15+ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang (siêu hay)
Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Khu du lịch Tân Trào (mẫu 1)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Khu du lịch Tân Trào (mẫu 2)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Cột Cờ Lũng Cú (mẫu 3)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Cột Cờ Lũng Cú (mẫu 4)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Đình Hồng Thái (mẫu 5)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Dinh Thự Vua Mèo (mẫu 6)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Hồ Sinh Thái Na Hang (mẫu 7)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Thác Bản Ba (mẫu 8)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Đền Hạ (mẫu 9)
- Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang (các mẫu khác)
15+ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang (siêu hay)
Dàn ý Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang
I. Mở bài
- Giới thiệu khái quát về Tuyên Quang:
+ Vùng đất giàu truyền thống lịch sử, cách mạng.
+ Nổi tiếng với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, sông núi hữu tình.
- Dẫn vào một danh lam thắng cảnh tiêu biểu (có thể chọn)
- Nêu khái quát vẻ đẹp và giá trị của địa danh được chọn.
II. Thân bài
1. Vị trí địa lý
- Nằm ở đâu trong tỉnh Tuyên Quang.
- Khoảng cách từ trung tâm thành phố.
- Đặc điểm địa hình: núi non, sông suối, rừng cây.
2. Nguồn gốc – lịch sử hình thành
- Có từ khi nào (nếu có truyền thuyết thì nêu).
- Gắn với thiên nhiên hay lịch sử địa phương.
- Ý nghĩa tên gọi của địa danh.
3. Cảnh quan – vẻ đẹp tự nhiên
- Miêu tả tổng thể: Núi non hùng vĩ / hồ nước rộng / hang động kỳ thú…
- Các chi tiết nổi bật: Thác nước, rừng nguyên sinh, hang động, dòng sông…
- Khung cảnh bốn mùa (nếu phù hợp).
- Cảm nhận vẻ đẹp: thơ mộng, hoang sơ, hùng vĩ, bình yên…
4. Giá trị văn hóa – lịch sử
- Gắn với truyền thuyết, nhân vật lịch sử (nếu có).
- Giá trị tâm linh hoặc văn hóa cộng đồng.
- Vai trò trong đời sống người dân địa phương.
5. Giá trị du lịch
- Là điểm du lịch nổi tiếng của Tuyên Quang.
- Thu hút khách trong và ngoài nước.
- Hoạt động du lịch: tham quan, chèo thuyền, tắm suối, khám phá…
III. Kết bài
- Khẳng định lại vẻ đẹp và giá trị của danh lam thắng cảnh.
- Nêu cảm nghĩ: Tự hào về thiên nhiên quê hương; Ý thức giữ gìn, bảo vệ cảnh quan.
- Liên hệ: trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc phát triển du lịch bền vững.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Khu du lịch Tân Trào - mẫu 1
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa
Nơi ký ức sống động, hào hùng thắm thiết của Cách mạng Tháng Tám luôn hiện hữu trong từng góc nhỏ của Khu di tích lịch sử Tân Trào. Đây không chỉ là một khu di tích lịch sử thông thường, mà là hệ thống di tích lịch sử cách mạng quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ 20. Tại đây, những dấu ấn của cuộc giải phóng vĩ đại mà chúng ta gọi là Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là sự hào hứng, mà còn là niềm tự hào của mỗi người con Việt Nam.
Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, tọa lạc trên địa bàn 11 xã của Tuyên Quang, không chỉ là nơi ghi chép về quá khứ, mà còn là nguồn động viên không ngừng cho tương lai. Với 138 di tích và cụm di tích, trong đó có những địa danh như đình Hồng Thái, lán Nà Nưa, đình Tân Trào, cây đa Tân Trào và cụm di tích ATK Kim Quan, nơi này không chỉ là những điểm đến của du khách mà còn là "trường học" lịch sử không giới hạn.
Trong thời kỳ Tổng khởi nghĩa năm 1945, Tân Trào được chọn làm "Thủ đô Khu giải phóng" - nơi chứa đựng những quyết định quan trọng về vận mệnh của dân tộc. Đây là nơi diễn ra các sự kiện quyết định như Khai mạc Quốc dân Đại hội tại đình Tân Trào, biểu hiện quyết tâm hưởng ứng chủ trương Tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã làm Chủ tịch của Ủy ban Giải phóng dân tộc tại đây, đánh dấu bước ngoặt lịch sử quan trọng của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do.
Không chỉ là nơi ghi nhận những trận đánh, những cuộc họp quan trọng, Tân Trào còn chứa đựng những kỷ niệm sâu đậm về Bác Hồ - vị cha già kính yêu của dân tộc. Đây không chỉ là nơi "đỏ" của lịch sử, mà còn là nơi "xanh" của giáo dục, nơi hồi sinh tinh thần yêu nước, lòng đoàn kết và lòng trung hiếu của người Việt Nam.
Khu di tích lịch sử Tân Trào không chỉ là di sản văn hoá quý báu của Tuyên Quang, mà còn là niềm tự hào của cả quốc gia. Đây là nơi chúng ta nhớ về quá khứ, tôn vinh hiện tại và hướng tới tương lai. Sự kiện xếp hạng Khu di tích lịch sử Tân Trào là di tích quốc gia đặc biệt đã thêm phần tôn vinh giá trị vô song của nó. Đây không chỉ là nơi lưu giữ di sản lịch sử, mà còn là nơi truyền đạt những giá trị về lòng yêu nước, lòng trung hiếu và lòng đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy di sản văn hoá này, để chúng ta luôn tự hào với quá khứ và hứng khởi với tương lai của đất nước.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Khu du lịch Tân Trào - mẫu 2
Trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam, có những địa danh đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập. Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào là một trong những nơi như thế. Nằm trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, Tân Trào không chỉ là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng mà còn được xem là “Thủ đô Khu giải phóng”, “Thủ đô Kháng chiến” trong những năm tháng hào hùng của dân tộc. Việc tìm hiểu và thuyết minh về khu di tích này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử, đồng thời bồi đắp niềm tự hào và ý thức trách nhiệm đối với đất nước.
Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào thuộc địa bàn hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, với diện tích bảo vệ khoảng 6.633 ha và hệ thống hơn 138 di tích lớn nhỏ. Nơi đây từng là trung tâm đầu não của cách mạng Việt Nam trong Cách mạng tháng Tám năm 1945 và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1947–1954. Với những giá trị đặc biệt, Tân Trào đã được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Về vị trí địa lý, Tân Trào nằm trong vùng đồi núi thấp, được bao bọc bởi rừng rậm và các dãy núi hiểm trở, tạo thành một “pháo đài tự nhiên” vững chắc. Hệ thống sông suối, đặc biệt là sông Phó Đáy, cùng các đường mòn xuyên rừng giúp việc liên lạc và vận chuyển thuận lợi. Chính điều kiện địa lý này đã góp phần quan trọng để Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn Tân Trào làm căn cứ địa cách mạng, hội tụ đầy đủ các yếu tố thuận lợi về thời cơ, địa thế và lòng dân.
Ngày 21 tháng 5 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pác Bó về Tân Trào, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Từ đây, Tân Trào trở thành trung tâm chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám, mở ra bước ngoặt lịch sử trọng đại của dân tộc.
Trong quần thể di tích, nhiều địa danh tiêu biểu mang giá trị lịch sử sâu sắc. Lán Nà Nưa là nơi Bác Hồ ở và làm việc trong thời kỳ tiền khởi nghĩa. Dù điều kiện sống hết sức giản dị, Người đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và ý chí kiên cường. Đình Tân Trào là nơi diễn ra Quốc dân Đại hội vào tháng 8 năm 1945, thông qua những quyết sách lớn của cách mạng, lựa chọn Quốc kỳ và Quốc ca, đặt nền móng cho nhà nước Việt Nam mới. Cây đa Tân Trào là nơi diễn ra lễ xuất quân của Quân giải phóng, đánh dấu bước khởi đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Bên cạnh đó, đình Hồng Thái và các cụm di tích cơ quan Trung ương cũng góp phần tạo nên một hệ thống căn cứ địa hoàn chỉnh, phục vụ hiệu quả cho công cuộc kháng chiến.
Không chỉ có giá trị về mặt lịch sử, Tân Trào còn mang ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục truyền thống. Đây là nơi lưu giữ những bài học quý báu về tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường và lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam. Những hình ảnh giản dị nơi lán Nà Nưa hay không khí trang nghiêm tại đình Tân Trào giúp mỗi người hiểu rõ hơn giá trị của độc lập, tự do.
Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là minh chứng sống động cho một thời kỳ đấu tranh oanh liệt. Việc tìm hiểu và gìn giữ giá trị của di tích không chỉ giúp chúng ta tri ân quá khứ mà còn nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hiện tại và tương lai.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Cột Cờ Lũng Cú - mẫu 3
Lũng Cú, mảnh đất địa đầu cực bắc Tổ quốc, là vùng đất của chè Shan, rượu mật ong và thắng cố, của những nét văn hoá truyền thống đặc sắc các dân tộc Mông, Lô Lô, Giáy. Từ trung tâm thị xã Hà Giang vượt qua gần 200 km, du khách sẽ tới Lũng Cú thuộc xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, vùng đất địa đầu cực bắc của Tổ quốc.
Tên gọi Lũng Cú có nhiều giả thiết: Long Cư (rồng ở, động rồng), Lũng Ngô (bởi cánh đồng Thèn Pả trồng nhiều ngô), lại có giả thiết: Lũng Cú là tên người đứng đầu một dòng họ dân tộc Lô Lô, có công khẩn hoang, gìn giữ và phát triển vùng đất. Nhưng nhiều người cho rằng: Lũng Cú có lẽ bắt đầu từ chữ Long cổ (Long-, rồng; cổ: trống) nghĩa là trống rồng. Thời phong kiến rồng tượng trưng cho vua, trống rồng là trống của nhà vua. Theo lời kể của các cụ cao tuổi ở Lũng Cú, trước đây đồng bào Là Lô có phong tục may sắm quần áo đúng kiểu của dân tộc Lô Lô ở Lũng Cú để mặc cho người qua đời, như thế tổ tiên mới nhận.
Hiện nay đồng bào Lô Lô ở Lũng Cú cũng như ở Mèo Vạc (Hà Giang) đều sử dụng thành thạo trống đồng trong việc tang. Trống đồng của đồng bào Lô Lô có nguồn gốc từ trống đồng Đông Sơn, như vậy Lũng Cú còn bảo lưu được những hiện vật lịch sử, văn hoá quý giá tiêu biểu rực rở của thời Hùng Vương. Theo sử sách vào thời Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung đã cho đặt ở nơi biên ải hiểm trở này một chiếc trống lớn, thời đó tiếng trống là phương tiện thông tin nhanh nhất, vị trí đặt trống của nhà vua, có lẽ là trạm biên phòng tiền tiêu Lũng Cú bây giờ...
Xã Lũng Cú bao gồm chín thôn, bản: Lô Lô Chải, Séo Lủng, Tả Giá Khâu, cẳn Tằng, Thèn Ván. Thèn Pả, Sì Mần Khan, Sán Chồ, Sán Sà Phin, tất cả ở độ cao trung bình từ 1.600 - 1.800 mét so với mặt nước biển, ở những địa danh này vào mùa đông, gần đây nhất vào đầu tháng 1 - 2003 thời tiết rất lạnh và có cả tuyết rơi. Trong số chín thôn, bản của Lũng Cú thì Séo Lủng thuộc phần đất thượng cùng cực bắc nhưng phải đi bộ mất 15 phút mới tới cột mốc 17 đoạn 3 (Hà Giang - Vân Nam phân chia từ đời Mãn Thanh năm 1887), đây mới chính là mỏm đất tột bắc. Phía trái thung lủng Thèn Ván thăm thẳm, rộng khoảng 50ha, bên phải là đầu nguồn sông Nho Quế, bắt nguồn từ Mù Cảng - Vân Nam - Trung Quốc đổ về Đồng Văn, Mèo Vạc, núi non trùng điệp hùng vĩ vào bậc nhất đất nước... Khi nói về nước Việt Nam liền một dải, người ta hay nêu từ Trà cổ (Quầng Ninh) đến Cà Mau (nếu tính theo bờ biển), hoặc từ Mục Nam Quan (Lạng Sơn) đến Cà Mau (nếu tính theo trục đường quốc lộ), hoặc từ Lũng Cú đến Cà Mau (nếu tính theo giới hạn của vĩ độ). Nếu kể đến địa danh hẹp, chi li hơn phải nói từ xóm Séo Lủng đến xóm mũi Rạch Tàu...
Là vùng quê lâu đời của đồng bào dân tộc Mông và Lô Lô, Lũng Cú có diện tích tự nhiên: 3.460 ha có 503 hộ với 3.051 nhân khẩu, Lũng Cú có đường biển giáp với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hơn 16km. Bà con dân tộc ở Lũng Cú canh tác chủ yếu là nương rẫy và làm ruộng bậc thang, nổi bật là đồng bào dân tộc Mông, Lô Lô vẫn bảo tồn nghề dệt truyền thống, với các công đoạn làm sợi lanh, dệt vải. Những năm trước đây, mỗi khi nhắc tới Lũng Cú - Đồng Vân, hình,ảnh mà du khách nhớ nhiều nhất là đường giao thông xuyên qua những dãy núi cheo leo, phương tiện đi lại khó khăn, mùa đông trời lạnh buốt và cuộc sống còn khó khăn của bà con dân tộc. Ngày nay, dưới ánh sáng đường lối đổi mới, với những chính sách, sự đầu tư kịp thời của Nhà nước đối với đồng bào các dân tộc ít người vùng cao nói chung và bà con dân tộc ít người ở Lũng Cú nói riêng thì Lũng Cú đã có nhiều đổi thay. Từ năm 2001, con đường từ Đồng Văn lên Lũng Cú đã dược nâng cấp, trải nhựa phẳng phiu, dòng điện quốc gia đã thắp sáng mảnh đất địa đầu Lũng Cú và cột cờ Tổ quốc được dựng lên trên đỉnh núi Rồng, trông xa như một ngọn tháp, có hình dáng cột cờ Hà Nội, cao gần 209 mét. Chân bệ có sáu mặt phù điêu mang nét hoa văn của trống đồng Đông Sơn, lá cờ Tổ quốc tung bay, kiêu hãnh giữa bầu trời biên cương, như ngọn lửa bất diệt, in bóng xuống mặt hồ Lô Lô xanh biếc. Lưng chừng núi Rồng có hang Sì Mần Khan rộng đẹp, hấp dẫn, hàng triệu năm tạo sơn, hay chính bàn tay nghệ nhân thời tiền sử tạo nên những đường nét mê hồn nhưng chính Lũng Cú thu nhỏ vào từng vân đá...
Mùa xuân đến, mời du khách lên Hà Giang, tới thăm Lũng Cú, vượt qua 500km từ Hà Nội theo quốc lộ số 2 và quốc lộ 4C, qua cao nguyên đá Đồng Văn với thời gian hai ngày là du khách có thể đến với Lũng Cú, mảnh đất địa đầu cực bắc của Tổ quốc, nơi vẫn bảo tồn những nét văn hoá truyền thống, vùng đất có chè Shan, rượu mật ong và thắng cố, xứ sở của đào phai, hoa lê, tuyết trắng và náo nhiệt trong buổi chợ phiên. Du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành, lắng nghe tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông say quyến rũ tình người, tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa nồng (lượm men say của rượu ngô... du khách dễ gì quên, dẫu chỉ một lần đến.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Cột Cờ Lũng Cú - mẫu 4
Cột cờ Lũng Cú tỉnh Hà Giang là nơi ghi dấu cực Bắc Việt Nam, một trong những điểm đến thiêng liêng của Tổ quốc, được nhiều du khách mong muốn ghé thăm trong hành trình khám phá Cao nguyên đá Đồng Văn kỳ vĩ.
Cột cờ này đã có từ rất lâu đời. Sử sách truyền rằng, sau khi đẩy lùi quân xâm lược phương Bắc sang tận Ung Châu, tướng quân Lý Thường Kiệt trở về qua biên ải hội quân, ông cắm một lá cờ trên đỉnh núi Rồng và nói đại ý: Đất này là của cha ông ta. Nơi đây là máu thịt của Tổ quốc, chúng ta phải giữ gìn.
Đến thời Tây Sơn, sau đại thắng quân Thanh, vua Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng lớn tại đây và cứ mỗi canh giờ lại gióng lên ba hồi vang xa như lời khẳng định chủ quyền đất nước. Vì thế Lũng Cú còn hàm ý “Long Cổ” nghĩa là trống của vua. Còn theo tiếng Mông nghĩa là “Long Cư” nơi cư ngụ của rồng.
Năm 1978, đồn biên phòng Lũng Cú dựng một cột cờ cao trên 10m bằng gỗ sa mộc, treo lá cờ 1,2m².
Năm 1991, nhận được chỉ đạo từ trên, nhân dân các dân tộc Lô Lô, Mông, Dao ở Lũng Cú đã đi khắp các vùng rừng núi để tìm cho được 1 cây Pơ mu cao gần 13m, thân thẳng đứng như mũi tên hướng lên trời kiêu dũng, rồi gần 20 trai tráng đã vận chuyển thân cây nặng hàng tạ để đưa lên đỉnh núi Rồng làm Cột cờ.
Cuối năm 2000, những chiếc quẩy tấu thô mộc của người dân Lũng Cú kéo lên đỉnh núi Rồng gần 2 tấn thép, 8.000 viên gạch, 70 mét khối đá và cát để xây dựng cột cờ. Khởi công vào tháng 4 năm 2001 và hoàn thành vào tháng 12. Tiếp năm 2002, đường lên Cột cờ Lũng Cú được nâng cấp, trải nhựa và xây toàn bộ các bậc đá.
Đến 2010, sau 196 ngày thi công, trùng tu nâng cấp, cột cờ Lũng Cú mới đã hoàn thành, với phần thân cột cao hơn 20m, đường kính ngoài thân rộng gần 4m. Trên cột cờ là lá cờ diện tích 54m² tượng trưng cho 54 dân tộc Việt Nam.
Cột cờ Lũng Cú được dựng theo mô hình cột cờ Hà Nội, nhưng kích thước nhỏ hơn. Về kiến trúc, cột cờ được thiết kế theo hình bát giác, chân cột cờ gắn 8 tấm phù điêu đá xanh minh họa cho các giai đoạn thời kỳ lịch sử của đất nước và các phong tục tập quán của nhân dân tỉnh Hà Giang, phía trên có gắn 8 mặt trống đồng.
Đường từ Đồng Văn lên Lũng Cú mê hoặc lòng người bởi vẻ hùng vĩ của những dãy núi đá tai mèo sừng sững. Tới nơi, từ xa đã trông thấy Cột cờ tọa lạc trên đỉnh núi Rồng có độ cao khoảng 1.700m so với mặt nước biển.
Đến chân núi Rồng, du khách tiếp tục chinh phục 389 bậc đá dẫn lên Cột cờ Lũng Cú, để rồi ngỡ ngàng trước bức tranh thiên nhiên ngoạn mục, toàn cảnh cao nguyên đá Đồng Văn trùng điệp như một kiệt tác của tạo hóa, chấm phá những bản làng mộc mạc, hay Hải Cẩu Hoàn cong cong hình chữ M ẩn hiện dưới màn sương trắng, và những thửa ruộng bậc thang uốn lượn như những hoa văn được nắn nót vẽ nên;
Cùng 2 hồ nước lớn quanh năm không cạn, nằm gần như đối xứng, được người dân nơi đây ví như “mắt rồng” gắn với truyền thuyết cổ xưa, tạo thành bức họa độc đáo. Một bên là làng Lô Lô Chải, chủ yếu là người Lô Lô; một bên là làng Thèn Pả, 100% đồng bào Mông. Họ đã sinh sống lâu đời ở đây, bản sắc văn hóa đậm đà; họ bám đất, bám làng để cấy lúa, trồng ngô xây dựng cuộc sống và bảo vệ biên cương Tổ quốc.
Nhưng đó chưa phải là điểm cao nhất, bởi trong lòng Cột cờ Lũng Cú còn có một cầu thang xoắn ốc 140 bậc. Lần theo lối đi hẹp hắt ánh sáng qua ô cửa nhỏ, du khách như bị hút lên cao theo cơn gió lộng từ trên đỉnh đầu. Vòm sáng mở rộng dần, mang theo ánh nhìn mới, cảnh vật như bị thu nhỏ lại, ẩn hiện sau màn sương bảng lảng, nhưng rõ bên tai là tiếng lá cờ đang hòa ca cùng gió, ai nấy như vỡ òa cảm xúc thiêng liêng.
Đến tham quan Cột cờ Lũng Cú Hà Giang vào mùa Xuân, đón bạn là những cánh rừng thông, sa mộc, hoa lê trắng ngần, hoa đào sắc thắm...; được nghe tiếng đàn môi tâm tình gọi bạn, tiếng khèn Mông quyến rũ và tiếng trống đồng âm vang bên bếp lửa bập bùng. Còn những tháng mùa Hạ, khung cảnh nơi đây dường như mở rộng, trời trong, mây trắng, nắng vàng như rót mật. Hay đến vào mùa Thu, để rồi mê đắm bởi sắc hương của những thảm hoa tam giác mạch ngút ngàn. Và mùa Đông, nơi đây như chìm trong lớp sương trắng, thi thoảng lại có tuyết rơi.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Đình Hồng Thái - mẫu 5
Nhắc đến “Thủ đô kháng chiến” Tân Trào, bên cạnh cây đa cổ thụ hay lán Nà Nưa, trong tâm thức mỗi người Việt Nam đều vang vọng hình ảnh mái đình Hồng Thái – nơi được ví như “trái tim” của căn cứ địa Việt Bắc. Đây không chỉ là một công trình tín ngưỡng dân gian thuần túy mà còn là chứng nhân lịch sử vĩ đại, gắn liền với những bước ngoặt lớn lao của cách mạng nước nhà trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Đình Hồng Thái (trước năm 1945 còn có tên là đình Kim Trận), tọa lạc tại thôn Cả, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, ngôi đình được xây dựng vào năm 1919 để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của bà con các dân tộc địa phương.
Về mặt kiến trúc, đình Hồng Thái mang đậm dấu ấn văn hóa của đồng bào miền núi phía Bắc. Đình được dựng hoàn toàn bằng gỗ, thiết kế theo kiểu nhà sàn truyền thống với ba gian, hai chái. Mái đình được lợp bằng lá cọ mộc mạc, hai bên đầu đao cong vút tạo nên vẻ đẹp thanh thoát, uy nghiêm nhưng vô cùng gần gũi. Phía trong đình, ba gian chính được sử dụng làm nơi thờ cúng thành hoàng làng và các vị thần linh theo phong tục địa phương, đồng thời là nơi họp bàn việc làng, giao lưu văn hóa của nhân dân.
Không chỉ nổi bật bởi vẻ đẹp kiến trúc truyền thống, đình Hồng Thái còn đi vào lịch sử dân tộc như một địa chỉ đỏ thiêng liêng. Ngày 21 tháng 5 năm 1945, sau chặng đường dài gian khổ từ Pác Bó (Cao Bằng) về xuôi để chỉ đạo phong trào cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dừng chân đầu tiên tại đình Hồng Thái. Tại đây, Người đã ở và làm việc một thời gian ngắn, mở đầu cho chuỗi ngày hoạt động cách mạng sôi nổi tại Tân Trào.
Cũng chính dưới mái đình này, nhiều sự kiện trọng đại đã diễn ra. Vào tháng 8 năm 1945, Đình Hồng Thái vinh dự là nơi đón tiếp các đại biểu trên cả nước về dự Quốc dân Đại biểu Đại hội (Tân Trào) - tiền thân của Quốc hội Việt Nam ngày nay. Đình cũng chính là trạm giao liên, trạm gác an toàn tuyệt đối, bảo vệ cho các cơ quan đầu não của Đảng và Bác Hồ trong suốt thời kỳ tiền khởi nghĩa.
Mái đình Hồng Thái, cùng với Cây đa Tân Trào, đã trở thành biểu tượng bất diệt của tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc. Hình ảnh này đã đi vào thơ ca thật đằm thắm và tự hào qua những vần thơ của Tố Hữu:
“Mình đi, có nhớ những ngày
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa...”
Trải qua thời gian và những thăng trầm của lịch sử, đình Hồng Thái ngày nay đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tu bổ, tôn tạo để bảo tồn nguyên vẹn giá trị kiến trúc và lịch sử. Nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, về nguồn không thể thiếu của du khách trong và ngoài nước mỗi khi có dịp ghé thăm Tuyên Quang.
Đứng dưới mái đình lợp lá cọ, ngắm nhìn không gian xanh mát của núi rừng chiến khu xưa, mỗi người dân Việt Nam đều không khỏi bồi hồi, xúc động và dâng trào lòng biết ơn sâu sắc đối với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Có thể khẳng định, đình Hồng Thái không chỉ là một di tích lịch sử - văn hóa đơn thuần. Mái đình ấy mãi là một biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước, là di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy giá trị của di tích đình Hồng Thái chính là góp phần giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ mai sau.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Dinh Thự Vua Mèo - mẫu 6
Mỗi vùng đất trên dải đất hình chữ S đều mang trong mình những chứng nhân lịch sử, những công trình kiến trúc kết tinh giá trị văn hóa ngàn đời. Sau cột mốc sáp nhập hành chính lịch sử, tỉnh Tuyên Quang ngày nay không chỉ là "Thủ đô kháng chiến" với chiến khu Tân Trào lịch sử mà còn dang tay đón nhận những kiệt tác hùng vĩ của vùng cao nguyên đá Đông Bắc. Trong số những di sản quý báu đó, Dinh thự Vua Mèo (hay Dinh thự họ Vương) tại huyện Đồng Văn nổi lên như một viên ngọc cổ kính, một điểm nhấn văn hóa – kiến trúc nghệ thuật độc đáo bậc nhất của tỉnh.
Dinh thự họ Vương tọa lạc giữa thung lũng Sà Phìn bao la, lọt thỏm giữa những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô, trùng điệp. Công trình gắn liền với tên tuổi và cuộc đời của hai cha con người Mông là cụ Vương Chính Đức (được suy tôn là Vua Mèo) và cụ Vương Chí Sình (người chiến sĩ cách mạng, đại biểu Quốc hội khóa I và II). Được khởi công xây dựng vào cuối thế kỷ 19 và hoàn thành đầu thế kỷ 20, dinh thự ngốn một khoản kinh phí khổng lồ lên tới 150.000 đồng bạc trắng Đông Dương thời bấy giờ. Để hoàn thành công trình bề thế này, Vua Mèo đã phải mời những toán thợ tài hoa nhất từ Vân Nam (Trung Quốc) phối hợp cùng các nghệ nhân người Mông giỏi nhất trong vùng gọt giũa từng phiến đá, thớ gỗ.
Trải rộng trên diện tích gần 3.000 mét vuông, tổng thể khu di tích được thiết kế theo một bố cục vô cùng độc đáo. Nhìn từ trên cao, toàn bộ khu nhà nằm biệt lập trên một quả đồi mang hình dáng cụ rùa (kim quy) – biểu tượng của sự trường tồn và vững chãi, với các dãy nhà xếp lại tạo thành chữ "Vương" (王) đầy quyền uy. Cấu trúc bên trong gồm 4 nhà ngang, 6 nhà dọc được chia thành ba khu vực: tiền dinh, trung dinh và hậu dinh với tổng cộng 64 gian phòng. Bao bọc xung quanh dinh thự là những hàng cây samu cổ thụ thẳng tắp, quanh năm rì rào trong gió ngàn, tạo nên một không gian vừa kỳ bí, vừa trang nghiêm.
Giá trị nghệ thuật đặc sắc nhất của Dinh thự Vua Mèo nằm ở sự giao thoa, hòa quyện đỉnh cao giữa ba nền kiến trúc: Mông, Hoa và Pháp. Vẻ đẹp mộc mạc, đậm đà bản sắc địa phương của người Mông thể hiện rõ nét qua mái ngói âm dương xám xịt nhuốm màu thời gian và lối sắp đặt không gian gần gũi với thiên nhiên. Nghệ thuật chạm khắc tinh xảo mang hơi hướng Trung Hoa được thể hiện qua các họa tiết phượng hoàng, sư tử trên bờ tường, hệ thống cửa gỗ. Đặc biệt, dấu ấn kiến trúc Pháp lại ẩn hiện đầy tinh tế thông qua các bức tường pháo đài kiên cố, các lỗ châu mai phòng thủ hay chi tiết chân cột đá được đẽo gọt uốn lượn phỏng theo hình dáng của bông hoa anh túc.
Chất liệu làm nên công trình hoàn toàn là những nguyên liệu cao cấp của tự nhiên như gỗ thông đá, đá xanh và đất nung. Từng chân cột nhà được mài bằng bạc trắng vô cùng công phu, giúp cho toàn bộ khung nhà bằng gỗ vẫn đứng vững chãi, không hề bị mối mọt suốt hơn một thế kỷ qua. Không chỉ là một nhà ở đơn thuần, dinh thự này thực chất là một pháo đài quân sự khép kín, có khả năng phòng thủ cao, giúp gia tộc họ Vương an toàn trước các biến động thời cuộc thời kỳ bấy giờ.
Bên cạnh những giá trị về mặt kiến trúc, Dinh thự họ Vương còn là một chứng nhân lịch sử vô giá. Nơi đây lưu giữ câu chuyện về lòng yêu nước của gia tộc họ Vương khi quyết tâm không thỏa hiệp với thực dân Pháp, một lòng hướng về Cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh để bảo vệ bờ cõi biên cương. Sự kết hợp giữa tinh thần tự tôn dân tộc và dòng chảy lịch sử nước nhà đã biến nơi đây thành một Di tích Kiến trúc Nghệ thuật Quốc gia đặc biệt.
Giờ đây, khi đứng chung dưới mái nhà hành chính của tỉnh Tuyên Quang, Dinh thự Vua Mèo trở thành một gạch nối văn hóa tuyệt vời, làm phong phú thêm bản đồ du lịch và di sản của tỉnh. Công trình không chỉ thu hút những tâm hồn đam mê xê dịch, thích khám phá vẻ đẹp cổ kính mà còn là niềm tự hào to lớn của đồng bào các dân tộc vùng cao. Giữa mây ngàn gió núi, tòa dinh thự trăm năm tuổi vẫn đứng đó, uy nghi và trầm mặc, như một biểu tượng bất diệt cho tài năng, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên của con người giữa vùng cao nguyên.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Hồ Sinh Thái Na Hang - mẫu 7
Nhắc đến Tuyên Quang, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, người ta không chỉ nhớ về cây đa Tân Trào lịch sử mà còn say lòng trước một “Hạ Long giữa đại ngàn” – Hồ sinh thái Na Hang. Nơi đây tựa như một bức tranh thủy mặc khổng lồ được thiên nhiên ban tặng, là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn hòa mình vào không gian non nước hữu tình.
Theo tiếng của đồng bào dân tộc Tày, “Na Hang” có nghĩa là “ruộng cuối”. Hồ sinh thái Na Hang thực chất là hồ nước ngọt nhân tạo thuộc địa bàn huyện Na Hang và Lâm Bình, được hình thành từ quá trình xây dựng Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang trên lưu vực sông Gâm. Với diện tích mặt nước lên tới hơn 8.000 ha trong tổng thể 15.000 ha diện tích quy hoạch, hồ Na Hang là một hệ sinh thái vô cùng phong phú.
Đặt chân đến vùng đất này, du khách sẽ không khỏi choáng ngợp trước cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ. Giữa làn nước trong xanh màu ngọc bích, nhấp nhô 99 ngọn núi đá vôi với đủ mọi hình dáng kỳ thú, tạo nên một quần thể sơn thủy hữu tình. Những cánh rừng nguyên sinh xanh thẳm ôm trọn lấy lòng hồ, tạo ra bầu không khí quanh năm mát mẻ, trong lành.
Điểm nhấn ấn tượng nhất trong hành trình khám phá hồ Na Hang chính là Cọc Vài Phạ (theo tiếng Tày nghĩa là “Cọc buộc trâu trời”). Đây là một cột đá vôi khổng lồ, sừng sững giữa mặt nước, gắn liền với truyền thuyết về chàng Tài Ngào đắp đập ngăn nước cho dân bản. Bên cạnh đó, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng cho Na Hang những ngọn thác tuyệt đẹp như thác Mơ (thác Pác Ban) tung bọt trắng xóa hay thác Khuổi Nhi – nơi du khách có thể trải nghiệm dịch vụ mát-xa tự nhiên từ đàn cá suối.
Không chỉ có cảnh quan, hồ Na Hang còn mang đậm dấu ấn văn hóa tâm linh và lịch sử. Du khách có thể ghé thăm Đền Pác Tạ – ngôi đền linh thiêng nằm dưới chân núi Pác Tạ, nơi thờ vị phu nhân của tướng quân Trần Nhật Duật, người đã có công lớn dẹp giặc phương Bắc. Tiếng chuông chùa văng vẳng hòa cùng tiếng sóng nước mênh mang khiến tâm hồn con người trở nên thanh tịnh, nhẹ nhàng.
Đến với hồ sinh thái Na Hang, du khách còn được thưởng thức những nét văn hóa ẩm thực độc đáo của đồng bào các dân tộc Tày, Dao, Mông... Bạn sẽ được nhâm nhi chén rượu ngô thơm nồng, thưởng thức món thịt trâu gác bếp, lạp xưởng hun khói hay nếm thử vị ngọt bùi của cá bỗng sông Gâm. Những sản vật này đều mang đậm hương vị của núi rừng Việt Bắc.
Hồ sinh thái Na Hang không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng, bảo vệ môi trường mà còn là viên ngọc quý của du lịch tỉnh Tuyên Quang. Vẻ đẹp hoang sơ, kỳ vĩ của nơi đây đang ngày càng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm.
Hồ sinh thái Na Hang thực sự là một điểm sáng trên bản đồ du lịch Việt Nam. Nếu có dịp ghé thăm nơi đây, chắc chắn du khách sẽ không thể quên được cảm giác bình yên khi được lướt thuyền trên mặt hồ phẳng lặng, hít thở bầu không khí trong lành và lắng nghe bản tình ca của đại ngàn xanh thẳm.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Thác Bản Ba - mẫu 8
Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho dải đất hình chữ S vô vàn những danh lam thắng cảnh tuyệt mỹ. Nếu ví Tây Bắc như một bức tranh sơn thủy hữu tình, thì Tuyên Quang chính là điểm nhấn thơ mộng với những ngọn thác tráng lệ. Một trong số đó là Thác Bản Ba – một "viên ngọc xanh" ẩn mình giữa đại ngàn, nơi được ví von là "nàng thơ ngủ trong rừng" làm say đắm bước chân biết bao du khách.
Thác Bản Ba tọa lạc tại thôn Bản Ba, xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Nằm nép mình bên triền núi Phiêng Khàng, thác cách trung tâm thành phố Tuyên Quang khoảng chừng hơn 70km. Để đến được đây, du khách sẽ được băng qua những cung đường uốn lượn, hai bên là những nương ngô xanh mướt và nếp nhà sàn bình dị của đồng bào các dân tộc thiểu số, tạo nên một hành trình khám phá đầy thi vị.
Điều làm nên sức hút đặc biệt của thắng cảnh này chính là cấu trúc độc đáo gồm ba tầng thác lớn nhỏ nối tiếp nhau, người dân địa phương thường gọi lần lượt là thác Tát Củm, thác Tát Kèo và thác Tát Gió. Tổng chiều dài của hệ thống thác lên tới hàng trăm mét, đổ xuống từ trên cao tạo thành những dải bọt trắng xóa, nổi bật giữa nền xanh thẫm của những cánh rừng nguyên sinh.
Ở mỗi tầng, Thác Bản Ba lại mang một vẻ đẹp quyến rũ riêng biệt. Tầng thác đầu tiên – Tát Củm – gây ấn tượng bởi sự mạnh mẽ và hùng vĩ. Dòng nước cuồn cuộn đổ từ trên cao xuống, tung bọt trắng xóa cả một góc trời. Phía dưới chân thác là những phiến đá lớn bằng phẳng, dòng nước hiền hòa tạo thành một hồ bơi tự nhiên trong vắt, mát lạnh. Tiến lên tầng thứ hai – Tát Kèo, khung cảnh lại trở nên mềm mại và thơ mộng hơn. Dòng nước chia thành nhiều nhánh nhỏ chảy róc rách qua các khe đá và những rễ cây cổ thụ đan xen vào nhau, trông như một bức rèm nước khổng lồ. Tầng thác cuối cùng – Tát Gió – lại mang một nét hoang sơ đầy bí ẩn. Đúng như tên gọi, những làn hơi nước hòa quyện cùng gió rừng mát rượi thổi vào mặt, xua tan đi mọi mệt mỏi, oi bức của chặng đường dài.
Bao quanh thác nước là hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú, đa dạng với những cây cổ thụ trăm năm tuổi và thảm thực vật nhiều tầng lớp. Dưới ánh nắng vàng rực rỡ, hơi nước bốc lên từ thác tạo thành những dải cầu vồng lung linh, huyền ảo. Tất cả hòa quyện vào nhau tạo nên một bản giao hưởng của núi rừng, khi thì trầm hùng, vang vọng, khi thì róc rách, tí tách tựa lời ca.
Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú, Thác Bản Ba còn là không gian văn hóa đặc sắc. Đến với nơi đây, du khách sẽ có cơ hội khám phá đời sống bình dị của đồng bào dân tộc Tày, Dao, Nùng. Du khách có thể hòa mình vào nếp sống dân dã, thưởng thức những món ăn đặc sản đậm đà hương vị núi rừng như: cơm lam, xôi ngũ sắc, cá nướng, thịt trâu gác bếp và lắng nghe những điệu hát Then, hát Cọi ngân vang trong đêm lửa trại.
Với giá trị sinh thái và văn hóa to lớn, Thác Bản Ba đã vinh dự được nhà nước công nhận là Danh thắng Quốc gia. Nơi đây không chỉ là điểm dừng chân lý tưởng cho những ai yêu thích loại hình du lịch sinh thái, khám phá mạo hiểm mà còn là chốn dừng chân bình yên để tâm hồn được hòa mình trọn vẹn vào thiên nhiên, rũ bỏ những ồn ào, xô bồ của phố thị.
Thác Bản Ba thực sự là một tuyệt tác của tạo hóa ban tặng cho mảnh đất Tuyên Quang. Vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ nhưng cũng rất đỗi thơ mộng ấy sẽ mãi là dấu ấn khó phai trong lòng bất cứ ai đã từng một lần đặt chân đến.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Đền Hạ - mẫu 9
Ai đã từng một lần ngược ngàn lên với mảnh đất Tuyên Quang – nơi được mệnh danh là "Thủ đô kháng chiến", hẳn sẽ không quên ghé thăm thành phố bên bờ sông Lô hiền hòa. Nơi đây không chỉ níu chân du khách bởi cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ mà còn bởi chiều sâu văn hóa tâm linh. Một trong những điểm nhấn nổi bật nhất chính là Đền Hạ – ngôi đền linh thiêng bậc nhất trong hệ thống các di tích thờ Mẫu của tỉnh Tuyên Quang.
Theo các tài liệu lịch sử, Đền Hạ (trước đây còn gọi là đền Hiệp Thuận hoặc đền Tam Kỳ) được khởi dựng vào năm 1738 dưới thời Hậu Lê. Đền tọa lạc tại vị trí đắc địa thuộc phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang, hướng thẳng ra dòng sông Lô đỏ nặng phù sa. Trải qua biết bao biến thiên của thời gian và lịch sử, ngôi đền vẫn sừng sững như một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt.
Về mặt kiến trúc, Đền Hạ được xây dựng theo lối chữ “tam” với kỹ thuật chạm khắc gỗ vô cùng tinh xảo. Các công trình chính bao gồm tam quan, tiền bái, thiêu hương và hậu cung. Bước qua cổng tam quan sơn đỏ uy nghi với dòng chữ “Hiệp Thuận linh từ”, du khách sẽ cảm nhận ngay một không gian thanh tịnh, cổ kính. Những đường nét kiến trúc mái đao cong vút, chạm khắc hình rồng phượng đắp nổi tinh tế trên nền ngói vẩy thể hiện tài hoa của các nghệ nhân xưa.
Bên trong chính điện, không gian được bài trí trang nghiêm với hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Đền Hạ là nơi thờ tự Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên (hay Mẫu Đệ Nhất, thường được đồng nhất với Thánh Mẫu Liễu Hạnh) và Phương Dung công chúa (con gái Vua Hùng). Tương truyền, đây là vị công chúa có công giúp dân khai khẩn đất hoang, dạy nghề dệt lụa và chăm lo đời sống nhân dân vùng sông Lô. Hiện tại, đền vẫn còn lưu giữ nhiều bảo vật quý giá hàng trăm năm tuổi như quả chuông đồng, khánh cổ cùng ba pho tượng quý, không chỉ mang giá trị tín ngưỡng mà còn là di sản nghệ thuật đặc sắc.
Không chỉ nổi bật về kiến trúc, Đền Hạ còn là “hạt nhân” của không gian văn hóa tâm linh Xứ Tuyên. Hằng năm, cứ mỗi độ xuân về, từ ngày 11 đến 16 tháng 2 Âm lịch, Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng và Đền Ỷ La lại được long trọng tổ chức. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của người dân thành phố Tuyên Quang, được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia. Trong những ngày này, du khách thập phương sẽ được chiêm ngưỡng nghi lễ rước kiệu Mẫu qua dòng sông Lô, hòa mình vào không khí tưng bừng của tiếng trống, tiếng chiêng, phường bát âm và các điệu múa chầu văn uyển chuyển. Lễ hội không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, tôn vinh truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Đền Hạ Tuyên Quang không chỉ là một điểm đến du lịch văn hóa đơn thuần. Nơi đây còn là một phần trong đời sống tinh thần, là điểm tựa tâm linh vững chắc của người dân địa phương. Khi đến dâng hương tại Đền Hạ, du khách như được gác lại mọi âu lo, bộn bề của cuộc sống thường nhật để tìm về sự an yên, tĩnh tại trong tâm hồn. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để thế hệ trẻ hiểu thêm về những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam.
Có thể nói, Đền Hạ Tuyên Quang là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên sông nước hữu tình và di sản kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Nếu có dịp ghé thăm mảnh đất Tuyên Quang, du khách đừng quên một lần đến với Đền Hạ để dâng nén tâm hương thành kính và trải nghiệm không gian văn hóa tâm linh vô cùng đặc sắc này.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Đền Hạ - mẫu 10
Nhắc đến Tuyên Quang, người ta không chỉ nhớ về "Thủ đô khu giải phóng" với những chứng tích lịch sử hào hùng, mà còn say đắm bởi mảnh đất này mang đậm nét văn hóa tâm linh độc đáo. Nổi bật giữa trung tâm thành phố, soi bóng bên dòng sông Lô hiền hòa, Đền Hạ (còn gọi là đền Hiệp Thuận) hiện lên như một nét chấm phá cổ kính, linh thiêng, thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái và vãn cảnh.
Theo các tài liệu ghi chép và văn bia để lại, Đền Hạ được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 3 (năm 1738). Trải qua dòng chảy của thời gian và những biến thiên lịch sử, ngôi đền vẫn giữ được nét uy nghi, cổ kính. Đền được dựng theo lối kiến trúc "nội công ngoại quốc", mặt chính xoay về hướng Đông, hướng thẳng ra dòng sông Lô đỏ nặng phù sa. Cổng tam quan đền được sơn đỏ uy nghi, nổi bật với hình ảnh mái đao cong vút, chạm khắc hình rồng phượng đắp nổi tinh xảo, thể hiện tài hoa của các nghệ nhân xưa. Trên mái cổng khắc nổi hàng chữ "Hiệp Thuận linh từ".
Không gian bên trong đền gồm nhiều tòa nhà nối tiếp nhau, mang đến cảm giác thanh tịnh và thiêng liêng. Đền Hạ là nơi thờ phụng Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên (hay Mẫu Liễu Hạnh), một vị thần đứng đầu trong Tam tòa Thánh Mẫu của Đạo Mẫu Việt Nam. Ngoài ra, đền còn phối thờ các vị thần linh khác như Mẫu Thượng Ngàn, Phương Dung công chúa và Ngọc Lân công chúa.
Bước vào chánh điện, du khách không chỉ để cầu nguyện cho sự bình an, may mắn mà còn được chiêm ngưỡng hệ thống tượng thờ cùng nhiều cổ vật quý giá. Nổi bật nhất là quả chuông đồng cổ, chiếc khánh đồng cùng ba pho tượng quý được lưu giữ qua hàng trăm năm. Mỗi hiện vật đều là một tác phẩm nghệ thuật, mang đậm dấu ấn văn hóa tâm linh của người Việt.
Ý nghĩa tâm linh của Đền Hạ gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, thể hiện khát vọng về mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và tri ân những nhân vật có công với đất nước, được dân gian hóa thành các vị thần bảo hộ. Điểm nhấn làm nên sức sống mãnh liệt của ngôi đền chính là Lễ hội Đền Hạ (còn gọi là Lễ hội Đền Hạ, Đền Thượng, Đền Ỷ La). Lễ hội này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia.
Hằng năm, từ ngày 11 đến 16 tháng 2 Âm lịch, lễ hội được tổ chức long trọng với phần lễ rước kiệu Mẫu từ đền Ỷ La và đền Thượng về đền Hạ để hợp tế. Đây là sự kiện văn hóa lớn, rực rỡ sắc màu, thu hút hàng vạn người dân và du khách tham gia, tạo nên một không gian văn hóa cộng đồng vô cùng sôi nổi. Du khách đến đây không chỉ được hòa mình vào dòng người trẩy hội mà còn được nghe kể về những sự tích ly kỳ, huyền thoại gắn liền với hai nàng công chúa Phương Dung và Ngọc Lân, hay đơn giản là tìm về một chốn bình yên để tâm hồn được thư thái.
Đền Hạ Tuyên Quang không chỉ là một công trình kiến trúc cổ kính có giá trị nghệ thuật cao, mà còn là "hạt nhân", điểm tựa tinh thần trong đời sống văn hóa của nhân dân địa phương. Nơi đây góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Nếu có dịp ghé thăm xứ Tuyên, dừng chân tại Đền Hạ bên dòng sông Lô, du khách chắc chắn sẽ cảm nhận được sự giao hòa giữa thiên nhiên, lịch sử và tín ngưỡng linh thiêng, để thêm yêu và tự hào về bản sắc văn hóa.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Suối khoáng Mỹ Lâm - mẫu 11
Nhắc đến mảnh đất Tuyên Quang, bên cạnh những di tích lịch sử cách mạng hào hùng và không gian văn hóa giàu bản sắc, du khách còn nhớ đến một “viên ngọc xanh” giữa núi rừng – Khu du lịch Suối khoáng Mỹ Lâm. Đây không chỉ là điểm đến nghỉ dưỡng lý tưởng mà còn là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, mang lại giá trị lớn về sức khỏe và du lịch sinh thái.
Suối khoáng Mỹ Lâm tọa lạc tại phường Mỹ Lâm, thành phố Tuyên Quang, cách trung tâm khoảng 12–15 km về phía Tây Nam. Theo các tài liệu nghiên cứu, nguồn nước khoáng nơi đây được nhà địa chất người Pháp C. Madrolle phát hiện từ năm 1923. Từ đó đến nay, Mỹ Lâm được đánh giá là một trong những nguồn nước khoáng nóng tự nhiên có chất lượng tốt trong khu vực, góp phần tạo nên thương hiệu du lịch đặc trưng của Tuyên Quang.
Điểm đặc biệt của Suối khoáng Mỹ Lâm nằm ở nguồn nước khoáng sulfua nóng tự nhiên. Khi lộ thiên, nước có nhiệt độ dao động từ khoảng 65°C đến gần 70°C, trong vắt, không màu nhưng có mùi sulfua nhẹ đặc trưng. Nhờ chứa nhiều khoáng chất có lợi, nguồn nước này được cho là có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh về xương khớp, thần kinh, tuần hoàn máu và một số bệnh ngoài da, đồng thời giúp thư giãn tinh thần hiệu quả.
Ngày nay, khu du lịch Suối khoáng Mỹ Lâm đã được đầu tư phát triển với nhiều loại hình dịch vụ phong phú, đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe của du khách. Nổi bật nhất là dịch vụ tắm khoáng nóng, nơi du khách có thể ngâm mình trong làn nước ấm tự nhiên để thư giãn cơ thể. Bên cạnh đó là tắm bùn khoáng – liệu pháp giúp thanh lọc da và làm đẹp tự nhiên. Ngoài ra, hệ thống vật lý trị liệu, massage, châm cứu và bấm huyệt tại khu bệnh viện suối khoáng cũng góp phần nâng cao hiệu quả phục hồi sức khỏe cho người sử dụng.
Không chỉ có giá trị về y học, Mỹ Lâm còn sở hữu cảnh quan thiên nhiên trong lành và thơ mộng. Khu du lịch được bao quanh bởi đồi chè xanh mướt, những thung lũng yên bình và các bản làng dân tộc giản dị. Không khí nơi đây luôn mát mẻ, trong trẻo, giúp du khách tạm rời xa sự ồn ào của phố thị để hòa mình vào thiên nhiên, tìm lại sự cân bằng trong tâm hồn.
Có thể nói, Suối khoáng Mỹ Lâm là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho Tuyên Quang. Không chỉ là điểm đến du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn, nơi đây còn là không gian chữa lành cả thể chất lẫn tinh thần. Đến với Mỹ Lâm, mỗi du khách đều có cơ hội tận hưởng sự thư thái trọn vẹn và mang về những trải nghiệm khó quên giữa lòng núi rừng Việt Bắc.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Thác Mơ - mẫu 12
Thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho đất nước Việt Nam vô vàn những danh lam thắng cảnh tuyệt sắc, từ biển xanh cát trắng đến núi rừng trùng điệp. Giữa đại ngàn Tuyên Quang hùng vĩ, Thác Mơ (hay còn gọi là thác Pác Ban) hiện lên như một “nàng tiên” e ấp, vừa thơ mộng vừa hoang sơ, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những ai yêu thích khám phá thiên nhiên.
Thác Mơ tọa lạc trong khu vực thuộc vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm thành phố khoảng gần 100km về phía Bắc. Nằm ẩn mình giữa những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn, con thác mang trong mình vẻ đẹp thuần khiết của tự nhiên, tách biệt hoàn toàn với nhịp sống ồn ào bên ngoài. Chính sự hoang sơ ấy đã tạo nên sức hút đặc biệt cho điểm đến này.
Về cấu trúc, Thác Mơ được hình thành gồm nhiều tầng nước chảy nối tiếp nhau, tạo nên một cảnh quan vừa hùng vĩ vừa mềm mại. Ở tầng thác phía trên, dòng nước từ vách núi cao đổ xuống trắng xóa, tung bọt nước như dải lụa bạc giữa rừng xanh. Khi xuống thấp hơn, dòng chảy trở nên nhẹ nhàng hơn, len lỏi qua những bậc đá tự nhiên, tạo thành những lớp nước trong vắt như những nấc thang của thiên nhiên. Đến tầng cuối cùng, nước tụ lại thành một hồ rộng, mặt nước phẳng lặng, trong xanh và mát lạnh, phản chiếu trọn vẹn màu xanh của núi rừng xung quanh. Tất cả hòa quyện tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình đầy mê hoặc.
Không chỉ đẹp ở hình dáng, Thác Mơ còn gây ấn tượng bởi hệ sinh thái phong phú bao quanh. Khu vực này được bao bọc bởi rừng nguyên sinh với nhiều loại cây cổ thụ lâu năm, thảm thực vật đa dạng và hệ động vật đặc trưng của vùng núi phía Bắc. Âm thanh của thiên nhiên nơi đây cũng vô cùng sống động: tiếng nước chảy róc rách, tiếng chim rừng gọi nhau và tiếng gió luồn qua tán lá, tất cả tạo nên một bản hòa ca tự nhiên vừa trong trẻo vừa yên bình.
Thời điểm lý tưởng nhất để tham quan Thác Mơ là vào mùa hè và mùa thu, khi thời tiết mát mẻ và dòng nước ổn định, trong xanh nhất. Đến đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thác mà còn có cơ hội khám phá hệ sinh thái của khu bảo tồn Na Hang, tìm hiểu đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số như Tày, Dao, Mông, đồng thời thưởng thức những món ăn mang đậm hương vị núi rừng.
Thác Mơ không chỉ là một thắng cảnh tự nhiên đơn thuần mà còn là niềm tự hào của người dân Tuyên Quang. Nơi đây góp phần quan trọng vào phát triển du lịch sinh thái bền vững, đồng thời nhắc nhở mỗi người về trách nhiệm gìn giữ, bảo vệ môi trường tự nhiên.
Có thể nói, Thác Mơ là một món quà quý giá mà thiên nhiên dành tặng cho vùng đất Tuyên Quang. Vẻ đẹp hoang sơ, thơ mộng cùng bầu không khí trong lành nơi đây chắc chắn sẽ để lại những dấu ấn khó quên trong lòng mỗi du khách từng một lần ghé thăm.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Động Song Long - mẫu 13
Nhắc đến Tuyên Quang, vùng đất giàu truyền thống cách mạng và sở hữu cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, du khách không thể bỏ qua những kỳ quan thiên nhiên độc đáo của khu vực Na Hang – Lâm Bình. Trong số đó, Động Song Long hiện lên như một “viên ngọc ẩn mình” giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp vừa kỳ bí vừa tráng lệ, thu hút bước chân khám phá của biết bao du khách.
Động Song Long tọa lạc tại xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, nằm trong quần thể khu du lịch sinh thái Na Hang – Lâm Bình nổi tiếng. Để đến được nơi đây, du khách thường xuất phát từ bến thuyền Na Hang, ngồi thuyền máy xuôi theo dòng sông Gâm xanh biếc, len lỏi giữa những dãy núi đá vôi trùng điệp. Sau hành trình lênh đênh trên mặt nước, du khách tiếp tục đi bộ theo những lối mòn nhỏ xuyên qua rừng nguyên sinh để chạm tới cửa động – nơi mở ra một thế giới hoàn toàn khác biệt.
Bước qua cửa hang, một không gian mát lạnh và tĩnh lặng lập tức bao trùm, xua tan mọi mệt mỏi của hành trình. Động Song Long có quy mô rộng lớn với chiều dài hàng trăm mét, trần hang cao và không gian bên trong sâu rộng, tạo cảm giác vừa huyền bí vừa choáng ngợp. Đi sâu vào trong động, du khách sẽ bắt gặp hệ thống thạch nhũ và măng đá được hình thành qua hàng triệu năm kiến tạo địa chất. Những khối đá mang muôn hình vạn trạng, lúc thì mềm mại như dải lụa, lúc lại sừng sững như những cột trụ khổng lồ của thiên nhiên.
Dưới ánh sáng phản chiếu, thạch nhũ trong động trở nên lung linh, huyền ảo với nhiều sắc độ khác nhau, gợi liên tưởng đến những hình ảnh quen thuộc trong đời sống văn hóa dân gian như rồng bay, hổ phục hay những cung điện nguy nga dưới lòng đất. Chính vẻ đẹp kỳ ảo ấy đã tạo nên sức hút đặc biệt, khiến Động Song Long trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những ai yêu thích khám phá thiên nhiên và địa chất.
Không chỉ có giá trị về mặt cảnh quan, Động Song Long còn mang ý nghĩa quan trọng về sinh thái và nghiên cứu khoa học. Đây là một phần trong hệ sinh thái hang động của khu vực Na Hang – Lâm Bình, góp phần làm phong phú thêm hệ thống danh lam thắng cảnh của tỉnh Tuyên Quang. Đồng thời, nơi đây cũng đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch sinh thái, thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm.
Có thể nói, Động Song Long là một tuyệt tác mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Tuyên Quang. Vẻ đẹp nguyên sơ, kỳ bí và tráng lệ của hang động không chỉ mang đến trải nghiệm khó quên cho du khách mà còn góp phần khơi dậy tình yêu thiên nhiên và ý thức gìn giữ những giá trị quý báu của đất trời.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Động Tiên - mẫu 14
Nhắc đến mảnh đất xứ Tuyên, bên cạnh những di tích lịch sử cách mạng hào hùng, thiên nhiên còn ưu ái ban tặng nơi đây nhiều tuyệt tác sơn thủy hữu tình. Một trong số đó là quần thể danh thắng Động Tiên – nơi được mệnh danh là chốn bồng lai tiên cảnh giữa đại ngàn Đông Bắc, thu hút đông đảo du khách bởi vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa kỳ ảo.
Quần thể Động Tiên tọa lạc tại thôn Thống Nhất, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, nằm ngay sát trục Quốc lộ 2 nối Tuyên Quang với Hà Giang. Ẩn mình trong dãy núi Chân Quỳ hùng vĩ, được bao bọc bởi núi Đá Đen và núi Bạch Mã, nơi đây từ lâu đã trở thành điểm đến nổi bật của du lịch sinh thái – tâm linh vùng Đông Bắc.
Khác với nhiều hang động khác thường nằm sâu dưới chân núi, Động Tiên lại nằm ở vị trí cao ráo, thoáng đãng. Để lên đến động, du khách phải men theo những bậc đá rêu phong uốn lượn dưới tán rừng già. Càng lên cao, không khí càng trở nên mát mẻ, trong lành. Từ cửa động nhìn ra xa, toàn cảnh thung lũng rộng lớn hiện ra với núi non trùng điệp, ruộng đồng trù phú và sắc xanh bất tận của núi rừng, tạo nên một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng.
Động Tiên thực chất là một quần thể gồm bảy hang động liên hoàn xếp thành hình vòng cung, bao gồm: động Tiên, động Thiên Đình, động Đàn Đá, động Thiên Cung, động Tam Cung, động Thạch Sanh và động Âm Phủ. Mỗi hang động mang một vẻ đẹp riêng, vừa kỳ vĩ vừa huyền bí, thể hiện bàn tay kiến tạo kỳ diệu của thiên nhiên qua hàng triệu năm.
Bước qua cổng đá tự nhiên, du khách như lạc vào một thế giới khác khi chiêm ngưỡng hệ thống thạch nhũ lung linh trong lòng động. Những khối thạch nhũ rủ xuống từ trần hang hoặc mọc lên từ nền đá với đủ hình thù kỳ lạ, khi thì giống hình tượng Tiên Ông đánh cờ, lúc lại như đàn linh điểu hay muông thú quần tụ. Đặc biệt, tại động Đàn Đá, khi gõ nhẹ vào các phiến đá, du khách có thể nghe thấy âm thanh ngân vang như tiếng đàn, tạo nên một trải nghiệm độc đáo hiếm nơi nào có được. Tiếng nước nhỏ giọt hòa cùng không gian tĩnh lặng càng làm tăng thêm vẻ huyền ảo của hang động.
Đi sâu vào bên trong, hệ thống hang động mở ra nhiều không gian đa dạng với những vòm đá cao vút như cung điện, xen kẽ là những lối đi hẹp sâu hun hút kích thích sự tò mò của du khách. Mỗi hình khối thạch nhũ không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn gắn liền với những truyền thuyết dân gian, làm tăng thêm sức hấp dẫn về mặt văn hóa – tâm linh cho quần thể danh thắng này.
Không chỉ nổi bật về cảnh quan, Động Tiên còn mang giá trị văn hóa đặc sắc. Hằng năm, vào ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch, tại đây diễn ra lễ hội Động Tiên với sự tham gia của đông đảo người dân và du khách. Lễ hội là dịp để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đồng thời thể hiện đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng các dân tộc nơi đây. Phần lễ trang nghiêm kết hợp với phần hội sôi động, mang đậm màu sắc văn hóa dân gian, tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng đất Hàm Yên.
Với giá trị nổi bật về cảnh quan, địa chất và văn hóa, quần thể Động Tiên đã được xếp hạng là Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia. Đây không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là niềm tự hào của người dân Tuyên Quang.
Có thể nói, Động Tiên là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất Hàm Yên. Đến với nơi đây, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ ảo của hang động mà còn được hòa mình vào không gian thanh bình của núi rừng, để tâm hồn lắng lại giữa chốn “bồng lai tiên cảnh” giữa đời thực.
Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Tuyên Quang: Động Tiên - mẫu 15
Mảnh đất Tuyên Quang không chỉ là "thủ đô kháng chiến" với những trang sử vàng chói lọi, mà còn là nơi hội tụ của nhiều danh lam thắng cảnh làm say lòng người. Trong số những tuyệt tác do thiên nhiên nhào nặn, quần thể Động Tiên tại huyện Hàm Yên nổi lên như một bức tranh sơn thủy hữu tình, một "vương quốc thạch nhũ" đầy huyền bí giữa lòng đại ngàn Đông Bắc.
Quần thể Động Tiên nằm trên địa bàn thôn Thống Nhất, xã Yên Phú, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Thắng cảnh này cách trung tâm thành phố Tuyên Quang khoảng 55km về phía Bắc, tọa lạc ngay sát trục Quốc lộ 2. Động nằm ẩn mình trong dãy núi Chân Quỳ – một hệ thống núi đá vôi kỳ vĩ mang hình dáng như một người khổng lồ đang quỳ gối giữa thung lũng trù phú.
Tên gọi "Động Tiên" gắn liền với một truyền thuyết dân gian lãng mạn của đồng bào nơi đây. Chuyện kể rằng, thuở xưa, do mến mộ cảnh sắc non thanh thủy tú của vùng đất Yên Phú, các nàng tiên trên trời đã rủ nhau hạ phàm vãn cảnh. Vì mải mê vui chơi, thưởng ngoạn, các nàng đã quên cả giờ về trời. Khi cửa trời khép lại, các nàng đành hóa thân vào những khối đá, dòng nước bên trong hang động, để lại cho trần gian một kỳ quan tuyệt mỹ.
Để thưởng ngoạn trọn vẹn Động Tiên, du khách sẽ trải qua một hành trình khám phá không gian đầy thú vị. Đường lên cửa động là những bậc đá uốn lượn dưới vòm cây cổ thụ rợp bóng mát, mang lại cảm giác thư thái, tách biệt hoàn toàn với sự ồn ào của phố thị. Khi đặt chân đến cửa động, một luồng gió mát lạnh từ vách đá phả ra sẽ làm tan biến mọi mệt mỏi của chặng đường đi bộ.
Bước vào bên trong, Động Tiên mở ra một thế giới hoàn toàn khác biệt với cấu trúc gồm 7 hang động liên hoàn, xếp thành hình vòng cung độc đáo. Lòng động rộng thênh thang, vòm hang cao vút tựa như mái vòm của một cung điện nguy nga. Điểm nhấn làm nên giá trị của Động Tiên chính là hệ thống thạch nhũ và măng đá hàng triệu năm tuổi. Trải qua dòng chảy của thời gian, những giọt nước ngầm mang theo canxi đã kết tinh thành vô vàn hình thù kỳ thú. Dưới ánh đèn lung linh, du khách có thể dễ dàng liên tưởng đến hình ảnh Tiên Ông đang trầm ngâm suy ngẫm bên bàn cờ đá, hình ảnh rùa vàng, chim phượng hoàng, hay những khối thạch nhũ buông xuống mềm mại như tấm rèm lụa của các nàng tiên.
Không chỉ mãn nhãn về phần nhìn, Động Tiên còn mang đến những trải nghiệm âm thanh vô cùng đặc biệt. Tại khu vực động Đàn Đá, khi du khách dùng tay gõ nhẹ vào những phiến đá dẹt, hang động sẽ phát ra những âm thanh thanh thót, trầm bổng ngân vang như tiếng đàn tơ-rưng của đồng bào Tây Nguyên. Sự kết hợp giữa tiếng đàn đá và tiếng nước rơi tí tách đều đặn tạo nên một bản nhạc thiên nhiên độc nhất vô nhị. Càng đi sâu vào trong, đường hang càng quanh co, lúc phình to thành khán phòng lộng lẫy, lúc lại thu hẹp đòi hỏi sự khéo léo của người khám phá, mang lại cảm giác phiêu lưu đầy kích thích.
Bên cạnh giá trị cảnh quan, Động Tiên còn là trung tâm văn hóa tâm linh của người dân bản địa. Vào ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch hằng năm, Lễ hội Động Tiên lại được tổ chức rộn ràng. Đây là nét đẹp văn hóa truyền thống để người dân dâng hương, bày tỏ lòng biết ơn đối với đất trời, cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ hội cũng là nơi diễn ra các trò chơi dân gian đặc sắc như tung còn, đẩy gậy, kéo co, thắt chặt thêm tình đoàn kết các dân tộc.
Với những giá trị độc đáo về địa chất và văn hóa, Động Tiên đã được công nhận là Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia. Đây không chỉ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích du lịch sinh thái, khám phá hang động mà còn là niềm tự hào lớn lao của người dân xứ Tuyên. Đứng trước sự kỳ vĩ của Động Tiên, con người như được giao hòa với thiên nhiên, thêm trân trọng và có ý thức bảo vệ những báu vật mà tạo hóa đã ban tặng cho quê hương, đất nước.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Lào Cai
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Thái Nguyên
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Phú Thọ
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Hưng Yên
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Ninh Bình
- Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Hải Phòng
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Lớp 12 Kết nối tri thức
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT
- Lớp 12 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 12 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 12 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 12 - CTST
- Giải sgk Hóa học 12 - CTST
- Giải sgk Sinh học 12 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 12 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 12 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - CTST
- Giải sgk Tin học 12 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 12 - CTST
- Lớp 12 Cánh diều
- Soạn văn 12 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 12 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 12 Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 12 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 12 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

