10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (điểm cao)
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây (Nguyễn Khuyến) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (các mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Hội Tây (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây
a) Mở bài:
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến
- Giới thiệu tác phẩm Hội Tây miêu tả cảnh hội vui náo nhiệt nhưng ẩn sau đó là tiếng cười châm biếm sâu sắc
- Khái quát
b) Thân bài:
- Khái quát chung
- Phân tích nội dung
+ Phân tích hai câu đề: Không khí náo nhiệt của hội, gợi sắc thái mỉa mai: đất nước đang khó khăn mà vẫn tổ chức hội vui.
+ Phân tích hai câu thực: Hình ảnh con người trong hội, thể hiện bức tranh hội vừa đông vui vừa có nét lộn xộn, nhốn nháo.
+ Phân tích hai câu luận: Những trò vui trong hội, miêu tả cảnh vui chơi nhưng cũng gợi sự lố lăng, tầm thường.
+ Phân tích hai câu kết: Ý nghĩa châm biếm sâu sắc, tiếng cười trào phúng chuyển thành nỗi đau và sự xót xa của tác giả.
- Nghệ thuật
c) Kết bài:
- Khẳng định giá trị nội dung.
- Khẳng định giá trị nghệ thuật,
- Đánh giá
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 1
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn có nhiều tác phẩm trào phúng nhằm phê phán những thói xấu trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm như vậy. Qua việc miêu tả cảnh hội vui náo nhiệt, Nguyễn Khuyến đã khéo léo thể hiện tiếng cười châm biếm và bộc lộ nỗi xót xa trước thực trạng xã hội lúc bấy giờ.
Ngay ở hai câu thơ đầu, tác giả đã vẽ ra khung cảnh một lễ hội rất nhộn nhịp:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Từ “kìa” như một lời chỉ trỏ, thu hút sự chú ý của người đọc vào cảnh hội đang diễn ra trước mắt. Không khí lễ hội hiện lên rất rộn ràng với “tiếng pháo reo”, “cờ kéo”, “đèn treo”. Những hình ảnh ấy gợi nên một khung cảnh tưng bừng, náo nhiệt. Tuy nhiên, ẩn sau sự nhộn nhịp ấy lại là một sắc thái mỉa mai. Trong khi đất nước đang trải qua nhiều biến động, người dân vẫn mải mê với những cuộc vui.
Hai câu thơ tiếp theo khắc họa rõ hơn hình ảnh những người đi xem hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Ở đây, tác giả sử dụng những từ ngữ rất gợi hình. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” cho thấy dáng vẻ ngây ngô, lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Trong khi đó, “thằng bé lom khom” lại gợi lên cảnh một đứa trẻ tò mò, chen chúc để xem hát chèo. Những chi tiết này làm cho bức tranh hội hiện lên vừa đông vui vừa có phần lộn xộn, nhốn nháo. Qua đó, tác giả như muốn châm biếm sự háo hức quá mức của mọi người trước những trò vui.
Không chỉ có cảnh xem hội, bài thơ còn miêu tả những trò chơi diễn ra trong hội:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Hai câu thơ này gợi ra những trò chơi quen thuộc như đánh đu hay leo cột mỡ. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” làm nổi bật không khí náo nhiệt của lễ hội. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, những trò vui ấy lại mang nét hài hước và có phần lố lăng. Nhà thơ dường như muốn cho thấy con người đang quá say mê với những trò giải trí tầm thường.
Ý nghĩa châm biếm của bài thơ được bộc lộ rõ nhất ở hai câu kết:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen, nhưng thực chất lại mang ý nghĩa mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã tạo ra và say mê với những trò vui ấy. Đặc biệt, câu thơ cuối “Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!” đã bộc lộ rõ thái độ của tác giả. Đằng sau những cuộc vui náo nhiệt là nỗi nhục của một đất nước đang mất chủ quyền. Tiếng cười trào phúng ở đây không còn đơn thuần là sự hài hước mà đã trở thành nỗi đau và sự xót xa của nhà thơ trước thực trạng xã hội.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến không chỉ miêu tả cảnh hội vui nhộn nhịp mà còn chứa đựng ý nghĩa phê phán sâu sắc. Qua giọng điệu trào phúng và cách miêu tả sinh động, nhà thơ đã bày tỏ thái độ châm biếm đối với những con người mải mê vui chơi mà quên đi nỗi nhục của đất nước. Bài thơ vì thế vừa mang lại tiếng cười châm biếm vừa gợi lên nhiều suy nghĩ về trách nhiệm của mỗi con người đối với xã hội.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 2
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn sáng tác nhiều bài thơ trào phúng nhằm phê phán những hiện tượng đáng chê trách trong xã hội. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ tiếng cười châm biếm của ông. Qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt, Nguyễn Khuyến đã khắc họa một bức tranh sinh hoạt xã hội vừa đông vui vừa lố lăng, qua đó bộc lộ thái độ phê phán sâu sắc.
Hai câu thơ đầu mở ra khung cảnh rộn ràng của một lễ hội:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Không khí lễ hội hiện lên rất náo nhiệt với tiếng pháo, cờ và đèn trang trí khắp nơi. Từ “kìa” khiến người đọc có cảm giác như đang được tác giả chỉ cho xem cảnh hội đang diễn ra trước mắt. Tuy nhiên, sự náo nhiệt ấy không chỉ nhằm miêu tả một cuộc vui mà còn ẩn chứa sắc thái châm biếm. Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, khi đất nước đang gặp nhiều khó khăn, việc tổ chức những cuộc vui như vậy khiến nhà thơ không khỏi chua xót.
Hai câu thơ tiếp theo đã khắc họa hình ảnh những người tham gia lễ hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Ở đây, Nguyễn Khuyến đã miêu tả những dáng vẻ rất sinh động. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” gợi lên dáng vẻ ngây ngô, có phần lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Trong khi đó, hình ảnh “thằng bé lom khom” lại cho thấy sự tò mò, háo hức của đám đông khi chen chúc xem hát chèo. Những chi tiết này khiến bức tranh lễ hội trở nên sống động, đồng thời cũng gợi lên sự nhốn nháo và thiếu trật tự.
Không khí hội càng trở nên náo nhiệt hơn qua những trò chơi dân gian:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn quen thuộc trong các lễ hội dân gian. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, chúng hiện lên với vẻ hài hước và có phần lố lăng. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự ham vui và háo hức của người tham gia. Qua đó, nhà thơ đã khắc họa một bức tranh hội đầy náo nhiệt nhưng cũng có phần tầm thường.
Hai câu thơ cuối đã thể hiện rõ thái độ của tác giả:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen, nhưng thực chất lại mang ý nghĩa mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã tạo ra và say mê những trò vui ấy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ nỗi chua xót của tác giả. Đằng sau những cuộc vui náo nhiệt là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Vì vậy, tiếng cười trào phúng trong bài thơ không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở của nhà thơ.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến đã khắc họa một bức tranh lễ hội sinh động nhưng đầy ý nghĩa châm biếm. Qua giọng điệu trào phúng và những hình ảnh miêu tả đặc sắc, tác giả đã phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn khiến người đọc suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi con người trước vận mệnh đất nước.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 3
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn sáng tác nhiều bài thơ trào phúng sắc sảo. Thông qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nhiều vấn đề của xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy. Qua việc miêu tả cảnh hội đông vui và những con người tham gia lễ hội, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh sinh hoạt xã hội vừa sinh động vừa mang ý nghĩa phê phán sâu sắc.
Hai câu thơ đầu đã mở ra khung cảnh rộn ràng của lễ hội:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Chỉ với vài hình ảnh đơn giản, tác giả đã gợi lên một không khí lễ hội rất náo nhiệt. Tiếng pháo nổ vang, cờ và đèn được treo khắp nơi làm cho cảnh hội trở nên rực rỡ. Từ “kìa” như một lời chỉ dẫn, khiến người đọc có cảm giác như đang trực tiếp nhìn thấy cảnh hội đang diễn ra. Tuy nhiên, ẩn sau sự náo nhiệt ấy là một sắc thái mỉa mai của nhà thơ, bởi cảnh vui ấy diễn ra trong bối cảnh xã hội đang có nhiều biến động.
Hai câu thơ tiếp theo đã làm nổi bật hình ảnh những người đi xem hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Nguyễn Khuyến đã sử dụng những từ ngữ rất gợi hình để miêu tả dáng vẻ của con người. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” cho thấy dáng vẻ ngây ngô, có phần lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên. Trong khi đó, hình ảnh “thằng bé lom khom” lại gợi lên cảnh chen chúc tò mò của đám đông. Những chi tiết này làm cho bức tranh lễ hội trở nên sống động, đồng thời cũng thể hiện sự hỗn tạp và thiếu trang nghiêm của cảnh hội.
Không khí hội càng trở nên sôi động hơn với những trò chơi:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Các trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là những hoạt động quen thuộc trong lễ hội dân gian. Qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, những hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” đã làm nổi bật sự náo nhiệt và đông vui của hội. Tuy nhiên, cách diễn đạt ấy cũng gợi ra sự ham vui quá mức của con người, khiến bức tranh hội mang nét hài hước và có phần lố lăng.
Hai câu thơ cuối đã bộc lộ rõ thái độ của tác giả:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen, nhưng thực chất lại là lời mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã tạo ra và say mê những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ nỗi xót xa của tác giả. Đằng sau những cuộc vui náo nhiệt là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Tiếng cười trào phúng vì thế không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở của nhà thơ.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến đã khắc họa một bức tranh lễ hội sinh động nhưng đầy ý nghĩa châm biếm. Qua giọng điệu trào phúng và những hình ảnh miêu tả đặc sắc, nhà thơ đã phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi con người đối với đất nước.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 4
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng viết về thiên nhiên và làng quê, ông còn có nhiều tác phẩm trào phúng sắc sảo nhằm phản ánh và phê phán những hiện tượng đáng chê trách trong xã hội. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Thông qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với những con người mải mê vui chơi mà quên đi thực trạng đáng buồn của đất nước.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh hội vô cùng náo nhiệt:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Chỉ với vài hình ảnh quen thuộc như tiếng pháo, cờ và đèn, tác giả đã vẽ nên một bức tranh lễ hội rực rỡ và đông vui. Không khí hội hiện lên rất tưng bừng và náo nhiệt. Tuy nhiên, từ “kìa” ở đầu câu thơ gợi ra một giọng điệu vừa chỉ trỏ vừa mang sắc thái mỉa mai. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” thường được dùng để chỉ thời kì yên ổn của đất nước. Nhưng trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, khi đất nước đang chịu nhiều biến động, cách gọi ấy lại mang ý nghĩa châm biếm sâu sắc.
Hai câu thơ tiếp theo khắc họa hình ảnh những người đi xem hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Nguyễn Khuyến đã lựa chọn những từ ngữ rất gợi hình để miêu tả dáng vẻ con người. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” cho thấy dáng vẻ ngây ngô, có phần lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Trong khi đó, hình ảnh “thằng bé lom khom” lại thể hiện sự tò mò, chen chúc của đám đông khi xem hát chèo. Những chi tiết này làm cho bức tranh lễ hội trở nên sinh động nhưng cũng bộc lộ sự hỗn tạp và thiếu trang nghiêm.
Không khí hội tiếp tục được miêu tả qua những trò chơi:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là hoạt động quen thuộc trong các lễ hội dân gian. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” đã tạo nên một cảnh tượng khá hài hước. Con người dường như quá say mê với những trò vui tầm thường. Qua đó, nhà thơ khéo léo bộc lộ thái độ châm biếm trước sự ham vui và thiếu suy nghĩ của một bộ phận người trong xã hội.
Ý nghĩa sâu sắc của bài thơ được thể hiện rõ nhất ở hai câu kết:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại là một lời mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã bày ra những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của tác giả. Đằng sau những tiếng cười và sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang mất đi sự tự chủ. Vì vậy, niềm vui ấy càng lớn thì nỗi nhục càng sâu. Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Khuyến vì thế không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở về vận mệnh của đất nước.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm trào phúng đặc sắc. Qua việc miêu tả cảnh hội đông vui và những con người tham gia lễ hội, tác giả đã phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi xót xa của nhà thơ trước thực trạng đất nước lúc bấy giờ. Với giọng điệu châm biếm sâu sắc và nghệ thuật miêu tả sinh động, “Hội Tây” đã trở thành một trong những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Nguyễn Khuyến.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 5
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ông nổi tiếng không chỉ với những bài thơ viết về thiên nhiên và làng quê mà còn với những tác phẩm trào phúng sâu sắc. Thông qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nhiều hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy. Qua việc miêu tả cảnh hội đông vui, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh sinh hoạt xã hội sinh động, đồng thời bộc lộ nỗi xót xa trước thực trạng đất nước lúc bấy giờ.
Hai câu thơ đầu mở ra khung cảnh náo nhiệt của lễ hội
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Chỉ bằng vài hình ảnh quen thuộc như tiếng pháo, cờ và đèn, tác giả đã gợi lên một không khí lễ hội rất rộn ràng. Những âm thanh và màu sắc ấy khiến cảnh hội trở nên tưng bừng và náo nhiệt. Tuy nhiên, từ “kìa” ở đầu câu thơ lại mang sắc thái chỉ trỏ và mỉa mai. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” vốn dùng để chỉ thời kì đất nước yên ổn, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ lại mang ý nghĩa châm biếm, bởi thực tế xã hội đang có nhiều biến động.
Tiếp theo, nhà thơ tập trung miêu tả những con người đang tham gia lễ hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Những hình ảnh này được khắc họa rất sinh động. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” cho thấy dáng vẻ ngây ngô, có phần lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên. Trong khi đó, hình ảnh “thằng bé lom khom” lại gợi lên cảnh chen chúc tò mò của đám đông khi xem hát chèo. Qua những chi tiết ấy, bức tranh hội hiện lên vừa đông vui vừa hỗn tạp, thể hiện sự háo hức của con người trước những trò giải trí.
Không khí hội càng trở nên sôi động hơn với những trò chơi quen thuộc:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Các trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là hoạt động thường thấy trong lễ hội dân gian. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, cảnh tượng ấy hiện lên vừa vui nhộn vừa có phần hài hước. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy con người đang say mê với những trò vui giản đơn. Qua đó, nhà thơ khéo léo bộc lộ thái độ châm biếm trước sự ham vui quá mức của một bộ phận người trong xã hội.
Hai câu thơ cuối đã thể hiện rõ thái độ và cảm xúc của tác giả:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại mang ý nghĩa mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã tạo ra những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ nỗi xót xa của tác giả. Đằng sau những tiếng cười và sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Vì thế, niềm vui càng lớn thì nỗi nhục càng sâu.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến không chỉ miêu tả một lễ hội đông vui mà còn chứa đựng ý nghĩa phê phán sâu sắc. Qua giọng điệu trào phúng và những hình ảnh sinh động, tác giả đã châm biếm sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi đau và sự trăn trở của nhà thơ trước vận mệnh của đất nước. Chính vì vậy, “Hội Tây” là một tác phẩm trào phúng tiêu biểu, thể hiện rõ tài năng và tấm lòng của Nguyễn Khuyến.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 6
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông không chỉ nổi tiếng với những bài thơ viết về thiên nhiên và làng quê mà còn có nhiều tác phẩm trào phúng sắc sảo. Qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phản ánh những điều đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt, tác giả đã khéo léo phê phán sự lố lăng và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội khi đất nước đang gặp nhiều biến động.
Hai câu thơ đầu đã mở ra một bức tranh lễ hội rất náo nhiệt:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Những hình ảnh như tiếng pháo, cờ và đèn đã gợi lên không khí lễ hội tưng bừng. Cảnh hội hiện lên đầy màu sắc và âm thanh, tạo cảm giác vui tươi và náo nhiệt. Tuy nhiên, cách dùng từ “kìa” của tác giả lại mang sắc thái chỉ trỏ và có phần mỉa mai. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” vốn chỉ thời kì đất nước yên ổn nhưng lại được dùng trong bối cảnh xã hội đang có nhiều biến động. Vì vậy, ngay từ đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến đã tạo ra một giọng điệu trào phúng kín đáo.
Sau khi miêu tả khung cảnh chung của lễ hội, tác giả tiếp tục khắc họa hình ảnh con người tham gia hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Những từ ngữ như “tênh nghếch” và “lom khom” đã miêu tả rất sinh động dáng vẻ của người đi xem hội. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” khiến người đọc cảm nhận được sự lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên. Trong khi đó, “thằng bé lom khom” lại thể hiện cảnh chen chúc tò mò của đám đông. Qua những chi tiết ấy, bức tranh hội không chỉ đông vui mà còn mang vẻ nhốn nháo và thiếu trang nghiêm.
Không khí hội tiếp tục được thể hiện qua những trò chơi quen thuộc:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là những hoạt động vui nhộn trong lễ hội. Tuy nhiên, cách miêu tả của Nguyễn Khuyến khiến những trò chơi ấy mang vẻ hài hước và có phần lố lăng. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự ham vui và háo hức của người tham gia. Qua đó, tác giả khéo léo châm biếm con người đang quá say mê những trò vui tầm thường.
Ý nghĩa sâu sắc của bài thơ được bộc lộ rõ nhất ở hai câu kết:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại là một lời mỉa mai. Nguyễn Khuyến châm biếm những người đã bày ra những trò vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã thể hiện rõ thái độ của tác giả. Đằng sau sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang mất đi sự tự chủ. Vì vậy, niềm vui càng lớn thì nỗi nhục càng sâu. Tiếng cười trào phúng ở đây không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở của nhà thơ trước vận mệnh của đất nước.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của tác giả. Qua việc miêu tả cảnh hội và những con người tham gia lễ hội, nhà thơ đã phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng bộc lộ nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đất nước lúc bấy giờ. Với giọng điệu châm biếm sắc sảo và nghệ thuật miêu tả sinh động, “Hội Tây” đã trở thành một tác phẩm trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 7
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng viết về làng quê và thiên nhiên, ông còn để lại nhiều tác phẩm trào phúng sắc sảo. Qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phản ánh những biểu hiện đáng chê trách trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu. Qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt, nhà thơ đã dựng lên một bức tranh xã hội vừa đông vui vừa lố lăng, từ đó bộc lộ nỗi xót xa trước thực trạng đất nước.
Ngay từ hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã gợi ra khung cảnh rộn ràng của lễ hội:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Âm thanh của tiếng pháo và hình ảnh cờ, đèn trang trí đã tạo nên một không khí lễ hội náo nhiệt. Cảnh hội hiện lên rất tưng bừng, đông vui. Tuy nhiên, từ “kìa” mang sắc thái chỉ trỏ và có phần mỉa mai, như thể tác giả đang đưa người đọc đến xem một cảnh tượng đáng chú ý. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” vốn được dùng để chỉ thời kì đất nước yên ổn, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ lại mang ý nghĩa châm biếm. Sự vui vẻ ấy dường như chỉ là vẻ bề ngoài.
Tiếp đó, nhà thơ tập trung miêu tả hình ảnh những con người đang tham gia lễ hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Những chi tiết miêu tả rất cụ thể đã làm cho bức tranh hội trở nên sinh động. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” gợi lên dáng vẻ ngây ngô, có phần lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên. Trong khi đó, “thằng bé lom khom” lại thể hiện sự tò mò và chen chúc của đám đông. Qua những hình ảnh ấy, nhà thơ đã khắc họa một cảnh tượng đông đúc, nhộn nhịp nhưng cũng khá hỗn tạp.
Không khí hội càng trở nên sôi động hơn qua những trò chơi quen thuộc:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là những hoạt động phổ biến trong các lễ hội dân gian. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, cảnh tượng ấy lại mang vẻ hài hước và có phần lố lăng. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự háo hức và ham vui của con người. Qua đó, nhà thơ khéo léo thể hiện thái độ châm biếm đối với những con người đang mải mê với những trò vui tầm thường.
Đỉnh điểm của ý nghĩa trào phúng nằm ở hai câu thơ cuối:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại là lời mỉa mai sâu sắc. Nhà thơ châm biếm những người đã bày ra những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ cảm xúc của tác giả. Đằng sau sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Vì thế, niềm vui càng lớn thì nỗi nhục càng sâu. Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Khuyến vì vậy không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở trước vận mệnh của đất nước.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến. Qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt và những con người tham gia lễ hội, nhà thơ đã khéo léo phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đất nước lúc bấy giờ. Với nghệ thuật trào phúng tinh tế và giọng điệu châm biếm sâu sắc, “Hội Tây” đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 8
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông không chỉ nổi tiếng với những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê mà còn có nhiều tác phẩm trào phúng sâu sắc. Qua tiếng cười châm biếm, ông đã phản ánh những biểu hiện đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc miêu tả cảnh hội đông vui với nhiều con người thuộc các tầng lớp khác nhau, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một bức tranh xã hội sinh động, đồng thời bộc lộ thái độ phê phán sâu sắc.
Hai câu thơ đầu mở ra bức tranh chung của lễ hội:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Những âm thanh và hình ảnh quen thuộc của lễ hội như tiếng pháo, cờ và đèn đã tạo nên một không khí tưng bừng, náo nhiệt. Cảnh hội hiện lên rất rực rỡ và đông vui. Tuy nhiên, cách dùng từ “kìa” của tác giả lại mang sắc thái chỉ trỏ, như đang mời người đọc cùng nhìn vào một cảnh tượng đáng chú ý. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” vốn dùng để chỉ thời kì yên ổn của đất nước nhưng trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ lại mang ý nghĩa châm biếm, bởi thực tế đất nước đang có nhiều biến động.
Sau khi khắc họa khung cảnh chung của lễ hội, nhà thơ tiếp tục miêu tả hình ảnh con người tham gia hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Ở đây, Nguyễn Khuyến đã đưa vào bức tranh hội những con người thuộc các tầng lớp khác nhau. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” cho thấy sự lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Trong khi đó, “thằng bé lom khom” lại gợi lên sự tò mò và chen chúc của đám đông bình dân. Qua những chi tiết ấy, nhà thơ đã khắc họa một bức tranh hội rất sống động, nơi mọi người đều bị cuốn hút bởi những trò vui.
Không khí lễ hội càng trở nên náo nhiệt hơn qua những trò chơi:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Các trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là hoạt động quen thuộc trong lễ hội dân gian. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, cảnh tượng ấy hiện lên với vẻ vừa vui nhộn vừa có phần hài hước. Những cụm từ “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự hào hứng của người tham gia. Qua đó, nhà thơ khéo léo gợi lên hình ảnh con người đang say mê với những trò vui giản đơn.
Ý nghĩa sâu sắc của bài thơ được thể hiện rõ nhất ở hai câu kết:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại là lời mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã bày ra những trò vui náo nhiệt ấy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ cảm xúc của tác giả. Đằng sau sự đông vui của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Niềm vui bên ngoài càng lớn thì nỗi nhục bên trong càng sâu sắc. Tiếng cười trào phúng của Nguyễn Khuyến vì thế không chỉ mang tính hài hước mà còn chứa đựng nỗi đau và sự trăn trở trước vận mệnh của đất nước.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” đã khắc họa một bức tranh lễ hội sinh động với nhiều con người và hoạt động khác nhau. Qua bức tranh ấy, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đất nước. Với giọng điệu trào phúng sắc sảo và nghệ thuật miêu tả sinh động, “Hội Tây” đã trở thành một tác phẩm đặc sắc trong thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 9
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông nổi tiếng với giọng điệu giản dị nhưng sâu sắc, đặc biệt là những bài thơ trào phúng phản ánh những hiện tượng đáng chê trách trong xã hội. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc miêu tả những hình ảnh và hoạt động trong một lễ hội, Nguyễn Khuyến đã tạo nên tiếng cười châm biếm sâu cay, đồng thời bộc lộ nỗi xót xa trước thực trạng xã hội lúc bấy giờ.
Hai câu thơ đầu đã mở ra khung cảnh lễ hội rất náo nhiệt:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Những hình ảnh như tiếng pháo, cờ và đèn đã gợi lên một không khí lễ hội rộn ràng, tưng bừng. Chỉ với vài chi tiết quen thuộc, nhà thơ đã vẽ nên một bức tranh đầy âm thanh và màu sắc. Tuy nhiên, từ “kìa” ở đầu câu thơ mang sắc thái như một lời chỉ trỏ, khiến người đọc cảm nhận được giọng điệu có phần mỉa mai của tác giả. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” dường như được dùng với ý nghĩa châm biếm, bởi trong thực tế xã hội lúc bấy giờ đất nước không hề yên bình như vậy.
Sau khi gợi ra khung cảnh chung của lễ hội, Nguyễn Khuyến tiếp tục quan sát và miêu tả những con người đang tham gia hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Những từ ngữ như “tênh nghếch” và “lom khom” đã giúp người đọc hình dung rất rõ dáng vẻ của những người đi xem hội. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” gợi lên sự lố bịch và ngây ngô của một người thuộc tầng lớp trên. Trong khi đó, hình ảnh “thằng bé lom khom” lại thể hiện sự tò mò và chen chúc của đám đông bình dân. Qua những chi tiết nhỏ ấy, nhà thơ đã khắc họa một bức tranh lễ hội rất sinh động nhưng cũng đầy tính châm biếm.
Không khí hội tiếp tục được miêu tả qua những trò chơi quen thuộc:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu hay leo cột mỡ vốn là những hoạt động phổ biến trong các lễ hội dân gian. Tuy nhiên, cách miêu tả của Nguyễn Khuyến khiến cảnh tượng ấy trở nên hài hước. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự háo hức và ham vui của con người. Qua đó, tác giả khéo léo gợi lên một cảnh tượng đông vui nhưng cũng có phần lố lăng.
Ý nghĩa sâu sắc của bài thơ được thể hiện rõ nhất ở hai câu cuối:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen, nhưng thực chất lại là lời châm biếm. Nhà thơ mỉa mai những người đã bày ra những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của tác giả. Đằng sau sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Vì thế, niềm vui bên ngoài càng lớn thì nỗi nhục bên trong càng sâu sắc.
Qua bài thơ “Hội Tây”, Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của mình. Chỉ bằng những chi tiết nhỏ và những hình ảnh đời thường, ông đã dựng lên một bức tranh lễ hội vừa sinh động vừa đầy ý nghĩa châm biếm. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười mà còn gợi lên sự suy ngẫm về thái độ sống của con người trong xã hội. Chính vì vậy, “Hội Tây” đã trở thành một tác phẩm trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Hội Tây - mẫu 10
Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông không chỉ nổi tiếng bởi những bài thơ viết về thiên nhiên và làng quê mà còn bởi những tác phẩm trào phúng sâu sắc. Thông qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nhiều hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Hội Tây” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua việc miêu tả cảnh hội náo nhiệt, tác giả đã khéo léo phê phán sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội.
Hai câu thơ đầu đã vẽ ra một khung cảnh lễ hội rất rộn ràng:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Những hình ảnh như tiếng pháo, cờ và đèn đã gợi lên một không khí lễ hội tưng bừng, náo nhiệt. Chỉ với vài chi tiết quen thuộc, nhà thơ đã dựng nên một bức tranh đầy màu sắc và âm thanh. Tuy nhiên, từ “kìa” ở đầu câu thơ lại mang sắc thái như một lời chỉ trỏ, khiến người đọc cảm nhận được giọng điệu mỉa mai của tác giả. Đặc biệt, cụm từ “thăng bình” vốn dùng để chỉ thời kì đất nước yên ổn, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ lại mang ý nghĩa châm biếm.
Tiếp theo, nhà thơ tập trung khắc họa hình ảnh con người trong lễ hội:
Bà quan tênh nghếch xem bơi trải,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Những từ ngữ miêu tả như “tênh nghếch” và “lom khom” đã làm nổi bật dáng vẻ của những người đi xem hội. Hình ảnh “bà quan tênh nghếch” gợi lên sự lố bịch của một người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Trong khi đó, “thằng bé lom khom” lại cho thấy sự tò mò và chen chúc của đám đông. Qua đó, bức tranh hội hiện lên vừa đông vui vừa nhốn nháo.
Không khí hội càng trở nên sôi động hơn qua những trò chơi:
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.
Những trò chơi như đánh đu và leo cột mỡ vốn là những hoạt động quen thuộc trong các lễ hội. Tuy nhiên, qua cách miêu tả của Nguyễn Khuyến, cảnh tượng ấy hiện lên khá hài hước. Hình ảnh “nhiều chị nhún” và “lắm anh leo” cho thấy sự ham vui và háo hức của con người. Qua đó, tác giả khéo léo gợi lên một bức tranh lễ hội vừa náo nhiệt vừa có phần lố lăng.
Hai câu thơ cuối đã làm nổi bật ý nghĩa sâu sắc của toàn bài:
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu, nhục bấy nhiêu!
Câu thơ đầu nghe như một lời khen nhưng thực chất lại là một lời mỉa mai. Nhà thơ châm biếm những người đã bày ra những cuộc vui như vậy. Đặc biệt, câu thơ cuối đã bộc lộ rõ cảm xúc của tác giả. Đằng sau sự náo nhiệt của lễ hội là nỗi nhục của một đất nước đang chịu nhiều biến động. Niềm vui bên ngoài càng lớn thì nỗi nhục bên trong càng sâu sắc. Vì vậy, tiếng cười trào phúng của Nguyễn Khuyến vừa mang tính hài hước vừa chứa đựng nỗi đau trước thực trạng xã hội.
Như vậy, bài thơ “Hội Tây” không chỉ miêu tả một lễ hội đông vui mà còn chứa đựng ý nghĩa phê phán sâu sắc. Qua giọng điệu trào phúng và những hình ảnh sinh động, Nguyễn Khuyến đã châm biếm sự ham vui và vô tâm của một bộ phận người trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng thể hiện nỗi xót xa của tác giả trước thực trạng đất nước lúc bấy giờ. Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật trào phúng đặc sắc, “Hội Tây” đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khuyến.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Đề đền Sầm Nghi Đống (Hồ Xuân Hương)
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Thương vợ
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Bài ca ngất ngưởng
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Ông phỗng đá
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Đất Vị Hoàng
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:
- Mục lục Văn phân tích, phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận
- Mục lục Văn biểu cảm
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn nghị luận
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8 và Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 8 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Friends plus
- Lớp 8 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) KNTT
- Giải sgk Toán 8 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 8 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 8 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - KNTT
- Giải sgk Tin học 8 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 8 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 8 - KNTT
- Lớp 8 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 8 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 8 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 8 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - CTST
- Giải sgk Tin học 8 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 8 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 8 - CTST
- Lớp 8 - Cánh diều
- Soạn văn 8 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 8 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 8 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 8 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 8 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 8 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 8 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

