10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Tiến sĩ giấy (điểm cao)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy (Nguyễn Khuyến) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Tiến sĩ giấy (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy

a) Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Khuyến - nhà thơ nổi tiếng cuối thế kỉ XIX

- Giới thiệu tác phẩm “Tiến sĩ giấy” mượn hình ảnh đồ chơi tiến sĩ bằng giấy để châm biếm những kẻ có danh vị nhưng thực chất vô dụng.

b) Thân bài:

- Khái quát chung

- Phân tích nội dung

+ Phân tích hai câu đề: Giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy”, gợi ý nghĩa châm biếm: danh vị bề ngoài nhưng rỗng tuếch.

+ Phân tích hai câu thực: Miêu tả vẻ ngoài của tiến sĩ giấy, tác giả mượn hình ảnh này để châm biếm những người có danh vị nhưng không có tài năng thực sự

+ Phân tích hai câu luận: Ý nghĩa phê phán, thể hiện thái độ châm biếm và mỉa mai đối với những con người chạy theo danh lợi.

Quảng cáo

+ Phân tích hai câu kết: Ý nghĩa trào phúng sâu sắc, Tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng nhưng sâu cay.

- Nghệ thuật

c) Kết bài:

- Khẳng định giá trị nội dung.

- Khẳng định giá trị nghệ thuật,

- Đánh giá

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 1

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông không chỉ nổi tiếng với những bài thơ viết về thiên nhiên và làng quê mà còn có nhiều tác phẩm trào phúng sâu sắc. Qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phê phán những hiện tượng tiêu cực trong xã hội đương thời. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy – vốn là đồ chơi quen thuộc – nhà thơ đã khéo léo châm biếm những kẻ chỉ có danh vị bên ngoài nhưng thực chất rỗng tuếch.

Quảng cáo

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài đầy đủ như một vị tiến sĩ thật:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai như một vị tiến sĩ thật. Thậm chí, người ta còn gọi đó là “ông nghè”. Qua cách miêu tả này, nhà thơ cho thấy vẻ ngoài rất oai nghiêm của nhân vật. Tuy nhiên, sự lặp lại từ “cũng” đã tạo nên sắc thái mỉa mai, bởi tất cả chỉ là sự giống nhau bề ngoài chứ không có giá trị thực.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ bản chất của “tiến sĩ giấy”:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Chỉ với “mảnh giấy” và vài “nét son”, người ta đã tạo nên một vị “giáp bảng”, “văn khôi”. Những danh hiệu vốn rất cao quý trong khoa cử xưa lại được gắn cho một hình nộm bằng giấy. Điều này đã tạo nên tiếng cười châm biếm sâu sắc. Nguyễn Khuyến muốn phê phán những con người có danh hiệu nhưng thực chất không có tài năng, giống như ông tiến sĩ giấy chỉ được tạo nên bằng những vật liệu đơn giản và giả tạo.

Quảng cáo

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của “tiến sĩ giấy”:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất vẫn chỉ là một vật rất nhẹ, không có giá trị thực. Câu thơ sau “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần một ít giấy và màu vẽ là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ châm biếm sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã đẩy ý nghĩa trào phúng của bài thơ lên cao:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra dáng vẻ trang trọng, quyền quý của một vị tiến sĩ. Từ “bảnh chọe” lại làm cho hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là một lời nhận xét đầy chua chát: thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là “đồ chơi”. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với những kẻ có danh vị nhưng thực chất vô dụng.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của tác giả. Chỉ bằng hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy, nhà thơ đã phê phán sâu sắc thói hư danh trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với giọng điệu mỉa mai tinh tế và nghệ thuật xây dựng hình ảnh độc đáo, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm trào phúng đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 2

Nguyễn Khuyến là nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn sáng tác nhiều bài thơ trào phúng sâu sắc nhằm phê phán những thói xấu trong xã hội. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã châm biếm những con người chỉ có danh vị bề ngoài nhưng không có thực tài.

Ngay từ hai câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài đầy đủ như một vị tiến sĩ thật:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại liên tiếp đã nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Ông tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật ngoài đời. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu rất cao quý trong xã hội xưa. Tuy nhiên, chính sự lặp lại ấy lại tạo nên giọng điệu mỉa mai, bởi tất cả chỉ là vẻ ngoài hào nhoáng mà không có giá trị thực.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ hơn bản chất của hình nộm này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Chỉ với một “mảnh giấy” và vài “nét son”, người ta đã có thể tạo ra một vị “giáp bảng” hay “văn khôi”. Những danh hiệu vốn rất cao quý trong khoa cử xưa lại được gắn cho một hình nộm đơn giản. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Khuyến muốn châm biếm những kẻ có danh hiệu nhưng thực chất không có tài năng, giống như ông tiến sĩ giấy chỉ được tạo nên bằng giấy và màu vẽ.

Đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của nhân vật:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ và vô giá trị. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần một chút giấy và màu vẽ là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ phê phán sự rẻ rúng của danh vị khi nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã làm nổi bật ý nghĩa trào phúng của bài thơ:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra dáng vẻ uy nghi, sang trọng của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên lố bịch và hài hước. Câu thơ cuối đã bộc lộ rõ ý nghĩa của toàn bài: thứ tưởng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã châm biếm những con người có danh vị nhưng thực chất vô dụng.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện tiếng cười trào phúng sâu sắc. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nghệ thuật trào phúng tinh tế và giọng điệu mỉa mai sâu sắc, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 3

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông nổi bật với giọng điệu giản dị nhưng sâu sắc, đặc biệt là những bài thơ trào phúng phê phán những thói xấu trong xã hội. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – Nguyễn Khuyến đã châm biếm sâu sắc những con người chỉ có danh vị bên ngoài nhưng thực chất không có giá trị thực sự.

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài giống hệt một vị tiến sĩ thật:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại liên tiếp đã nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu rất cao quý trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, cách lặp từ ấy lại tạo nên giọng điệu mỉa mai, bởi tất cả chỉ là sự giống nhau bề ngoài mà không có giá trị thực.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ bản chất của hình nộm này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Chỉ với một “mảnh giấy” và vài “nét son”, người ta đã tạo nên một vị “giáp bảng” hay “văn khôi”. Những danh hiệu vốn rất cao quý trong khoa cử xưa lại được gắn cho một hình nộm đơn giản. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Khuyến muốn phê phán những con người có danh vị nhưng thực chất không có tài năng, giống như ông tiến sĩ giấy chỉ được tạo nên bằng giấy và màu vẽ.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của nhân vật:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần một ít giấy và màu vẽ là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ châm biếm sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã đẩy ý nghĩa trào phúng của bài thơ lên cao:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra dáng vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời nhận xét đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã châm biếm những con người chỉ có danh vị bên ngoài nhưng thực chất vô dụng.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện tiếng cười trào phúng sâu sắc. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi trẻ con – nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nghệ thuật trào phúng tinh tế và giọng điệu mỉa mai sâu sắc, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 4

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ngoài những bài thơ nổi tiếng viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn sáng tác nhiều bài thơ trào phúng nhằm phê phán những thói xấu trong xã hội. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu. Qua hình ảnh một ông tiến sĩ được làm bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – Nguyễn Khuyến đã khéo léo tạo nên tiếng cười châm biếm để phê phán thói hư danh trong xã hội.

Hai câu thơ đầu mở ra hình ảnh một ông tiến sĩ với vẻ ngoài rất trang trọng:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Việc lặp lại từ “cũng” nhiều lần đã nhấn mạnh sự đầy đủ về hình thức của “ông tiến sĩ”. Ông cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu cao quý trong xã hội xưa. Tuy nhiên, sự lặp lại ấy lại mang sắc thái mỉa mai. Dù có đầy đủ hình thức nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm bằng giấy.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ nguồn gốc của “vị tiến sĩ” này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Những danh hiệu cao quý như “giáp bảng” hay “văn khôi” vốn dành cho những người học giỏi và thi đỗ cao. Thế nhưng trong bài thơ, chỉ cần một “mảnh giấy” và vài “nét son” là đã có thể tạo nên một vị tiến sĩ. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Khuyến muốn châm biếm những con người có danh vị nhưng thực chất không có tài năng.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của “tiến sĩ giấy”:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ và không có giá trị thực. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, tác giả phê phán sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thật sự.

Hai câu thơ cuối đã đẩy tiếng cười trào phúng lên đến đỉnh điểm:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi lên dáng vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời nhận xét đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ rõ thái độ châm biếm đối với những con người có danh vị nhưng thực chất vô dụng.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của tác giả. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ về giá trị thực của con người. Chính vì vậy, “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm trào phúng đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 5

Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông không chỉ nổi tiếng bởi những bài thơ viết về làng quê thanh bình mà còn bởi những tác phẩm trào phúng sâu sắc. Qua tiếng cười châm biếm, Nguyễn Khuyến đã phê phán những thói xấu và những hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã ẩn dụ để phê phán những con người có danh vị nhưng thiếu thực tài.

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài rất trang trọng:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như một vị tiến sĩ thật. Thậm chí, người ta còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu cao quý trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, sự lặp lại ấy lại tạo nên sắc thái mỉa mai. Dù có đầy đủ hình thức nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm bằng giấy.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ nguồn gốc của “vị tiến sĩ” này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Chỉ với một “mảnh giấy” và vài “nét son”, người ta đã có thể tạo nên một “giáp bảng” hay “văn khôi”. Những danh hiệu vốn rất cao quý trong khoa cử xưa lại được gắn cho một hình nộm đơn giản. Qua cách miêu tả này, Nguyễn Khuyến đã tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Hình ảnh “tiến sĩ giấy” trở thành một ẩn dụ để chỉ những con người chỉ có danh vị bề ngoài nhưng thực chất không có tài năng.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục làm nổi bật sự vô giá trị của nhân vật:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa châm biếm sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, tác giả phê phán sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã bộc lộ rõ thái độ của tác giả:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi lên vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên lố bịch và hài hước. Câu thơ cuối là lời nhận xét đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã châm biếm những con người có danh vị nhưng thực chất vô dụng.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện tiếng cười trào phúng sâu sắc. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã ẩn dụ để phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ về giá trị thực của con người. Chính vì vậy, “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm trào phúng đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 6

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng viết về thiên nhiên và làng quê, ông còn có nhiều tác phẩm trào phúng sắc sảo. Qua tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay, Nguyễn Khuyến đã phản ánh nhiều hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã khéo léo bộc lộ thái độ mỉa mai đối với những danh vị hư ảo trong xã hội.

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài đầy đủ như một vị tiến sĩ thật:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Việc lặp lại từ “cũng” nhiều lần đã nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Ông tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật ngoài đời. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”. Tuy nhiên, sự lặp lại ấy lại mang sắc thái mỉa mai. Dù có đầy đủ hình thức nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm được làm bằng giấy. Qua đó, nhà thơ khéo léo gợi lên sự giả tạo của những danh vị chỉ tồn tại ở bề ngoài.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ bản chất của “tiến sĩ giấy”:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Những danh hiệu như “giáp bảng” hay “văn khôi” vốn rất cao quý trong xã hội phong kiến. Thế nhưng trong bài thơ, chỉ cần một “mảnh giấy” và vài “nét son” là đã có thể tạo nên một vị tiến sĩ. Qua cách miêu tả này, Nguyễn Khuyến đã tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Nhà thơ muốn cho thấy rằng nếu danh vị chỉ dựa vào hình thức thì nó cũng mong manh và giả tạo như chính ông tiến sĩ giấy.

Đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của nhân vật:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần một chút giấy và màu vẽ là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ phê phán sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã làm nổi bật ý nghĩa trào phúng của toàn bài:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra dáng vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời kết đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ rõ thái độ mỉa mai đối với những con người có danh vị nhưng thực chất không có giá trị.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của tác giả. Chỉ bằng hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã phê phán sâu sắc thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với giọng điệu mỉa mai tinh tế và nghệ thuật xây dựng hình ảnh độc đáo, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm trào phúng đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 7

Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn có nhiều tác phẩm trào phúng sắc sảo nhằm phê phán những thói xấu trong xã hội. Một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách ấy là “Tiến sĩ giấy”. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ được làm bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – Nguyễn Khuyến đã bày tỏ thái độ châm biếm đối với những danh vị hư ảo và những con người chỉ có vẻ ngoài hào nhoáng.

Ngay từ hai câu thơ đầu, tác giả đã miêu tả hình ảnh “tiến sĩ giấy” với đầy đủ những dấu hiệu của một vị tiến sĩ:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Ông tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật trong xã hội. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu cao quý trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, cách lặp từ ấy lại tạo nên giọng điệu mỉa mai. Dù bề ngoài rất oai phong nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm bằng giấy.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ bản chất của nhân vật:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Những danh hiệu như “giáp bảng” hay “văn khôi” vốn dành cho những người học giỏi và thi đỗ cao. Thế nhưng trong bài thơ, chỉ cần một “mảnh giấy” và vài “nét son” là đã có thể tạo ra một vị tiến sĩ. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua đó, Nguyễn Khuyến muốn phê phán những con người có danh vị nhưng thực chất không có tài năng, giống như ông tiến sĩ giấy chỉ được tạo nên bằng những vật liệu đơn giản.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của “tiến sĩ giấy”:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn rất nhẹ và không có giá trị thực. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, tác giả châm biếm sự rẻ rúng của danh vị khi nó không gắn với tài năng thật sự.

Hai câu thơ cuối đã đẩy ý nghĩa trào phúng của bài thơ lên cao:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi lên vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời nhận xét đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với những con người chỉ có danh vị bề ngoài mà không có thực tài.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm trào phúng đặc sắc. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nghệ thuật trào phúng tinh tế và giọng điệu mỉa mai sâu sắc, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 8

Nguyễn Khuyến là nhà thơ nổi tiếng của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn sáng tác nhiều bài thơ trào phúng sắc sảo. Qua tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay, Nguyễn Khuyến đã phản ánh những hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội đương thời. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – nhà thơ đã khéo léo phê phán những danh vị hào nhoáng nhưng thiếu giá trị thực.

Hai câu thơ đầu đã giới thiệu hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài rất trang trọng:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Việc lặp lại từ “cũng” nhiều lần đã nhấn mạnh sự đầy đủ về hình thức của nhân vật. Ông tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”, một danh hiệu cao quý trong xã hội xưa. Tuy nhiên, chính sự lặp lại ấy lại tạo nên giọng điệu mỉa mai. Dù có đầy đủ vẻ ngoài nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm bằng giấy.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ nguồn gốc của “vị tiến sĩ” này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Chỉ với một “mảnh giấy” và vài “nét son”, người ta đã tạo nên một vị “giáp bảng” hay “văn khôi”. Những danh hiệu vốn rất cao quý trong khoa cử xưa lại được gắn cho một hình nộm đơn giản. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua đó, Nguyễn Khuyến muốn châm biếm những con người có danh vị nhưng thực chất không có tài năng, giống như ông tiến sĩ giấy chỉ được tạo nên bằng những vật liệu đơn giản.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục làm nổi bật bản chất của nhân vật:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ và không có giá trị thực. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ phê phán sự rẻ rúng của danh vị khi nó không gắn với tài năng thật sự.

Hai câu thơ cuối đã làm rõ ý nghĩa trào phúng của toàn bài:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên lố bịch và hài hước. Câu thơ cuối là lời nhận xét đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với những con người chỉ có danh vị bề ngoài mà không có thực tài.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” của Nguyễn Khuyến đã thể hiện tiếng cười trào phúng sâu sắc. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi cho người đọc suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nghệ thuật trào phúng tinh tế và giọng điệu mỉa mai sâu sắc, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm đặc sắc trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 9

Trong nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Khuyến là một nhà thơ nổi bật với nhiều tác phẩm trào phúng sâu sắc. Qua những bài thơ mang giọng điệu châm biếm, ông đã phản ánh những thói xấu và những hiện tượng đáng phê phán trong xã hội đương thời. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ được làm bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – Nguyễn Khuyến đã bày tỏ thái độ châm biếm đối với những danh vị hư danh và những con người chỉ có vẻ ngoài hào nhoáng.

Hai câu thơ đầu đã khắc họa hình ảnh “tiến sĩ giấy” với đầy đủ dáng vẻ của một vị tiến sĩ thật:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Những từ “cũng” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh sự giống nhau về hình thức. Ông tiến sĩ giấy cũng có cờ, có biển, có mũ áo cân đai giống như những vị tiến sĩ thật trong xã hội. Người ta thậm chí còn gọi đó là “ông nghè”. Tuy nhiên, sự lặp lại ấy lại tạo nên giọng điệu mỉa mai. Bề ngoài của “tiến sĩ giấy” có vẻ rất oai phong nhưng thực chất chỉ là một hình nộm vô tri.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ bản chất của nhân vật:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Những danh hiệu như “giáp bảng” hay “văn khôi” vốn rất cao quý trong xã hội phong kiến. Nhưng trong bài thơ, chỉ cần một “mảnh giấy” và vài “nét son” là đã có thể tạo nên một vị tiến sĩ. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua đó, Nguyễn Khuyến muốn cho thấy rằng nếu danh vị chỉ dựa vào hình thức thì nó cũng mong manh và giả tạo như chính ông tiến sĩ giấy.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục nhấn mạnh sự vô giá trị của hình nộm này:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn rất nhẹ và không có giá trị thực. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa mỉa mai sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, tác giả phê phán sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã làm rõ ý nghĩa châm biếm của toàn bài:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra dáng vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời kết đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã châm biếm những con người chỉ có danh vị bề ngoài mà không có thực tài.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của Nguyễn Khuyến. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ làm bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật trào phúng tinh tế, “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khuyến.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng): Tiến sĩ giấy - mẫu 10

Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Bên cạnh những bài thơ viết về thiên nhiên và cuộc sống làng quê, ông còn nổi tiếng với những tác phẩm trào phúng sắc sảo. Thông qua tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay, Nguyễn Khuyến đã phê phán nhiều hiện tượng đáng suy ngẫm trong xã hội. Bài thơ “Tiến sĩ giấy” là một tác phẩm tiêu biểu. Qua hình ảnh một ông tiến sĩ được làm bằng giấy – vốn chỉ là đồ chơi – tác giả đã khéo léo châm biếm thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội.

Hai câu thơ đầu đã mở ra hình ảnh “tiến sĩ giấy” với vẻ ngoài đầy đủ và trang trọng:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Việc lặp lại từ “cũng” nhiều lần đã tạo nên một giọng điệu đặc biệt. Qua đó, nhà thơ nhấn mạnh rằng “tiến sĩ giấy” có đầy đủ những dấu hiệu bên ngoài của một vị tiến sĩ thật: có cờ, có biển, có mũ áo cân đai. Thậm chí, người ta còn gọi đó là “ông nghè”. Tuy nhiên, chính sự lặp lại ấy lại làm nổi bật sự mỉa mai. Dù hình thức rất giống nhưng thực chất đó chỉ là một hình nộm bằng giấy.

Hai câu thơ tiếp theo đã làm rõ nguồn gốc của “vị tiến sĩ” này:

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,

Nét son điểm rõ mặt văn khôi.

Những danh hiệu như “giáp bảng” hay “văn khôi” vốn rất cao quý trong khoa cử xưa. Nhưng trong bài thơ, chỉ cần một “mảnh giấy” và vài “nét son” là đã có thể tạo nên một vị tiến sĩ. Điều này tạo nên tiếng cười trào phúng sâu sắc. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Khuyến muốn cho thấy rằng nếu danh vị chỉ dựa vào hình thức thì nó cũng mong manh và giả tạo như chính ông tiến sĩ giấy.

Đến hai câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục làm nổi bật bản chất của hình nộm này:

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh ấy mới hời.

Câu hỏi tu từ “sao mà nhẹ?” đã làm nổi bật bản chất của hình nộm bằng giấy. Dù khoác trên mình xiêm áo sang trọng nhưng thực chất nó vẫn chỉ là một vật rất nhẹ và không có giá trị thực. Câu thơ tiếp theo “Cái giá khoa danh ấy mới hời” mang ý nghĩa châm biếm sâu sắc. Chỉ cần vài vật liệu đơn giản là đã có thể “tạo ra” một vị tiến sĩ. Qua đó, nhà thơ phê phán sự rẻ rúng của danh vị nếu nó không gắn với tài năng thực sự.

Hai câu thơ cuối đã làm rõ ý nghĩa trào phúng của toàn bài:

Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Hình ảnh “ghế tréo”, “lọng xanh” gợi ra vẻ uy nghi của một vị tiến sĩ. Tuy nhiên, từ “bảnh chọe” lại khiến hình ảnh ấy trở nên hài hước và lố bịch. Câu thơ cuối là lời kết đầy chua chát của tác giả. Thứ tưởng chừng như thật ra lại chỉ là một món đồ chơi. Qua đó, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ châm biếm đối với những con người chỉ có danh vị bề ngoài mà không có thực tài.

Như vậy, bài thơ “Tiến sĩ giấy” đã thể hiện rõ tài năng trào phúng của Nguyễn Khuyến. Thông qua hình ảnh một ông tiến sĩ bằng giấy, nhà thơ đã phê phán thói hư danh và sự giả tạo trong xã hội. Bài thơ không chỉ mang lại tiếng cười châm biếm mà còn gợi lên nhiều suy nghĩ về giá trị thực của con người. Với nghệ thuật trào phúng đặc sắc và giọng điệu mỉa mai tinh tế, “Tiến sĩ giấy” đã trở thành một tác phẩm tiêu biểu trong thơ Nguyễn Khuyến.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học