền” mà nay lại giật mình nghe tiếng khóc “tá” lên của trẻ em. Đường đường là nhà sư chân chính nay vướng phải nghiệt duyên, Kính Tâm rối bời khó sử, bỏ rơi đứa bé thì cũng “chẳng đành”, mà nếu nhận đứa trẻ về chăm sóc thì lại hóa “tình chẳng ngay”. Thật gớm thay nàng Thị Mầu trơ trẽn, “trân trận” không biết hổ thẹn mà chối bỏ con mình. Biết rằng khi nhận đứa bé về nuôi sẽ bị lời đàm tiếu dị nghị nhưng thương cho trái tim nhỏ bé, Kính Tâm vẫn nhất quyết nhận nuôi:
Cơ thiển kể đã khắt khe
Khéo xui, ra đứa làm rê riếu mình
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh
Phúc làm thì phúc, dơ thì đành dở
Cá trong chậu nước sởn sơ
Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao
Chẳng sinh cũng chịu cù lao
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay
Tâm hồn Kính Tâm từ cõi “cơ thiền” nay cũng trở nên khắt khe, dậy sóng. “Cơ thiền” ở đây tức là chỉ tâm hồn đã đạt đến cảnh giới, tâm thanh tịnh không vướng bận chi. Vậy mà nay phải chịu oan Thị Mầu “khéo xui ra đứa” làm tổn hại đến thanh danh của mình. Thế nhưng vì quý trọng sinh mệnh “trong dạ hiếu sinh” mà Kính Tâm gạt bỏ đi hết lời gièm pha, cho dù người đời có bàn tán ra sao thì “phúc vẫn là làm phúc”. Dù chẳng mang công sinh thành như vẫn chịu “cù lao”, tức là chịu công ơn nuôi dưỡng. Thế nhưng việc làm đó của Kính Tâm cũng khiến Sư Cụ không khỏi sinh nghi:
Bữa sau sư phụ mới hay
Dạy rằng: “Như thế thì thầy cũng nghi
Phỏng như khác máu ru thì
Con ai mặc nấy can gì đa mang
Quả thật trong mắt nhìn của ta thì có hiểu và xót thương cho thân phận Kính Tâm, nhưng là người không rõ sự tình, là đứa con “khác máu” không phải do mình sinh ra thì hà cớ gì Kính Tâm lại nhận nuôi con của người đã làm nên nỗi oan ức tủi hổ cho mình suốt đời. Ấy thế mà sư phụ cũng bị cảm hóa với nghĩa cử cao đẹp, tấm lòng từ bi của Kính Tâm:
Bạch rằng: Muôn đội thầy thương
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to
Dẫu xây chín đợt phù đồ
Sao bằng làm phúc cứu cho một người
...
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: “Cũng có ít nhiều từ tâm”
Rõ là nước lã mà nhầm
Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào
Kính Tâm thưa rằng dù cho có xây chín tháp “phù đồ” cũng không thể bằng cứu một sinh mệnh. Tấm lòng thiêng liêng cao đẹp đó đã nhận được lời khen từ sư Cụ, quả thật là người có lòng từ bi. Từ tình người nhân hậu như “nước lã”, Kính Tâm đã dâng trọn tấm lòng để hòa vào “giọt máu tình thâm”, Kính Tâm coi đứa bé như là con đẻ của mình, hết mực yêu thương, nuôi nấng:
Mẹ vò thì sữa khát khao
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên
Nhai cơm mớm sữa để nên con người
Đến dân ai cũng chê cười
Tiểu kia tu có trót đời được đâu
Biết chăng một đứa thương đâu
Mình là hai với Thị Mầu là ba
Ca dao xưa có câu nói ám chỉ việc tò vò nuôi con của người khác nhưng khi con lớn lên sẽ bỏ đi:
“Tò vò mà nuôi con nhện
Đến khi nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi nhện đi đằng nào?”
“Mẹ vò” ở đây cũng vậy, dẫu biết “nuôi con nhện” không phải là con của mình, dù không có “sữa khát khao” nhưng Kính Tâm vẫn lo cho đứa nhỏ không thiếu bữa nào. Kính Tâm ngày đêm chăm ẵm, nâng niu, xin sữa để nuôi con, mong con khôn lớn thành người. Đúng là miệng đời thật tàn ác, họ vẫn không ngừng đồn thổi rằng Kính Tâm có tu thành chính quả được đâu. Nhưng đến lúc này thì sự thật vẫn bị chôn vùi, thực giả ra sao thì chỉ có đứa ở, mình và “Thị Mầu là ba” biết rõ. Nuôi dưỡng một đứa trẻ thật không dễ dàng, nhưng dường như ngày ngày nghe tiếng trẻ thơ tíu tít, bao nỗi lo âu, trăn trở hóa hư vô:
Ra công nuôi bộ thực là
Nhưng buồn có trẻ hóa ra đỡ buồn
Khi trống tàn, lúc chuông dồn
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày
...
Không gian tĩnh mịch, thanh tịnh nơi chùa linh thiêng nay xen lẫn cả “tiếng ru” con của Kính Tâm. Ta có thể cảm nhận được, tình mẫu tử không chỉ tồn tại ở chính cha mẹ sinh ra mình, nó còn hòa tan vào nhau khi gặp tấm lòng từ bi giáng thế. Tuy không phải con mình nhưng Kính Tâm vẫn tròn đạo là cha mẹ, đứa trẻ được nuôi nấng có đầy đủ điều kiện, có cả “lọ phương hoạt ấu”, “lọ thầy bảo anh”, hai thứ đó tượng trưng cho vị thầy thuốc bảo vệ sức khỏe của trẻ thơ. Thấm thoát đã ba năm trôi đi, đứa bé nay đã lớn, giống với “cha nuôi” của mình. “Cha nuôi” đó chính là Kính Tâm, người đã ỉa trai để đi tu trốn chùa thanh tịnh. Bậc cha mẹ ai mà không muốn con cái trưởng thành với công danh rạng rỡ. Kính Tâm cũng vậy, người mong ước con của mình mai này trưởng thành “cơ cầu” giỏi giang để nối nghiệp ông cha, người còn mong cho “tiến trình” tương lai dẫn bước con càng thành công rạng rỡ hơn lớp ông cha con bây giờ.
Đoạn trích “Thị Kính nuôi con Thị Mầu” với ca từ bình dị không kém phần sắc sảo của thể thơ lục bát cùng với lời thơ điêu luyện đã làm nổi bật nhân vật Thị Kính là một điển hình cho số phận của người phụ nữ trong xã hội xưa phải gánh chịu bất công, oan nghiệt. Thông qua số phận cuộc đời Thị Kính, tác giả cho người đọc thấy được bức tranh xã hội phong kiến đầy rẫy mâu thuẫn. Đó như một lời cảnh tỉnh cho những con người đang có suy nghĩ lui về cửa Phật. Để có thể chọn con đường đắc đạo, ta phải chịu được khổ hạnh, oan ức cũng giống như Thị Kính, dù có oan uổng đến mấy nhưng cái tâm từ bi, thiện lành đã quật ngã được cảnh ngộ.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 3
Thơ Nôm là kho báu văn hóa của dân tộc Việt Nam và có giá trị vô cùng cao. Kho tàng này bao gồm kinh nghiệm sống, phong tục tập quán cũng như những kiến thức lịch sử về cộng đồng địa phương. Sử dụng hình thức câu thơ 6-8 điển hình, Truyện thơ nôm truyền tải sự diễn đạt cảm xúc phong phú bằng những câu văn đơn giản và giọng điệu giàu cảm xúc. Điều này mang lại cho thơ nôm một nét dân tộc độc đáo. Trong kho báu này ẩn chứa một câu chuyện kinh điển vẫn còn khắc sâu trong lòng độc giả, cùng với những suy nghĩ sâu sắc mà nó truyền tải. Đây là một đoạn trích trong tác phẩm “Quan âm Thị kính” có nội dung: “Thị kính nuôi con cho Thị mầu”. Trong đoạn trích trên, chúng ta thấy được tấm lòng nhân hậu của Thị kính khi bị buộc tội về một tội mà mình không phạm tội và bị buộc phải nuôi con cho Thị mầu. Dù rơi vào hoàn cảnh khó khăn nhưng Thị kính vẫn quyết định bảo vệ và chăm sóc mạng sống của đứa bé này như chính mạng sống của mình.
Ở một ngôi làng nọ, có một người phụ nữ tên là Thị mầu, vốn là một người hời hợt và ngu dại. Cô rất yêu chú tiểu Kính Tâm, thực ra là nàng Thị kính giả trai. Thị mầu vô tình có thai với người hầu trong nhà. Khi dân làng đưa cô ra xét xử, cô lập tức đổ lỗi cho Kính tâm. Thế là người phụ nữ tội nghiệp Thị Kính lại phải chịu đựng sự bất công Sau khi sinh con, Thị mầu “trả” đứa bé cho Kính tâm.
“Tiểu đường tụng niệm khấn nguyền
…
Trân trân rằng giá con đây mà về.”
Kính tâm là một chú tiểu đi tu suốt đêm ngày, nhưng bây giờ lại sợ hãi trước tiếng trẻ khóc. Có vẻ như vị tu sĩ thực sự đã bị cuốn vào vòng xoáy của số phận. Kính tâm bối rối và gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định. Không thể bỏ rơi đứa bé nhưng việc chấp nhận và chăm sóc đứa bé cũng không hề dễ dàng. Nếu để đứa bé đi, sẽ không thể tự an ủi mình, nhưng nếu ôm nó và chăm sóc nó, mọi thứ sẽ biến thành một ”tình yêu bất lợi”. Điều đáng tiếc là Thị mầu không hề tỏ ra thương xót, “vô liêm sỉ” và không chịu trách nhiệm với đứa trẻ do mình sinh ra. Kính tâm biết rằng việc nhận nuôi đứa bé sẽ dẫn đến những lời đàm tiếu và chỉ trích nhưng cô vẫn quyết tâm nhận nuôi đứa bé.
“Cơ thiển kể đã khắt khe
…
Xót tình măng sữa tăng vào trong tay”
Tâm hồn Kính tâm vốn xuất phát từ cõi ‘cơ thiển’ đã trở nên bồn chồn và nghiêm khắc. “Thiền” ở đây ám chỉ một trạng thái tâm trí trong đó người ta không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì và đã đạt đến một mức độ thanh tịnh nhất định. Nhưng giờ đây Kính tâm phải chịu oan ức dưới tay Thị mầu, kẻ đã xâm phạm danh dự của chàng. Tuy nhiên, Kính tâm coi trọng tầm quan trọng của cuộc sống và lòng hiếu thảo nên phớt lờ mọi lời chỉ trích, bàn tán. Cho dù người khác có nói xấu đến đâu, Kính tâm vẫn tin rằng “hạnh phúc nằm ở việc làm những điều tốt đẹp”. Tuy nhiên, hành vi của Kính tâm cũng không tránh khỏi làm dấy lên sự nghi ngờ ở sư thầy
“Bữa sau sư phụ mới hay
Dạy rằng: “Như thế thì thầy cũng nghi
Phỏng như khác máu ru thì
…
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: “Cũng có ít nhiều từ tâm”
Rõ là nước lã mà nhầm
Cũng đem giọt máu tình thâm hòa vào”
Thực tế, nhìn vào hoàn cảnh của Kính tâm, chúng ta có thể hiểu và đồng cảm với số phận của anh. Nhưng đối với những người không biết sự thật chính xác, rõ ràng là đứa trẻ “không có quan hệ huyết thống”, bản thân mình không sinh nó ra, tại sao Kính tâm lại đồng ý nhận con của người đã gây ra sự bất công và xấu hổ cho bản thân mình? Tuy nhiên, sư thầy cảm động trước lòng hiếu thảo của Kính tâm và ý nghĩa cao quý trong hành động của chàng. Kính tâm cho biết ngay cả việc xây dựng một tòa tháp chín tầng cũng không sánh được với công ơn cứu mạng. Việc vị sư cụ ngưỡng mộ trái tim thánh thiện và cao thượng này chứng tỏ Kính tâm là người có lòng nhân hậu. Kính tâm bằng cả trái tim và tâm hồn, với sự tôn trọng và dịu dàng đã coi đứa bé là của mình, yêu thương và chăm sóc nó bằng cả trái tim, như một người mẹ nuôi con.
“Mẹ vò thì sữa khát khao
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền
…
Biết chăng một đứa thương đâu
Mình là hai với Thị Mầu là ba”
Kính tâm dù biết “nuôi nhện” không phải là nuôi con của mình nhưng cô vẫn băn khoăn không biết con mình có thiếu thứ gì không. Kính tâm ngày đêm chăm sóc con, yêu thương và tìm mọi cách để nuôi dạy, mong đứa trẻ sẽ lớn lên thành người tốt. Cuộc sống quả nhiên là tàn khốc. Vẫn còn có tin đồn rằng việc làm này ở Kính tâm không thể đạt được quả báo. Nhưng hiện tại, sự thật vẫn bị chôn vùi, chỉ có đứa bé, Kính tâm và Thị Mầu là biết sự thật. Nuôi dạy một đứa trẻ không phải là điều dễ dàng nhưng khi được nghe tiếng cười trong trẻo của bé mỗi ngày, những lo lắng của Kính tâm dường như tan biến.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 4
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, Quan Âm Thị Kính là tác phẩm tiêu biểu thể hiện sâu sắc số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Trong đó, đoạn truyện Thị Kính nuôi con cho Thị Màu là một chi tiết đặc biệt cảm động, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn cao quý của nhân vật Thị Kính. Qua câu chuyện về việc Thị Kính phải nuôi đứa con do Thị Màu bỏ lại, tác phẩm không chỉ phản ánh bi kịch oan khuất của người phụ nữ mà còn ca ngợi lòng nhân hậu, đức hi sinh và tinh thần nhẫn nhịn đáng trân trọng.
Trước hết, đoạn truyện thể hiện sâu sắc bi kịch và nỗi oan của Thị Kính. Sau khi bị nghi oan giết chồng và phải rời khỏi gia đình, Thị Kính cải trang thành nam giới, lấy pháp danh Kính Tâm để vào chùa tu hành. Tưởng rằng cuộc sống nơi cửa Phật sẽ giúp nàng tìm được sự bình yên, nhưng một lần nữa Thị Kính lại phải chịu oan khuất khi Thị Màu – một cô gái lẳng lơ trong làng – mang thai rồi đổ tội cho Kính Tâm. Khi đứa trẻ ra đời, Thị Màu bỏ con trước cửa chùa, buộc Kính Tâm phải nuôi dưỡng. Từ đó, Thị Kính phải âm thầm chăm sóc đứa bé trong cảnh nghèo khó, chịu sự khinh miệt của mọi người mà không thể thanh minh. Tình huống ấy đã đẩy bi kịch của nhân vật lên đến đỉnh điểm: nàng không chỉ bị hiểu lầm mà còn phải gánh chịu hậu quả của tội lỗi do người khác gây ra.
Tuy nhiên, chính trong hoàn cảnh nghiệt ngã ấy, vẻ đẹp nhân cách của Thị Kính lại tỏa sáng. Dù bị vu oan và chịu nhiều đau khổ, nàng vẫn chấp nhận nuôi dưỡng đứa trẻ vô tội bằng tất cả tình thương. Hành động ấy cho thấy tấm lòng nhân hậu và đức hi sinh cao cả của Thị Kính. Nàng không oán trách, không bỏ mặc đứa trẻ mà xem đó như trách nhiệm của mình. Sự nhẫn nhịn và lòng vị tha của Thị Kính khiến hình tượng nhân vật trở nên cao đẹp, tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: hiền lành, bao dung và giàu lòng nhân ái.
Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, đoạn truyện còn đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện giàu kịch tính. Việc Thị Màu mang thai rồi đổ tội cho Kính Tâm tạo nên một mâu thuẫn gay gắt, khiến câu chuyện trở nên hấp dẫn và đầy cảm xúc. Tình huống ấy không chỉ làm nổi bật sự bất công của xã hội mà còn giúp khắc họa rõ nét phẩm chất của nhân vật Thị Kính.
Ngoài ra, tác phẩm còn sử dụng ngôn ngữ thơ dân gian mộc mạc, giàu cảm xúc. Những câu thơ giản dị nhưng giàu sức gợi đã diễn tả sâu sắc tâm trạng đau khổ, nhẫn nhịn và lòng nhân hậu của nhân vật. Đồng thời, nghệ thuật xây dựng nhân vật đối lập giữa Thị Kính và Thị Màu cũng góp phần làm nổi bật ý nghĩa của câu chuyện: nếu Thị Màu đại diện cho sự buông thả, ích kỉ thì Thị Kính lại tượng trưng cho sự hiền lành, vị tha và đạo đức.
Tóm lại, đoạn truyện Thị Kính nuôi con cho Thị Màu trong tác phẩm Quan Âm Thị Kính là một phần đặc sắc của văn học dân gian Việt Nam. Qua hình tượng Thị Kính, tác phẩm đã khắc họa sâu sắc bi kịch của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn cao quý, giàu đức hi sinh và lòng nhân hậu. Với nội dung giàu giá trị nhân văn cùng nghệ thuật kể chuyện giản dị mà cảm động, đoạn truyện đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và trở thành một biểu tượng đẹp của văn học truyền thống Việt Nam
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 5
Trong nền văn học cổ điển Việt Nam, truyện thơ Nôm không chỉ là những trang viết về số phận con người mà còn là nơi kết tinh những giá trị đạo đức cao đẹp nhất của dân tộc. Nếu Truyện Kiều của Nguyễn Du là tiếng kêu thương xé lòng về quyền sống của người phụ nữ, thì Quan Âm Thị Kính lại là bản trường ca về đức nhẫn nhục và lòng từ bi hỉ xả. Trong đó, đoạn trích "Thị Kính nuôi con cho Thị Màu" (hay còn gọi là đoạn Thị Kính nuôi con mọn) chính là phân đoạn cảm động nhất, lột tả trọn vẹn vẻ đẹp tâm hồn của một bậc "vị tha nhân thế" giữa bão táp của nỗi oan khiên.
Trước hết, nội dung của đoạn trích là sự chiến thắng của lòng nhân ái trước những định kiến khắc nghiệt và nỗi đau riêng biệt. Nhân vật Thị Kính lúc này đang trong hình hài chú tiểu Kính Tâm, vừa trải qua nỗi oan "sát phu" ở gia đình chồng, lại tiếp tục gánh chịu nỗi oan "gái không chồng mà chửa" với Thị Màu. Giữa lúc dư luận làng xã mỉa mai, khinh rẻ, Thị Kính đã đứng trước một lựa chọn mang tính sống còn về đạo đức: bỏ mặc đứa trẻ để giữ lấy sự thanh sạch giả tạo cho mình, hay chấp nhận điều tiếng để cứu sống một sinh linh?
Hành động nhận nuôi đứa con của Thị Màu – kẻ đã trực tiếp đẩy mình vào bước đường cùng – là một sự hóa giải hận thù bằng tình thương vô điều kiện. Những câu thơ tả cảnh Thị Kính nuôi con mọn chứa đựng một sức lay động mãnh liệt: "Mẹ vắng hành hoa đã có cha / Gió mưa bão táp đâu sá gì". Hình ảnh Thị Kính bế đứa trẻ đi xin sữa quanh xóm, mặc cho người đời cười chê, phỉ nhổ, đã nâng tầm nhân vật từ một người phụ nữ bị oan ức trở thành một biểu tượng của lòng từ bi bác ái. Nỗi đau của cá nhân đã được chuyển hóa thành tình mẫu tử thiêng liêng, vượt lên trên mọi sự thù hận và ranh giới nam nữ, nhà thiền và cõi tục.
Về phương diện nghệ thuật, đoạn trích thể hiện bút pháp tự sự kết hợp trữ tình bậc thầy của tác giả dân gian. Thể thơ lục bát được sử dụng một cách uyển chuyển, giàu nhạc điệu, diễn tả chân thực những cung bậc cảm xúc từ đau đớn, xót xa đến sự thanh thản trong tâm hồn. Cách xây dựng tình huống kịch tính – đưa nhân vật vào thế "tình ngay lý gian" – đã tạo nên một đòn bẩy nghệ thuật mạnh mẽ để làm bật lên phẩm chất cao thượng của Thị Kính.
Đặc biệt, ngôn ngữ trong đoạn trích vừa mang tính chất bác học của giáo lý nhà Phật, vừa đậm đà chất dân gian mộc mạc. Những chi tiết miêu tả cảnh nuôi con: "Nâng niu xiết bấy tình thương / Nỗi riêng còn nhắc, nỗi lòng còn đau" cho thấy sự tinh tế trong việc khai thác nội tâm nhân vật. Tác giả không chỉ kể chuyện mà còn "nhập thân" vào nỗi đau của nhân vật để viết nên những dòng thơ thấm đẫm nước mắt nhưng cũng rạng ngời ánh sáng của nhân nghĩa.
Bên cạnh đó, nghệ thuật tương phản cũng được vận dụng sắc sảo. Một bên là sự tàn nhẫn của Thị Màu (bỏ con), sự hẹp hòi của làng xã, và một bên là sự bao dung vô bờ bến của Thị Kính. Sự đối lập này không chỉ giúp phê phán những hủ tục phong kiến khắt khe mà còn khẳng định một chân lý: Vẻ đẹp chân thực của con người không nằm ở hình thức bên ngoài hay danh phận xã hội, mà nằm ở sức mạnh của sự hy sinh và lòng vị tha.
Tóm lại, đoạn trích "Thị Kính nuôi con cho Thị Màu" là một viên ngọc sáng trong kho tàng truyện thơ Nôm Việt Nam. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung nhân đạo sâu sắc và nghệ thuật kể chuyện tài hoa, tác phẩm đã xây dựng thành công hình tượng người phụ nữ Việt Nam nhẫn nhục nhưng kiên cường, thầm lặng nhưng vĩ đại. Đoạn trích không chỉ là câu chuyện về một nỗi oan, mà còn là bài ca về sự tử tế, nhắc nhở chúng ta rằng: giữa thế gian đầy rẫy những lọc lừa và oán hận, chỉ có tình thương thực sự mới có thể cứu rỗi và đưa con người đến bến bờ của sự cao cả.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 6
Trong kho tàng truyện thơ Nôm dân gian Việt Nam, Quan Âm Thị Kính (khuyết danh) là một kiệt tác xuất sắc, kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự, trữ tình và giáo dục Phật giáo. Tác phẩm kể về cuộc đời đầy oan khuất của Thị Kính – người phụ nữ tài sắc, đức hạnh – phải cải nam trang đi tu và cuối cùng được phong làm Phật Bà Quan Âm nhờ tấm lòng từ bi, nhân hậu. Đoạn trích “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu” (thuộc phần sau của truyện thơ) khắc họa đỉnh điểm của bi kịch và cũng là cao trào của phẩm chất nhân văn ở nhân vật chính. Qua hình ảnh Thị Kính (Kính Tâm) lặng lẽ đi xin sữa nuôi đứa con rơi của Thị Mầu suốt ba năm trời, đoạn trích đã làm nổi bật giá trị nhân đạo sâu sắc và nghệ thuật đặc sắc của truyện thơ dân gian, góp phần khẳng định sức sống bất diệt của Quan Âm Thị Kính trong lòng người Việt.
Về nội dung, đoạn trích mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo xuất sắc. Sau khi bị Thị Mầu vu oan là cha đứa con (vì Thị Mầu lẳng lơ ăn nằm với anh Nô rồi đổ tội cho chú tiểu Kính Tâm), Thị Kính bị đuổi khỏi chùa. Thị Mầu sinh con trai rồi đem bỏ trước cổng chùa, đùn đẩy trách nhiệm cho Kính Tâm. Dù bị vu oan, chịu tiếng xấu và thân phận cô đơn, Thị Kính vẫn nhận nuôi đứa bé vô tội. Hàng ngày, nàng (dưới hình dạng tiểu Kính Tâm) phải đi xin sữa khắp nơi, chịu đựng sự dò xét, xì xào của dân làng, lao lực đến kiệt sức. Sau ba năm, khi đứa trẻ chập chững biết đi, Thị Kính thân tàn lực kiệt, viết thư để lại cho cha mẹ rồi “hóa” (chết), sau đó được Phật cho lên tòa sen thành Quan Âm.
Giá trị hiện thực của đoạn trích nằm ở việc phản ánh sâu sắc thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến: bị ràng buộc bởi lễ giáo khắt khe, dễ bị vu oan giá họa, chịu nhiều bất công mà không có chỗ kêu ca. Thị Mầu đại diện cho một bộ phận phụ nữ phóng túng, ích kỷ, còn Thị Kính là hiện thân cho người phụ nữ đức hạnh nhưng bất hạnh. Qua đó, truyện thơ tố cáo nhẹ nhàng những bất công xã hội, những định kiến và sự vô trách nhiệm của một số cá nhân.
Giá trị nhân đạo được nâng tầm qua hình tượng Thị Kính. Dù bị vu oan nặng nề, nàng vẫn chọn lòng từ bi thay vì oán hận hay trả thù. Nàng nuôi đứa con của kẻ hại mình “như con đẻ”, không màng danh tiếng, không sợ lao khổ. Hành động xin sữa từng ngày, chịu đựng sự nhục nhã thể hiện tấm lòng vị tha, nhân ái vô bờ. Đỉnh điểm là lúc hấp hối, nàng vẫn lo cho đứa trẻ và viết thư thanh minh cho cha mẹ. Chính nhờ đức độ ấy, Thị Kính được “hóa” thành Phật Bà Quan Âm – biểu tượng của lòng từ bi cứu khổ cứu nạn. Thông điệp cốt lõi của đoạn trích là: “Ở hiền gặp lành”, cái thiện sẽ chiến thắng cái ác, và lòng nhân ái chính là giá trị cao quý nhất của con người. Đoạn trích ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ lao động, đồng thời khích lệ tinh thần nhẫn nhục, bao dung trước nghịch cảnh – một tư tưởng gần gũi với giáo lý Phật giáo nhưng mang đậm bản sắc dân gian Việt Nam.
Về nghệ thuật, đoạn trích “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu” thể hiện rõ tài năng kể chuyện điêu luyện của truyện thơ Nôm dân gian. Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình. Thị Kính được khắc họa đa chiều qua hành động và nội tâm: từ sự cam chịu, lặng lẽ chịu đựng đến tấm lòng nhân hậu vô hạn. Nhân vật không kêu ca, không oán trách, chỉ lặng lẽ hành động – điều này làm nổi bật vẻ đẹp nội tâm cao đẹp. Ngược lại, Thị Mầu hiện lên ích kỷ, vô trách nhiệm qua hành vi đổ vạ và bỏ con, tạo nên sự tương phản sắc nét, làm tăng sức thuyết phục cho thông điệp nhân văn.
Nghệ thuật miêu tả và kể chuyện giàu hình ảnh, cảm xúc là điểm sáng nổi bật. Tác giả sử dụng thể thơ lục bát truyền thống với nhịp điệu uyển chuyển, vần điệu hài hòa, lời thơ bình dị mà sâu sắc, giàu sức gợi. Những chi tiết như hình ảnh Thị Kính “đi xin sữa từng ngày”, “thân tàn lực kiệt”, đứa trẻ “chập chững biết đi” được miêu tả chân thực, gần gũi, khơi gợi lòng thương cảm nơi người đọc. Ngôn ngữ dân gian mộc mạc, giàu chất đời thường, xen lẫn yếu tố trữ tình và Phật giáo (“từ bi”, “hóa”, “tòa sen”) tạo nên màu sắc vừa gần gũi vừa thiêng liêng.
Hơn nữa, nghệ thuật xây dựng xung đột và cao trào tinh tế: xung đột giữa oan khuất và lòng nhân ái, giữa cái ác (vu oan, bỏ con) và cái thiện (nuôi con) được đẩy dần lên, dẫn đến bi kịch cái chết của Thị Kính nhưng kết thúc bằng cái đẹp (thành Phật). Sự kết hợp giữa yếu tố tự sự (kể chuyện) và trữ tình (biểu lộ cảm xúc) làm cho đoạn trích không chỉ kể mà còn khơi dậy lòng trắc ẩn và suy ngẫm ở người đọc.
Tóm lại, đoạn trích “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu” là một trong những đoạn hay nhất của truyện thơ Quan Âm Thị Kính, nơi giá trị nội dung nhân đạo sâu sắc về lòng từ bi, nhẫn nhục và cái thiện chiến thắng hòa quyện hoàn hảo với nghệ thuật lục bát điêu luyện, ngôn ngữ dân gian mộc mạc. Qua hơn hàng trăm năm tồn tại, đoạn trích vẫn giữ nguyên sức sống, tiếp tục giáo dục các thế hệ về phẩm chất cao đẹp của con người và bài học “ở hiền gặp lành”. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, việc học tập và lan tỏa giá trị của tác phẩm càng trở nên ý nghĩa, giúp nuôi dưỡng lòng nhân ái và ý chí vượt qua nghịch cảnh của thế hệ trẻ.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 7
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nhiều tác phẩm không chỉ phản ánh đời sống xã hội mà còn gửi gắm những giá trị nhân văn sâu sắc về con người. Một trong những tác phẩm tiêu biểu là truyện thơ Quan Âm Thị Kính, đặc biệt ở đoạn “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu”. Đây là phần truyện thể hiện rõ bi kịch của nhân vật Thị Kính đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp của lòng vị tha, đức hi sinh và tấm lòng nhân hậu của con người. Thông qua nội dung giàu ý nghĩa cùng nghệ thuật kể chuyện đặc sắc, đoạn truyện đã góp phần làm nên giá trị bền vững của tác phẩm.
Trước hết, về nội dung, đoạn truyện kể về việc Thị Kính sau khi bị nghi oan giết chồng đã phải giả trai đi tu với pháp danh Kính Tâm. Trong khi đó, Thị Mầu – con gái phú ông – vì lỡ mang thai với người khác nên đổ tội cho tiểu Kính Tâm. Trước lời vu oan ấy, Kính Tâm không thể thanh minh thân phận thật của mình mà đành chấp nhận nỗi oan nghiệt. Không chỉ vậy, khi đứa bé được mang đến chùa, Kính Tâm còn âm thầm nuôi dưỡng đứa trẻ như con ruột của mình. Chính chi tiết “nuôi con cho Thị Mầu” đã đẩy bi kịch của nhân vật lên đến đỉnh điểm, đồng thời làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của Thị Kính.
Qua hành động ấy, nhân vật Thị Kính hiện lên như biểu tượng của lòng nhân hậu và đức hi sinh cao cả. Bị xã hội hiểu lầm, bị vu oan và phải sống trong cảnh cô độc, Thị Kính vẫn không oán trách mà lặng lẽ chấp nhận số phận. Việc nuôi đứa con của Thị Mầu – người đã gây ra nỗi oan cho mình – thể hiện tấm lòng bao dung và vị tha sâu sắc. Đây chính là vẻ đẹp nhân cách đáng quý mà tác phẩm muốn tôn vinh. Hình tượng Thị Kính vì thế trở thành biểu tượng cho người phụ nữ hiền hậu, nhẫn nhịn nhưng giàu lòng yêu thương trong xã hội phong kiến.
Bên cạnh việc ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người, đoạn truyện còn phản ánh những bất công của xã hội phong kiến đối với người phụ nữ. Thị Kính là nạn nhân của định kiến và lễ giáo khắc nghiệt. Chỉ vì một sự hiểu lầm nhỏ, nàng bị đuổi khỏi gia đình, bị xã hội khinh miệt và phải sống trong nỗi oan suốt cuộc đời. Trong khi đó, Thị Mầu – người gây ra lỗi lầm – lại không phải chịu hậu quả tương xứng. Qua đó, tác phẩm thể hiện thái độ cảm thương sâu sắc của nhân dân đối với số phận người phụ nữ và lên án những bất công của xã hội cũ.
Không chỉ có giá trị nội dung sâu sắc, đoạn truyện còn đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật mang tính điển hình. Nhân vật Thị Kính được khắc họa với những phẩm chất tiêu biểu của người phụ nữ truyền thống: hiền lành, nhẫn nhịn và giàu lòng vị tha. Ngược lại, Thị Mầu được xây dựng với tính cách bồng bột, ham vui và thiếu trách nhiệm. Sự đối lập giữa hai nhân vật đã làm nổi bật vẻ đẹp của Thị Kính, đồng thời tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện.
Bên cạnh đó, truyện thơ Quan Âm Thị Kính còn sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giàu chất dân gian. Lời thơ giản dị, giàu cảm xúc giúp câu chuyện trở nên gần gũi với đời sống của nhân dân. Các chi tiết tự sự được sắp xếp hợp lí, tạo nên mạch truyện rõ ràng và giàu kịch tính. Đặc biệt, chi tiết Thị Kính âm thầm nuôi đứa trẻ đã tạo nên điểm nhấn cảm động, khiến người đọc thêm cảm phục và thương xót cho nhân vật.
Ngoài ra, yếu tố cảm xúc và tính nhân đạo cũng là điểm nổi bật của tác phẩm. Những chi tiết miêu tả cảnh Kính Tâm nuôi dưỡng đứa trẻ trong cảnh nghèo khó đã gợi lên sự xúc động sâu sắc. Qua đó, tác phẩm khẳng định giá trị của lòng nhân ái và tình thương giữa con người với con người.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng đoạn “Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu” trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính là một phần đặc sắc của văn học dân gian Việt Nam. Bằng nội dung giàu ý nghĩa nhân văn và nghệ thuật kể chuyện giản dị nhưng sâu sắc, tác phẩm đã khắc họa thành công hình tượng Thị Kính – biểu tượng của lòng vị tha, đức hi sinh và tình thương bao la.
Có thể khẳng định rằng giá trị lớn nhất của đoạn truyện nằm ở thông điệp nhân đạo sâu sắc: dù phải chịu nhiều oan khuất và bất công, con người vẫn có thể giữ gìn tấm lòng nhân hậu và tình yêu thương đối với người khác. Chính điều đó đã làm nên sức sống lâu bền của câu chuyện trong đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 8
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, truyện thơ và kịch bản chèo Quan Âm Thị Kính từ lâu đã trở thành một biểu tượng văn hóa, kết tinh những giá trị đạo đức cao đẹp của dân tộc hòa quyện cùng tư tưởng từ bi của Phật giáo. Nếu những đoạn trước của tác phẩm đẩy nhân vật vào tận cùng của bi kịch với "nỗi oan hại chồng" và "nỗi oan lăng loàn", thì đoạn trích "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" lại là nhịp cầu đưa nhân vật bước từ cõi khổ đau sang cõi thánh thiện. Đây là phân đoạn xúc động nhất, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn ngời sáng của Thị Kính – một minh chứng rực rỡ cho đức nhẫn nhục và lòng vị tha vô bờ bến của người phụ nữ Việt Nam.
Trước hết, về mặt nội dung, đoạn trích đã khắc họa sự thăng hoa của tình thương, vượt qua mọi rào cản của hận thù cá nhân và định kiến xã hội khắc nghiệt. Thị Kính (lúc này trong hình hài chú tiểu Kính Tâm) đang phải gánh chịu nỗi oan khiên tày trời do sự lẳng lơ và đổ vạ của Thị Mầu gây ra. Thế nhưng, đứng trước đứa trẻ bị bỏ rơi – kết quả của sự lầm lỡ và thái độ tàn nhẫn của người mẹ đẻ – Thị Kính đã không chọn sự oán hận hay chối từ. Hành động nhận đứa bé về nuôi là một quyết định đầy nghiệt ngã nhưng cũng vô cùng cao thượng: "Dẫu rằng sỉ nhục đã đành / Có đâu máu đỏ lòng thành bỏ rơi". Câu thơ vang lên như một lời thề nguyền của lương tâm, vượt lên trên nỗi nhục nhã về danh dự cá nhân để bảo vệ quyền được sống của một sinh linh bé nhỏ. Thị Kính chăm sóc đứa trẻ không phải bằng tư cách của một người "đổ vỏ" khiên cưỡng, mà bằng bản năng người mẹ thiêng liêng và lòng từ bi của một hành giả thực thụ. Hình ảnh nàng bế đứa trẻ đi xin sữa từng nhà, nhẫn nhục chịu đựng những lời đàm tiếu, mỉa mai của thế gian chính là đỉnh cao của đức hy sinh. Ở đó, lòng nhân ái đã chiến thắng cái ích kỷ, và sự sống của một con người đã trở nên quan trọng hơn tất thảy mọi định kiến hẹp hòi.
Về phương diện nghệ thuật, đoạn trích thể hiện bút pháp tự sự kết hợp trữ tình đặc sắc, mẫu mực của truyện thơ dân gian. Trước hết, đó là nghệ thuật xây dựng tình huống thử thách nhân vật. Tác giả dân gian đã đẩy Thị Kính vào một "thế kẹt" đầy kịch tính: nếu nuôi con thì oan chồng thêm oan, thiên hạ càng tin nàng lăng loàn; nếu bỏ rơi thì lương tâm cao khiết sẽ bị cắn rứt suốt đời. Chính trong nghịch cảnh này, vẻ đẹp tính cách của nhân vật mới được bộc lộ trọn vẹn và lấp lánh nhất. Thứ hai, ngôn ngữ thơ lục bát trong đoạn trích vừa giản dị, gần gũi lại vừa giàu sức gợi cảm. Những câu thơ miêu tả cảnh nuôi con mọn nơi cửa thiền: "Mẹ vò khéo thắt bế bồng / Cảnh nuôi con mọn trong lòng thiền môn" không chỉ thực thà về chi tiết mà còn chứa đựng một nỗi xót xa vô hạn. Sự đan xen giữa bút pháp tả thực (cảnh đi xin sữa, chăm sóc trẻ) và bút pháp ước lệ (không gian cửa thiền) đã tạo nên một hiệu quả tương phản mạnh mẽ, làm nổi bật sự truân chuyên nhưng thanh cao của kiếp người.
Đánh giá một cách tổng thể, đoạn trích "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" mang tầm vóc của một bài ca về chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nó cho thấy sự chuyển hóa kỳ diệu từ nỗi đau và bất công thành hành động thiện nguyện cứu rỗi nhân sinh. Thị Kính không chỉ nuôi dưỡng một đứa trẻ, nàng đang nuôi dưỡng niềm tin của con người vào điều thiện giữa cuộc đời đầy bụi bặm. Hành động ấy đã phá vỡ mọi xiềng xích của dư luận, đưa nàng từ thân phận một người đàn bà bị xã hội ruồng bỏ trở thành biểu tượng thiêng liêng của Quan Thế Âm Bồ Tát. Qua đó, tác phẩm khẳng định một triết lý nhân sinh bất diệt: Sức mạnh lớn nhất của con người không phải là sự phản kháng bằng bạo lực hay thù hận, mà là sự nhẫn nhục và lòng yêu thương vô điều kiện.
Tóm lại, bằng ngôn ngữ nghệ thuật truyền thống điêu luyện và tư tưởng nhân văn cao cả, đoạn trích đã để lại dư âm sâu sắc trong lòng bao thế hệ độc giả. "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" mãi mãi là bài học đắt giá về sự thấu cảm, lòng vị tha và bản lĩnh sống chính trực. Đối với mỗi học sinh giỏi Văn, tiếp cận đoạn trích này không chỉ để phân tích các giá trị văn chương, mà còn là để học cách mở lòng mình trước những nỗi đau của đồng loại, để thấy rằng trong bóng tối của oan khiên, lòng nhân ái vẫn luôn tỏa hương như đóa sen tinh khiết giữa đầm lầy.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 9
Trong kho tàng truyện thơ dân gian Việt Nam, Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm nổi tiếng, khuyết danh, lấy cảm hứng từ tích Phật giáo nhưng được dân gian hóa sâu sắc, phản ánh hiện thực xã hội phong kiến và số phận người phụ nữ. Đoạn trích Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu (thuộc phần IV của truyện thơ) là một trong những đoạn cảm động nhất, kể về việc Thị Kính (sau khi cải trang thành Kính Tâm – chú tiểu) nhận nuôi đứa con do Thị Mầu đổ oan. Qua hình ảnh Thị Kính âm thầm bế con đi xin sữa, chịu đựng tiếng cười chê bai của thiên hạ suốt ba năm trời, tác phẩm dân gian đã khắc họa sâu sắc tấm lòng từ bi, hy sinh thầm lặng của người phụ nữ hiền lành. Đoạn trích không chỉ là minh chứng cho lòng nhân ái cao cả mà còn là tiếng nói tố cáo những oan khuất, bất công trong xã hội cũ, khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của truyện thơ dân gian Việt Nam.
Về nội dung, đoạn trích nổi bật với giá trị nhân đạo và triết lí nhân sinh sâu sắc, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người trước nghịch cảnh. Sau khi bị Thị Mầu đổ oan là cha đứa con (vì Thị Mầu lẳng lơ, ăn nằm với người ở rồi mang thai, bị làng bắt vạ), Kính Tâm bị sư cụ đuổi khỏi chùa. Thị Mầu đem con bỏ trước cổng chùa. Với tấm lòng từ bi, Kính Tâm không nỡ bỏ mặc đứa trẻ vô tội, đã nhận nuôi dù biết rõ sự thật và phải chịu thêm tiếng oan. Suốt ba năm, Kính Tâm ngày ngày bế con đi xin sữa khắp làng trên xóm dưới, chịu đựng sự dị nghị, chế giễu của mọi người (“Rõ là nước lã vẫn lầm / Mà đem giọt máu tình thâm hòa vào”). Nhân vật Thị Kính hiện lên là biểu tượng của sự chịu đựng, hy sinh và lòng nhân hậu vô bờ: dù thân phận là phụ nữ cải nam trang, dù đang tu hành, nàng vẫn lo lắng cho đứa con “măng sữa” bằng tất cả tình thương mẹ hiền, tìm “lọ phương hoạt ấu”, “lọ thầy bảo anh” để chăm sóc con khôn lớn. Nội dung không chỉ dừng ở bi kịch cá nhân mà còn phản ánh hiện thực xã hội phong kiến: sự bất công với người phụ nữ (Thị Kính bị vu oan từ trước, nay lại chịu oan thêm), sự vô trách nhiệm của kẻ giàu có (Thị Mầu), và sự thờ ơ, định kiến của cộng đồng. Qua đó, tác giả dân gian gửi gắm thông điệp nhân văn: ở hiền gặp lành, lòng từ bi và sự hy sinh thầm lặng sẽ được đền đáp; đồng thời phê phán những oan trái, vô nhân đạo trong xã hội cũ. Đoạn trích khép lại bằng nỗi day dứt của Kính Tâm trước khi “hóa”, với lá thư để lại cho đứa con, càng làm nổi bật khát khao sống có ích và tình yêu thương vô điều kiện.
Về nghệ thuật, đoạn trích thể hiện những đặc sắc của truyện thơ dân gian Việt Nam với thể thơ lục bát điêu luyện, ngôn ngữ gần gũi và nghệ thuật miêu tả tâm lí tinh tế. Thể thơ lục bát nhịp nhàng, uyển chuyển, vừa dễ nhớ, dễ thuộc, vừa giàu nhạc tính, phù hợp với lối kể chuyện dân gian và dễ đi vào lòng người. Ngôn ngữ thơ mộc mạc, thuần Việt, giàu chất đời thường (“Xót tình măng sữa nâng vào trong tay”, “Mẹ vò thì sữa khát khao / Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền”), xen lẫn những hình ảnh gần gũi, giản dị nhưng giàu sức gợi: hình ảnh Kính Tâm bế con đi xin sữa gợi sự vất vả, tủi nhục; giọt sữa, tình măng sữa tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng. Nghệ thuật tự sự kết hợp hài hòa với trữ tình: phần tự sự kể rõ hành động nuôi con, phần trữ tình thể hiện nội tâm day dứt, thương xót của nhân vật qua lời thơ giàu cảm xúc. Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng nhân vật thành công: Thị Kính là nhân vật trung tâm được khắc họa đa chiều – từ chịu đựng oan ức đến hy sinh thầm lặng, từ bi và cao thượng. Sự đối lập giữa Thị Kính (nhân hậu, chịu đựng) và Thị Mầu (lẳng lơ, vô trách nhiệm) làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp. Yếu tố kì ảo dân gian (sau này Kính Tâm hóa Phật Quan Âm) được lồng ghép tự nhiên, mang ý nghĩa biểu tượng: cái thiện cuối cùng sẽ chiến thắng, oan khuất sẽ được rửa sạch. Nghệ thuật kể chuyện logic, tình huống kịch tính (đổ oan, nhận con, xin sữa, viết thư) tạo sức hút, khiến người đọc vừa cảm động vừa suy ngẫm.
Tóm lại, đoạn trích Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu là một trong những đoạn hay nhất của truyện thơ Quan Âm Thị Kính, nơi giá trị nội dung nhân đạo sâu sắc – ca ngợi lòng từ bi, hy sinh và tố cáo bất công xã hội – hòa quyện với nghệ thuật dân gian tinh tế, gần gũi. Qua bi kịch của Thị Kính, tác phẩm dân gian không chỉ phản ánh số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà còn khơi dậy ở người đọc niềm tin vào cái thiện, vào sức mạnh của lòng nhân ái. Trong bối cảnh hiện đại, khi những oan khuất và định kiến vẫn tồn tại, thông điệp của đoạn trích vẫn còn nguyên giá trị giáo dục và nhân văn. Đó chính là lý do khiến Quan Âm Thị Kính và đoạn trích này mãi là một kiệt tác của văn học dân gian Việt Nam, tiếp tục chạm đến trái tim bao thế hệ.
Nghị luận về tác phẩm Thị Kính nuôi con cho Thị Màu - mẫu 10
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, Quan Âm Thị Kính là một tác phẩm chèo nổi tiếng, phản ánh sâu sắc thân phận và phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Một trong những đoạn truyện thơ tiêu biểu của tác phẩm là cảnh Thị Kính phải nuôi đứa con hoang của Thị Màu. Qua tình huống đầy éo le ấy, tác phẩm không chỉ khắc họa bi kịch của người phụ nữ lương thiện mà còn ca ngợi đức hi sinh, lòng vị tha và nhân cách cao đẹp của nhân vật Thị Kính.
Trước hết, đoạn truyện thơ thể hiện bi kịch sâu sắc của nhân vật Thị Kính. Sau khi bị nghi oan mưu sát chồng, Thị Kính phải cải trang thành nam giới, vào chùa tu hành với pháp danh Kính Tâm để giữ trọn danh dự. Tuy nhiên, sóng gió chưa dừng lại ở đó. Khi Thị Màu mang thai ngoài giá thú, nàng đã đổ tội cho Kính Tâm là cha đứa bé. Trước sự vu oan ấy, Kính Tâm không thể thanh minh bởi nếu nói ra sự thật sẽ làm lộ thân phận nữ nhi của mình. Vì vậy, nàng đành chấp nhận mang tiếng xấu và nuôi dưỡng đứa trẻ.
Tình huống ấy đã đẩy bi kịch của nhân vật lên đến đỉnh điểm. Thị Kính – một người phụ nữ hiền lành, trong sạch – lại phải gánh chịu những lời dị nghị và sự khinh miệt của xã hội. Bi kịch ấy phản ánh số phận đầy bất công của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, khi danh dự và tiếng nói của họ dễ dàng bị chà đạp bởi định kiến và dư luận.
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh éo le ấy, nhân vật Thị Kính lại tỏa sáng với phẩm chất nhân hậu và đức hi sinh cao đẹp. Dù bị vu oan, nàng vẫn sẵn sàng chăm sóc và nuôi dưỡng đứa trẻ vô tội. Hành động ấy không chỉ thể hiện lòng thương người mà còn cho thấy tấm lòng bao dung, vị tha của nhân vật. Thị Kính chấp nhận mọi khổ đau, mọi điều tiếng để bảo vệ sự sống của một sinh linh bé nhỏ. Qua đó, tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam: giàu lòng nhân ái, nhẫn nhịn và luôn sẵn sàng hi sinh vì người khác.
Đồng thời, đoạn truyện còn gửi gắm giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác giả dân gian bày tỏ sự cảm thông đối với số phận oan khuất của Thị Kính, đồng thời lên án những định kiến khắc nghiệt của xã hội phong kiến. Chính những định kiến ấy đã khiến người tốt phải chịu oan ức, còn sự thật thì bị che lấp bởi lời đồn và quyền lực của dư luận.
Bên cạnh giá trị nội dung sâu sắc, đoạn truyện thơ còn đặc sắc về phương diện nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình. Thị Kính được khắc họa như hình tượng tiêu biểu của người phụ nữ hiền hậu, nhẫn nhịn và giàu lòng vị tha. Trong khi đó, nhân vật Thị Màu lại đại diện cho sự bồng bột, ham vui và thiếu trách nhiệm. Sự đối lập giữa hai nhân vật đã làm nổi bật vẻ đẹp phẩm chất của Thị Kính.
Ngoài ra, ngôn ngữ thơ giàu tính dân gian cũng là một điểm đặc sắc của đoạn truyện. Lời thơ giản dị, gần gũi nhưng giàu cảm xúc, giúp người đọc dễ dàng cảm nhận được nỗi đau và sự hi sinh của nhân vật. Những hình ảnh và chi tiết giàu sức gợi đã góp phần khắc họa sâu sắc tâm trạng của Thị Kính.
Bên cạnh đó, tình huống truyện giàu kịch tính cũng góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm. Việc Thị Kính phải nuôi đứa con của người đã vu oan cho mình tạo nên một nghịch cảnh đầy trớ trêu, qua đó làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của nhân vật và tăng sức lay động đối với người đọc.
Tóm lại, đoạn truyện thơ “Thị Kính nuôi con cho Thị Màu” trong tác phẩm Quan Âm Thị Kính là một phần đặc sắc của văn học dân gian Việt Nam. Thông qua bi kịch và phẩm chất của nhân vật Thị Kính, tác phẩm không chỉ phản ánh số phận bất công của người phụ nữ trong xã hội phong kiến mà còn ca ngợi lòng nhân hậu, đức hi sinh và phẩm giá cao đẹp của con người. Với nội dung nhân văn sâu sắc cùng nghệ thuật kể chuyện giàu cảm xúc, đoạn truyện vẫn giữ nguyên giá trị và sức lay động đối với người đọc hôm nay.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Người ngồi đợi trước hiên nhà
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Sống hay không sống - đó là vấn đề
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Romeo và Juliet
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Lời má năm xưa
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Ét-va Mun-chơ và Tiếng thét
- Viết bài nghị luận về một tác phẩm kịch: Prô-mê-tê bị xiềng
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 11 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Friends Global
- Lớp 11 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 11 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 11 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 11 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 11 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 11 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - KNTT
- Giải sgk Tin học 11 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 11 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 11 - KNTT
- Lớp 11 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 11 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 11 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 11 - CTST
- Giải sgk Hóa học 11 - CTST
- Giải sgk Sinh học 11 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 11 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 11 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 11 - CTST
- Lớp 11 - Cánh diều
- Soạn văn 11 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 11 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 11 - Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 11 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 11 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

