Top 15 kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ (hay nhất)

Tổng hợp các bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ hay nhất với dàn ý chi tiết giúp học sinh có thêm tài liệu tham khảo để viết văn hay hơn.

Top 15 kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ (hay nhất)

Quảng cáo

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời của người là một tấm gương sáng ngời cho mỗi người dân Việt Nam noi theo. Và những câu chuyện về Người cũng luôn để lại bài học giá trị cho chúng ta.

Truyện kể rằng trong những năm tháng sống ở Việt Bắc, mỗi lần đi công tác, Bác đều có hai đồng chí đi cùng. Sợ Bác mệt, hai đồng chí đã bày tỏ ý muốn mang ba lô giúp Bác. Nhưng Bác không đồng ý. Bác nói:

- Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ vật cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân đều ra cho cả ba người.

Hai đồng chí đành làm theo lời Bác, đem chia vật dụng vào ba chiếc ba lô. Bác hỏi lại:

- Các chú đã chia đều rồi chứ?

Hai đồng chí trả lời:

- Thưa Bác, rồi ạ!

Sau đó, cả ba cùng lên đường. Qua một chặng, lúc nghỉ, Bác đến chỗ các đồng chí và xách chiếc ba lô lên. Bác hỏi:

Quảng cáo

- Tại sao ba lô của các chú nặng mà của Bác lại nhẹ?

Bác liền mở ra xem thì thấy bên trong ba lô của mình chỉ có chăn màn.

Bác tỏ ra không hài lòng, rồi nói:

- Chỉ có lao động thật sự mới đem lại hạnh phúc cho con người.

Sau đó, Bác lại yêu cầu hai đồng chí chia đều vật dụng vào ba chiếc ba lô mới chịu tiếp tục lên đường.

Câu chuyện nhỏ nhưng để lại bài học lớn. Có thể thấy, Bác là một người yêu lao động. Bác suốt đời làm việc, suốt ngày làm việc, từ những việc lớn như cứu nước đến việc nhỏ như trồng cây trong vườn. Việc gì có thể tự làm, Bác đều tự mình hoàn thành. Cách sống của Bác giúp cho mỗi người nhận ra giá trị của lao động, cũng như có ý thức tự giác học tập và làm việc hơn.

Quả thật, những câu chuyện về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật ý nghĩa. Từ đó, chúng ta luôn nhận ra được nhiều bài học bổ ích cho bản thân.

Dàn ý Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ

1. Mở bài

Giới thiệu nhân vật và sự kiện liên quan đến nhân vật: Bác Hồ.

Quảng cáo

2. Thân bài

- Thuật lại quá trình diễn biến của sự việc theo trình tự (thời gian, không gian…).

- Chỉ ra mối liên quan giữa sự việc với nhân vật lịch sử, kết hợp kể chuyện với miêu tả.

- Ý nghĩa của sự việc được kể lại: Những bài học giá trị mà Bác Hồ muốn gửi gắm…

3. Kết bài

Khẳng định ý nghĩa của sự việc, nêu cảm nhận của người viết đối với nhân vật: Bác Hồ.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 2

Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Rất nhiều mẩu chuyện kể về cuộc đời của Người. Qua đó, chúng ta thấy được những đức tính tốt đẹp của người.

Vào giữa mùa thu năm 1954, Bác đến tham dự “Hội nghị rút kinh nghiệm cải cách ruộng đất” ở Hà Bắc. Tại hội nghị, khi biết có lệnh của Trung ương rút bớt một số cán bộ đi học lớp tiếp quản thủ đô. Ai cũng háo hức muốn đi, đặc biệt là những người quê ở Hà Nội. Sau nhiều năm xa cách quê hương, mọi người đều mong muốn được cấp trên chiếu cố. Tư tưởng cán bộ dự hội nghị có nhiều phân tán. Ban lãnh đạo ít nhiều thấy khó xử.

Quảng cáo

Trời đã vào thu nhưng vẫn còn khá nóng, mồ hôi ướt đẫm hai bên vai áo nâu của Bác. Mở đầu, Bác trò chuyện về tình hình thời sự. Khi nói đến nhiệm vụ của toàn Đảng, Bác bỗng rút trong túi áo giơ ra một chiếc đồng hồ quả quýt. Rồi Bác hỏi các đồng chí cán bộ về chức năng của từng bộ phận của đồng hồ. Thế rồi, Bác mới hỏi:

- Trong cái đồng hồ, bộ phận nào là quan trọng?

Mọi người đều im lặng, không ai trả lời:

- Trong cái đồng hồ, bỏ một bộ phận đi có được không?

- Thưa, không được ạ!- Các cán bộ lại đồng thanh đáp.

Nghe mọi người trả lời, Bác bèn giơ cao chiếc đồng hồ lên và kết luận:

- Các chú ạ, các bộ phận của một chiếc đồng hồ cũng ví như các cơ quan của một Nhà nước, như các nhiệm vụ của cách mạng. Đã là nhiệm vụ của cách mạng thì đều là quan trọng, điều cần phải làm. Các chú thử nghĩ xem: Trong một chiếc đồng hồ mà anh kim đòi làm anh chữ số, anh máy lại đòi ra ngoài làm cái mặt đồng hồ… cứ tranh nhau chỗ đứng như thế thì còn là cái đồng hồ được không?

Nghe xong, cả hội trường trở nên im lặng. Mỗi người đều có những suy nghĩ riêng về lời nói của Bác.

Vào một dịp cuối năm 1954, Bác đến thăm một đơn vị pháo binh đóng ở Bạch Mai đang luyện tập để chuẩn bị cho cuộc duyệt binh đón mừng chiến thắng Điện Biên Phủ. Thăm nơi ăn, chốn ngủ của các chiến sĩ bộ đội xong, Bác đã đã trò chuyện với họ. Bác lấy ở túi ra một chiếc đồng hồ quả quýt, chỉ vào từng chiếc kim, từng chữ số và hỏi anh em về tác dụng của từng bộ phận. Mọi người đều trả lời đúng cả. Song chưa ai hiểu tại sao Bác lại nói như vậy?

Bác vui vẻ nói tiếp:

- Đã bao nhiêu năm nay, chiếc kim đồng hồ vẫn chạy để chỉ cho ta biết giờ giấc, chữ số trên mặt vẫn đứng yên một chỗ, bộ máy vẫn hoạt động đều đặn bên trong. Tất cả đều nhịp nhàng làm việc theo sự phân công ấy. Nếu hoán đổi vị trí từng bộ phận cho nhau thì có còn là chiếc đồng hồ nữa không? Sau câu chuyện của Bác, anh chị em đều hiểu ý Bác dạy: Việc gì cách mạng phân công phải yên tâm hoàn thành.

Không chỉ vậy, chiếc đồng hồ quả quýt còn là một hiện vật vô giá thể hiện tình cảm Quốc tế đối với Bác, đó là chiếc đồng hồ do Tổ chức Quốc tế “Cứu Tế đỏ” tặng, Bác luôn giữ nó trong mình, trong những năm tháng bị cầm tù gian khổ cho đến ngày Việt Nam giành được độc lập.

Câu chuyện về chiếc đồng hồ đã cho thấy được những phẩm chất đẹp đẽ của Bác Hồ, cũng như bài học sâu sắc mà bác muốn dạy cán bộ, chiến sĩ của mình.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 3

Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc. Ở Bác, hội tụ nhiều vẻ đẹp về phẩm chất, là tấm gương sáng cho chúng ta học tập và noi theo. Bác không chỉ có lối sống trách nhiệm, chu toàn, giản dị mà ở Người còn lấp lánh vẻ đẹp của tình yêu thương. Bác luôn dành những tình cảm ấm áp trìu mến nhất cho các cháu thiếu nhi. Câu chuyện kể về Bác với các cháu nhỏ làm em nhớ mãi.

Chuyện kể rằng, vào một buổi sáng đẹp trời, Bác Hồ đến thăm một trại nhi đồng. Tại trại, ai nấy đều mong chờ vì đây là lần đầu tiên được gặp Bác. Khi các em nhỏ vừa thấy sự xuất hiện Bác đã nhanh chóng chạy ùa tới với gương mặt hớn hở, em nào cũng vui vầy quanh Bác. Trong thâm tâm, ai cũng háo hức muốn được nhìn thấy Bác cho thật rõ.

Tay Bác dắt hai em nhỏ nhất, đi giữa đoàn học sinh. Ánh mắt sáng ngời, đầy yêu thương và trìu mến. Rồi Bác cùng các cháu thiếu nhi đi thăm phòng ngủ, phòng ăn, nhà bếp, nơi tắm rửa, sinh hoạt hàng ngày của các cháu.

Khi trở về phòng họp, giữa sự quây quần của các cháu nhỏ, Bác ân cần hỏi:

– Các cháu chơi có vui không?

Đồng thanh vang lên những lời non nớt:

– Thưa Bác, vui lắm ạ!

Rồi Bác hỏi:

– Các cháu ăn có no không?

– Dạ, chúng cháu ăn no ạ.

Các cô trong trại có mắng phạt các cháu không?

– Dạ, không ạ!

Rồi Bác mỉm cười, hài lòng khen ngợi:

-Thế thì tốt lắm! Các cháu có thích kẹo ngọt không? Bây giờ Bác sẽ chia kẹo cho các cháu nhé!

Trong niềm hân hoan, tất cả cháu nhỏ cùng reo:

– Có ạ! Có ạ!

Rồi trong đám đông, một em bé giơ tay, xin phép Bác cho ý kiến:

– Thưa Bác, vậy ai ngoan thì được ăn kẹo, còn nếu không ngoan thì không được ăn kẹo ạ!

Bác từ tốn:

– Các cháu có đồng ý với đề xuất của bạn không?

– Dạ, đồng ý ạ!

Nói rồi, các em nhỏ lần lượt đứng thành vòng tròn rộng. Bác nhẹ nhàng cầm gói kẹo đến bên chia cho từng em. Khi đến lượt Tộ, cậu bé nhìn Bác, rụt rè không dám nhận, chỉ khẽ thưa:

– Dạ Thưa Bác, hôm nay cháu không ngoan, cháu….cháu… không vâng lời cô ạ. Vì cháu chưa ngoan nên phần kẹo này cháu không nhận đâu ạ.

Lúc này, Bác cười rồi nhìn Tộ, trìu mến bảo:

– Cháu biết nhận lỗi, biết sai mà sửa lỗi là tốt. Cháu ngoan lắm! Cháu vẫn được phần kẹo như các bạn khác nhé!

Tộ vui mừng nhận lấy kẹo từ Bác, cảm ơn rối rít và hứa sẽ không tái phạm nữa.

Câu chuyện về Bác cùng các cháu thiếu nhi khiến em càng yêu quý Bác hơn. Bác vẫn luôn bao dung và dạy dỗ những điều hay lẽ phải. Qua lời Bác cùng hành động của Tộ, em thấy chúng ta cần phải biết trung thực, cảm thông và bao dung với người khác. Luôn biết yêu thương mọi người, đặc biệt là các em nhỏ.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 4

Một trong những nhân tố quan trọng trong cuộc sống chính là thời gian - thứ mà đã trôi đi thì không bao giờ quay trở lại. Và thời gian cũng là một trong những thứ Bác Hồ thấy quý giá nhất. Đã có muôn vàn nhưng câu chuyện, những sự kiện mà Bác cho chúng ta thấy thời gian là thứ rất quan trọng mà chúng ta phải nắm bắt và không thể bỏ lỡ nó. 

          Trong một buổi nói chuyện tại lễ tốt nghiệp khóa V Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác đã gửi giấy mời cho các cán bộ rằng đúng 8 giờ phải có mặt để bắt đầu tuy nhiên 10 phút trôi qua, một số người vẫn chưa thấy đến. Sau khi mọi người tập trung đông đủ, Bác đã thẳng thắn góp ý về cách làm việc không đúng thời gian này và nói với mọi người rằng thời gian là thứ rất quý báu.

Cũng về thời gian, trong kháng chiến chống Pháp, một đồng chí sĩ quan cấp tướng đến làm việc với Bác chậm 15 phút, tuy là có lý do nhưng Bác vẫn thẳng thắn phê bình rằng: "Chú làm tướng mà chậm đi mất 15 phút thì bộ đội của chú sẽ hiệp đồng sai bao nhiêu? Hôm nay chú đã chủ quan không chuẩn bị đủ phương án, nên chú không giành được chủ động”. Có thể thấy tuy có lý do đến muộn nhưng đó cũng là do chúng ta không chuẩn bị các phương án dự phòng. Cùng một thời gian, cùng một địa điểm, hoàn cảnh có người đến sớm được có người không nên đó cũng là lỗi của mình. Qua câu nói của Bác, mỗi người chúng ta có thể rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân rằng trong mỗi một công việc, một cuộc hẹn, chúng ta nên chủ động và có cách phương án dự phòng cho những tình huống xấu xảy ra, không nên bị động phụ thuộc vào người khác, đến sớm cũng được, chờ cũng được còn hơn là đến muốn vì thời gian rất là quý báu.

          Một lần khác, Bác và đồng bào phải đợi một đồng chí cán bộ đến để bắt đầu cuộc họp. Đồng chí đó đến muộn 10 phút. Mười phút đó mọi người vẫn nghĩ là ngắn, là không đáng bao nhiêu thời gian tuy nhiên nó sẽ rất dài nếu theo cách tính thời gian của Bác Hồ. Mười phút không chỉ là của người tới muộn mà nó còn là mười phút của những người tới đợi nên nếu nhân lên thời gian của mười người, một trăm người đợi thì mười phút đến muộn đó sẽ rất nhiều. Do đó có thể rút ra bài học rằng, thời gian không chỉ là của mình mà còn của rất nhiều người. Việc mình lãng phí thời gian không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn ảnh hưởng đến nhiều người khác. Do đó chỉ trừ những lý do hết sức đặc biệt, bạn nên cố găng không để thời gian trôi một cách phí phạm vì nó sẽ không chờ đời ai.

          Cũng là một câu chuyện về việc biết trân trọng thời gian của Bác là vào một buổi mưa xối xả năm 1953, khi Bác trên đường đến thăm lớp chỉnh huấn của anh em trí thức, anh em làm việc bên cạnh Bác đã khuyên bác nên hoãn lại buổi gặp mặt này nhưng Bác nhất quyết không chịu, thà chịu ướt còn hơn là hẹn mà không đến. Có thể thấy việc Bác trân quý thời gian và lời hưa thật đáng trân trọng biết bao. Trong cuộc sống đôi khi chỉ vì một vài giọt mưa, mấy tia nắng, hay những cơn buồn ngủ khiến ta trì trệ, trễ hẹn trong các cuộc hẹn, mà không biết rằng người hẹn bạn đang rất mong chờ để được gặp bạn. Đây đúng là một việc làm lãng phí thời gian và không trân trọng người mà bạn hẹn gặp.

          Chỉ với việc lãng phí thời gian mà đôi khi chúng ta bõ lỡ rất nhiều thứ. Thế mới thấy Bác Hồ cùng những bài học của Bác đáng trân trọng biết bao. Khó có ai mà hiểu đời, hiểu người được như Bác. Thế hệ con, cháu người Việt Nam nên luôn luôn học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác để cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 5

Bác Hồ là vị lãnh tụ đáng kính của dân tộc Việt Nam. Bác hội tụ nhiều phẩm chất tốt đẹp cho chúng ta học tập và noi theo. Bác không chỉ có lối sống trách nhiệm, chu toàn, giản dị mà ở Người còn lấp lánh vẻ đẹp của tình yêu thương. Câu chuyện kể về Bác với anh cán bộ làm em nhớ mãi.

Chuyện kể rằng, có khoảng thời gian Bác phải ở nhờ nhà một người cán bộ. Mỗi sáng Bác đều dậy rất sớm tập thể dục rồi dọn dẹp nhà cửa. Ngôi nhà chật chội, lụp xụp của anh qua bàn tay Bác đã trở nên gọn gàng, sạch sẽ. Trong nhà có tất cả năm người bao gồm vợ chồng anh cán bộ, đứa con trai tên Hải, anh Kiên và Bác. Ban ngày anh bận cắt tóc, Bác vẫn thường chẻ củi, nấu cơm hộ. Vợ anh buôn gạo nên kì nào có gạo về, Bác cũng ra vác giúp.

Có lần gạo về đúng lúc anh đang bận học, chẳng có ai khiêng đỡ, vợ anh bực tức gắt gỏng vì không có người. Thấy vậy, anh giận vợ, đi từ trên gác rút guốc đánh mấy cái. Vợ anh chưa kịp làm to chuyện thì Bác xuất hiện. Hành động chẳng mấy hay ho của anh đã bị Bác nhìn thấy. Bác phê bình anh: "Sao anh lại làm như thế?". Rồi Bác rủ anh Kiên bê gạo vào nhà. Đến tối, Bác lại phê bình anh chuyện lúc sáng. Bác ôn tồn giải thích lý do tại sao một người đàn bà nghèo khổ phải trở nên gắt gỏng rồi truy đến nỗi khổ của những người bị bóc lột. Bác hỏi anh rằng: "Tại sao một người Đảng viên như anh mà lại hành động như thế?". Bác nói: "Về việc đoàn thể thì rất có thể chỉ vì hành động sai lầm cỏn con như thế mà lộ bí mật." Những lời nói đầy thấm thía của Bác khiến anh phải nể phục mà tiếp thu.

Nhớ lại những ngày đầu gặp gỡ, Bác luôn giúp đỡ gia đình anh, quan tâm đến mọi người cả về đời sống tinh thần lẫn vật chất nên tạo được nếp sống khác hẳn. Nhất là đối với thằng con trai anh - cháu Hải, Bác luôn chăm sóc cho nó thật chu đáo. Nó ngủ ngoẹo đầu thì Bác sắp gối, chỉnh cho nó nằm thẳng lại. Bác dậy mấy lần ban đêm chỉ để đắp chăn cho nó. Để phòng nó ốm đau vặt vãnh, Bác đều lo cho nó mặc thật ấm. Thấy nó ăn no, Bác nới rộng giải rút cho thằng bé. Tuy chỉ là khách trong nhà, nhưng Bác giống như thành viên trong gia đình từ lâu.

Qua câu chuyện ngắn kể về Bác, em càng hiểu thêm về những đức tính cao đẹp của một con người, một nhân cách lớn lao. Câu chuyện kể về Bác đã cho em thấy được nếp sống kỉ luật, gọn gàng, khoa học và sự tận tình, chu đáo của Bác đối với mọi người xung quanh. Hình ảnh giản dị của Bác đã để lại cho em nhiều ấn tượng sâu đậm, là tấm gương sáng để các thế hệ học tập và noi theo.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 6

Hồ Chí Minh (19.5.1890 - 2.9.1969) là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam.

Những câu chuyện kể về Bác khá nhiều. Qua mỗi câu chuyện, người đọc, người nghe lại thấy được những phẩm chất tốt đẹp của Bác. Truyện kể rằng trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, có một đồng chí cán bộ Trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Đồng chí này đã từng làm giao thông, bảo vệ Bác đi ra nước ngoài trước Cách mạng tháng Tám.

Nghe nhân dân phản ảnh về đồng chí, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn trạm đón tiếp, dù đồng chí này có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho đồng chí ấy vào gặp Bác. Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng giờ ngọ nên đồng chí Trung đoàn vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh.

Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói:

- Chú uống đi.

Đồng chí cán bộ kêu lên:

- Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được.

Bác mỉm cười:

- À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không?

- Dạ có ạ!

Bác nghiêm nét mặt nói:

- Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng giống như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn.

Đồng chí cán bộ nghe đến đây, hiểu được lời Bác muốn nói và hứa rằng sẽ sửa chữa.

Câu chuyện gửi gắm bài học về cách ứng xử. Có thể thấy, Bác Hồ là một nhân cách lớn để mỗi người noi gương.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 7

Bản Tuyên ngôn Độc lập (1945) có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được viết bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

Sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mốc thời gian đầu tiên phải kể đến là vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác Hồ rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng năm, Người đã yêu cầu trung úy Giôn, báo vụ của OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ) điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì.

Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25 tháng 8 năm 1945, Người vào nội thành, ở tầng 2 tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Sáng 26 tháng 8 năm 1945, Bác đã cho triệu tập một cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, để bàn về các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; công bố danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt toàn thể nhân dân.

Vào ngày 27 tháng 8 năm 1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt kĩ vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước nghe mà còn độc cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe.

Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1945, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở chính của Chính phủ lâm thời) và dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập trên một cái bàn tròn.

Vào ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác cho mời các đồng chí đến để trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập. Bác đọc cho mọi người nghe, hỏi ý kiến của từng người. Đến ngày 31 tháng 8, Bác đã bổ sung một số ý vào bản Tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được hoàn thiện.

Đúng 14 giờ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Quá trình viết Tuyên ngôn Độc lập đã cho thấy sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như trí tuệ và tầm nhìn của một vị lãnh tụ - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 8

Bác Hồ là vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Người không chỉ tìm ra con đường cứu nước cũng như lãnh đạo nhân dân đấu tranh để giành lại độc lập cho đất nước.

Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

Sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mốc thời gian đầu tiên phải kể đến là vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác Hồ rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng năm, Người đã yêu cầu trung úy Giôn, báo vụ của OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ) điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì.

Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25 tháng 8 năm 1945, Người vào nội thành, ở tầng 2 tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Sáng 26 tháng 8 năm 1945, Bác đã cho triệu tập một cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, để bàn về các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; công bố danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt toàn thể nhân dân.

Vào ngày 27 tháng 8 năm 1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt kĩ vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước nghe mà còn độc cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe.

Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1945, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở chính của Chính phủ lâm thời) và dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập trên một cái bàn tròn.

Vào ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác cho mời các đồng chí đến để trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập. Bác đọc cho mọi người nghe, hỏi ý kiến của từng người. Đến ngày 31 tháng 8, Bác đã bổ sung một số ý vào bản Tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được hoàn thiện.

Đúng 14 giờ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Quá trình viết Tuyên ngôn Độc lập đã cho thấy sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như trí tuệ và tầm nhìn của một vị lãnh tụ - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 9

Bác Hồ là người anh hùng lịch sử vĩ đại được nhân dân kính yêu, không chỉ ở Việt Nam ta mà còn trên toàn thế giới. Xoay quanh cuộc đời Bác, có rất nhiều những sự việc hay và ý nghĩa, giúp nhân dân hiểu thêm về bậc vĩ nhân này. Một trong số đó là mẩu chuyện về Bác và bác sĩ Chánh.

Chuyện kể rằng, hồi đó bác sĩ Chánh được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe đặc biệt cho Bác Hồ. Nhưng khi bác sĩ đến nơi, Bác Hồ lại cho rằng mình không bị ốm thì không cần bác sĩ riêng túc trực. Nên đã dặn dò bác sĩ Chánh xuống chỗ chú Phan Mỹ để ở và chăm sóc cho các chú ở đó. Hành động ấy không chỉ thể hiện sự thanh bạch, giản dị ở Bác Hồ, mà còn thể hiện sự yêu thương, quan tâm của Bác với đồng bào.

Một lần khác, khi Bác Hồ biết tin có một đoàn công tác mới đến gần nơi đóng quân. Trong đoàn có vợ của bác sĩ Chánh mà hai người thì vì nhiệm vụ nên rất lâu chưa gặp mặt được. Vì vậy, Bác Hồ đã cử bác sĩ Chánh đi công tác ở nơi vợ làm việc, có ý cho hai người gặp mặt nhau. Nhưng sau khi hoàn thành nhiệm vụ, để đảm bảo thời gian, bác sĩ Chánh lại trở về ngay. Thấy bác sĩ về, Bác Hồ ngỏ lời hỏi thăm sức khỏe vợ ông, thì mới biết ông không hề ghé qua gặp vợ. Điều này làm Bác không vui, cho rằng bác sĩ chưa biết quan tâm đến vợ.

Hai mẩu chuyện nhỏ ấy được bác sĩ Chánh kể lại. Nhờ vậy, chúng ta biết thêm một chút về Bác Hồ. Bên trong con người vĩ đại ấy, là một trái tim ấm áp, luôn nghĩ cho người khác. Sự quan tâm chu đáo, tinh tế ấy của Bác khiến em xúc động vô cùng.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 10

Bác Hồ là người cha già vĩ đại và đáng kính của cả dân tộc Việt Nam. Có rất nhiều những câu chuyện, sự kiện ý nghĩa về Bác được truyền tụng. Đặc biệt là những câu chuyện về Bác và thiếu nhi. Trong đó, câu chuyện được nhiều bạn nhỏ biết đến nhất, chính là câu chuyện về Bác Hồ và chiếc rễ đa tròn.

Chuyện xảy ra ở khu vườn trong ngôi nhà sàn mà Bác sinh sống. Một đêm nọ, trời có mưa bão lớn, khiến cây đa già sau Bác bị gãy rơi rất nhiều đoạn rễ. Sáng hôm sau, lúc đi tập thể dục, Bác đã nhặt được các đoạn rễ đó. Trong số đó, có một nhánh rễ khác dài, bác tần ngần một chút, liền nghĩ ra ý kiến hay. Thế là Bác bèn gọi một chú cần vụ đang ở gần đó lại, nhờ chú trồng chiếc rễ đa này xuống phần đất trống ở góc vườn. Bác dặn anh cần vụ là trồng chiếc rễ thành hình tròn, nhưng anh vẫn không hiểu lắm. Nhìn chiếc rễ đã được cuộn lại trên tay, anh nghi hoặc hỏi lại Bác cách trồng. Thế là, Bác liền chỉ anh từng bước một. Đầu tiên là tìm hai chiếc cọc gỗ nhỏ, rồi đào hai cái lỗ để vùi rễ xuống. Hai cái lỗ đó cách nhau vừa bằng đúng đường kính của vòng rễ tròn vừa cuộn. Sau đó, vùi hai đầu của vòng rễ tròn xuống, và cố định thân vòng rễ vào hai chiếc cọc. Nhờ vậy, vòng rễ tròn được cố định đứng thẳng trên mặt đất. Chú cần vụ cứ thắc mắc mãi, vì sao lại phải trồng cầu kì như thế, dù sao rễ đa rất khỏe, cứ vùi xuống là sẽ mọc thành cây thôi mà. Nhưng Bác Hồ không giải thích gì, chỉ mỉm cười hiền từ nói rằng sau này anh sẽ hiểu. Rất nhiều năm sau, rễ đa nhỏ bé ngày nào đã lớn lên thành một cây đa cuộn tròn lại như cái cổng xinh xắn. Trẻ em đến thăm vườn Bác, bạn nào cũng thích thú lắm. Rủ nhau làm đoàn tau chạy qua chạy lai gốc cây vui vô cùng.

Từ câu chuyện ấy, em càng thêm thán phục sự thông minh, sáng tạo của Bác Hồ. Nhưng hơn cả là tình yêu thương, quý mến của Bác dành cho các em thiếu nhi. Tình cảm ấy thật ấm áp và thiêng liêng biết bao nhiêu.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 11

Trong suốt chiều dài hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm, biến cố. Thế nhưng, có lẽ khoảnh khắc thiêng liêng và tự hào nhất chính là ngày 2 tháng 9 năm 1945 – ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự kiện lịch sử này không chỉ đánh dấu một kỷ nguyên mới mà còn khắc họa chân dung một vị lãnh tụ vĩ đại nhưng vô cùng gần gũi với quốc dân đồng bào.

Mùa thu năm ấy, Hà Nội rợp bóng cờ hoa. Từ sáng sớm, hàng vạn người dân từ khắp các ngả đường đã đổ về Quảng trường Ba Đình lịch sử. Họ là công nhân, nông dân, tri thức, là những người con vừa bước ra từ bóng tối của ách nô lệ lầm than, nay rạng rỡ niềm tin về một nền độc lập tự do. Giữa không gian bao la ấy, một chiếc lễ đài bằng gỗ đơn sơ được dựng lên, thể hiện đúng tinh thần tiết kiệm và giản dị của chính phủ lâm thời.

Đúng 14 giờ chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh bước lên lễ đài. Khác với những nghi lễ rình rang thường thấy của các vị quân chủ hay nguyên thủ quốc gia thời bấy giờ, Bác xuất hiện trong bộ quần áo kaki đã bạc màu, đôi dép cao su giản dị và nụ cười hiền hậu. Hình ảnh ấy ngay lập tức xóa tan khoảng cách giữa một vị Chủ tịch nước và những người dân lao động nghèo khổ.

Khi Bác bắt đầu đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, giọng nói của Người ấm áp, truyền cảm và mang âm hưởng của miền Trung nắng gió. Bản tuyên ngôn vang lên đanh thép, khẳng định quyền tự do và độc lập tự nhiên của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới. Thế nhưng, một chi tiết bất ngờ và xúc động nhất đã xảy ra, trở thành kỷ niệm không bao giờ quên trong lòng người dân có mặt hôm đó. Đang đọc giữa chừng, Bác bỗng dừng lại và hỏi bằng một giọng chân tình, mộc mạc:

"Tôi nói đồng bào nghe rõ không?"

Câu hỏi ấy không nằm trong văn bản chính thức, nó xuất phát từ sự quan tâm thực sự của một người cha dành cho những đứa con của mình. Ngay lập tức, hàng vạn tiếng hô "Có!" vang dội khắp quảng trường như sóng vỗ. Khoảnh khắc ấy, trái tim của vị lãnh tụ và trái tim của hàng triệu người dân đã hòa chung một nhịp đập. Đó không còn là bài diễn văn chính trị khô khan, mà là lời tâm tình, là sự kết nối tâm hồn giữa người chèo lái con thuyền cách mạng và những người chủ thực sự của đất nước.

Sự kiện kết thúc bằng lời thề độc lập vang dội của toàn thể quốc dân. Bác Hồ vẫy tay chào đồng bào rồi nhẹ nhàng bước xuống lễ đài. Hình ảnh vị lãnh tụ mảnh khảnh nhưng có sức mạnh tinh thần khổng lồ đã in sâu vào tâm trí của mọi thế hệ người Việt. Sự kiện này minh chứng rằng: Sức mạnh lớn nhất của Bác không đến từ quyền lực, mà đến từ sự thấu hiểu và lòng yêu thương nhân dân sâu sắc.

Ngày nay, mỗi khi đến dịp Quốc khánh, được nghe lại giọng ấm áp của Người qua những thước phim tư liệu, mỗi người Việt Nam vẫn không khỏi bồi hồi xúc động. Câu chuyện về ngày 2 tháng 9 năm ấy vẫn mãi là ngọn đuốc soi đường, nhắc nhở chúng ta về giá trị của độc lập, tự do và bài học về sự gắn bó máu thịt giữa lãnh đạo với nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tinh thần của bản Tuyên ngôn và sự gần gũi của Người tại Quảng trường Ba Đình năm ấy vẫn sẽ còn vang vọng mãi cùng non sông đất nước.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 12

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều sự kiện quan trọng gắn liền với cuộc đời của Hồ Chí Minh. Một trong những sự kiện tiêu biểu và cảm động nhất chính là việc Người ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911. Quyết định ấy không chỉ thay đổi cuộc đời của Bác mà còn mở ra con đường giải phóng cho cả dân tộc Việt Nam sau này.

Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, đất nước Việt Nam đang chịu ách đô hộ của thực dân Pháp. Nhân dân sống trong cảnh lầm than, nghèo khổ và mất tự do. Chứng kiến cảnh đất nước bị áp bức, người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tên thời trẻ của Hồ Chí Minh) luôn trăn trở tìm cách giải phóng dân tộc. Người nhận thấy rằng những con đường đấu tranh trước đó chưa mang lại kết quả, vì vậy Người quyết định ra nước ngoài để tìm một con đường mới cho dân tộc.

Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Bến Nhà Rồng ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã lên con tàu buôn của Pháp mang tên Amiral Latouche-Tréville để bắt đầu hành trình ra đi tìm đường cứu nước. Lúc ấy, Người chỉ mới 21 tuổi, mang theo trong mình lòng yêu nước sâu sắc và khát vọng giải phóng dân tộc. Quyết định ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ cho thấy ý chí mạnh mẽ và tinh thần dũng cảm của Người.

Trên con tàu ấy, Nguyễn Tất Thành làm việc như một người phụ bếp. Công việc vất vả nhưng Người vẫn kiên trì chịu đựng, bởi trong lòng luôn nuôi dưỡng một mục tiêu lớn lao: tìm con đường đúng đắn để cứu nước, cứu dân. Trong suốt nhiều năm sau đó, Người đã đi qua nhiều quốc gia trên thế giới, vừa lao động vừa học hỏi, tìm hiểu về các nền văn hóa, xã hội và phong trào cách mạng.

Những chuyến đi ấy đã giúp Người hiểu rõ hơn về tình cảnh của các dân tộc bị áp bức cũng như con đường đấu tranh giành độc lập. Sau nhiều năm tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu, Nguyễn Tất Thành đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Con đường ấy sau này đã dẫn dắt nhân dân Việt Nam tiến tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập cho đất nước.

Sự kiện người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi từ Bến Nhà Rồng tuy chỉ là một khoảnh khắc trong lịch sử nhưng lại mang ý nghĩa vô cùng lớn lao. Đó là bước khởi đầu cho hành trình tìm đường cứu nước đầy gian khổ nhưng cũng rất vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Câu chuyện ấy giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng độc lập của Bác Hồ. Tấm gương của Người luôn nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình, cố gắng học tập và rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh và phát triển.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 13

  Bản Tuyên ngôn Độc lập (1945) có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn được viết bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam mới.

Sự ra đời của bản Tuyên ngôn Độc lập có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Mốc thời gian đầu tiên phải kể đến là vào ngày 4 tháng 5 năm 1945, Bác Hồ rời Pác Bó về Tân Trào. Giữa tháng năm, Người đã yêu cầu trung úy Giôn, báo vụ của OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ) điện về Côn Minh, đề nghị thả dù cho Người cuốn Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kì.

Đến ngày 22 tháng 8 năm 1945, Bác rời Tân Trào về Hà Nội. Tối 25 tháng 8 năm 1945, Người vào nội thành, ở tầng 2 tại căn nhà số 48 Hàng Ngang. Sáng 26 tháng 8 năm 1945, Bác đã cho triệu tập một cuộc họp Thường vụ Trung ương Đảng, để bàn về các vấn đề như chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới; công bố danh sách các thành viên Chính phủ lâm thời; chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập, tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt toàn thể nhân dân.

Vào ngày 27 tháng 8 năm 1945, Người tiếp các bộ trưởng mới tham gia Chính phủ đưa ra đề nghị Chính phủ ra mắt quốc dân, đọc Tuyên ngôn Độc lập mà Người đã chuẩn bị. Bác đưa ra bản thảo và đề nghị các thành viên phải xét duyệt kĩ vì không chỉ đọc cho đồng bào cả nước nghe mà còn độc cho Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, các nước đồng minh nghe.

Trong hai ngày 28 và 29 tháng 8 năm 1945, Bác đến làm việc tại 12 Ngô Quyền (trụ sở chính của Chính phủ lâm thời) và dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Buổi tối tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Bác đã tự đánh máy bản Tuyên ngôn Độc lập trên một cái bàn tròn.

Vào ngày 30 tháng 8 năm 1945, Bác cho mời các đồng chí đến để trao đổi, đóng góp ý kiến cho bản Tuyên ngôn độc lập. Bác đọc cho mọi người nghe, hỏi ý kiến của từng người. Đến ngày 31 tháng 8, Bác đã bổ sung một số ý vào bản Tuyên ngôn. Bản Tuyên ngôn Độc lập chính thức được hoàn thiện.

Đúng 14 giờ ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Có thể khẳng định rằng, Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về việc chấm dứt chế độ thực dân, phong kiến ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do của nước Việt Nam mới. Quá trình viết Tuyên ngôn Độc lập đã cho thấy sự chuẩn bị kĩ lưỡng cũng như trí tuệ và tầm nhìn của một vị lãnh tụ - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 14

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc, một vị lãnh tụ thiên tài mà Người còn là một người cha, người ông hiền từ với trái tim bao dung vô bờ bến. Trong số rất nhiều câu chuyện cảm động về Người, sự kiện Bác đến thăm trại trẻ mồ côi Kim Đồng vào một ngày giáp Tết năm 1960 đã để lại trong lòng người đọc những dư âm sâu sắc về tình yêu thương con người.

Sáng hôm ấy, không khí Tết đã tràn ngập khắp các con phố Hà Nội. Xe của Bác dừng lại trước cổng trại trẻ Kim Đồng. Khác với những vị nguyên thủ quốc gia thường đi cùng đoàn tùy tùng rầm rộ, Bác đến thăm các cháu một cách giản dị, không báo trước để có thể chứng kiến cuộc sống thực sự của các em.

Khi bước vào phòng ở của các cháu, Bác không đi thẳng lên khán đài mà đi xuống tận khu bếp, khu vệ sinh để kiểm tra xem các cháu ăn có no không, ở có sạch không. Bác mở nồi cơm, nhìn qua khay thức ăn rồi mới đi lên phòng học. Nhìn thấy Bác, các em nhỏ reo hò ầm ĩ, vây quanh lấy "Bác Hồ" như những đứa cháu đi xa về thăm ông. Bác âu yếm xoa đầu từng em, phát kẹo và hỏi han về việc học tập.

Giữa không khí vui tươi đó, Bác bỗng nhận thấy một cậu bé đứng nép ở góc cột, đôi mắt đượm buồn và không dám lại gần. Bác nhẹ nhàng bước tới, dắt tay cậu bé ra giữa phòng và hỏi:

"Sao cháu lại đứng đây một mình? Cháu tên là gì?"

Cậu bé lý nhí trả lời rằng mình tên là Tộ, vì mắc lỗi nên không dám ra gặp Bác. Các thầy cô giáo ở đó giải thích rằng Tộ thỉnh thoảng còn nghịch ngợm và chưa ngoan. Nghe vậy, Bác không hề trách mắng. Người nhìn vào mắt cậu bé rồi ôn tồn bảo:

"Cháu mắc lỗi thì phải sửa. Từ nay cháu hãy hứa với Bác là sẽ ngoan hơn nhé. Bác vẫn sẽ có phần kẹo cho cháu."

Hành động ấy của Bác đã khiến tất cả những người có mặt hôm đó lặng người đi vì xúc động. Bác không chỉ yêu thương những đứa trẻ ngoan, mà còn dành sự quan tâm đặc biệt cho những đứa trẻ còn khiếm khuyết, bởi Người hiểu rằng các em đã chịu quá nhiều thiệt thòi khi thiếu vắng tình thương của cha mẹ.

Câu chuyện khép lại khi bóng dáng cao gầy của Bác dần xa, nhưng hơi ấm từ bàn tay Người và những viên kẹo ngọt ngào vẫn còn ở lại. Sự kiện này không chỉ là một kỷ niệm đẹp của trại trẻ Kim Đồng mà còn là bài học lớn về sự thấu hiểu và lòng nhân ái. Bác dạy chúng ta rằng, giáo dục không phải là sự nghiêm khắc cực đoan, mà là dùng tình thương để cảm hóa những tâm hồn trẻ dại.

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chủ tịch, chúng ta càng thêm kính yêu Người — một con người dành cả cuộc đời để lo cho hạnh phúc của nhân dân, đặc biệt là tương lai của thế hệ măng non.

Kể lại sự việc có thật liên quan đến Bác Hồ - mẫu 15

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Có rất nhiều sự kiện có thật liên quan đến Người khiến chúng ta không khỏi tự hào và biết ơn. Một trong những sự kiện lịch sử trọng đại nhất mà em muốn kể lại là ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đất nước ta thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Để tuyên bố chủ quyền dân tộc trước toàn thế giới, Chính phủ lâm thời quyết định tổ chức mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Bác Hồ – lúc bấy giờ là Chủ tịch Chính phủ lâm thời – được giao nhiệm vụ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập.

Sáng hôm ấy, trời Hà Nội quang đãng nhưng không khí vô cùng náo nức và trang nghiêm. Từ rất sớm, hàng chục vạn đồng bào từ khắp nơi đã đổ về Quảng trường Ba Đình. Mọi người mặc quần áo chỉnh tề, tay cầm cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, miệng hô vang khẩu hiệu “Độc lập! Tự do!”. Không khí như một ngày hội lớn của dân tộc sau bao năm tháng bị nô lệ. Trên khán đài đơn sơ được dựng bằng tre và gỗ, cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Bác Hồ mặc bộ ka ki giản dị, đầu đội nón cối, bước lên bục phát biểu với dáng vẻ bình tĩnh, uy nghiêm nhưng gần gũi.

Khi Bác cất giọng đọc bản Tuyên ngôn, cả quảng trường im phăng phắc lắng nghe. Giọng Bác sang sảng, rõ ràng, vang vọng khắp nơi: “Hỡi đồng bào cả nước! Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”. Bác đã dẫn chứng những lời bất hủ từ Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1791 để khẳng định quyền dân tộc Việt Nam. Tiếp đó, Bác tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đối với nhân dân ta trong suốt hơn 80 năm. Bản Tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố long trọng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Khi Bác đọc xong, cả quảng trường bùng nổ tiếng vỗ tay vang dội như sấm. Mọi người reo hò, khóc vì vui mừng. Ngày ấy, bản Tuyên ngôn Độc lập đã chính thức khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta.

Qua sự kiện có thật này, em càng thêm kính yêu và tự hào về Bác Hồ. Người không chỉ là nhà cách mạng vĩ đại mà còn là người cha già của dân tộc, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 mãi mãi là một trong những văn kiện lịch sử quan trọng nhất, là ngọn lửa soi đường cho sự nghiệp đấu tranh và xây dựng đất nước của chúng ta hôm nay. Là học sinh, em xin hứa sẽ học tập tốt, rèn luyện đạo đức để xứng đáng với công ơn của Bác.

Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 7 hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 7 hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài soạn văn lớp 7 hay nhất dựa trên đề bài và hình ảnh của sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống (NXB Giáo dục). Bản quyền soạn văn lớp 7 thuộc VietJack, nghiêm cấm mọi hành vi sao chép mà chưa được xin phép.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 7 Kết nối tri thức khác