Soạn bài Thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học - Kết nối tri thức

Với soạn bài Phần 3: Thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học Chuyên đề Văn 12 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn giúp học sinh dễ dàng làm bài tập Chuyên đề học tập Ngữ văn 12.

Soạn bài Thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học - Kết nối tri thức

Quảng cáo

* Yêu cầu:

- Xác định được nội dung thuyết trình cụ thể để có hướng tổ chức bài thuyết trình và lựa chọn hình thức thuyết trình phù hợp.

- Huy động được vốn kiến thức tổng hợp về các trường phái văn học, bao gồm kiến thức lịch sử văn học, lí luận văn học và kiến thức về những tác phẩm cụ thể thuộc các trường phái đó.

- Biết sử dụng hiệu quả nội dung bài viết đã thực hiện theo yêu cầu của Phần 2 chuyên đề.

I. Chuẩn bị

Việc thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học có thể được thực hiện với hai nội dung tương đối khác biệt. Nội dung thứ nhất gắn với việc trình bày tổng quan về phong cách sáng tác của một trường phái văn học nào đó. Nội dung thứ hai tập trung nói về dấu ấn của phong cách sáng tác một trường phái văn học ở những tác phẩm cụ thể thuộc trường phái này.

Nếu chọn thuyết trình nội dung thứ nhất, cần đọc và tổng hợp những tài liệu lịch sử văn học, lí luận văn học viết về các trường phái để hình thành ý cho bài nói (một số tài liệu cơ bản cần đọc được nêu ở trang sau; phần Tri thức tổng quát của chuyên đề cũng đã trình bày tóm tắt một số thông tin cơ bản về ba trường phái: cổ điển, hiện thực, lãng mạn). Các ý cần có:

Quảng cáo

- Về tên gọi (danh xưng) của trường phái.

- Về quá trình hình thành, phát triển và tầm ảnh hưởng của trường phái.

- Về thành tựu chính của trường phái: tác giả, tác phẩm tiêu biểu; đóng góp mang tính lịch sử của trường phái cho sự phát triển của văn học.

- Về các đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác của trường phái.

Trong các ý nêu trên, ý sau cùng cần được triển khai sâu rộng vì gắn với mục tiêu chính của việc thuyết trình theo nội dung thứ nhất. Tuy nhiên, các ý liệt kê trước đó vẫn cần được trình bày để tạo cơ hội cho người nghe nắm bắt được toàn cảnh vấn đề.

Nếu chọn thuyết trình nội dung thứ hai, cần đọc lại bài viết đã thực hiện, rút gọn bài viết đó thành một dàn ý theo cách làm đã quen thuộc khi thực hành phần Nói và nghe trong sách giáo khoa. Ví dụ, bài viết tham khảo "Nhớ rừng" - một bài thơ độc đáo của phong cách lãng mạn chủ nghĩa có thể được rút gọn thành dàn ý bài nói như sau:

- Nhớ rừng không chỉ là bài thơ tiêu biểu nhất của Thế Lữ mà còn là tác phẩm đỉnh cao của phong trào Thơ mới 1932 - 1945, thể hiện khá đầy đủ những đặc điểm của phong cách sáng tác lãng mạn chủ nghĩa.

Quảng cáo

- Cái tứ "nhớ rừng" của bài thơ thuộc về một cái tứ phổ quát của thơ lãng mạn: đối lập hiện thực với ước mơ, đối lập hiện tại với quá khứ, đối lập cái tầm thường với cái cao cả, đối lập cái nhân tạo với cái tự nhiên. Qua cái tứ phổ quát đó, thấy lộ diện một cái tôi "bất hoà" với xã hội, "bất mãn" với chính mình, "bất an" triền miên với nội tâm quá phong phú mà cái tôi đó trót mang theo như một định mệnh.

- Ở bài thơ Nhớ rừng, màu sắc tự biểu hiện của cái tôi trữ tình và chất tạo hình đều nổi bật.

Hai đặc điểm này tương hợp với nhau, thể hiện một nét trội trong phong cách sáng tác của loại hình thơ lãng mạn mà ở đó cái tôi trữ tình thường "đối tượng hoá" lòng mình để được "tự ngắm".

- Sự xuất hiện dày đặc của các chi tiết trong bài thơ cho thấy một nhãn quan tạo hình mới, khác biệt với nhãn quan tạo hình của thơ cổ điển vốn quan tâm đến việc tạo ra nhiều "khoảng trống" trong thơ. Điều đó chứng tỏ cái tôi trữ tình của chủ nghĩa lãng mạn luôn muốn toàn quyền áp đặt và phân phối cảm xúc của mình lên thế giới xung quanh.

- Rừng trong hồi tưởng của con hổ cũng là hình ảnh rất thường gặp ở sáng tác của các nhà thơ lãng mạn, biểu tượng cho sức mạnh nguyên ủy, cho cái tự nhiên mà con người đã đánh mất. Nó thường được đặt ra như một tấm gương giúp người ta thấy được thực chất của cảnh sống, tình trạng sống bất như ý với hiện tại.

Quảng cáo

- Bên cạnh việc thể hiện khát vọng giải phóng cái tôi cá nhân (một chủ đề lớn của văn học lãng mạn), Nhớ rừng còn mang chở những tình tự u uần, đau đớn về đất nước, dân tộc - điều ta có thể cảm nhận rất rõ nếu đưa bài thơ về với bối cảnh ra đời của nó. Đây thực sự là một giá trị độc đáo của tác phẩm, giúp Nhớ rừng có một vị thế đặc biệt, khác với nhiều bài thơ lãng mạn khác được viết trong cùng thời điểm.

Lưu ý: Trong dàn ý trên, những luận điểm nói về dấu ấn của phong cách sáng tác lãng mạn chủ nghĩa ở bài thơ Nhớ rừng luôn được đưa lên vị trí đầu tiên của từng đoạn văn. Cách "xử lí" này có thể giúp người nghe nhận ra được định hướng của bài thuyết trình một cách nhanh chóng, rõ ràng.

II. Thuyết trình

- Với nội dung thuyết trình thứ nhất, nên sử dụng sơ đồ để trình bày được khái quát về các thông tin chủ yếu. Bên cạnh đó, cũng cần sử dụng bảng kê tên các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, giúp người nghe nắm bắt được thông tin một cách thuận lợi, có thể dựa vào đó để tìm đọc những tác giả, tác phẩm quan trọng của một trường phái văn học. Nếu có điều kiện sử dụng phương tiện trình chiếu, nên cho hiển thị một số tác phẩm nghệ thuật tạo hình thuộc các trường phái hiện thực, lãng mạn, tượng trưng, siêu thực,... để người nghe có được cảm nhận trực quan về phong cách sáng tác của từng trường phái (Lưu ý: Các trường phái vừa được nhắc tới không phải là trường phái thuần tuý văn học mà là trường phái văn nghệ, bao trùm sáng tác của nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau). Có thể chọn trình chiếu tranh của một số hoạ sĩ như Đơ-la-crôa (Delacroix), Giê-ri-côn (Géricault), Phri-ê-đrích,... thuộc trường phái lãng mạn; Đô-mi-ê (Daumier), Cuốc-bê (Courbet),... thuộc trường phái hiện thực; Mô-rô (Moreau), Rơ-đông (Redon),... thuộc trường phái tượng trưng; Si-ri-cô (Chirico), Đa-li (Dali), Ma-gơ-rít (Magritte),... thuộc trường phái siêu thực,...

- Với nội dung thuyết trình thứ hai, để giúp người nghe có được sự cảm nhận tương đối trọn vẹn về tác phẩm được đề cập, cần tóm tắt cốt truyện (với tác phẩm tự sự) hay đọc diễn cảm tác phẩm (nếu đối tượng được phân tích là thơ trữ tình). Khi nêu dẫn chứng về dấu ấn của phong cách trường phái trong tác phẩm, cần phân tích dẫn chứng đó với mức độ cụ thể cần thiết. Ví dụ, nếu thuyết trình về đề tài Phong cách sáng tác của trường phái lãng mạn thể hiện qua văn bản "Người cầm quyền khôi phục uy quyền" (trích "Những người khốn khổ của Vích-to Huy-gô), có thể dừng lại phân tích kĩ chi tiết miêu tả "nụ cười không sao tả được hiện trên đôi môi nhợt nhạt" của Phăng-tin (Fantine) - lúc đó đã tắt thở,.. khi Giăng Van-giăng (Jean Valjean) thì thầm vào tai chị một điều gì đó. Rõ ràng đây là một chi tiết “không hiện thực” mà các nhà văn theo chủ nghĩa hiện thực sẽ kiên quyết loại trừ. Nhưng với một nhà văn như Vích-to Huy-gô, nó lại nói được nhiều điều về sức tác động lạ thường của tình thương yêu, lòng bác ái. Xét rộng hơn, chi tiết đó còn cho thấy được cái nhìn lí tưởng hoá và màu sắc chủ quan trong cách cảm nhận, miêu tả hiện thực của các nhà văn thuộc trường phái lãng mạn.

Bài nói tham khảo:

Kính thưa thầy cô và các bạn,

Hôm nay, em xin trình bày về hiện tượng “Chí Phèo” trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, nhìn từ mối quan hệ giữa tính cách con người và hoàn cảnh xã hội – một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930–1945.

Trong nền văn học hiện thực phê phán, Chí Phèo là tác phẩm tiêu biểu khi khắc họa số phận bi thảm của người nông dân bị tha hóa. “Hiện tượng Chí Phèo” không chỉ là bi kịch của một cá nhân mà còn là kết quả tất yếu của mối quan hệ chặt chẽ, phức tạp giữa con người và hoàn cảnh xã hội. Qua hình tượng này, Nam Cao gửi gắm một nhận thức nhân văn sâu sắc: hoàn cảnh tàn bạo có thể bóp méo, hủy hoại nhân tính, nhưng trong sâu thẳm con người vẫn luôn tồn tại khát vọng được làm người.

Ban đầu, Chí Phèo không phải là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Chí là một đứa trẻ mồ côi, lớn lên trong sự cưu mang của dân làng. Khi trưởng thành, Chí là anh canh điền hiền lành, chất phác, có ước mơ rất giản dị: “chồng cày thuê, vợ dệt vải”. Tính cách ban đầu ấy cho thấy Chí vốn là một con người lương thiện, có lòng tự trọng và khao khát hạnh phúc đời thường. Ở điểm xuất phát, Chí là một con người bình thường, thậm chí đáng thương và đáng quý.

Tuy nhiên, chính hoàn cảnh xã hội tàn nhẫn đã từng bước biến Chí thành kẻ khác. Bị Bá Kiến – đại diện cho tầng lớp cường hào phong kiến – đẩy vào tù một cách vô cớ, Chí bị nhà tù thực dân biến thành công cụ của sự lưu manh hóa. Sau nhiều năm tù đày, Chí trở về làng Vũ Đại trong hình hài một kẻ say rượu, hung hãn, mất ý thức về nhân cách. Những hành vi chửi bới, rạch mặt ăn vạ, đâm thuê chém mướn không phải do bản chất xấu xa, mà là sản phẩm tất yếu của một xã hội phi nhân tính đã tước đoạt quyền làm người của Chí.

Không chỉ bị tha hóa về hành vi, Chí còn bị tha hóa trong ý thức xã hội. Cả làng Vũ Đại ruồng bỏ Chí, không thừa nhận hắn là con người. Tiếng chửi mở đầu tác phẩm chính là tiếng kêu tuyệt vọng của một con người bị cô lập hoàn toàn, không tìm được đối tượng giao tiếp. Khi xã hội không cho con người được làm người, họ buộc phải sống như một “con vật”, thậm chí trở thành công cụ trong tay kẻ thống trị.

Tuy vậy, Nam Cao vẫn phát hiện và trân trọng khả năng hồi sinh nhân tính. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở và bát cháo hành đã đánh thức phần người còn sót lại trong Chí Phèo. Lần đầu tiên sau những ngày dài chìm trong men rượu, Chí cảm nhận được tình thương, sự chăm sóc và gắn bó giữa con người với con người. Từ đó, Chí khao khát được sống lương thiện, được trở về làm người trong cộng đồng.

Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi xã hội một lần nữa khước từ con đường hoàn lương của Chí. Sự cấm đoán của bà cô Thị Nở – đại diện cho định kiến xã hội – đã dập tắt hi vọng cuối cùng. Không còn con đường trở về với đời sống lương thiện, Chí Phèo giết Bá Kiến rồi tự sát. Đó là tiếng kêu phẫn uất cuối cùng của con người bị dồn đến bước đường cùng, đồng thời là bản cáo trạng đanh thép tố cáo xã hội phi nhân đạo.

Từ hiện tượng Chí Phèo, Nam Cao đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tính cách và hoàn cảnh: một xã hội bất công có thể hủy hoại nhân cách con người, nhưng không thể dập tắt hoàn toàn khát vọng sống tử tế và được làm người. Chính tư tưởng nhân văn sâu sắc ấy đã làm nên giá trị bền vững của hình tượng Chí Phèo và sức sống lâu dài của tác phẩm trong văn học Việt Nam.

Em xin trân trọng cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.

III. Trao đổi, rút kinh nghiệm

Thuyết trình về một vấn để tương đối phức tạp, đòi hỏi có nền tảng kiến thức phong phú luôn là thử thách lớn đối với diễn giả. Vị vậy, việc trao đổi sau khi thuyết trình cần được thực hiện nghiêm túc. Ngoài góp ý về cách trình bày, nên bàn sâu về nội dung kiến thức, bởi đây chính là cơ hội học hỏi cho cả người nói và người nghe. Một số vấn để trọng tâm cần chú ý rút kinh nghiệm:

- Sử dụng chính xác các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn. Các khái niệm, thuật ngữ thường được đưa đến từ những hệ thống khác nhau, vì vậy, không phải lúc nào người ta cũng có thể sắp xếp chúng theo một trật tự logic mang tính duy nhất. Về vấn đề này, việc thường xuyên đọc, tiếp xúc với các tài liệu chuyên môn sẽ giúp người thuyết trình có được sự mẫn cảm cần thiết mỗi khi muốn tìm phương án diễn đạt phù hợp với từng ngữ cảnh.

- Trong bài thuyết trình, việc phải nhắc tên một số tác giả hay tác phẩm tiêu biểu của các trường phái văn học là điều tất yếu. Nếu bài thuyết trình dự định nhắc đến tên tác giả, tác phẩm nào thì ở bước chuẩn bị, diễn giả cần phải dành thời gian thích đáng để tra cứu hay đọc về tác giả, tác phẩm ấy, tránh tình trạng chỉ biết nhắc lại, "nói theo" các tài liệu có sẵn một cách máy móc.

Tham khảo các bài soạn Chuyên đề Văn 12 Chuyên đề 3: Tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học: cổ điển, hiện thực hoặc lãng mạn hay khác:

Xem thêm các bài Soạn Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 Kết nối tri thức hay, chi tiết khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 12 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học