94+ Dẫn chứng nghị luận văn học về thơ (siêu hay)

Dẫn chứng nghị luận văn học về thơ hay nhất giúp học sinh có thêm dẫn chứng để viết bài văn NLVH hay hơn. Mời các bạn đón đọc:

94+ Dẫn chứng nghị luận văn học về thơ (siêu hay)

Quảng cáo

I. Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận

- Dẫn chứng là những sự kiện, số liệu, hiện tượng, ví dụ cụ thể được đưa vào bài viết nhằm làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.

- Nói cách khác, dẫn chứng chính là “bằng chứng thực tế” giúp người viết chứng minh rằng ý kiến của mình không chỉ là nhận định chủ quan mà có cơ sở xác đáng, cụ thể, khách quan.

- Vai trò của dẫn chứng:

+ Cụ thể hóa luận điểm (tránh nói chung chung, mơ hồ)

+ Tăng độ tin cậy và sức thuyết phục

+ Làm cho bài viết sinh động, giàu tính thực tiễn

II. Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học

- Dẫn chứng trong nghị luận văn học là những chi tiết, hình ảnh, câu văn, đoạn thơ, ngoại hình và tâm lí nhân vật, tình huống… được trích từ tác phẩm văn học để phân tích, chứng minh cho nhận định về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.

Quảng cáo

- Đặc điểm:

+ Xuất phát từ tác phẩm văn học cụ thể

+ Gắn với phân tích (không chỉ kể lại)

+ Phải chọn lọc tiêu biểu, chính xác và có giá trị làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

- Ví dụ:

+ Khi phân tích nhân vật, dẫn chứng có thể là hành động, lời nói, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm văn học.

+ Khi phân tích nghệ thuật, dẫn chứng có thể là hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.

- Phân biệt: Có thể phân biệt hai loại dẫn chứng cơ bản: 

+ Dẫn chứng nội tại là những chi tiết, hình ảnh, câu chữ trực tiếp lấy từ tác phẩm đang được nghị luận. Đây là loại dẫn chứng quan trọng nhất, bắt buộc phải có và cần được phân tích kĩ.

+ Dẫn chứng liên hệ là những ví dụ ngoài tác phẩm như tác phẩm khác, sự kiện đời sống, hay ý kiến của nhà phê bình, được dùng để mở rộng và làm sâu sắc thêm vấn đề.

Quảng cáo

III. Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học

1. Dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn.

Đây là cách nêu dẫn chứng được sử dụng phổ biến nhất trong các văn bản văn nghị luận đặc biệt trong nghị luận văn học. Khi đưa ra dẫn chứng là một câu thơ, câu văn hay một đoạn, một bài văn ngắn người ta thường dùng cách nêu dẫn chứng này và thường được sử dụng viết thành một đoạn văn riêng. Việc trích dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn đòi hỏi việc trích dẫn mang tính chính xác cao vì thế người viết phải nắm được, hiểu được và thuộc dẫn chứng. Nếu sử dụng dẫn chứng ở nhiều bài khác nhau người ta phải chú thích dẫn chứng (Dùng ngoặc đơn để ghi tên tác giả, tác phẩm của dẫn chứng).

Ví dụ: Tạo hóa đã ban tặng cho con người một đặc quyền thiêng liêng – đó là sống. Van-gốc đã từng thốt lên rằng: “Đối với tôi không có gì tốt đẹp hơn là cuộc sống”. Dù cho ai nói với bạn điều gì đi chăng nữa, hãy vững tin rằng cuộc sống xung quanh ta chứa đầy hạnh phúc và niềm vui. Xuân Diệu, “thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), đã hơn một lần khẳng định lối sống “vội vàng” của mình:

Quảng cáo

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi, tình non đã già rồi

(Giục giã – Xuân Diệu).

2. Trích từ ngữ tiêu biểu.

Khi làm bài văn nghị luận, đôi khi người viết có thể trích dẫn các từ ngữ tiêu biểu. Lúc ấy các dẫn chứng được kết hợp vào trong lời văn nghị luận của người viết.

Ví dụ: Quê hương Việt Nam qua bức tranh thôn Vĩ Dạ của xứ Huế sao mà xinh xắn thế, mơ mộng và trữ tình đến thế. Bằng những hình ảnh bình dị, thân thương như “nắng hàng cau” trong khu vườn “mướt” “xanh như ngọc”, nhà thơ cho chúng ta thêm yêu và trân trọng xứ Huế. Những “bến sông trăng” với con thuyền “chở trăng” gợi lên chất mộng, chất thơ nhưng cũng rất thực. Đấy chính là tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương, với thiên nhiên đất nước. Ta có thể nhận thấy ngay các dẫn chứng trong đoạn văn trên là những từ ngữ tiêu biểu được trích dẫn bằng cách đặt trong ngoặc kép, hòa vào lời văn của người viết như:“nắng hàng cau”, “mướt”, “xanh như ngọc”, “bến sông trăng”, “chở trăng”.

3. Tóm lược nội dung chính.

Đây là cách trích dẫn dẫn chứng theo hình thức gián tiếp và khá phổ biến trong văn nghị luận, người viết chỉ dẫn ý của câu thơ, câu văn, lời nói, tóm lược nội dung câu chuyện… và không cần đặt trong ngoặc kép để đưa vào văn nghị luận.

Ví dụ: Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Ban đầu hắn chửi trời, rồi hắn chửi đời, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng không ai đáp lời thằng say rượu. Tức mình, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đến cuối cùng hắn đau đớn, hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.

IV. Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả

Để sử dụng dẫn chứng hiệu quả trong bài nghị luận văn học, người viết cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản theo trình tự logic. Trước hết là chọn lọc dẫn chứng: không phải chi tiết nào trong tác phẩm cũng có giá trị như nhau, vì vậy cần ưu tiên những chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa, có khả năng làm nổi bật trực tiếp luận điểm. Việc ghi nhớ có chọn lọc các “chi tiết đắt giá” sẽ giúp bài viết chủ động và chính xác hơn.

Tiếp đó, dẫn chứng phải đảm bảo tính chính xác. Khi trích dẫn cần đúng từ ngữ, đúng nội dung; nếu không nhớ nguyên văn, có thể diễn đạt lại nhưng vẫn phải giữ đúng ý nghĩa cốt lõi. Sự sai lệch trong dẫn chứng sẽ làm giảm độ tin cậy của lập luận.

Bên cạnh đó, việc đưa dẫn chứng cần theo trình tự hợp lí: có lời dẫn để giới thiệu, nêu dẫn chứng ngắn gọn, và quan trọng nhất là phân tích. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi được phân tích rõ ràng nhằm làm sáng tỏ luận điểm; nếu chỉ nêu mà không phân tích, bài viết sẽ trở nên kể lể, thiếu chiều sâu.

Trong quá trình phân tích, cần kết hợp nội dung và nghệ thuật, không chỉ chỉ ra ý nghĩa mà còn làm rõ cách tác giả thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ hay biện pháp tu từ. Đồng thời, cần sử dụng dẫn chứng với số lượng hợp lí: chọn ít nhưng tiêu biểu và tập trung phân tích sâu để tránh lan man.

Ngoài ra, có thể liên hệ mở rộng ở mức độ vừa phải với tác phẩm khác hoặc đời sống để tăng chiều sâu, nhưng vẫn phải đảm bảo trọng tâm là dẫn chứng từ tác phẩm chính.

Tóm lại, sử dụng dẫn chứng hiệu quả đòi hỏi người viết phải biết chọn đúng, trích đúng, đưa đúng và phân tích sâu. Khi đó, bài văn nghị luận sẽ trở nên chặt chẽ, thuyết phục và có giá trị cao.

IV. Một số dẫn chứng nghị luận văn học về thơ

A. Nhận định chung về thơ ca

Chủ đề: Nét đẹp của một bài thơ

1. “Thơ chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy.”

(Tố Hữu)

2. “Thơ ca bắt đầu khi một người dạo bước trên đồng cỏ hay ra ngoài cửa hang, ngước lên trời với niềm kinh ngạc và thốt lên. “Ôi!” - đó là bài thơ đầu tiên.”

(Lucille Clifton)

3. “Mỗi bài thơ của chúng ta

Phải như một ô cửa

Mở tới tình yêu.”

(Lưu Quang Vũ)

4. “Cái kết tinh của mỗi vần thơ và muối bể

Muối lắng ở ô nề, thơ đọng ở bể sâu”

(Chế Lan Viên)

5. “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới

cuộc sống”

(Nguyễn Đình Thi)

6. “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa.”

(Xuân Diệu)

7. “Những chiếc bình đẹp nhất

Nặn từ đất đá bình thường

Như câu thơ đẹp nhất

Từ những chữ bình thường ...”

(Raxun Gamzatop)

9. “Thời gian hủy hoại các lâu đài, nhưng lại làm giàu những vần thơ.”

(Jorge Luis Borges)

10. “Nghệ thuật chỉ làm ra những vần thơ khéo léo, còn trái tim mới làm nên tác phẩm thi ca”

(V.Huygo)

11. Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ

Để thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.

(Nhà thơ Nga Maiacốpxki)

12. “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó

hoàn thiện từ bên trong.”

(R.Tagore)

13. “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời.”

(Tố Hữu)

14. “Vào thơ hay, dù là điệu kiên cường hay làn êm ái đều là vào thế giới của cái đẹp.”

(Lê Trí Viễn)

15. “Thơ là bó đuốc đốt thiêu, là bàn tay thắp lửa.”

(Lưu Quang Vũ)

16. “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài.”

(Xuân Diệu)

17. “Thơ cần có hình cho người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và cần có tình để rung động trái tim.”

(Chế Lan Viên)

Chủ đề: Thơ trong mối quan hệ với hiện thực

1. “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi.

Còn một nữa cho mùa thu làm lấy.

Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá.

Nó không là anh nhưng nó là mùa thu.”

(Sổ tay thơ - Chế Lan Viên)

2. “Nhà thơ, đối với vũ trụ nhân sinh, nên bước vào bên trong, mà lại nên đi ra bên ngoài. Bước vào bên trong mới có thể viết được. Đi ra bên ngoài mới có thể quan sát được. Bước vào bên trong mới có sinh khí. Đi ra bên ngoài mới đạt cao siêu.”

(Khâu Chấn Thanh)

3. “Văn học không phải chỉ là trò chơi, là câu chuyện phiếm. Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều. Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông. Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kì lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được.”

(Lê Quý Đôn)

4. “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.”

(Sóng Hồng)

5. “Mỗi câu thơ là một lần lặn vào trang giấy

Lặn vào cuộc đời

Rồi lại ngoi lên.”

(Chế Lan Viên)

6. “Thơ là rượu của thế gian.”

(Huy Trực)

7. “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật.”

(Bielinxki)

8. “Cuộc sống là cánh đồng màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi.”

(Puskin)

9. “Thời gian hủy hoại các lâu đài, nhưng lại làm giàu những vần thơ.”

(Jorge Luis Borges)

10. “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc.”

(Bằng Việt)

11. “Hãy bắt đầu từ cuộc sống, từ đó sẽ nảy ra thơ.”

(Nguyễn Văn Thạc)

12. “Đụng chạm với cuộc sống hằng ngày tâm trạng nảy lên bao nhiêu hình ảnh như lúc búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm lặt những tia sáng ấy, kết thành một bó sáng. Đó là hình ảnh thơ.”

(Nguyễn Đình Thi)

Chủ đề: Tình cảm, cảm xúc trong thơ

1. “Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng.”

(Raxun Gamzatop)

2. “Thơ ca là sự bộc phát của những tình cảm mãnh liệt.”

(William Wordsworth)

3. “Thơ là người thư ký chân thành của trái tim.”

(Đuybralay)

4. “Thơ phát khởi trong lòng người ta.”

(Lê Quý Đôn)

5. “Nghệ thuật chỉ làm ra những vần thơ khéo léo, còn trái tim mới làm nên tác phẩm thi ca.”

(V.Huygô)

6. “Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm.”

(Voltaire)

7. “Chim ưng bay ngược gió, cá bơi ngược dòng. Nhà thơ làm thơ khi đón nhận những cảm xúc mạnh mẽ, những cảm xúc nhiều khi không phải niềm vui sướng mà là nỗi đau.”

(R. Gamtatov)

8. “Thơ là sự hiện thân cho những gì thần kín nhất của con người và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người, và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên.”

(Lamactin)

9. “Văn xuôi lôi cuốn người đọc như dòng nước đưa ta đi lần lượt từ điểm này đến điểm khác. Thơ trái lại chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì tất cả động lên theo.”

(Nguyễn Đình Thi)

10. “Thơ là bức họa để cảm nhận thay vì để ngắm”

(Leonardo De Vinci)

11. “Nhà thơ không như kì họa dị thảo trồng trong chậu cảnh, đem ra triển lãm một hai tuần. Nhà thơ như cây tùng bách mà sự trưởng thành đồng hởi có nhiều thời gian, qua bao thử thách sương tuyết. Thi ca giống như rượu ngon phải được ủ trong hầm nhiều chục năm thì hương vị mới đắm say mặn mà”

(Trần Đình Sử trích dẫn một nhà thơ Trung Quốc)

12. “Tôi là người đầu tiên làm cho thơ ca rời khỏi núi Parnasse, tôi đã tặng cho cái gọi là nàng thơ không phải cây đàn li–a 7 dây quy ước, mà là những thớ của trái tim con người, bị xúc cảm do những rung động của tâm hồn và của thiên nhiên”

(Lamactin)

13. “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái gì đó hoàn thiện từ bên trong.”

(R.Tagore)

14. “Thơ là ảnh, là nhân ảnh. Thơ cũng ở loại cụ thể, hữu hình. Nhưng nó khác với cái hữu hình của văn. Cùng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình, nó thức dậy được những vô hình bao la và điệp mãi lên trong ta một tâm hồn sứ điệp”

(Nguyễn Tuân)

15. “Hãy hát lên mỗi khi tâm hồn anh là một sợi dây đàn”

(Platon)

16. “Dầu theo con đường nào, một nhà thơ cũng phải cúc cung tận tụy đem hết tâm trí, dìu mài và lao động chữ, biến ngôn ngữ công cộng thành ngôn ngữ đặc sản độc nhất làm phong phú cho tiếng mẹ như một lão bậc trung thành của ngôn ngữ.”

(Lê Đạt)

17. “Thơ là một tiếng nói ly khai chống lại sự lãng phí từ ngữ và sự thừa thãi điên rồ của chữ in.”

(Laurena Folinghetti)

18. “Những chữ xơ xác nhất mà chúng ta đã nói đến cạn cùng, mất sạch tính chất hình tượng đối với mỗi chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương”

(Paustovsky)

19. “Đừng lo đi tìm ngôn ngữ. Cảm xúc sẽ tự chọn ngôn ngữ của mình”

(Xuân Quỳnh)

20. “Nếu tự anh phải dằn vặt khổ sở để làm được một bài thơ thì anh sẽ cảm thấy quyện từng chữ, từng dấu phẩy trong đó”

(R. Gamtatov)

21. “Thơ là cái đó: sự im lặng giữa các từ. Nếu người ta lắng nghe cái im lặng đó, thì có những tiêng dội rất đa dạng và tinh tế”

(Tố Hữu)

22. “Thơ có chỗ khả giải, bất khả giải, bất tất giải, giống như hoa dưới nước, trăng trong gương, không cần câu nệ tới dấu tích.”

(Tạ Trân)

23. “Chữ trong thơ và văn xuôi tuy giống nhau về hình thức nhưng khác nhau về hóa trị.”

(Valery)

24. “Thi nghi đạm bất nghi nồng, nhiên tất tu nồng hậu chi đạm” (Thơ thích đạm hơn thích nồng, nhưng phải là sự đạm sau khi đã nồng)

(Viên Mai)

Chủ đề: Ngôn ngữ thơ

1. “Thơ là nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm cứu cánh.”

(Jakobson)

2. “Thơ là thơ, đồng thời là họa, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng.”

(Sóng Hồng)

3. “Chữ bầu lên nhà thơ.”

(Lê Đạt)

4. “Phải phí tốn nghìn cân quặng chữ

Mới thu về một chữ mà thôi

Nhưng chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài.”

(Mai-a-cốp-xki)

5. “Thơ là hùng biện du dương.”

(Voitaired)

6. “Âm điệu là cỗ xe chuyên chở điệu hồn thi phẩm.”

(Hoàng Cầm)

7. “Những chữ xơ xác nhất là chúng ta nói đến cạn cùng, mất sạch tính hình tượng đối với chúng ta, những chữ ấy trong thơ ca lại lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa hương.”

(Pautopsky)

Chủ đề: Sự sáng tạo trong thơ

1. “Thi ca là cái bóng được chiếu bởi những ngọn đèn đường của trí tưởng tượng.”

(Lawrence Ferlinghetti)

2. “Làm thơ quý nhất là lật đổ cái án cũ mới hay.”

(Viên Mai)

3. “Mỗi công dân đều có một dạng vân tay.

Mỗi nhà thơ thứ thiệu đều có một dạng vân chữ

Không trộn lẫn.”

(Lê Đạt)

4. “Thơ đòi cô đúc để rồi trong một phút nổ ra như tiếng sét.

Thơ không có trí tưởng tượng như bể cạn hết nước.”

(Chế Lan Viên)

5. “Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể.”

(Xuân Diệu)

6. “Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa nơi từ ngữ. Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo. Hạt ngọc mới nhất của mình tìm được do phong cách riêng của mình mà có.”

(Tô Hoài)

7. “Thơ là lửa và sáng tác của nhà thơ là sự cháy lên.”

(R. Gamtatov)

Chủ đề: Vai trò của thơ ca

1. “Thơ ca, nếu không có người tôi đã mồ côi.”

(Raxun Gamzatop)

2. “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh.”

(Chế Lan Viên)

3. “Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước mộ bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện với những vùng trời tốt đẹp hơn, nhân tính hơn.”

(Lê Đạt)

B. Nhận định hay về phong cách một số nhà thơ

Chủ đề: Tố Hữu

1. “Thơ là đi giữa nhạc và ý. Rơi vào vưc ý, thơ rất ăn sâu nhưng dễ khô khan. Rơi vào vực nhạc dễ say đắm lòng người nhưng dễ nông cạn. Tố Hữu là nhà thơ giữ thế quân bình giữa hai lưu vực ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, thức người trong ý.”

(Chế Lan Viên, Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu)

2. “Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ.”

(Xuân Diệu)

3. “Một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng, tự nó cũng là ánh sáng, lại hết sức linh hoạt và uyển chuyển, mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác, kể cả những lúc chỉ là sự im lặng giữa các dòng thơ. Phải chăng đây chính là bản sắc riêng của thơ Tố Hữu.”

(Hoài Thanh)

4. “Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo. Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực. Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ.”

(Hoàng Trung Thông)

5. “ Sức mạnh của thơ Tố Hữu trong những ngày tháng đen tối ấy, chính là vì nó nói với trái tim, chính là bởi người cách mạng ấy là một thi sĩ chính cống, thực sự.”

(Xuân Diệu)

6. “Tôi đã phải lòng đất nước và nhân dân khi nói về nhân dân, đất nước tôi như đang nói với người đàn bà mình yêu.”

(Tố Hữu)

7. “Cảnh vật và tinh thần Việt Bắc đã nhập vào hồn tôi, máu thịt tôi, Việt Bắc ở trong tôi.”

(Tố Hữu – Nhà văn nói về tác phẩm)

8. Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên.

(Xuân Diệu – Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu)

9. “Lịch trình tiến triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu. Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng. Người Tố Hữu là một thi sĩ, một chiến sĩ nhưng chúng ta đừng quên cốt cách của nó là thi sĩ.”

(Lời giới thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946)

10. “Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo. Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực. Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ.”

(Chặng đường mới của chúng ta, 1961, Hoàng Trung Thông)

11. “Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng. Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ ca.”

(Lời giới thiệu tập thơ Từ ấy, Văn học, 1959, Đặng Thai Mai)

12. “Thơ Tố Hữu là thơ một con người biết trân trọng lấy đời mình, muốn làm cho đời mình trở nên hữu ích. Vậy thì ai kia còn phung phí đời mình, làm gì cũng được, sống sao cũng xong, trong khi đọc thơ này hãy bắt đầu thử dừng lại mà biết quý lấy đời mình, mà đem xây dựng nó.

Phong cách dân tộc ở Tố Hữu thể hiện ở chỗ thơ anh giàu chất nhạc, anh nắm rất vững cái âm điệu, vần điệu của dân tộc.

…Thơ anh là lối thơ lấy cái đường đi toàn đời, lấy cái hơi toàn tập, lấy cái tứ toàn bài là chính… Anh là một con chim vụ ở đường bay hơn là bộ lông, bộ cánh, tuy vẫn là lông cánh đẹp.”

(Lời nói đầu cho tuyển tập 1938 – 1963 của Tố Hữu, Văn học, 1964, Chế Lan Viên)

13. Nhà thi sĩ ấy tự muốn mình là tiếng nói của dân tộc mình. Vậy thì dân tộc ấy có năng khiếu thơ thông qua nhà thi sĩ. Các dân tộc hiện đại, đã công nghiệp hóa rồi, đã bị san phẳng bởi những phương tiện tuyên truyền, không còn có một năng khiếu về hình tượng như thế nữa; không còn suối nguồn ở bản thân mình nữa. Nhưng Tố Hữu đắm mình trong dân tộc của mình, đồng thời là một thi sĩ độc đáo, một nhà sáng tạo ra các hình thể. Người ta càng cảm thấy điều đó rõ hơn khi anh nói một cách rất hay về thơ.

(Lời tựa tập thơ Máu và hoa, xuất bản ở Pháp, năm 1975, Pierre Emmanuel)

14. Thơ của chàng thanh niên Tố Hữu khi ấy từ trái tim vọt ra cũng như thơ của chúng tôi, cũng lãng mạn như thể chúng tôi, nhưng là thứ lãng mạn khác, có nhiều máu huyết hơn; thơ chúng tôi chỉ đập cho mở cửa trời, nhưng thơ Tố Hữu thì mới có chìa khóa: Cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng cho người lao khổ.

(Tố Hữu với chúng tôi, 1975, Xuân Diệu)

15. Một tiếng nói yêu thương luôn luôn chan hòa ánh sáng, tự nó cũng là ánh sáng, lại hết sức linh hoạt và uyển chuyển, mỗi lúc một khác, mỗi nơi một khác, kể cả những lúc chỉ là sự im lặng giữa các dòng thơ. Phải chăng đây chính là bản sắc riêng của thơ Tố Hữu.

(Chuyện thơ, 1978, Hoài Thanh)

16. Thơ Tố Hữu bao giờ cũng mới, càng ngày càng mới, vì nó thể hiện thế giới quan cách mạng của chủ nghĩa Mác, hệ tư tưởng vô sản, đạo đức cộng sản chủ nghĩa là những tư tưởng càng ngày càng trở thành cách nhìn, nếp sống phổ biến của những con người mới của thời đại.

(Bình luận văn học, 1964, Như Phong)

Chủ đề: Quang Dũng

1. “Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng… Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.”

(Nguyễn Đăng Điệp)

2. “Hay đến nỗi ta không khỏi ngạc nhiên mà nghĩ rằng tại sao trong những ngày đầu non nớt của nền thơ ca kháng chiến và cách mạng mà chúng ta lại có được một tác phẩm thơ tuyệt diệu đến thế, kinh điển đến thế mà cũng hiện đại đến thế.”

(Nhà thơ Anh Ngọc)

3. “Nhà thơ Quang Dũng độc đáo một cách hồn nhiên, ông cứ sống tự nhiên như chim trên trời, cá dưới nước mà thành độc đáo. Bài thơ “Tây Tiến” hội tụ được cả cái bi, cái tráng của thời đại. Cái buồn lãng mạn của người tiểu tư sản, tiểu trí thức do biết mình được đón nhận một chân lý lớn nhưng cũng đồng thời đón nhận một gian nan lớn.”

(Nhà thơ Vân Long)

Chủ đề: Xuân Quỳnh

1. “Ở đó trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn báo bão cứ chao đi chao về, mệt nhoài giữa biến động và yên định, bão tố và bình yên, chiến tranh và hòa bình, thác lũ và êm trôi, tình yêu và cách trở, ra đi và trở lại,chảy trôi phiêu bạt và trụ vững kiên gan, tổ ấm và dòng đời, sóng và bờ, thuyền và biển, nhà ga và con tàu, trời xanh và bom đạn, gió Lào và cát trắng, cỏ dại và nắng lửa, thủy chung và trắc trở, xuân sắc và tàn phai, ngọn lửa cô đơn và đại ngàn tối sẫm.”

(Chu Văn Sơn)

2. “Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả tình yêu. Chị quanh co không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị. Thành thật, đây là cốt lõi thơ Xuân Quỳnh.”

(Võ Văn Trực)

3. “Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở.”

(Trần Đăng Suyền)

4. “Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu thường để lại nhiều ấn tượng hơn cả. Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự nhiên, bài “Sóng” thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong giấc mơ. Dù có những gian truân cách trở, nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đến được tận cùng hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với bờ.”

(Nhà thơ Việt Nam hiện đại, GS Phong Lê chủ biên, Viện Văn học, Nxb KHXH, 1984)

5. “Sóng không chỉ là tên một thi phẩm đã gây xốn xang cho nhiều thế hệ bạn đọc. Sóng không chỉ là biểu trưng cho một hồn yêu chưa từng nguội yên. Sóng còn là một nguồn sống, nguồn năng lượng mà nữ thi sĩ ấy đã truyền lại cho thế hệ sau qua mỗi tiếng thơ của mình. Và, lâu nay, lòng thơ của chúng ta, người mờ người tỏ, người đang yêu, người đã yêu, đều từng thầm thu thầm phát thứ sóng đặc biệt ấy: Đó chính là Sóng Xuân Quỳnh.”

(T.S Chu Văn Sơn)

Xem thêm các Dẫn chứng Nghị luận văn học hay, chọn lọc khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học