7+ Phân tích Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (cực hay)



Phân tích bài thơ "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" của Phan Bội Châu điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

7+ Phân tích Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác (cực hay)

Dàn ý Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác

Quảng cáo

1. Mở bài

- Trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp văn chương…

- Giới thiệu khái quát nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác: Bài thơ ấy là tiêu biểu cho phong thái ung dung, kiên cường và khí phách Phan Bội Châu

2. Thân bài

a. Hai câu đề

- “Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”: Hoàn cảnh nhân vật trữ tình ở tù nhưng cái cốt cách hào kiệt, phong thái phong lưu vẫn còn

⇒ Từ hán Việt được sử dụng ⇒ câu thơ mang ý nghĩa khẳng định tư thế cốt cách đàng của người chiến sĩ

- “Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”: nhà tù chỉ là nơi nghỉ chân tạm trên chặng đường hoạt động cách mạng

⇒ Cách nói làm cho câu thơ khỏe khoắn, không hề mang màu sắc đau khổ u buồn

- Đối với nhân vật trữ tình, “ở tù” còn là nơi tôi luyện, thử thách để bộc lộ bản lĩnh và khí phách anh hùng

b. Hai câu thực

- “Khách không nhà trong bốn bể”: thực tế khó khăn, để hoạt động cách mạng, nhân vật trữ tình – tác giả đã từng phải bôn ba khắp nơi

- “Lại có tội giữa năm châu”: cảnh đế quốc thực dân đã kết tội Phan Bội Châu án tử hình vắng mặt

- Giọng thơ trầm xuống, mang vẻ cảm khái nhưng vẫn hiện lên khí chất của nhân vật: dẫu trong muôn nghìn gian khó, khí phách trượng phu vẫn hiện lên rõ nét

⇒ Nghệ thuật đối cân chỉnh giữa hai câu thơ: Đây là hai câu thơ giúp cho người đọc hiểu rõ những chông gai trên con đường cách mạng của Phan Bội Châu.

c. Hai câu luận

- “Bủa tay ôm chặt bồ kinh thế”: Ước vọng, lí tưởng không thay đổi, bất chấp mọi hoàn cảnh, đó là chí lớn: sự nghiệp kinh bang tế thế.

- “Mở miệng cười tan cuộc oán thù”: Tiếng cười cất lên sảng khoái, ngạo nghễ với mong muốn dẹp tan oán thù

⇒ Biện pháp khoa trương, cách xây dựng hình ảnh thơ theo lối chỉ tỏ lòng, từ ngữ mạnh, ấn tượng ⇒ hai câu thơ đã dựng lên hình ảnh người anh hùng tràn đầy khí phách đang hành đạo để cứu nước

Quảng cáo

d. Hai câu kết

- Khẳng đinh “thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp”: Khí phách anh hùng thể hiện ở niềm tin bất diệt vào sự nghiệp bản thân đang theo đuổi, đó cũng là ý chí theo đuổi đến cùng sự nghiệp

- Bởi ý chí theo đuổi lí tưởng đến cùng ấy đã khiến Phan Bội Châu: “bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu”: đây là thái độ coi thường hiểm nguy

⇒ Lời thơ dõng dạc, mạnh mẽ, dứt khoát ⇒ Khẳng định ý chí quyết tâm của tác giả

3. Kết bài

- Khái quát những nét tiêu biểu về giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm

- Trình bày niềm cảm phục ý chí phấn đấu vì lí tưởng của nhà cách mạng yêu nước Phan Bội Châu

- Rút ra bài học cho bản thân: Phấn đấu theo đuổi niềm mơ ước của mình dẫu gian nan, thử thách

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 1

   Phan Bội Châu nhà chí sĩ cách mạng Việt Nam, cả cuộc đời ông dùng để hoạt động cách mạng nhằm tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc. Bởi vậy các tác phẩm của ông viết ra đều thể hiện lòng yêu nước, thương dân tha thiết, khát vọng độc lập, tự do và ý chí kiên cường, bền bỉ. Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là một trong những tác phẩm như vậy.

   Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác là một bài thơ Nôm được trích trong tác phẩm Ngục trung thư sáng tác năm 1914. Đây là thời gian Phan Bội Châu bị quân phiệt Quảng Đông, Trung Quốc bắt giam. Bài thơ bộc lộ cảm xúc của ông những ngày đầu mới vào ngục.

   Mở đầu bài thơ không phải tư thế của người tù khốn khổ, mà là tư thế đường hoàng, hiên ngang:

   Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu

   Chạy mỏi chân thì hãy ở tù.

   Cách nói “vẫn là” được lặp lại hai lần ở ngay câu đầu mang ý nghĩa khẳng định, kết hợp với hai từ Hán Việt hào kiệt, phong lưu cho thấy tư thế hiên ngang, bất khuất lại có chút tài hoa của người tù trước hoàn cảnh bị đẩy vào ngục của mình. Câu thơ thứ hai tác giả đưa ra cách lí giải: do ông đã phiêu bạt nhiều, đã mỏi chân, nên vào tù cũng chỉ là nghỉ ngơi tạm thời, để chuẩn bị cho những lần di chuyển sau nhanh hơn, mạnh mẽ hơn. Giọng điệu vui đùa, khẩu khí của tác giả thật đáng ngưỡng mộ. Cách nhìn nhận của ông về hoàn cảnh của bản thân hết sức lạc quan, tác giả đã biến chuyện tù đầy trở thành một điều hết sức bình thường.

   Hai câu ba bốn có sự chuyển giọng, từ giọng vui đùa hóm hỉnh chuyển sang giọng điệu thống thiết, trầm lặng. Vừa là khách không nhà, vừa là kẻ có tội. Đến đây những lời ông nói đã được nhìn nhận sát với thực tế hơn. Từ khi Phan Bội Châu bắt đầu con đường cứu nước của mình ông không có một mái nhà, một gia đình, đi đâu cũng gặp kẻ thù, cũng bị bắt bớ, săn đuổi. Trong hai câu thơ này, giọng điệu pha chút trầm lặng, đầy màu sắc cảm khái nhưng không phải là giọng than thân. Nhà thơ có buồn cho thân phận mình nhưng cái mà ông quan tâm hơn chính là đau xót cho số phận dân tộc. Tiếp tục mạch thơ, hai câu tiếp thể hiện ý chí kiên cường, mạnh mẽ của người tù. Dù trong quá trình hoạt động gặp nhiều khó khăn, không nhà không cửa nhưng ông vẫn quyết theo đuổi sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Câu này có quan hệ đối lập với câu thơ trên, cho thấy khí phách và ý chí của nhà cách mạng không hề nao núng.

   Hai câu kết đã gói lại toàn bộ tư tưởng của bài thơ, thể hiện tinh thần lạc quan, thái độ cứng cỏi của Phan Bội Châu trong cảnh tù đày, bị kết tội:

   Thân ấy vẫn còn, còn sự nghiệp

   Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Quảng cáo

   Đây là lời tự nhủ thầm, tự an ủi, động viên mình. Chỉ cần còn thân xác nhất định sẽ đem nó phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân. Ông sẵn sàng hi sinh tính mệnh vì tổ quốc. Cách lặp từ còn mang sắc thái khẳng định, lời thơ dõng dạc, thể hiện cái “chí” của bậc anh hùng.

   Tác phẩm đã cho thấy ý chí kiên cường sắt đá, đầy lạc quan của người anh hùng Phan Bội Châu trong cảnh tù đầy. Hơn nữa, qua tác phẩm còn cho thấy tình yêu quê hương đất nước sâu nặng của ông, sẵn sàng hi sính tính mạng vì tổ quốc.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 2

Cuối thế kỷ XIX, khi các phong trào đấu tranh chống Pháp lần lượt bị thất bại, đất nước chìm ngập trong đau thương. Bước sang đầu thế kỷ XX, hưởng ứng luồng gió mới từ phương Tây thổi tới, những con người yêu nước, quyết chí dành tự do cho dân tộc lại náo nức bước vào một cuộc đấu tranh mới, theo khuynh hướng dân chủ tư sản.

Phan Bội Châu xuất thân nho học song lại là người sớm có tinh thần tiên tiến, bắt nhịp với thời đại mới. Cái chí khí "phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (giàu sang không thể làm cho mê đắm, nghèo khó không thể làm cho thay lòng đổi dạ, uy vũ không thể làm cho khuất phục) của một nho gia đã biến thành bản lĩnh vững vàng, thành cốt cách anh hùng trước cơn tai biến nguy nan của một chí sĩ cách mạng.

Ngày 19-1-1914, Phan Bội Châu bị bắt giam vào ngục Quảng Đông. Trước đó, thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt đối với ông. Bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông nằm trong Ngục trung thư - một huyết tâm thư tuyệt mệnh. Ngay từ đêm đầu tiên vào ngục Phan Bội Châu đã làm hai bài thơ Nôm (Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông là một trong hai bài ấy): "Làm xong hai bài thơ tôi ngân nga lớn tiếng rồi cả cười, vang động cả bốn vành, hầu như không biết thân mình đang bị nhốt trong ngục".

Xem ra, tù ngục cũng chẳng mảy may khiến bậc trượng phu nao núng. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Hai câu vào bài thể hiện ngay khẩu khí của bậc anh hùng:

"Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù".

Nhân vật trữ tình hiện ra với một phong thái đường hoàng, tự tin đến ngang tàng, ngạo mạn. Giọng đùa vui, tự trào làm tan biến đi cảm giác của một người tù, chỉ thấy một tư thế cao ngạo, xem thường hiểm nguy, cổ nhân nói: Trí hơn vạn người gọi là "anh", trí hơn nghìn người gọi là "tuấn", trí hơn trăm người gọi là "hào", trí hơn mười người gọi là "kiệt". Kẻ tài trí hơn người, phong thái ung dung, đường hoàng (phong lưu) đang ngân nga tỏ chí.

Hai từ vẫn trong câu thơ đầu mang đậm tính khẩu ngữ. Một sự việc nghiêm trọng (tù) được nói đến bằng một thái độ cười, cợt, xem thường. Bị giam hãm trong tù ngục (lại là tử tù!) mà cứ như khách tài tử tạm dừng chân trên chặng đường dài dặc. Hoàn cảnh dù có đổi thay, tai biến có thể đến bất cứ lúc hào nhưng chí khí thì chẳng khi nào dời đổi.

Quảng cáo

Hai câu tiếp, giọng thơ chợt chuyển:

Đã khách không nhà trong bốn biển,

Lại người có tội giữa năm châu

Tác giả tự nghiệm về thân thế của mình. Một cuộc đời bôn ba đầy sóng gió. Phan Bội Châu từng phiêu bạt khắp nơi (khi Trung Quốc, khi thì Nhật Bàn, Thái Lan). Trên hành trình lưu lạc ấy ông đã phải trải qua biết bao cay đắng, cực khổ. Chỉ vì hết lòng muốn tìm đường cứu nước, chỉ vì yêu đất nước, dân tộc mình mà người chí sĩ bị xem như một tội nhân, bị truy nã khắp nơi.

Phiêu bạt, lênh đênh, chẳng được yên ổn bao giờ, con người ấy cất tiếng than cho mình cũng là đau cho nỗi đau chung của một đất nước đang mất chủ quyền. Tiếng thở dài ấy là của bậc anh hùng. Cái buồn ấy là cái buồn của một người tù yêu nước, của một nhân cách phi thường. Một phút ngẫm ngợi về mình để rồi lại sang sảng ca lên âm giai lãng mạn:

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

Kinh tế - kinh bang tế thế, người chí sĩ chẳng lúc nào thôi ôm ấp hoài bão trị nước cứu đời. Đây là con đường Phan đã chọn, nguyện dấn thân, vẫn là cái khẩu khí hơn người, tiếng "cười" của một người tù sao mà khoáng đạt đến thế. Đến độ ta chỉ còn thấy âm hưởng hào hùng bao trùm tất cả, lấn át tất cả như cánh buồm thênh thênh lướt sóng đại dương. Lối nói khoa trương đã được sử dụng để biểu đạt cái chí lớn lao, khát vọng xoay chuyển càn khôn. Như trong bài thơ Chơi xuân, Phan viết:

Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ,

Nắm địa cầu vừa một tí con con.

Đạp toang hai cánh càn khôn,

Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà...

Hai liên giữa câu 3 - 4 và câu 5-6 của bài thơ Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông đã tuân thủ khuôn mẫu của một bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường trong đối ý, đối lời. Sự đăng đối, hài hòa ở những câu thơ này góp phần tạo ra ấn tượng về cái vững vàng. Các cặp từ đối: bốn biển - năm châu, bủa tay - mở miệng, bồ kinh tế - cuộc oán thù khiến cho tầm vóc của người chi sĩ trở nên phi thường phù hợp với âm hưởng chủ đạo của bài thơ.

Bản lĩnh và tư thế khác người của người anh hùng yêu nước được khẳng định dứt khoát trong hai câu thơ kết bài:

Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu!

Con người ấy còn sống là còn tranh đấu đến cùng cho lý tưởng chính nghĩa của mình. Hai chữ còn ngắt ra, điệp lại càng tăng thêm sắc thái mạnh mẽ, dứt khoát cho câu thơ. Ý chí thép sẽ chiến thắng hiểm nguy.

Cả bài thơ toát lên một tinh thần bất khuất, một tư thế vững vàng của bậc trượng phu trong cơn sóng gió. Truyền thống yêu nước, chí khí anh dũng của dân tộc đang tiếp tục mạch chảy bất tận trong tâm huyết chí sĩ Phan Bội Châu. Hình ảnh người anh hùng đã tạc vào lịch sử như một minh chứng cho tinh thần yêu nước, xả thân vì lý tưởng chính nghĩa.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 3

Phan Bội Châu là một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà cách mạng tiền bối của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời hoạt động sôi nổi và đầy gian truân của ông đã trở thành huyền thoại. Năm 1914, khi đang hoạt động ở Trung Quốc, ông bị chính quyền Quảng Đông bắt giam. Bài thơ "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" được ông viết trong những ngày đầu bị giam cầm tại đây, như một lời tuyên ngôn hùng hồn về ý chí, khí phách và lòng yêu nước của người chiến sĩ cách mạng.

Ngay từ hai câu thơ mở đầu, hình ảnh người anh hùng đã hiện lên với một phong thái thật đặc biệt:

“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”

Nhịp thơ 4/3 mạnh mẽ, dứt khoát, cùng với điệp từ "vẫn" được nhấn mạnh đã khẳng định một tư thế hiên ngang, bất chấp hoàn cảnh. "Hào kiệt" là phẩm chất, "phong lưu" là phong thái. Dù đang ở trong tù, đối diện với bốn bức tường lạnh lẽo, nhưng nhà thơ vẫn giữ vững tư thế của một bậc anh hùng, một khách phong lưu. Câu thơ thứ hai vừa tự trào, vừa thể hiện sự bất khuất: "Chạy mỏi chân thì hãy ở tù". Nhà cách mạng quanh năm bôn ba, hoạt động nay bị bắt, coi như là một dịp để nghỉ chân. Thái độ coi thường hiểm nguy, coi tù ngục chỉ là một nơi dừng chân tạm thời cho thấy một tinh thần thép, một bản lĩnh kiên cường.

Khí phách ấy càng được khẳng định đậm nét hơn trong hai câu thơ tiếp theo:

“Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu”

Cấu trúc sóng đôi "đã... lại..." kết hợp với những không gian rộng lớn "bốn biển", "năm châu" đã khắc họa chân dung người anh hùng lưu lạc. "Khách không nhà" là thân phận của những người cách mạng phải bỏ nước ra đi tìm đường cứu nước. "Người có tội" là cách nói ngược của bọn thực dân phong kiến, nhưng ở đây nó lại trở thành một danh hiệu vinh quang. Tội của Phan Bội Châu là tội yêu nước, tội đánh đuổi giặc ngoại xâm. Giữa không gian bao la của biển trời, nhà thơ tự nhận mình là "khách không nhà", là "người có tội", nhưng tư thế của ông không hề nhỏ bé, ngược lại, càng trở nên lớn lao, sừng sững.

Đến hai câu luận, nhà thơ bộc lộ trực tiếp ý chí sắt đá của mình:

“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù”

Hai câu thơ sử dụng động từ mạnh kết hợp với hình ảnh ước lệ khoa trương. "Bủa tay ôm chặt" thể hiện quyết tâm ôm ấp, thực hiện bằng được lý tưởng cứu nước ("bồ kinh tế" là việc cứu đời, cứu nước). Dù trong cảnh tù đày, ý chí ấy vẫn không hề suy chuyển. "Mở miệng cười tan" là một hình ảnh đầy sức mạnh, xóa tan mọi thù oán, mọi hiểm nguy. Nụ cười ấy là nụ cười của người chiến thắng, của kẻ sĩ coi thường gian khổ, coi thường cái chết. Hai câu thơ vừa lãng mạn bay bổng, vừa hiện thực sâu sắc, tạc nên tượng đài về một con người không gì có thể khuất phục.

Kết thúc bài thơ, nhà thơ khẳng định một chân lý sống cao đẹp:

“Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!”

Một lần nữa, tinh thần lạc quan cách mạng lại tỏa sáng. "Thân ấy hãy còn" là còn sự nghiệp, còn lý tưởng. Câu thơ cuối cùng như một tiếng thét đầy khí phách: "Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!". Dấu chấm than ở cuối câu như nhấn mạnh thêm sự khinh bạc trước mọi hiểm nguy. Tù đày, đòn roi, thậm chí là cái chết cũng không thể làm ông sờn lòng, đổi chí.

"Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất viết về người tù cách mạng. Bài thơ đã khắc họa thành công chân dung người anh hùng Phan Bội Châu với tư thế hiên ngang, ý chí sắt đá, tinh thần lạc quan và lòng yêu nước nồng nàn, trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ mai sau.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 4

Trong văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, có lẽ không có bài thơ nào thể hiện khí phách hiên ngang, bất khuất của người chí sĩ cách mạng một cách mạnh mẽ và đầy ấn tượng như "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" của Phan Bội Châu. Bài thơ được viết trong bối cảnh đặc biệt: khi nhà thơ bị bắt giam tại nhà ngục Quảng Đông, đối diện với hiểm nguy, nhưng thay vì bi quan, ông lại cất lên những vần thơ đầy khí thế, khẳng định tư thế hiên ngang của một bậc trượng phu.

Ngay từ hai câu đề, tư thế ấy đã được phác họa rõ nét:

“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”

Điệp từ "vẫn" được đặt ở đầu câu như một lời khẳng định đanh thép: dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù bị tù đày hay gian khổ, thì bản chất "hào kiệt", phong thái "phong lưu" vẫn không hề thay đổi. "Hào kiệt" là khí chất của bậc anh hùng, "phong lưu" là phong thái ung dung, tự tại, không gò bó. Hai phẩm chất tưởng như đối lập với hoàn cảnh tù ngục lại được kết hợp hài hòa, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo. Câu thơ thứ hai là một cách nói rất ngạo nghễ, coi việc bị bắt chỉ là một sự tình cờ, là lúc dừng chân nghỉ lại sau những chặng đường hoạt động mệt nhọc. "Ở tù" mà được nói như một cuộc nghỉ chân thì quả thật chỉ có những con người phi thường mới có được tư thế ấy.

Tư thế hiên ngang ấy tiếp tục được khẳng định qua hai câu thực:

“Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu”

Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh, tạo nên một bức chân dung hoàn chỉnh về thân phận người cách mạng. "Khách không nhà" và "người có tội" là những danh xưng mà thực dân và phong kiến gán cho ông. Nhưng đặt trong không gian rộng lớn "bốn biển", "năm châu", những danh xưng ấy bỗng trở nên lớn lao, kỳ vĩ. Nhà thơ không hề nhỏ bé, yếu đuối trong cảnh tù, trái lại, ông sừng sững giữa biển trời với một tư thế không hề nao núng. Thân phận lưu lạc không làm ông bi lụy, trái lại càng tôn thêm vẻ đẹp của người anh hùng vì nước quên thân.

Sang đến hai câu luận, tư thế hiên ngang được đẩy lên cao độ bằng những hành động mang tầm vóc vũ trụ:

“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù”

Động từ "bủa tay ôm chặt" gợi lên một sức mạnh phi thường, một quyết tâm sắt đá nắm giữ lý tưởng cứu đời ("bồ kinh tế"). Trong bốn bức tường nhà tù chật hẹp, ý chí của người chiến sĩ vẫn vươn ra ngoài xã hội rộng lớn. Hành động "mở miệng cười" càng thể hiện bản lĩnh kiên cường. Nụ cười ấy không phải là nụ cười bình thường mà là nụ cười có sức mạnh "tan cuộc oán thù". Nó xua tan mọi thù hận, mọi hiểm nguy, thể hiện một tinh thần siêu việt, đứng trên mọi gian khổ. Hai câu thơ vừa là tuyên ngôn, vừa là khí phách của người anh hùng.

Kết thúc bài thơ là một lời khẳng định đầy tự tin:

“Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!”

Một lần nữa, hình ảnh người anh hùng lại hiện lên với tư thế ung dung, bất chấp mọi thử thách. "Sợ gì đâu" là một câu nói rất đỗi bình thường nhưng lại chất chứa một sức mạnh tinh thần to lớn. Nó thể hiện sự khinh bỉ cao độ trước mọi nguy hiểm, đòn roi, tù đày.

Như vậy, bằng giọng thơ hào hùng, khỏe khoắn, cùng với hệ thống hình ảnh phóng đại, khoa trương, Phan Bội Châu đã khắc họa thành công tư thế hiên ngang của người chí sĩ cách mạng đầu thế kỷ XX. Bài thơ không chỉ có giá trị văn học mà còn là bài ca bất hủ về lòng yêu nước và khí phách kiên cường của dân tộc Việt Nam.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 5

Phan Bội Châu – tên tuổi ấy đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và tinh thần cách mạng của dân tộc. Giữa bốn bức tường nhà tù lạnh lẽo ở Quảng Đông, khi đối diện với hiểm nguy và có thể là cái chết, ông đã viết nên "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" – một bài thơ tràn đầy tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường, như một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.

Tinh thần lạc quan trước hết thể hiện ở thái độ coi thường hiểm nguy, coi nhẹ cảnh tù đày:

“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”

Nhà thơ không hề than thân trách phận, không hề bi lụy trước cảnh "xiềng xích trói buộc thân". Trái lại, ông khẳng định một cách đầy tự hào rằng dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ông vẫn là một "hào kiệt", vẫn giữ được phong thái "phong lưu". Đặc biệt, cách nói "Chạy mỏi chân thì hãy ở tù" vừa hóm hỉnh, vừa ngang tàng. Nó cho thấy một tinh thần thép: bị bắt chỉ là chuyện nhỏ, như một sự tình cờ trên con đường hoạt động cách mạng, một cơ hội để nghỉ ngơi. Cái nhìn đầy lạc quan ấy đã biến nhà tù từ chỗ là nơi giam cầm thành một "trạm nghỉ chân" của người lữ khách.

Tinh thần lạc quan càng được khẳng định mạnh mẽ qua những câu thơ tiếp theo:

“Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu”

Dù là "khách không nhà", dù là "người có tội", Phan Bội Châu vẫn không hề bi quan. Ông đón nhận thân phận lưu lạc của mình với một tư thế hiên ngang. Hình ảnh "bốn biển", "năm châu" đã mở ra một không gian rộng lớn, đối lập với không gian chật hẹp của nhà tù. Trong không gian ấy, nhà thơ tự thấy mình không hề cô độc, nhỏ bé, mà vẫn đang hiện diện, đang sống và chiến đấu. Đó là sự lạc quan của một trái tim yêu nước luôn hướng về Tổ quốc, dù thân xác bị giam cầm.

Nhưng tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường được thể hiện rõ nhất, tập trung nhất ở hai câu luận:

“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù”

Hình ảnh thơ thật đẹp, thật hào hùng. Dù trong tù, tay vẫn "ôm chặt" lý tưởng cứu nước. Chính lý tưởng ấy là ngọn đuốc soi đường, là nguồn sức mạnh giúp ông vượt lên mọi gian khổ. Và trên hết, nụ cười "tan cuộc oán thù" là biểu tượng cao đẹp nhất của tinh thần lạc quan cách mạng. Nụ cười ấy không chỉ thể hiện sự khinh bỉ kẻ thù, mà còn cho thấy một tâm hồn thanh thản, một niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng. Nó như một lời thách thức với bọn cai ngục: dù chúng có làm gì, tinh thần của người chiến sĩ vẫn không thể bị đè bẹp.

Kết thúc bài thơ là một lời khẳng định đầy tự tin, thể hiện ý chí kiên cường không gì lay chuyển được:

“Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!”

Câu thơ cuối cùng như một lời tuyên bố hùng hồn: chỉ cần còn sống là còn chiến đấu, còn theo đuổi sự nghiệp cứu nước. Và khi đã có một lý tưởng cao đẹp như vậy thì không có "nguy hiểm" nào đáng sợ. Dấu chấm than cuối câu như nhấn mạnh thêm sự mạnh mẽ, dứt khoát của một con người đã vượt lên trên mọi thử thách của số phận.

"Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" không chỉ là một bài thơ hay về nghệ thuật mà còn là một bài học lớn về tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: trước mọi khó khăn, thử thách, chỉ cần giữ vững niềm tin và lý tưởng thì không gì có thể quật ngã được con người.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 6

Thơ văn Phan Bội Châu thường mang đậm chất lãng mạn và hào hùng của các bậc anh hùng, chí sĩ đầu thế kỷ XX. "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Trong bài thơ, chất lãng mạn và hào hùng hòa quyện, tạo nên một bức tranh vừa đẹp, vừa mạnh mẽ về người chiến sĩ cách mạng giữa vòng lao tù.

Vẻ đẹp lãng mạn trước hết thể hiện ở phong thái ung dung, tự tại của nhà thơ:

“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”

"Phong lưu" vốn là phong thái của các tao nhân mặc khách thời xưa, thường gắn với rượu ngon, cảnh đẹp, bạn hiền. Vậy mà ở đây, giữa chốn lao tù tăm tối, nhà thơ vẫn giữ được phong thái ấy. Đó là một vẻ đẹp rất lãng mạn, vượt lên trên hoàn cảnh thực tại đầy nghiệt ngã. Nhà thơ như đang đứng bên ngoài mọi khổ đau, thưởng thức cuộc sống theo một cách riêng của mình. Cách nói "Chạy mỏi chân thì hãy ở tù" cũng rất lãng mạn, như một câu nói đùa của người lữ hành, biến cảnh tù ngục thành một trải nghiệm nhẹ nhàng.

Chất lãng mạn còn thể hiện ở không gian nghệ thuật được mở ra vô cùng rộng lớn:

“Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu.”

Bốn bức tường nhà tù không thể giam hãm tâm hồn người chiến sĩ. Tâm hồn ông đang phiêu du giữa "bốn biển", "năm châu". Đó là không gian của những người anh hùng thời loạn lạc, của những trang nam nhi đầu đội trời, chân đạp đất. Hình ảnh "khách không nhà" gợi lên thân phận long đong nhưng lại mang vẻ đẹp lãng mạn của những con người suốt đời vì nước, vì dân mà phiêu bạt giang hồ. Họ không có một mái ấm gia đình nhỏ bé, nhưng cả "bốn biển" là nhà, cả "năm châu" là nơi hoạt động.

Vẻ đẹp hào hùng được thể hiện qua những hình ảnh kỳ vĩ, mang tầm vóc vũ trụ:

“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù”

Đây là đỉnh cao của chất hào hùng trong bài thơ. Hình ảnh "bủa tay ôm chặt" cho thấy một sức mạnh phi thường, một nghị lực khổng lồ nắm giữ lý tưởng. Lý tưởng ấy ("bồ kinh tế") không phải là cái gì nhỏ bé mà là việc cứu nước, cứu dân, một sự nghiệp lớn lao. Hình ảnh "mở miệng cười tan" càng hào hùng hơn. Nụ cười ấy như một sức mạnh thần kỳ có thể xua tan mọi thù oán, mọi hiểm nguy. Động từ "tan" cho thấy sự tiêu biến, tan biến của kẻ thù, của hiểm nguy trước khí phách của người anh hùng. Hai câu thơ sử dụng bút pháp khoa trương, phóng đại rất đặc trưng của thơ ca lãng mạn, tạo nên một tượng đài nghệ thuật về người chí sĩ yêu nước.

Sự kết hợp giữa lãng mạn và hào hùng còn thể hiện ở cái nhìn đầy niềm tin, đầy lạc quan vào tương lai:

“Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!”

Chất lãng mạn ở đây là niềm tin vào sức sống bền bỉ của con người và sự nghiệp. Chất hào hùng là sự khinh thường tất cả "nguy hiểm", là lời thách thức đầy khí thế. Câu thơ cuối vang lên như một tiếng hô xung trận, như một lời tuyên thệ của người anh hùng trước vận mệnh.

Như vậy, vẻ đẹp lãng mạn và hào hùng trong "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" đã góp phần tạo nên sức sống lâu bền cho bài thơ. Nó không chỉ khắc họa chân dung một con người cụ thể là Phan Bội Châu, mà còn là biểu tượng cho vẻ đẹp của cả một thế hệ người Việt Nam yêu nước, dám hy sinh tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Phân tích bài thơ Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác - mẫu 7

"Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" của Phan Bội Châu không chỉ hấp dẫn người đọc bởi nội dung tư tưởng sâu sắc mà còn bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu độc đáo. Chính giọng điệu hào hùng, mạnh mẽ cùng hệ thống ngôn từ giàu hình ảnh đã góp phần quan trọng khắc họa thành công khí phách hiên ngang của người chí sĩ cách mạng giữa chốn lao tù.

Ngay từ đầu bài thơ, giọng điệu đã được xác lập một cách đầy ấn tượng với sự xuất hiện của điệp từ "vẫn":

“Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu”

Điệp từ "vẫn" kết hợp với nhịp thơ 4/3 mạnh mẽ tạo nên một giọng điệu khẳng định, tự hào. Nó như một lời tuyên bố đanh thép với tất cả mọi người, với cả kẻ thù rằng: dù trong hoàn cảnh nào, bản chất tốt đẹp, phong thái ung dung của tôi vẫn không hề thay đổi. Câu thơ thứ hai tiếp tục với một giọng điệu khác: giọng tự trào, ngang tàng, pha chút hóm hỉnh:

“Chạy mỏi chân thì hãy ở tù”

Lối nói "thì hãy" rất đỗi bình thản, nhẹ nhõm, như thể việc bị bắt vào tù chẳng có gì là to tát. Giọng điệu này vừa cho thấy sự từng trải, vừa thể hiện một tinh thần thép, coi thường hiểm nguy. Nó làm giảm đi sự căng thẳng của hoàn cảnh, thay vào đó là một thái độ ung dung, tự tại.

Ở hai câu thực, giọng điệu trở nên trầm lắng hơn, như một lời tự sự về thân phận:

“Đã khách không nhà trong bốn biển

Lại người có tội giữa năm châu”

Cấu trúc "đã... lại..." kết hợp với những danh xưng "khách không nhà", "người có tội" và những không gian mênh mông "bốn biển", "năm châu" tạo nên một giọng điệu vừa tự hào, vừa ngậm ngùi. Tự hào vì thân phận tuy lưu lạc nhưng lại gắn với không gian rộng lớn, ngậm ngùi vì cảnh "không nhà", bị coi là "có tội". Sự kết hợp này tạo nên chiều sâu cảm xúc, cho thấy đằng sau khí phách hiên ngang là một tâm hồn yêu nước luôn khắc khoải về thân phận.

Đỉnh cao của giọng điệu hào hùng là hai câu luận, với hệ thống động từ mạnh và hình ảnh phóng đại:

“Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù”

Hai động từ "bủa tay ôm chặt" và "mở miệng cười tan" được đặt ở đầu câu, tạo nên một nhịp điệu mạnh mẽ, dứt khoát. Chúng diễn tả những hành động mang tầm vóc lớn lao, phi thường. Hình ảnh "bồ kinh tế" (việc cứu đời) và "cuộc oán thù" đều là những khái niệm lớn. Giọng thơ vang lên như một tiếng hô xung trận, như một lời thề sắt đá của người chiến sĩ. Đối với người đọc, hai câu thơ này như một đòn búa bổ, dồn dập, mạnh mẽ, khắc sâu vào tâm trí hình ảnh người anh hùng với tư thế hiên ngang, bất khuất.

Kết thúc bài thơ, giọng điệu lại trở về với sự khẳng định, nhưng lần này được nâng lên một tầm cao mới:

“Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp

Bao nhiêu nguy hiểm, sợ gì đâu!”

Điệp từ "còn" nhấn mạnh sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của con người và sự nghiệp. Câu thơ cuối là một câu cảm thán với giọng điệu đầy thách thức, khinh bạc. Dấu chấm than như một nhát dao chém mạnh vào không gian, khẳng định một chân lý: người anh hùng không có gì phải sợ hãi.

Như vậy, sự vận động linh hoạt của giọng điệu từ tự hào, tự trào, trầm lắng, đến hào hùng và cuối cùng là khẳng định, kết hợp với hệ thống ngôn từ chọn lọc, giàu hình ảnh, đã góp phần tạo nên thành công của bài thơ. "Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác" xứng đáng là một kiệt tác về nghệ thuật sử dụng ngôn từ để khắc họa khí phách con người.

Xem thêm các bài Văn mẫu thuyết minh, phân tích, dàn ý tác phẩm lớp 8 khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


vao-nha-nguc-quang-dong-cam-tac.jsp


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học