10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

2. Thân bài

2.1. Phân tích, đánh giá cảm hứng chủ đạo và mạch cảm xúc của tác phẩm:

- Cảm hứng chủ đạo: tình yêu đất nước và niềm tự hào về lịch sử dân tộc.

Mạch cảm xúc: đi từ tự hào đến trăn trở, bâng khuâng.

2.2. Phân tích, đánh giá sự phát triển của hình tượng chính và tính độc đáo của những phương tiện ngôn ngữ được sử dụng:

2.2.1. Niềm tự hào về mảnh đất chiến địa, từng lưu dấu nhiều chiến công hiển hách của cha ông.

a. Không gian rộng lớn, kì vĩ của dòng sông Bạch Đằng:

- Hình ảnh thơ gợi hình, gắn liền với thiên nhiên: “gió bấc”, “khí”, “cửa biển”.

- “Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn”:

+ “Gió bấc”: từ chỉ thời gian mùa đông.

Quảng cáo

+ Từ láy “cuồn cuộn” diễn tả chuyển động mạnh mẽ của gió, lớp này nối tiếp lớp khác.

=> Câu thơ diễn tả cảnh biển dữ dội, hùng vĩ.

- Đối lập với sự mênh mông, rộng lớn của biển là hình ảnh cánh buồm nhẹ nhàng lướt qua cửa biển Bạch Đằng. Câu thơ “Kinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng” mang nét thơ mộng, trữ tình với hình ảnh cánh “cánh buồm thơ” và từ ngữ “nhẹ giương”.

b. Dấu ấn lịch sử trên con sông Bạch Đằng:

- Núi, sông, bờ bãi hiện lên thông qua các hình ảnh: “cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ”, “núi uốn lượn quanh co”, “bờ xếp chồng lởm chởm”, “cây giáo bị chìm”, “chiếc kích bị gãy”.

=> Hình ảnh thơ khắc họa địa thế hiểm trở của biển Bạch Đằng.

“Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,/ Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng":

+ "Cá sấu", “cá kình” ẩn dụ cho quân xâm lược kết hợp với từ “bị chặt", “bị mổ" đã diễn tả sự thất bại của quân giặc.

+ Từ “lởm chởm” diễn tả có nhiều mũi nhọn đâm lên, xếp chồng lên nhau. Bờ bãi kéo dài như giáo gươm của giặc bị dân ta đánh chìm, chất đống mà thành.

Quảng cáo

=> Cửa biển Bạch Đằng vừa mang nét đẹp hùng vĩ vừa là nơi ghi dấu những chiến tích oai hùng của dân tộc.

c. Chiến tích của các vị anh hùng dân tộc trên con sông Bạch Đằng:

- Câu thơ “Quan hà bách nhị do thiên thiết”:

+ Tác giả dẫn chữ trong “Sử kí” của Tư Mã Thiên nhằm khẳng định sự tài ba, mưu lược của các vị anh hùng khi đã biết dựa vào địa hình núi sông hiểm trở để lập nên kì tích lớn.

- “Hào kiệt công danh thử địa tằng”: câu thơ nhắc đến các anh hùng dân tộc từng lập nên kì tích trên sông Bạch Đằng: Ngô Quyền đuổi đánh quân Nam Hán năm 938 và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1288 của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn.

=> Cảm xúc tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc.

2.2.2. Sự suy ngẫm của tác giả về lịch sử:

- “Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ”:

+ “Ôi” là từ cảm thán diễn tả sự tiếc nuối của tác giả khi nhìn lại những việc đã qua.

Quảng cáo

- “Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng”: đứng trước khung cảnh thiên nhiên nơi cửa biển Bạch Đằng, tác giả suy tư về việc cũ, về những chiến công hiển hách của anh hùng mà lòng bâng khuâng, không thể diễn tả hết bằng lời.

2.3. Đánh giá tác phẩm:

2.3.1. Về nội dung:

- Bài thơ thể hiện niềm tự hào của tác giả Nguyễn Trãi về con sông Bạch Đằng - nơi lưu dấu nhiều chiến tích vang dội của cha ông.

- Đồng thời ca ngợi những vị anh hùng dân tộc đã có công với đất nước.

2.3.2. Về nghệ thuật:

- Phép đối, phép đảo đặc sắc.

- Từ ngữ giàu sức gợi hình.

3. Kết bài

- Khẳng định giá trị của tác phẩm.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 1

Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi không chỉ được biết đến là một nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất mà còn là một nhà thơ lớn với tâm hồn nhạy cảm và sâu sắc. Bài thơ Bạch Đằng hải khẩu là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ tình yêu đất nước cùng niềm tự hào sâu sắc về truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc. Qua đó, tác giả còn gửi gắm những suy tư đầy chiêm nghiệm về quá khứ và con người.

Trước hết, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là niềm tự hào về non sông gấm vóc và lịch sử vẻ vang của dân tộc. Mạch cảm xúc của tác phẩm vận động từ niềm tự hào trước cảnh sắc và chiến công xưa đến những trăn trở, bâng khuâng khi nghĩ về thời gian và quá khứ. Ngay từ những câu thơ đầu, Nguyễn Trãi đã khắc họa một không gian rộng lớn, kì vĩ của cửa biển Bạch Đằng. Hình ảnh “gió bấc”, “khí nổi cuồn cuộn” gợi ra khung cảnh thiên nhiên dữ dội, hùng tráng. Từ láy “cuồn cuộn” diễn tả những lớp sóng, lớp gió dâng lên không ngừng, làm nổi bật vẻ đẹp vừa mãnh liệt vừa hoang sơ của biển cả. Trong cái nền thiên nhiên rộng lớn ấy, hình ảnh cánh buồm “nhẹ giương” lướt qua cửa biển lại mang đến một nét chấm phá trữ tình, tạo nên sự hài hòa giữa cái hùng vĩ và cái thơ mộng.

Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc, bài thơ còn khắc họa sâu sắc dấu ấn lịch sử trên dòng sông Bạch Đằng. Những hình ảnh như “cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ”, “cây giáo bị chìm”, “chiếc kích bị gãy” không chỉ gợi tả địa thế hiểm trở mà còn mang ý nghĩa biểu tượng. “Cá sấu”, “cá kình” ẩn dụ cho quân xâm lược hung hãn, còn những động từ mạnh như “chặt”, “mổ” cho thấy sự thất bại thảm hại của kẻ thù. Hình ảnh bờ bãi “lởm chởm”, núi “uốn lượn quanh co” càng làm nổi bật một chiến địa khốc liệt, nơi từng diễn ra những trận chiến oanh liệt. Tất cả đã biến Bạch Đằng không chỉ là một địa danh mà còn là biểu tượng của sức mạnh dân tộc và ý chí quật cường của cha ông.

Đặc biệt, tác giả đã khéo léo nhắc đến những chiến tích hiển hách gắn liền với dòng sông lịch sử này. Câu thơ “Quan hà bách nhị do thiên thiết” cho thấy sự hiểu biết sâu rộng của Nguyễn Trãi khi vận dụng điển tích trong Sử kí của Tư Mã Thiên. Qua đó, tác giả khẳng định vai trò của địa thế hiểm trở trong việc làm nên chiến thắng. Tuy nhiên, yếu tố quyết định vẫn là con người. Câu thơ “Hào kiệt công danh thử địa tằng” đã gợi nhắc đến những vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền với chiến thắng năm 938 hay Trần Hưng Đạo với chiến công năm 1288. Qua đó, niềm tự hào dân tộc được nâng lên thành cảm hứng chủ đạo xuyên suốt bài thơ.

Tuy nhiên, cảm xúc của tác giả không chỉ dừng lại ở niềm tự hào mà còn lắng lại trong những suy tư sâu sắc. Khi đứng trước cảnh cũ, Nguyễn Trãi không khỏi bâng khuâng: “Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ”. Từ cảm thán “ôi” gợi lên nỗi tiếc nuối trước những gì đã qua. Dòng thời gian trôi đi khiến những chiến công oanh liệt chỉ còn là dĩ vãng. Đứng trước cảnh sông nước Bạch Đằng, tác giả “lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng” – cảm xúc dâng trào nhưng khó có thể diễn tả thành lời. Đó là sự hòa quyện giữa niềm tự hào và nỗi trăn trở, giữa quá khứ huy hoàng và hiện tại suy tư.

Xét về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thành công các biện pháp như phép đối, phép đảo cùng hệ thống từ ngữ giàu sức gợi hình, gợi cảm. Ngôn ngữ cô đọng nhưng hàm súc, vừa tái hiện được không gian thiên nhiên hùng vĩ, vừa khắc họa chiều sâu lịch sử và cảm xúc con người. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố sử thi đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm.

Bạch Đằng hải khẩu là một tác phẩm tiêu biểu thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của Nguyễn Trãi. Qua việc tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và những chiến tích lịch sử, bài thơ không chỉ ca ngợi các anh hùng dân tộc mà còn gợi lên những suy ngẫm sâu xa về thời gian và con người. Tác phẩm góp phần khẳng định vị trí lớn lao của Nguyễn Trãi trong nền văn học dân tộc, đồng thời nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân trọng quá khứ, sống chậm lại và ý thức hơn về những giá trị tốt đẹp xung quanh mình.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 2

Nguyễn Trãi được UNESCO công nhận là Danh nhân văn hóa thế giới bởi tài năng thiên phú cùng những đóng góp to lớn cho dân tộc. Là một nhà văn hóa kiệt xuất, những trang văn của ông đã góp phần khắc họa đậm nét lịch sử hào hùng, vẻ vang của đất nước. Bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” (“Cửa biển Bạch Đằng”) đã thể hiện niềm thương cảm sâu sắc của tác giả đối với những chiến công lịch sử và các bậc anh hùng xưa.

Sau vụ án “Lệ Chi Viên”, số lượng tác phẩm còn lại của Nguyễn Trãi không nhiều. “Bạch Đằng hải khẩu” là một trong những thi phẩm chữ Hán tiêu biểu của ông. Lấy cảm hứng từ những trang sử oanh liệt của dân tộc, tác giả bộc lộ niềm tự hào và tình yêu đất nước sâu sắc. Mạch cảm xúc của bài thơ vận động từ niềm hãnh diện, tự hào đến những trăn trở, bâng khuâng.

Trong sáu câu thơ đầu, thi nhân bộc lộ niềm tự hào về mảnh đất chiến địa từng ghi dấu bao chiến công hiển hách của cha ông. Hai câu đầu mở ra không gian rộng lớn, kì vĩ của cửa biển Bạch Đằng với những hình ảnh thiên nhiên đặc trưng như “gió bấc”, “khí”, “cửa biển”. Hình ảnh “gió bấc” gợi lên cái lạnh khắc nghiệt của mùa đông, kết hợp với nhịp điệu dồn dập đã làm nổi bật vẻ dữ dội, hùng vĩ của thiên nhiên nơi đây. Đối lập với không gian mênh mông ấy là hình ảnh cánh buồm nhẹ nhàng lướt qua, tạo nên nét chấm phá trữ tình: “Kinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng”. Hình ảnh cánh buồm như làm dịu lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đồng thời gợi cảm giác thơ mộng, thanh thoát.

Trên con thuyền, nhân vật trữ tình phóng tầm mắt quan sát cảnh vật xung quanh. Núi sông, bờ bãi hiện lên qua những hình ảnh giàu sức gợi: “cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ”, “núi uốn lượn quanh co”, “bờ xếp chồng lởm chởm”, “cây giáo bị chìm”, “chiếc kích bị gãy”. Với lối đảo ngữ và so sánh độc đáo, nhà thơ đã khắc họa địa thế hiểm trở của vùng cửa biển. Những dãy núi uốn lượn như thân cá sấu, cá kình bị chặt khúc, còn bờ bãi thì chồng chất, gồ ghề. Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật, những hình ảnh ấy còn gợi nhắc về một chiến địa oai hùng. Trong văn học, “kình ngạc” thường là ẩn dụ cho kẻ thù hung bạo; vì vậy, hình ảnh “cá sấu”, “cá kình” bị chặt, bị mổ đã nhấn mạnh sự thất bại thảm hại của quân giặc. Đặc biệt, hình ảnh “giáo chìm, kích gãy” cùng bờ bãi “lởm chởm” như tái hiện dấu tích của những trận chiến ác liệt, nơi vũ khí của kẻ thù bị chôn vùi theo dòng lịch sử. Qua đó, thiên nhiên nơi đây dường như mang trong mình linh hồn của quá khứ, vừa hùng vĩ vừa thấm đẫm dấu ấn lịch sử.

Đến hai câu thơ tiếp theo, tác giả gợi nhắc về chiến tích của các bậc anh hùng dân tộc trên dòng sông Bạch Đằng. Câu thơ “Quan hà bách nhị do thiên thiết” mượn điển tích trong Sử kí của Tư Mã Thiên nhằm khẳng định vai trò của địa thế hiểm yếu trong việc tạo nên chiến thắng. Qua đó, tác giả ca ngợi tài năng và mưu lược của những vị anh hùng đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên để lập nên kì tích. Đồng thời, bài thơ còn gợi nhớ đến chiến công của Ngô Quyền trong trận Bạch Đằng năm 938 và chiến thắng lẫy lừng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn năm 1288. Hai câu thơ đã thể hiện niềm tự hào sâu sắc của Nguyễn Trãi trước những trang sử vẻ vang của dân tộc.

Hai câu thơ cuối đánh dấu sự chuyển biến trong mạch cảm xúc của tác giả. Nếu ở phần trên là niềm tự hào, hãnh diện thì đến đây lại là những suy tư, trăn trở. Cảm thán “ôi” trong câu thơ “Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi” bộc lộ nỗi tiếc nuối trước những chiến công vang dội nay chỉ còn là quá khứ. Trước khung cảnh thiên nhiên nơi cửa biển Bạch Đằng, tác giả không khỏi bâng khuâng khi nghĩ về lịch sử, về những con người đã làm nên kì tích. Câu thơ “Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết” cho thấy cảm xúc dâng trào, khó có thể diễn đạt thành lời, đồng thời thể hiện chiều sâu suy tư của nhà thơ trước quy luật biến thiên của thời gian.

Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật cùng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như đối, đảo ngữ, ẩn dụ, kết hợp hài hòa giữa miêu tả, tự sự và nghị luận, Nguyễn Trãi đã khắc họa thành công hình tượng sông Bạch Đằng vừa hùng vĩ vừa giàu ý nghĩa lịch sử. Bài thơ không chỉ ca ngợi những chiến công hiển hách mà còn thể hiện niềm tự hào dân tộc sâu sắc.

Là một tài năng lớn của dân tộc, Nguyễn Trãi đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị bền vững. “Bạch Đằng hải khẩu” là sự kết tinh của tư tưởng tiến bộ và tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Tác phẩm chắc chắn sẽ còn sống mãi cùng dòng chảy của thời gian, như một minh chứng cho vẻ đẹp của lịch sử và tâm hồn dân tộc Việt Nam.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 3

Nguyễn Trãi (1380-1442) là người anh hùng dân tộc, văn võ song toàn viết thư thảo hịch tài giỏi hơn hết một thời, là tác giả áng thiên cổ hùng văn “Bình ngô đại cáo “. “ức Trai thi tập “và “Quốc âm thi tập” là hai tập thơ của Nguyễn Trãi làm rạng rỡ nền thi ca Đại Việt. Bài thơ “Cửa biển Bạch Đằng” rút trong một trong những bài thơ kiệt tác ca ngợi đất nước và nhân tài Việt Nam. Bài thơ như một thiên bút kí trữ tình về một cuộc du ngoạn tuyệt đẹp của thi nhân.

Mở đầu bài thơ là hình ảnh “cánh buồm căng gió lướt nhẹ vượt Bạch Đằng Giang”. Một không gian mênh mông, bao la biển Trời sông nước. Gió biển lùa thổi mạnh, con thuyền lướt “băng băng “trên mặt biển. Cảnh quan bao la ấy của biển trời đã khơi dậy một tứ thơ khoáng đạt dâng lên dào dạt trong tâm hồn phơi phới của thi nhân. Du khách cùng với con thuyền và cánh buồm thơ đang sống trong tâm thơ vô cùng ung dung, thư thái:

“Biển lùa gió bấc thổi băng băng,

Nhẹ kéo buồm thơ vượt Bạch Đằng”. 

Ức Trai đến với dòng sông, cửa biển không chỉ để thưởng ngoạn vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên mà còn muốn tìm lại một thời đã qua, một thời oanh liệt về dòng sông lịch sử này.

Hai câu thực là bức tranh hoành tráng về dòng sông, cửa biển Bạch Đằng:

“Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,

Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng”, 

Núi, sông, bờ bãi hiện lên qua vần thơ và các hình ảnh ẩn dụ: “Ngạc”, “kình”, “gươm giáo “mang ý nghĩa tượng trưng. Trên cửa biển Bạch Đằng, núi trập trùng như bức trường thành chẳng khác nào đàn cá ngạc, cá kình - lũ giặc phương Bắc bị nhân dân ta căm giận băm vằm và chặt thành từng khúc. Bờ bãi nhấp nhô “dăng dăng” kéo dài vô tận như giáo gươm của lũ giặc ngoại xâm bị nhân dân ta đánh chìm, bẻ gãy chất đống mà thành. Phép đối thần tình tạo nên vần thơ cân xứng hài hòa, cảnh vật cao thấp, xa gần đầy ấn tượng. Chất thơ dạt dào cảm hứng lịch sử đã đem đến cho người đọc những liên tưởng đầy tự hào về dòng sông và chiến công oai hùng của thiên nhiên. Người đọc như cùng nhà thơ sống lại những năm tháng hào hùng thuở trước. Chính trên dòng sông Bạch Đằng này năm 938, Ngô Quyền đại thắng giặc Nam Hán, chém chết thái tử Hoàng Thao; Năm 1288, Trần Quốc Tuấn tiêu diệt 3 vạn quân Mông - Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi. Phải có một tấm lòng yêu nước và niềm tự hào lân tộc mãnh liệt, ức Trai mới viết nên những vần thơ tráng lệ như vậy.

Tiếp theo phần luận phép đối vẫn được sử dụng sáng tạo, cảm hứng lịch sử của thi nhân bừng sáng, ý thơ càng trở nên thâm trầm sâu sắc. Bài học giữ nước về địa lợi, về nhân hòa, về hào kiệt được nhà thơ nói lên rất thấm thía:

“Quan hà hiểm trở Trời kia dựng,

Hào kiệt công danh đất ấy từng”

Địa thế Bạch Đằng hiểm yếu, là tử địa đối với lũ giặc phương Bắc, cửa biển lòng sông hiểm yếu ấy là quà tặng của thiên nhiên ban cho nhân dân ta để bảo vệ xã tắc “vững bền muôn thuở”. Đất nước ta, dân tộc ta, anh hùng hào kiệt thời nào cũng có. Họ đã đem tài thao lược bài binh bố trận để lập nên những chiến công bất tử trên lòng sông Bạch Đằng. Quan hà với hào kiệt, trời với đất, được đặt trong thế đăng đối, Ức Trai muốn khắc sâu tư tưởng yêu nước chống xâm lăng. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc Đại Việt từng diễn ra trên Bạch Đằng là chính nghĩa, lòng dân hợp lẽ Trời nên dã chiến thắng vẻ vang. Hai câu kết, giọng thơ sâu lắng với bao cảm xúc mênh mang. Niềm cảm hoài dào dạt. Tâm hồn thi nhân như chan hòa với sông núi, mây Trời, sông nước. Tâm trí người anh hùng “Bình Ngô” sống lại một thời quá khứ oanh liệt của tiền nhân, suy tư trước những “việc cũ”, tìm lại “bóng” những anh hùng thuở trước mà lòng bâng khuâng.

Câu thơ cảm thán vang lên bồi hồi, luyến tiếc, gợi lên bao nỗi nhớ thương man mác:

“Việc cũ ngoảnh đầu ôi đã dứt

Dòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng"

Đằng sau những cảnh núi sông tráng lệ là hình ảnh nhân dân anh hùng được nhà thơ ca ngợi với tất cả niềm tự hào về sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam.

Đọc bài thơ “Cửa biển Bạch Đằng”, đã cảm nhận sâu sắc thêm vế đối của người xưa: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” - Ta thêm yêu đất nước và con người Việt Nam, tự hào về những trang sử chống xâm lăng của nhân dân ta. Tâm hồn Ức Trai đã hóa núi sông ta.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 4

Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc mà còn là một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, tinh tế với tình yêu thiên nhiên gắn liền với vận mệnh đất nước. Trong di sản văn học đồ sộ của ông, Bạch Đằng hải khẩu (trích trong Ức Trai thi tập) nổi lên như một bài ca hào hùng, nơi vẻ đẹp kì vĩ của thiên nhiên hòa quyện cùng những âm vang lịch sử, dẫn dắt người đọc đi từ niềm tự hào sục sôi đến những nốt lặng suy tư sâu sắc.

Bao trùm toàn bộ tác phẩm là cảm hứng yêu nước mãnh liệt và lòng tự hào khôn xiết về lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai rất tự nhiên, đi từ cái nhìn bao quát trước không gian rộng lớn của cửa biển, sau đó lắng đọng lại trước những dấu tích chiến trường xưa, và kết thúc bằng nỗi bâng khuâng, trăn trở của một tâm hồn nặng lòng với lịch sử.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Trãi đưa ta đến với một không gian thiên nhiên đầy sức sống và sự dữ dội:

“Sóc phong xuy hải khí cuồn cuộn”

(Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn)

Hình ảnh “gió bấc” gợi thời gian mùa đông lạnh lẽo, uy nghiêm. Từ láy “cuồn cuộn” được sử dụng vô cùng đắc địa, gợi tả những luồng gió mạnh mẽ, lớp lớp nối đuôi nhau tràn trên mặt sóng, tạo nên một cảnh tượng biển trời hùng vĩ. Thế nhưng, giữa cái dữ dội ấy, hình ảnh con người hiện lên thật ung dung: “Kinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng”. Một cánh buồm thơ (ngâm phàm) nhẹ nhàng lướt đi trên cửa biển, tạo nên sự đối lập thú vị giữa cái mênh mông của biển trời và sự thanh tao, trữ tình của thi sĩ.

Đi sâu vào cửa biển, cảnh sắc không chỉ là thiên nhiên thuần túy mà còn là một “chiến địa” hiểm trở, nơi ghi dấu những chiến tích oai hùng:

“Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.”

Bằng nghệ thuật đối tài tình, Nguyễn Trãi đã tái hiện lại trận chiến năm xưa qua những hình ảnh ẩn dụ sắc sảo. “Cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ” là cách nói hình tượng về sự thất bại thảm hại của quân xâm lược. Những dãy núi uốn lượn (khúc khúc) và bờ bãi xếp chồng (tằng tằng) hiện lên như những bức tường thành thiên nhiên bảo vệ đất nước. Hình ảnh “cây giáo bị chìm, chiếc kích bị gãy" chất đống mà thành bờ bãi không chỉ gợi sự khốc liệt của chiến tranh mà còn khẳng định sức mạnh vô song của dân ta khi nhấn chìm mọi phương tiện chiến tranh của kẻ thù.

Đứng trước dòng sông lịch sử, Nguyễn Trãi mượn điển cố trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên: “Quan hà bách nhị do thiên thiết” để khẳng định địa thế hiểm yếu là do trời thiết lập. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả chính là con người: "Hào kiệt công danh thử địa tằng”. Câu thơ là lời tri ân đến những vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo – những người đã biết dựa vào thế núi sông để lập nên kì tích nghìn thu.

Tuy nhiên, bài thơ không chỉ dừng lại ở tiếng reo vui chiến thắng. Ở hai câu cuối, giọng thơ bỗng chùng xuống, mang đậm chất triết lí và chiêm nghiệm:

“Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.”

Từ cảm thán “Ôi” (ta) vang lên đầy tiếc nuối khi nhìn lại những việc đã qua. Đứng trước dòng nước trôi chảy không ngừng nơi cửa biển, tác giả suy tư về những chiến công hiển hách, về sự đổi thay của thời đại mà lòng bâng khuâng, không thể diễn tả hết bằng lời. Đó là nỗi lòng của một người con ưu tú luôn đau đáu về việc giữ gìn bờ cõi sao cho xứng đáng với lớp cha ông đi trước.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ phép đối, phép đảo đặc sắc cùng ngôn ngữ giàu sức gợi hình. Nguyễn Trãi đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tả thực và lãng mạn, tạo nên một bức tranh phong cảnh vừa hùng vĩ, vừa u hoài.

Bạch Đằng hải khẩu không chỉ là một tác phẩm ca ngợi non sông, mà còn là bài học về lòng biết ơn đối với các vị anh hùng dân tộc. Qua bài thơ, chúng ta được nhắc nhở phải biết trân trọng những giá trị lịch sử, sống chậm lại để cảm nhận vẻ đẹp của quê hương và giữ gìn ngọn lửa tự hào dân tộc trong tim.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 5

Nguyễn Trãi (1380-1442) có hơn một trăm bài thơ chữ Hán hiện sưu tầm được. Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh (vợ vua Lê Thái Tông) và bọn gian thần đã âm mưu tàn độc, giết hại cả ba họ Đại công thần khai quốc Nguyễn Trãi và vợ ông là bà Lễ Nghi Học sĩ Nguyễn Thị Lộ, vào tháng Tám năm Nhâm Tuất 1442.

Mục tiêu chủ yếu là giết người diệt khẩu, nhằm che giấu việc bà Nguyễn Thị Anh đã có thai 3 tháng với Lê Nguyên Sơn, trước khi là vợ vua. Hơn hai chục năm sau, Nguyễn Trãi đã được vua Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan. Khoảng 15 vị Tiến sĩ đã được cử đi tìm kiếm di cảo thơ văn của Nguyễn Trãi còn lưu lạc trong dân gian.

Bên cạnh 254 bài thơ Nôm đã được tìm thấy, thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, cho dù chỉ còn rất ít ỏi, nhưng phần nhiều đều là những bài thơ hay, rất hay. Một số bài đặc biệt hay. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một trong nhiều bài thơ đặc sắc của Đại Thi hào dân tộc Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi viết “Bạch Đằng hải khẩu” ở thời điểm nào? Theo một số nhà nghiên cứu lịch sử, thì cửa biển Bạch Đằng xưa là cửa sông Chanh ở phía Đông Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ngày nay, không phải cửa Nam Triệu.

Tuy nhiên, sông Chanh cũng chỉ là một nhánh của hệ thống sông Bạch Đằng, mà nơi diễn ra các trận đánh của Ngô Quyền, của Lê Hoàn, của Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn chống giặc phương Bắc, lại bao chứa một khoảng không gian khá rộng, gồm cả hai bờ của dòng sông Bạch Đằng, phía Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh, phía Nam thuộc Hải Phòng bây giờ, xưa cũng là vùng đất An Bang, Xứ Đông cả.

Chỉ có thể ước đoán rằng Nguyễn Trãi đã từng ngồi trên chiếc thuyền buồm mà qua cửa Bạch Đằng, trong mùa gió bấc, mà chắc là từ bờ Bắc sang bờ Nam, nương theo gió, để “Nhẹ kéo buồm thơ qua cửa Bạch Đằng” …

Có thể thấy đây là thời điểm mà tâm trạng Nguyễn Trãi có phần phấn khích. Có lẽ, đây là thời điểm Nguyễn Trãi đã được phục chức, ở thời kỳ vua trẻ Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) trị vì. Ngoài các chức vụ được giao ở triều đình, Nguyễn Trãi còn được giao thêm việc quản lý quân dân hai đạo vùng Đông Bắc, một vùng đất biên cương chiến lược, cực kỳ quan trọng.

Ở thời điểm này, Nguyễn Trãi đi khinh lý khắp vùng Đông Bắc. Thi nhân cũng sáng tác khá nhiều bài thơ, cả chữ Hán và chữ Nôm. Bài thơ chữ Hán “Bạch Đằng hải khẩu” được ra đời trong thời điểm và hoàn cảnh đó…

Gió bấc thổi trên biển, mang theo “khí lạnh”, nhưng chưa phải là gió cắt da cắt thịt. “Khí lăng lăng”, cũng mới chỉ là săn se lành lạnh, cuối thu, chưa ảnh hưởng nhiều tới việc đi lại, nên thi nhân mới có thể “Nhẹ kéo buồm thơ qua cửa Bạch Đằng”, cùng với một tâm trạng lâng lâng của một thi nhân đang làm chủ hoàn cảnh, làm chủ chính mình, tâm hồn có vẻ tiêu sái.

Hai câu 3 và 4, tả thực. Tả cảnh núi non và quang cảnh hai bờ sông Bạch Đằng:

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Núi non lớp lớp nối tiếp nhau, chen vai thích cánh như luỹ như thành, như cá sấu bị chặt (ngạc đoạn), như cá kình bị mổ (kình khoa); rồi ngổn ngang chồng chất gò đống, ngòi lạch, hiện lên như thể những mũi qua chìm (qua trầm), những ngọn kích gãy (kích chiết) bên bờ sông…

Tả cảnh, liệt kê, liên tưởng so sánh khoa trương, nhưng là một sự liên tưởng rất chính xác, rất gợi cảm và hấp dẫn. Hơn thế, tả cảnh vật mà tác giả như đang dựng lại, đang tái hiện lịch sử oai hùng của những trận chiến ác liệt như thể vừa mới diễn ra ở chính nơi này, với một cảm hứng vô cùng hào sảng.

Người đọc có thể hình dung như thấy khúc sông này đang sôi lên tiếng hò reo dậy đất, tinh kỳ phấp phới, “Trận đánh thư hùng chửa phân/ Chiến luỹ Bắc Nam chống đối/ Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ/ Bầu trời đất chừ sắp đổi”.

Phải có một tâm hồn khoáng đạt, một tầm quan sát sâu rộng và khả năng liên tưởng nhạy bén, tài hoa, mới có thể sáng tạo được những câu thơ tràn đầy hào khí hào hùng như vậy!

Hai câu tiếp theo, luận về địa lợi. Bởi đang đối diện với núi non cảnh vật bên sông Bạch Đằng, cho nên tác giả mới “luận” về địa lợi, tức là cái sự lợi hại của hình thế núi non sông nước Bạch Đằng, xét về mặt quân sự.

Tác giả viết:

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Bách nhị (hai trăm), đấy là mượn điển tích của sách SỬ KÝ bên Tàu, nói rằng hai vạn quân Tần, có thể đánh thắng được hai trăm vạn quân các nước chư hầu. Tức là hai người lính chốt giữ nơi hiểm yếu (cửa ải Hàm Cốc), có thể địch nổi trăm quân đối phương.

Cũng vậy, địa thế hiểm trở của Bạch Đằng, có thể làm tiêu vong bất kỳ đội quân xâm lược nào, cho dù chúng rất hùng hậu và thiện chiến. Trời đất đã sắp đặt cho ta quan hà hiểm yếu, ở chính nơi đây (thử địa tằng) để chống kẻ mạnh cuồng ngông và tàn bạo.

Đấy cũng chính là nơi anh hùng hào kiệt có thể lập nên công danh rạng rỡ, như Ngô Quyền, như Lê Hoàn, như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và biết bao anh hùng hào kiệt hữu danh và vô danh khác, nối tiếp nhau trong lịch sử chống xâm lăng, bảo vệ độc lập dân tộc.

Hai câu kết, cảm thán, suy tư về lịch sử.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.

(Ngoảnh đầu xem việc cũ, than ô

Cúi xuống dòng sông mò bóng, tâm sự không thể nói nên lời)

Việc cũ, việc xưa (vãng sự), tức những trận chiến ác liệt từng diễn ra trên sông Bạch Đằng, những chiến công làm xoay chuyển trời đất, quay đầu nhìn lại, than ôi, tất cả đã trôi vào dĩ vãng. Bọn xâm lược đã tiêu vong, anh hùng lưu danh muôn thuở. Muôn lớp anh hùng về thiên cổ, chỉ còn dòng sông vẫn chảy hoài, mà nhục quân thù khôn rửa nổi! Trong lòng thi nhân trào lên bao nỗi cảm hoài mà “Cúi xuống dòng sông mò bóng, bao ý tình không sao nói hết ra được” …

Không nói, nhưng thật ra tình thơ ý thơ đã hiển lộ cả rồi. Chỉ là để cảm thán đấy thôi, cho ngân nga mãi tiếng lòng thi nhân đang dạt dào cảm xúc. “Cúi xuống dòng sông mò bóng” là một hình ảnh thơ rất lạ và giàu sức gợi hình, gợi cảm.

Ngồi trên chiếc thuyền nhẹ, kéo buồm thơ trên sông nước Bạch Đằng, rồi cúi xuống dòng sông lịch sử này mà “mò bóng”, mò chính cái bóng mình soi xuống, hay là mò cái bóng hình quá khứ xa xăm? Có lẽ là cả hai vậy! Và ý “nan thăng” (ý khó nói ra thành lời), cảm xúc không nói thành lời, không thể diễn đạt nên lời. Một ý thơ hàm xúc và độc đáo, nếu tôi không nhầm, thì mới chỉ thấy trong thơ của đại thi hào Nguyễn Trãi mà thôi!

Riêng câu cuối “Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng”, Trung tâm nghiên cứu Quốc học chép là “Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng” và dịch là “Trên sông ngắm cảnh, tình ý khó nói nên lời”…

Trộm nghĩ, nếu là chữ “phủ cảnh”, thì câu thơ bình thường, một nhà thơ cỡ “Thường thường bậc trung” cũng viết được. Chúng tôi tán thành bản chép của cụ Đào Duy Anh là “phủ ảnh”. “Lâm lưu phủ ảnh (Cúi xuống dòng sông mò cái bóng). Đấy mới là chữ của Nguyễn Trãi, là “thương hiệu Nguyễn Trãi”, bậc đại bút hàng đầu trong thơ ca nước Việt mấy ngàn năm.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 6

Nhà thơ Nguyễn Trãi đến cửa biển Bạch Đằng thi hứng trào dâng, ông đã sáng tác bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” (Cửa biển Bạch Đằng) hào khí ngùn ngụt:

“Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm tha lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vàm non mấy khúc

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng…”

Sức hấp dẫn của “Cửa biển Bạch Đằng” trước tiên là ở không gian, sông rộng, cửa biển mở ra bát ngát, gió biển lùa vào cửa sông, sóng lớn. Nhà thơ dong buồm dạo chơi trên cửa sông Bạch Đằng:

“Biển rung gió bấc thế bừng bừng

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đàng.”

Hình ảnh cánh buồm của nhà thơ kéo lên là nét cuối cùng hoàn mỹ bức tranh “Cửa biển Bạch Đằng”. Cảnh vừa hùng vĩ với núi non, sông nước, cửa biển, vừa thơ mộng với hình ảnh mong manh của cánh buồm trước gió. Nhà thơ không nói lộ ra như Cao Bá Quát “núi non đã kỳ tuyệt, lại thêm ta đến đây”, nhưng từng chi tiết, từng hình ảnh thơ khiến cho người đọc nghĩ đến lời của họ Cao.

Dạo thuyền trên sông nước, nhà thơ quan sát quang cảnh Bạch Đằng. Nhìn vào đâu nhà thơ cũng thấy dấu ấn của lịch sử:

“Kình ngạc băm vàm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.”

Những hình ảnh ẩn dụ “Kình ngạc băm vằm” vừa miêu tả được cảnh núi non hiểm trở vừa gợi lại những chiến tích chống xâm lăng của cha ông xưa. Quang cảnh như một bãi chiến trường với “Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”. Hình tượng thơ xứng với hào khí của người xưa, bộc lộ được niềm tự hào của tác giả đối với chiến tích Bạch Đằng.

Chuyển sang hai câu luận (5,6), tác giả suy tưởng về địa thế hiểm trở của núi non, về anh hùng hào kiệt của sông nước Bạch Đằng:

“Quan hà hiểm yếu trời kia đặt

Hào kiệt công danh đất ấy từng.”

Từ “hiểm yếu” dịch thoát mà hay. Trong nguyên bản chữ Hán là “bách nhị”, tác giả dùng chữ của Tư Mã Thiên khen địa thế của nước Tần là “bách nhị”, nghĩa là địa thế hiểm trở, quân ít có thể chống lại kẻ địch nhiều (hai người có thể địch nổi trăm người). Tác giả còn suy tưởng một cách thiêng liêng:

“Quan hà hiểm yếu trời kia đặt”

Trong văn chương mỗi khi hình ảnh trời xuất hiện đều tạo ra không khí thiêng liêng. Trong bài “Nam quốc sơn hà”, Lý Thường Kiệt cũng viết:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

(Núi sông nước Nam vua Nam ở,

Cương giới đã ghi rõ trong sách Trời)

“Quan hà bách nhị do thiên thiết” này gắn liền với những anh hùng hào kiệt như Ngô Quyền (diệt quân Nam Hán thế kỉ IX), Trần Hưng Đạo (diệt quân Nguyên thế kỉ XIII). Từng chữ thơ thấm đẫm tinh thần tự hào của tác giả về non nước, về những bậc anh hùng hào kiệt đã có những chiến công lẫy lừng bảo vệ đất nước.

Từ cảm hứng lịch sử với giọng thơ hào hùng, nhà thơ chuyển sang dòng cảm nghĩ về thế sự với giọng bùi ngùi:

“Việc trước quay đầu ôi đã vắng

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng…”

Tâm trạng của nhà thơ được thể hiện một cách kín đáo nhưng cũng không giấu được sự thất vọng của nhà thơ đối với xã hội bấy giờ. Theo ông, những chiến công oanh liệt bảo vệ đất nước của cha ông, những anh hùng hào kiệt chỉ còn là chuyện cũ, chuyện của lịch sử.

Còn thời đại của nhà thơ đang sống?. Một thời đại khởi đầu thật là oanh liệt, nhưng giờ đây chỉ còn một lũ quan bất tài, xiểm nịnh, ghen ghét người trung nghĩa. Nhà thơ viếng cảnh sông Bạch Đằng lòng bồi hồi khôn xiết:

“Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng…”

Nhiều nhà thơ đã đến cửa biển Bạch Đẳng lịch sử và đều có thơ để lại, nhưng có lẽ bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” (Cửa biển Bạch Đằng) của Nguyễn Trãi là bài thơ hay hơn cả. Quang cảnh Bạch Đằng được miêu tả vừa thơ mộng, vừa hùng vĩ, tráng lệ.

Những chiến tích của Bạch Đằng vừa là của anh hùng hào kiệt lại vừa là của khí thiêng sông núi. Cảm hứng lịch sử hòa quyện với cảm hứng thế sự khiến cho từng câu thơ có sự xôn xao ở bên trong và rung động lòng người đọc.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 7

Bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” rút trong tập thơ “ức Trai thi tập” hiện có 105 bài thơ chữ Hán. Trong “Nguyễn Trãi toàn tập” học giả Đào Duy Anh xếp bài thơ này vào số 45/105 bài.

Bạch Đằng là dòng sông lịch sử oai hùng. Năm 938 Ngô Quyền chém đầu tướng Hoàng Thao tiêu diệt quân Nam Hán xâm lược. Năm 981 Lê Hoàn đánh bại giặc Tông. Năm 1288 Trần Quốc Tuấn đại phá giặc Nguyên Mông bắt sống ồ Mã Nhi. Nhiều nhà thơ đã viết về sông Bạch Đằng. Bài thơ “Cửa biển Bạch Đằng” ca ngợi sông Bạch Đằng hùng vĩ là mồ chôn quân xâm lược. Nhìn dòng sông, Nguyễn Trãi tự hào về cửa ải hiểm trở, tự hào về anh hùng hào kiệt, rồi lòng man mác bâng khuâng.

Bao trùm toàn bài thơ là cảm hứng lịch sử, là niềm tự hào dân tộc. Bài thơ chữ Hán viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Ngôn ngữ cổ kính trang trọng, hàm súc. Nguyễn Trãi đến thăm cửa biển Bạch Đằng với cánh buồm thơ lộng gió tâm hồn thi sĩ. Gió bấc thổi mạnh trên mặt biển. Hình ảnh “cánh buồm thơ nhẹ” là một nét vẽ thần tình và tài hoa:

“Biển rung gió bấc thế bừng bừng

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng”.

Ngắm biển trời bát ngát mênh mông, nhà thơ xúc động miêu tả cảnh núi non, bờ bãi nơi cửa biển Bạch Đằng bằng hai nét vẽ ẩn dụ hoành tráng, cái cao cái thấp, cái gần cái xa, đăng đối gợi cảm:

“Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng”.

Núi nhấp nhô từng khúc như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ. “Kình ngạc” trong thơ cổ tượng trưng cho lũ giặc dữ; trong văn cảnh chỉ lũ giặc phương Bắc bị quân ta tiêu diệt trên Bạch Đằng giang. Bờ bãi lớp lớp như giáo gươm (quân xâm lược) bị chìm gãy chồng chất lên.

Cũng là hình ảnh ẩn dụ gợi tả sự thất trận của lũ giặc Nam Hán, giặc Tống, giặc Nguyên Mông thuở nào. Đây là hai câu thơ có hình tượng kì vĩ, hàm súc, giàu chất liên tưởng, mang cảm hứng lịch sử oai hùng. Sông Bạch Đằng, cửa biển Bạch Đằng là tử địa quân xâm lược phương Bắc:

“Bạch Đằng một cõi chiến tràng

Xương phơi trắng đất, máu màng đỏ sông”.

(Đại Nam Quốc sử diễn ca)

Thơ trở nên sâu lắng trong suy tưởng. Nguyễn Trãi khẳng định quan hà hiểm yếu. Sông Bạch Đằng hiểm yếu do thiên nhiên sắp đặt ra. Cũng là nơi để bậc anh hùng dụng binh chông giặc, lập nên bao chiến công lừng lẫy: “Tiếng thơm đồn mãi – Bia miệng chẳng mòn” (Trương Hán Siêu). Phép đốì tạo nên vần thơ đẹp, ca ngợi núi sông hiểm trở, dân tộc Đại Việt có nhiều anh hùng hào kiệt:

“Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng”.

Tên tuổi những anh hùng như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Trần Quốc Tuấn… bất tử với sông Bạch Đằng lịch sử.

Giọng thơ càng về cuối càng thiết tha sâu lắng. Đối cảnh mà sinh tình. Đến dòng sông nhìn cảnh mà nhớ bóng người xưa, lòng dạ cảm hoài bâng khuâng khôn xiết kể. Hoài niệm tạo nên chất thơ. Tự hào, nhớ thương, nghĩ về cái còn và cái mất, cái hiện tại và cái đã qua:

“Việc trước quay đầu ôi đã vắng

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng”.

Cũng nói về hồn thiêng sông núi, cũng nói về đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi sức mạnh Việt Nam mà Nguyễn Trãi chỉ nói về một cửa biển và một dòng sông Bạch Đăng. Mỗi chữ, mỗi câu thơ, mồi hình ảnh về cửa biển Bạch Đằng mà nhà thơ nói đến như nâng cao tầm vóc lớn lao của dân tộc để chúng ta yêu thêm sông núi tổ quôc thân yêu, yêu thêm truyền thống anh hùng của dân tộc và tin tưởng vào tiền đồ xán lạn của đất nước muôn đời.

“Cửa biển Bạch Đằng” là bài thơ kiệt tác tiêu biểu cho hồn thơ trang trọng hào hùng và tráng lệ của Nguyễn Trãi, mãi mãi “lấp lánh sao Khuê”.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 8

Bài thơ “Cửa biển Bạch Đằng” là một trong những bài thơ kiệt tác ca ngợi đất nước và nhân tài Việt Nam. Bài thơ như một thiên bút kí trữ tình về một cuộc du ngoạn tuyệt đẹp của thi nhân:

“Biển lùa gió bấc thổi băng băng

 Nhẹ kéo buồm thơ vượt Bạch Đằng.

Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,

Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng.

Quan hà hiểm trở, Trời kia dựng

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Chuyện cũ ngoảnh đầu, ôi đã dứt

Dòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng"

Mở đầu bài thơ là hình ảnh “cánh buồm căng gió lướt nhẹ vượt Bạch Đằng Giang”. Một không gian mênh mông, bao la biển Trời sông nước. Gió biển lùa thổi mạnh, con thuyền lướt “băng băng “trên mặt biển. Cảnh quan bao la ấy của biển trời đã khơi dậy một tứ thơ khoáng đạt dâng lên dào dạt trong tâm hồn phơi phới của thi nhân. Du khách cùng với con thuyền và cánh buồm thơ đang sống trong tâm thơ vô cùng ung dung, thư thái:

“Biển lùa gió bấc thổi băng băng,

Nhẹ kéo buồm thơ vượt Bạch Đằng”.

Ức Trai đến với dòng sông, cửa biển không chỉ để thưởng ngoạn vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên mà còn muốn tìm lại một thời đã qua, một thời oanh liệt về dòng sông lịch sử này. Hai câu thực là bức tranh hoành tráng về dòng sông, cửa biển Bạch Đằng:

“Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,

Giáo chìm gươm gãy bãi dăng dăng”,

Núi, sông, bờ bãi hiện lên qua vần thơ và các hình ảnh ẩn dụ: “Ngạc”, “kình”, “gươm giáo “mang ý nghĩa tượng trưng. Trên cửa biển Bạch Đằng, núi trập trùng như bức trường thành chẳng khác nào đàn cá ngạc, cá kình – lũ giặc phương Bắc bị nhân dân ta căm giận băm vằm và chặt thành từng khúc. Bờ bãi nhấp nhô “dăng dăng” kéo dài vô tận như giáo gươm của lũ giặc ngoại xâm bị nhân dân ta đánh chìm, bẻ gãy chất đống mà thành. Phép đối thần tình tạo nên vần thơ cân xứng hài hòa, cảnh vật cao thấp, xa gần đầy ấn tượng. Chất thơ dạt dào cảm hứng lịch sử đã đem đến cho người đọc những liên tưởng đầy tự hào về dòng sông và chiến công oai hùng của thiên nhiên.

Người đọc như cùng nhà thơ sống lại những năm tháng hào hùng thuở trước. Chính trên dòng sông Bạch Đằng này năm 938, Ngô Quyền đại thắng giặc Nam Hán, chém chết thái tử Hoàng Thao; Năm 1288, Trần Quốc Tuấn tiêu diệt 3 vạn quân Mông – Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi. Phải có một tấm lòng yêu nước và niềm tự hào lân tộc mãnh liệt, ức Trai mới viết nên những vần thơ tráng lệ như vậy.

Tiếp theo phần luận phép đối vẫn được sử dụng sáng tạo, cảm hứng lịch sử của thi nhân bừng sáng, ý thơ càng trở nên thâm trầm sâu sắc. Bài học giữ nước về địa lợi, về nhân hòa, về hào kiệt được nhà thơ nói lên rất thấm thía:

“Quan hà hiểm trở Trời kia dựng,

Hào kiệt công danh đất ấy từng”

Địa thế Bạch Đằng hiểm yếu, là tử địa đối với lũ giặc phương Bắc, cửa biển lòng sông hiểm yếu ấy là quà tặng của thiên nhiên ban cho nhân dân ta để bảo vệ xã tắc “vững bền muôn thuở”. Đất nước ta, dân tộc ta, anh hùng hào kiệt thời nào cũng có. Họ đã đem tài thao lược bài binh bố trận để lập nên những chiến công bất tử trên lòng sông Bạch Đằng. Quan hà với hào kiệt, trời với đất, được đặt trong thế đăng đối, Ức Trai muốn khắc sâu tư tưởng yêu nước chống xâm lăng. Cuộc chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ Tổ quốc Đại Việt từng diễn ra trên Bạch Đằng là chính nghĩa, lòng dân hợp lẽ Trời nên dã chiến thắng vẻ vang.

Hai câu kết, giọng thơ sâu lắng với bao cảm xúc mênh mang. Niềm cảm hoài dào dạt. Tâm hồn thi nhân như chan hòa với sông núi, mây Trời, sông nước. Tâm trí người anh hùng “Bình Ngô” sống lại một thời quá khứ oanh liệt của tiền nhân, suy tư trước những “việc cũ”, tìm lại “bóng” những anh hùng thuở trước mà lòng bâng khuâng. Câu thơ cảm thán vang lên bồi hồi, luyến tiếc, gợi lên bao nỗi nhớ thương man mác:

“Việc cũ ngoảnh đầu ôi đã dứt

Dòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng”

Nguyễn Trãi là nhà thơ viết nhiều, viết hay về cảnh trí thiên nhiên với một tình yêu tha thiết đối với tạo vật, với một cảm hứng lịch sử tràn đầy tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc:

“Núi Dục Thúy mưa tan, non tựa ngọc,

Cửa Đại An triều dậy, nước ngang Trời,"

(Vong Doanh)

“Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”

(Côn Sơn ca)

Đằng sau những cảnh núi sông tráng lệ là hình ảnh nhân dân anh hùng được nhà thơ ca ngợi với tất cả niềm tự hào về sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam.

Đọc bài thơ “Cửa biển Bạch Đằng”, đã cảm nhận sâu sắc thêm vế đối của người xưa: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng – Ta thêm yêu đất nước và con người Việt Nam, tự hào về những trang sử chống xâm lăng của nhân dân ta. Tâm hồn Ức Trai đã hóa núi sông ta.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 9

Dòng sông Bạch Đằng gắn với chiến công lừng lẫy của đất nước đã là nguồn cảm hứng cho nhiều nhà thơ các thế hệ khác nhau của dân tộc. Chúng ta đã từng biết đến thơ về Bạch Đằng của Trần Minh Tông, Trần Lâu, “Bài phú sông Bạch Đẳng” cùa Trương Hán Siêu, “Bạch Đằng hải khẩu” của Nguyễn Trãi, “Quá Bạch Đằng giang”, “Xuất Bạch Đằng hải môn tuấn An bằng của Lê Thánh Tông… Mỗi nhà thơ cảm nhận Bạch Đằng với một tâm trạng và diễn đạt điều đó bằng những bút pháp riêng.

Nguyễn Trãi qua Bạch Đằng vào một ngày đầy gió mạnh:

“Biển lùa gió bấc thổi băng băng”.

Nguyên văn “khi lăng lăng” mà có người dịch là thế bừng bừng. Khí lãng lăng như gợi nhớ lại không khí trận đánh mấy năm trước. Bây giờ nhà quân sự và cũng là nhà thơ Nguyễn Trãi đang có mặt ớ giữa nơi chiến trường xưa. Nhưng không chỉ đem con mắt của người làm tướng để xem chiến địa, mà chủ yếu như một nhà thơ du ngoạn.

Vi thế con thuyền của ông rất thi sĩ giương cánh buồm thơ:

“Nhẹ kéo buồm thơ vượt Bạch Đằng".

Chữ “quá” có nghĩa là vượt hoặc qua. Nhưng hình như dịch vượt Bạch Đằng thì quá sát và do đó mất đi cái vẻ thanh thoát và bay bổng. Câu thơ dịch của Nguyên Đình Hồ có lẽ đắt hơn:

“Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng”.

Cửa biển Bạch Đằng bát ngát trời mây núi non hùng vĩ là “danh thắng núi sông vào bậc nhất”, “bên tá sóng nước ngút trời núi non đứng sừng sững”. Nguyễn Trãi đã chú thích về cửa biển này như vậy dưới bài thơ của mình. Có thể có nhiều cách cảm nhận và suy tư trước phong cảnh Bạch Đằng. Nhưng Nguyền Trãi vốn là nhà quân sự – nhà thơ – nên cách cảm nhận mang dấu ấn độc đáo, đượm màu sắc lịch sử hào hùng:

“Ngạc chặt kình băm non lởm chởm,

Giáo chìm gươm gãy bãi giăng giăng”.

Xin hãy chú ý một chút về cách nhìn núi và nhìn bãi bờ sông. Cũng là một cách so sánh, nhưng nếu viết: Núi như cá sấu bị chặt, cá kình bị phanh thì trước hết vẫn nhìn thấy núi. Nhưng Nguyễn Trãi tả:

“Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc”.

Rõ ràng ấn tượng mạnh, ấn tượng bao trùm là cảnh cá sấu bị chém, cá kình bị băm. Đó là cảnh núi non, nhưng trước hết đó là cảnh quân giặc dữ bị băm vằm trên cửa biển này mấy trăm năm trước. Cũng như thế, khi nhìn bờ bãi thì chưa thấy bờ mà thấy tầng tầng giáo gãy sương chìm, ở đây cảm hứng lịch cứ sống động mãnh liệt đã làm cho quang cảnh chiến địa được đẩy lên bình diện thứ nhất, còn cảnh thực thì lui xuống bình diện thứ hai.

Cần phải so sánh thêm một chút để thấy rõ điều này. Cùng với hồn thơ ấy, cũng tả núi ờ biến san sát hùng vĩ, như núi ở Vân Đồn:

“Đường Vân Đồn núi rồi lại núi”.

Muôn hộc núi xanh đen tựa những làn tóc màu xanh rủ xuống núi Vân Đồn. Còn đây là núi ờ cửa biển Thần Phù:

“Ngân ngọn núi sát bờ bày ra như măng mộc”.

(Qua cửa biển Thần Phù)

Điều này nói lên sự đa dạng trong cách cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Trãi, nhưng trước hết cho thấy chính cảm hứng lịch sử đã khiến nhà thơ nhìn cảnh núi Bạch Đằng bằng cách nhìn như vậy.

Cảnh núi hiểm trở là cảnh của thiên nhiên. Nhưng con người anh hùng và chiến công của họ cũng góp phần làm cho cảnh sắc trở nên nổi tiếng. Hai câu thơ phần luận tiếp nối cảm hứng lịch sử ở trên.

Sự đối sánh giữa núi non hùng vĩ và hào kiệt anh hùng gợi thêm suy tưởng. Có lẽ núi sông của thiên nhiên tạo ra như đã dành sẵn để mãi mãi ghi chiến công của anh hùng hào kiệt. Và người anh hùng, tuy cuộc đời là hữu hạn nhưng với chiến công họ có thể trường tôn với núi sông:

“Việc cũ ngoảnh đầu ôi đã dứt,

Dòng trôi tìm bóng dạ bâng khuâng".

Nhà thơ Nguyễn Trãi thăm Bạch Đằng là để tìm lại người xưa với việc xưa. cảnh thì vẫn như xưa đó, nhưng việc xưa với người xưa nào thấy đâu ? Đến đây ta đoán ra vì sao trong câu thơ đầu tiên Nguyễn Trãi viết “gió bấc”. Ngày 8 tháng 3 năm Mậu Tí 1288 quân ta đại thắng trận Bạch Đằng.

Rất có thể mấy trăm năm sau Nguyễn Trãi đến thăm Bạch Đằng đúng vào ngày, hoặc đúng vào thời gian gần ngày chiến thắng nhất. Đó là khi còn có gió bấc thổi vào mọi cảnh vật gợi nhớ chiến địa rõ ràng hơn. Nhìn lại “vãng sự”, ngắm lại cảnh xưa vào thời điểm ấy xiết bao ý nghĩa.

Là một nhà quân sự, là một người đã giúp Lê Lợi làm nên những chiến công hào hùng của dân tộc ta ở thế kỉ XV, những chiến công có thế sánh ngang tầm vóc của các bậc hào kiệt thời trước, Nguyễn Trãi càng dẻ dàng cảm xúc và hoài niệm. Một nổi cảm xúc bâng khuâng xao xuyến trong lòng trước cảnh sắc núi sông một thời lừng lẫy chiến công.

Có điều đáng nói là con người lừng danh hết sức khiêm tốn, ông cảm xúc thuần túy như là một công dân, một nhà thơ trước lịch sử chứ không hề với tư cách người làm nên lịch sử. Vì thế cảm hứng của Nguyễn Trãi gần gũi và thân thuộc với bất kì một người Việt Nam yêu nước nào trước lịch sử của cha ông.

Bài thơ cho thấy thêm một nét đẹp trong tâm hồn phong phú trong sáng như sao Khuê của Nguyễn Trãi, nhà thơ – người anh hùng dân tộc thế kỉ XV.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Bạch Đằng hải khẩu - mẫu 10

Nguyễn Trãi là một trong những bậc anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Không chỉ để lại dấu ấn trong lịch sử với tư cách một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, ông còn là một nhà thơ lớn với tâm hồn sâu sắc, giàu suy tư. Bài thơ “Bạch Đằng hải khẩu” (“Cửa biển Bạch Đằng”) là minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ ấy, thể hiện niềm tự hào dân tộc hòa quyện với những chiêm nghiệm thấm thía về lịch sử và thời gian.

Ra đời trong hoàn cảnh sau nhiều biến cố của cuộc đời, đặc biệt là sau vụ án Lệ Chi Viên, bài thơ mang đậm dấu ấn suy tư của một trí tuệ lớn. Lấy cảm hứng từ dòng sông Bạch Đằng – nơi ghi dấu những chiến công lừng lẫy của dân tộc, Nguyễn Trãi đã tái hiện lại không gian lịch sử vừa hùng tráng vừa thấm đẫm cảm xúc. Mạch cảm xúc của bài thơ vận động tự nhiên: từ niềm tự hào trước cảnh sắc và chiến tích xưa đến nỗi bâng khuâng, trầm tư trước dòng chảy vô tận của thời gian.

Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên nơi cửa biển Bạch Đằng hiện lên rộng lớn và dữ dội. Những hình ảnh như “gió bấc”, “khí lạnh”, “sóng nước” không chỉ gợi tả thời tiết khắc nghiệt mà còn làm nổi bật vẻ hùng vĩ của thiên nhiên. Không gian ấy như được khuấy động bởi sức mạnh của trời đất, tạo nên một phông nền hoành tráng cho những chiến công lịch sử. Trên nền cảnh đó, hình ảnh cánh buồm lướt nhẹ xuất hiện như một nét chấm phá đầy thi vị, mang lại cảm giác thanh thoát và trữ tình. Sự đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên và cái nhẹ nhàng của con người đã tạo nên một bức tranh vừa hào sảng vừa giàu chất thơ.

Không dừng lại ở việc miêu tả cảnh sắc, Nguyễn Trãi còn khéo léo gợi lại dấu tích của những trận chiến xưa. Những hình ảnh “cá kình, cá sấu bị chặt”, “giáo gãy, kích chìm” không chỉ mang tính tả thực mà còn ẩn chứa ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. “Kình ngạc” trong văn chương thường tượng trưng cho kẻ thù hung bạo, vì vậy việc chúng bị “chặt”, bị “mổ” chính là hình ảnh ẩn dụ cho sự thất bại của quân xâm lược. Cảnh vật nơi đây dường như vẫn còn lưu giữ hơi thở của chiến trận, mỗi ngọn núi, mỗi bờ bãi đều mang dáng dấp của lịch sử. Thiên nhiên không còn vô tri mà trở thành chứng nhân sống động của những chiến công oanh liệt.

Tiếp nối mạch cảm xúc, tác giả hướng về quá khứ với niềm tự hào sâu sắc. Ông nhắc đến những bậc anh hùng đã làm nên lịch sử trên dòng sông này, tiêu biểu là Ngô Quyền với chiến thắng năm 938 và Trần Hưng Đạo với trận Bạch Đằng năm 1288. Qua đó, Nguyễn Trãi khẳng định vai trò của con người trong việc làm nên lịch sử, đồng thời đề cao trí tuệ và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Những chiến thắng ấy không chỉ là kết quả của địa thế thuận lợi mà còn là minh chứng cho tài năng và ý chí kiên cường của các vị anh hùng.

Tuy nhiên, cảm xúc của bài thơ không dừng lại ở niềm tự hào. Hai câu thơ cuối mang đến một sắc thái hoàn toàn khác: trầm lắng và suy tư. Đứng trước cảnh cũ, nhớ về người xưa, tác giả không khỏi ngậm ngùi khi nhận ra tất cả đã trở thành quá khứ. Những chiến công hiển hách nay chỉ còn là dấu tích, khiến lòng người dâng lên nỗi bâng khuâng khó tả. Đó không chỉ là nỗi tiếc nuối mà còn là sự chiêm nghiệm sâu sắc về quy luật vô thường của thời gian. Qua đó, ta thấy được tầm vóc tư tưởng của Nguyễn Trãi – một con người luôn suy nghĩ về lịch sử, về sự tồn tại và ý nghĩa của con người trong dòng chảy bất tận của thời gian.

Về nghệ thuật, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu chặt chẽ, ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh. Các biện pháp như đối, ẩn dụ, đảo ngữ được sử dụng linh hoạt, góp phần làm nổi bật nội dung tư tưởng của tác phẩm. Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố miêu tả và biểu cảm đã tạo nên một bài thơ vừa giàu chất tạo hình, vừa sâu sắc về cảm xúc.

Có thể nói, “Bạch Đằng hải khẩu” không chỉ là khúc ca ngợi ca chiến công của dân tộc mà còn là bản suy tư đầy chiều sâu về lịch sử và con người. Qua bài thơ, Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ tấm lòng yêu nước thiết tha cùng trí tuệ lớn lao của mình. Tác phẩm vì thế không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn vang vọng đến hôm nay như một lời nhắc nhở về truyền thống và trách nhiệm đối với đất nước.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 10 sách mới các môn học