10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi

1. Mở bài

- Vũ Quần Phương là một trong những đại biểu xuất sắc của nền thơ chống Mỹ. Ông đã hướng ngòi bút của mình đến rất nhiều đề tài trong thế giới khách quan muôn màu, muôn vẻ. Mỗi bài thơ của anh như một bức tranh nhỏ về cuộc đời.

- Bài thơ “Nắng đã hanh rồi” in trong “Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2014. Bài thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên vào một buổi chiều đông tươi vui, hừng sáng, ấm áp và đầy sức sống. Qua đó, bộc lộ tâm trạng vui tươi, yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên, những rung cảm của nhân vật trữ tình trước khung cảnh lãng mạn, nên thơ.

2. Thân bài:

a. Khung cảnh thiên nhiên mùa đông ở trước sân.

- Nắng hanh: vừa nắng vừa lạnh.

 Đây là một kiểu thời tiết đặc trưng của mùa đông: “Nắng đã vàng hanh như phấn bay”.

Quảng cáo

- Tiếng sếu vọng sông ngày: theo như dân gian. Khi nghe tiếng sếu kêu nghĩa là báo hiệu mùa đông

 Khung cảnh thiên nhiên trước sân nhà tiêu điều, hiu hắt. Tác giả sử dụng láy vần “ay” mở rộng không gian trước sân nhà vào mùa đông. Nhà thơ nhắc đến nhân vật “em xa nhà” thể hiện những nỗi niềm nhớ nhung với cô gái ở xa.

b. Khung cảnh thiên nhiên mùa đông ở trên những mái tranh.

- Khung cảnh nắng hanh mùa đông thay bằng “nắng lên khói ủ”

→ Khói ở đây có thể là sương sớm nhưng cũng có thể là khói bếp chiều. Tác giả muốn miêu tả không gian trở thân thuộc, gần gũi.

- Nghệ thuật nhân hóa vườn mía “xôn xao” lá gợi không gian vui vẻ, phấn khởi với sự hiện diện thấp thoáng bóng con người

c. Khung cảnh thiên nhiên mùa đông ở trên núi.

- Dòng cảm xúc của nhân vật trữ tình tràn ngập nỗi nhớ mong

+ Câu hỏi tu từ “em có muốn…” Bộc lộ những cảm xúc khát khao được ở gần người con gái đang ở phương xa.

Quảng cáo

+ Cảnh nắng chiều luôn là một cảnh gợi nhớ đến nỗi niềm nhớ mong vì buổi chiều là lúc con người sum họp sau một ngày dài, cũng là lúc ngôi nhà chợt thấy thiếu vắng vì một người con gái đang ở xa.

d. Những hy vọng tương lai của nhân vật trữ tình.

- Điệp từ “xuân sắp sang” lặp lại hai lần

→ Nhân vật trữ tình như đang reo vui, phân khởi chờ mong mùa xuân tới cũng là chờ mong được sum họp, được gần gũi với người em ở phương xa. 

e. Đặc sắc nghệ thuật.

- Xây dựng hình ảnh gần gũi.

- Lời thơ nhẹ nhàng, sâu lắng.

- Các biện pháp tu từ đặc sắc.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: “Nắng đã hanh” rồi đã khắc họa thành công khung cảnh thiên nhiên trong tiết trời mùa đông hiện lên thật chân thực. Từ đây, ta cũng cảm nhận được những tình cảm chân thành của nhà thơ trong tình yêu, trong cuộc sống

Quảng cáo

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 1

Vũ Quần Phương là cây bút nổi bậc của nền văn học kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ ông trong trẻo, thâm trầm, giản dị, giàu cảm xúc, luôn bám sát hơi thở cuộc sống, ghi lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc. Trong đó, bài thơ “Nắng đã hanh rồi” (trích từ tập Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian) với những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật đã phác họa rõ nét bức tranh thiên nhiên mùa đông.

Nhan đề bài thơ gợi cho ta sự chuyển biến của tiết trời “Nắng đã hanh rồi”. Đất trời, vạn vật đang dần chuyển mình, bước vào thời điểm nắng hanh vừa nóng, vừa lạnh. Giây phút đắm mình trong thời tiết đặc trưng chỉ có ở đồng bằng Bắc Bộ mỗi độ đông đến, chủ thể trữ tình đã vẽ lên cảnh sắc:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Trước sân mây trắng về đông lắm”

Không còn là ánh nắng chói chang của ngày hè, vàng như mật ong của trời thu, nắng hanh mùa đông đến thật đặc biệt. Nó vẫn mang sắc vàng thường thấy nhưng lại giống “phấn bay”, nhẹ nhàng điểm xuyết trong tiết trời giá lạnh. Nhà thơ cũng thật tinh tế khi cảm nhận cảnh sắc thiên nhiên bằng thính giác. Từng đàn sếu vọng lại tiếng kêu như nhắc nhở, báo hiệu đông về. Và ở ngoài kia, những con sông đầy ắp phù sa nay đã gày mòn, ốm yếu. Thu lại tầm nhìn, chủ thể trữ tình phát hiện khoảng sân trước mắt “mây trắng về đông lắm”. Bầu trời một màu ảm đạm, khoác lên mình sắc trắng của mây. Từ đây, không gian như được mở rộng, trở nên cao và xa. Đứng trước khung cảnh hiu hắt, u buồn, chủ thể trữ tình càng thêm khắc khoải nỗi suy tư “Em ở xa nhà, em có hay”. Câu thơ đồng thời là lời thắc mắc, hoài nghi của “anh” với tự lòng mình và người “em” xa nhà.

Bức tranh thiên nhiên mùa đông tiếp tục được khơi gợi qua:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá”

Chủ thể trữ tình tiếp tục gợi nhắc cho “em” về hình ảnh thân quen của quê nhà. Đó là những mái nhà tranh đơn sơ đang hòa mình trong cái nắng hanh trời đông. Đó còn là ngọn khói nhẹ nhàng vấn vương, quấn quýt quanh căn nhà thân thương. Khung cảnh sau vườn cũng trở nên sôi động nhờ tiếng xôn xao như lời thì thầm của lá “tre mía xôn xao lá”. Từ hình ảnh thú vị ấy, chủ thể trữ tình như muốn gửi gắm tới “em” tình cảm sâu nặng “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành”. Lắng nghe, ngắm nhìn cảnh vật quanh mình, “anh” vẫn cảm thấy trống trải, đơn điệu về tâm hồn. Bởi thế, đến với khổ thơ thứ ba, “anh” đã có lời mời gọi:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”

Câu hỏi “Em có cùng anh lên núi không” không chỉ mang ý nghĩa mời mọc mà còn bộc lộ cảm xúc khát khao được ở gần người em xa nhà. Cảnh chiều tĩnh lặng, u hoài chất chứa bao tâm tư ở “anh”. Bên rừng thông, tiếng thầm thì nhỏ nhẹ vọng về, không biết “em” có nghe thấy không. m thanh quen thuộc của quê hương càng làm “anh” thêm da diết nỗi nhớ em. Đứng trước không gian rộng lớn của núi rừng ấy, chủ thể trữ tình lại cảm thấy thật lẻ loi, cô đơn. Nếu như nắng nhẹ nhàng buông xuống, ngả bóng vào cây thông rồi in xuống mặt đất thì “anh” vẫn một mình đứng đó. Giờ đây, trong anh là bao ngổn ngang cùng nỗi nhớ thương “em” sâu sắc nhưng chẳng biết ngả vào đâu. Có thể thấy, nhà thơ đã vô cùng tinh tế khi mượn trạng thái ở sự vật để gửi gắm tâm tư, nỗi niềm của chủ thể trữ tình.

Đông qua, xuân tới, một năm sẽ đến với bao chờ mong tha thiết:

“Xuân sắp sang rồi, xuân sắp qua

Một năm năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa”

Điệp từ “xuân sắp” như muốn nhấn mạnh, khẳng định giây phút chuyển mùa từ đông sang xuân sắp tới gần. Phải chăng, đây cũng là lúc “anh” và “em” sum họp bên nhau? Nhưng thời gian có vẻ trôi lững thững quá. Ngoài kia, nắng vàng vẫn nhẹ nhàng buông xuống nhân gian như từng sợi tơ.

Với lời thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, nhà thơ Vũ Quần Phương đã cho người đọc thấy được những rung cảm trong tình yêu, trong sự giao hòa cùng đất trời. Bên cạnh đó, các biện pháp tu từ như so sánh “nắng đã vàng hanh như phấn bay”, đảo ngữ “Vườn sau tre mía xôn xao lá” kết hợp cùng rất nhiều hình ảnh quen thuộc, gần gũi “nắng lên khói ủ”, “mái tranh”, “mây trắng”, “nắng hanh” như tô đậm cảnh sắc bức tranh thiên nhiên mùa đông yên bình, êm ả. Có thể thấy, khung cảnh thiên nhiên trong tiết trời mùa đông hiện lên thật chân thực qua bài thơ “Nắng đã hanh rồi”. Từ đây, ta cũng cảm nhận được những tình cảm chân thành của nhà thơ trong tình yêu, trong cuộc sống gắn bó, hòa hợp với tự nhiên.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 2

“Nắng đã hanh rồi” trích trong tập “Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vết thời gian” đã khắc họa thành công bức tranh thiên nhiên trong mùa đông lạnh giá.

Ngày từ đầu bài thơ, “Nắng đã hanh rồi” đó là sự chuyển biến của mùa trong năm, mọi khung cảnh đang chuyển mình, vào thời kì nắng hanh, điều đặc trưng chỉ có ở miền Bắc được tác giả phác họa lên cảnh sắc tươi đẹp:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Trước sân mây trắng về đông lắm”

Ở khổ thơ này, tác giả đã cho thấy sự chuyển tiếp rõ ràng sang đông, đã không còn những ánh nắng của ngày hè chói chang, những phấn bay của đàn ong, cảnh sắc đặc biệt để mùa đông đến thật đẹp và bình yên. Tiếng kêu văng vẳng tiếng vọng của đàn sếu như báo hiệu tín hiệu đầu tiên của mùa đông sắp tới. Đâu đó con sông đang vơi dần đi những giọt nước, ốm yếu dần. Trước mắt tác giả đã hiện ra những mảng mới trước sân, “mây trắng về đông lắm”. Đông sang, bầu trời âm u hơn những đám mây trắng. Tất cả cảnh vật như được lấp đầy một màu đông sang, những cái nắng chói chang của mùa hè đã qua đi để lại những cảnh sắc thiên nhiên đó mà chuyển sang một mùa đông mới.

Mùa đông trong không gian bầu trời âm u với làn mây trắng như vậy, khung cảnh như hiện lên màu sắc mới, riêng biệt mà chỉ mùa đông mới có, tác giả nhắc đến chủ thể trữ tình “em” độc đáo trong bài thơ:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá”

Nhân vật trữ tình “em” được tác giả khắc họa vô cùng độc đáo, thân quen của quê nhà, những mái nhà đơn sơ trong cái nắng hanh khi đông vừa về, tất cả đã hòa mình vào mùa đông. Tác giả sử dụng ngọn khói rất đỗi thân thương và tràn đầy bình yên của quê hương, những làn gió vấn vương, trải quanh căn nhà thân thương và tràn đầy ấm áp. Đâu đó, khu vườn với khung cảnh xôn xao của lá tre tạo nên âm thanh tràn đầy màu sắc thu hút chủ thể trữ tình.

Tình cảm của anh dành cho nhân vật trữ tình “em” được tác giả nói lên trong khổ thơ này:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thì tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”

Khổ thơ này, tác giả đã dùng hình ảnh anh – em song song để biểu thị ý nghĩa về mặt trời mọc mà còn để bộc lộ những cảm xúc khát khao, mong muốn được ở cạnh người em khi xa nhà. Trong rừng, tiếng thì thầm của cây thông nhỏ nhẹ ùa về, liệu em có nghe thấy những tiếng thì thầm đó và nhớ đến anh trong buổi chiều âm u và đầy tâm tư nơi anh. Đó là nỗi nhớ của anh dành cho em, với không gian rộng lớn như vậy, nhân vật trữ tình lại cảm thấy trống vắng, lẻ loi. Ánh nắng chiều tà ngả bóng hàng thông, bao nhớ nhung ùa về mà chỉ anh còn đứng một mình nơi đây đợi em, đợi người em yêu thương của anh. Nhà thơ đã gửi gắm biết bao tâm tư, tình tế khi mượn trạng thái của những sự vật xung quanh đầy thân thuộc và gần gũi với con người.

Thế rồi mùa đông sắp qua đi, xuân lại đến với bao hi vọng, niềm vui mới:

“Xuân sắp sang rồi, xuân sắp qua

Một năm năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa”

Đông qua, xuân đến, tác giả lại miêu tả thời khắc chuyển giao của mùa xuân, điệp từ “xuân sắp” có thể đây là thời điểm thích hợp để sum vầy, để anh em ta được ở bên nhau sau những ngày tháng xa cách. Có lẽ thời gian đã trôi quá chậm để đến thời điểm giao khắc đó. Ánh nắng ngoài kia vẫn đong đầy, nhẹ nhàng buông xuống từ trời cao đầy suy tư của nhân vật trữ tình.

Những lời thơ chan chứa cảm xúc ấm áp đã lay động trái tim bao độc giả yêu thơ, nhà thơ Vũ Quần Phương đã khắc họa những khung bậc và rung cảm trong tình yêu đầy chan chứa. Ngoài ra, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật độc đáo, những lời thơ đầy tính truyền cảm kết hợp với hình ảnh thơ quen thuộc, gần gũi, “mây trắng”, “nắng hanh” tạo nên một tổng thể thẩm mĩ đầy tinh tế và sáng tạo. Từ đó, ta cảm nhận được ở tác giả Vũ Quần Phương tình yêu quê hương, tình cảm chân thành trong tình yêu và gắn bó với cuộc sống hòa hợp vào thiên nhiên.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 3

Trong dòng thơ Việt Nam hiện đại, Vũ Quần Phương là một tiếng nói lặng lẽ mà tinh tế, thường tìm đến những rung động rất khẽ của tâm hồn. Nắng đã hanh rồi là một thi phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ không ồn ào, không kịch tính, mà như một lời thì thầm, nơi nỗi nhớ trong tình yêu xa cách hòa vào nhịp chuyển mình mong manh của đất trời.

Ngay từ nhan đề, “nắng hanh” đã gợi ra một thời điểm giao mùa – cuối thu, đầu đông – khi không khí se lạnh, trong trẻo mà man mác buồn. Trong không gian ấy, thiên nhiên hiện lên vừa thực vừa gợi cảm: “nắng như phấn bay”, “tiếng sếu vọng sông gày”. Những hình ảnh ấy không chỉ tả cảnh mà còn phản chiếu tâm trạng, gợi cảm giác trống vắng, cô liêu. Từ cảnh, dòng cảm xúc hướng về “em” – một hình bóng vắng mặt nhưng lại là trung tâm của toàn bài. Điệp khúc “Em có…” lặp lại nhiều lần không nhằm tìm câu trả lời, mà là lời tự vấn, là tiếng gọi tha thiết trong cô đơn.

Nỗi nhớ trong bài thơ không bộc lộ trực tiếp mà thấm vào cảnh vật. Những hình ảnh quen thuộc như mái tranh, khói bếp, vườn tre mía gợi nên một không gian yên lành, ấm áp, nhưng càng làm nổi bật sự thiếu vắng. Câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” là một ẩn dụ đặc sắc: nỗi nhớ trở thành một sức nặng vô hình, khiến lòng người như chùng xuống. Đến khổ thơ tiếp, nỗi nhớ chuyển thành khát khao được sẻ chia, nhưng lại rơi vào bế tắc: “Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong” – một câu hỏi không có điểm tựa, diễn tả sâu sắc cảm giác cô đơn của con người.

Khổ thơ cuối mở rộng cảm xúc sang chiều kích thời gian. Thời gian trôi đi trong vòng lặp vô tận: “năm qua, năm tới, lại năm qua”. Nhưng giữa dòng chảy ấy, hình ảnh “nắng như tơ” vẫn “rung” mãi, trở thành biểu tượng cho nỗi nhớ mong manh mà bền bỉ. Nỗi nhớ không mất đi theo thời gian, mà ngược lại, càng trở nên dai dẳng, lan tỏa trong không gian và tâm thức.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ bảy chữ với giọng điệu trầm lắng, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Các biện pháp như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được vận dụng tinh tế, tạo nên một thế giới vừa thực vừa ảo. Đặc biệt, sự kết hợp giữa tả cảnh và tả tình cùng hệ thống câu hỏi tu từ đã làm nổi bật một kiểu cảm xúc hiện đại: tình yêu trong cô đơn, nỗi nhớ không có hồi âm.

Nắng đã hanh rồi không chỉ là một bài thơ tình mà còn là suy tư về thời gian và khoảng cách. Bằng những hình ảnh nhẹ nhàng mà ám gợi, Vũ Quần Phương đã khắc họa một nỗi nhớ mong manh nhưng bền bỉ, để lại dư âm sâu lắng trong lòng người đọc, như sợi nắng hanh vẫn rung mãi giữa trời và trong tâm hồn.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 4

Bài thơ “Nắng đã hanh rồi” của Vũ Quần Phương vừa là một bức tranh thiên nhiên đẹp về quê hương vừa mang chút tình bâng khuâng thương của nhân vật trữ tình về người em gái phương xa.

Qua cảm nhận tinh tế của nhân vật trữ tình, cảnh vật quê hương hiện lên thật đẹp với nắng vàng hanh, với tiếng sếu vang vọng, mây trắng xếp làn, khói ủ mộng yên lành, với xôn xao tre mía. Cảnh bình dị mà yên bình, thơ mộng quá.

Mỗi câu thơ là một nét vẽ tài tình tạo nên bức tranh sống động, có hồn về khung cảnh quê hương. Chắc hẳn Vũ Quần Phương phải là người yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết mới có những cảm nhận tinh tế ấy và mới có thể thổi hồn vào cảnh và khiến chúng trở nên lung linh như vậy. Khung cảnh thiên nhiên trước sân nhà tiêu điều, hiu hắt. Tác giả sử dụng láy vần “ay” mở rộng không gian trước sân nhà vào mùa đông. Nhà thơ nhắc đến nhân vật “em xa nhà” thể hiện những nỗi niềm nhớ nhung với cô gái ở xa. Câu hỏi tu từ “em có muốn…” Bộc lộ những cảm xúc khát khao được ở gần người con gái đang ở phương xa. Cảnh nắng chiều luôn là một cảnh gợi nhớ đến nỗi niềm nhớ mong vì buổi chiều là lúc con người sum họp sau một ngày dài, cũng là lúc ngôi nhà chợt thấy thiếu vắng vì một người con gái đang ở xa. Qua các khổ thơ, ta thấy được tác giả chú trọng về việc gieo vần ở cuối câu thơ, tạo nên một nhịp cố định cho cả bài thơ. Như khổ 1, vần được gieo là vần “ay”’: bay, gày, hay. Hay như khổ 2, vần được gieo ở đây là vần “anh”: tranh, lành, cành. Mỗi vần sẽ được gieo ở câu 1, 2 và 4 của khổ thơ.

Không chỉ là bức tranh đẹp về cảnh quê, bài thơ còn chất chứa nỗi lòng của nhân vật “anh” gửi tới người “em” phương xa khi mùa đông về: “Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”. Câu hỏi tu từ vang lên mang theo cả nỗi nhớ mong, khát khao gặp gỡ đến da diết của anh về em. Tình yêu thiên nhiên quyện hòa trong tình yêu đôi lứa đã mang đến những dư vị đặc biệt, cảm xúc lắng sâu cho bài thơ “Nắng đã hanh rồi”.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 5

Bài thơ “Nắng đã hanh rồi” của Vũ Quần Phương là một thi phẩm trữ tình nhẹ nhàng mà sâu lắng, tiêu biểu cho phong cách thơ giàu cảm xúc và tinh tế của ông. Không sử dụng những hình ảnh lớn lao hay cảm xúc bùng nổ, bài thơ chinh phục người đọc bằng những rung động rất khẽ của tâm hồn trước thiên nhiên và nỗi nhớ. Qua bức tranh mùa thu hanh hao cùng dòng cảm xúc nhớ thương da diết, tác giả đã thể hiện vẻ đẹp của tình yêu gắn với ý thức về thời gian trôi chảy.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên cuối thu với những nét chấm phá vừa cụ thể vừa gợi cảm:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày”

Từ “hanh” gợi cái khô, nhẹ và se lạnh đặc trưng của thời điểm giao mùa. Ánh nắng được so sánh “như phấn bay” khiến nó trở nên mong manh, mỏng nhẹ, dường như có thể tan vào không gian. Cùng với đó là âm thanh “tiếng sếu” vọng lại giữa “sông gày” – một không gian trống trải, thưa vắng. Tất cả tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa thanh sơ vừa nhuốm màu cô tịch. Cảnh vật dường như không chỉ hiện lên bằng thị giác mà còn thấm đẫm tâm trạng: cái hanh hao của đất trời cũng chính là cái trống vắng trong lòng người.

Giữa không gian ấy, hình ảnh “em” xuất hiện như một điểm quy chiếu cảm xúc:

“Trước sân mây trắng về đông lắm

Em ở xa nhà, em có hay.”

Câu hỏi tu từ “em có hay” vang lên nhẹ nhàng nhưng chất chứa nỗi nhớ khôn nguôi. Người ở lại hướng về người xa bằng tất cả sự tha thiết, nhưng lại không có lời hồi đáp. Nỗi nhớ vì thế càng trở nên mênh mang, lan tỏa trong từng cảnh vật.

Ở khổ thơ tiếp theo, bức tranh quê hiện lên ấm áp và gần gũi:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá

Anh chẳng là cây cũng trĩu cành”

Những hình ảnh mái tranh, khói bếp, vườn tre mía gợi một cuộc sống bình dị, yên ấm. Đó là không gian của quê hương, của những giấc mơ bình yên. Tuy nhiên, ẩn sau sự yên lành ấy lại là một nỗi thiếu vắng. Câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” là một ẩn dụ giàu sức gợi: “trĩu cành” không phải vì quả mà vì nỗi nhớ. Nỗi nhớ trở nên hữu hình, có sức nặng, khiến lòng người như chùng xuống.

Không dừng lại ở đó, cảm xúc tiếp tục phát triển thành khát khao được đồng hành, sẻ chia:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”

Điệp cấu trúc “Em có…” diễn tả ước mong được ở bên nhau, cùng nhau trải nghiệm thiên nhiên và cuộc sống. Nhưng thực tại vẫn là xa cách. Câu hỏi “Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong” như một tiếng thở dài: nỗi nhớ không có điểm tựa, không có nơi gửi gắm. Đó là cảm giác cô đơn sâu sắc, khi tình cảm không thể chia sẻ trực tiếp với người mình yêu.

Đến khổ thơ cuối, dòng cảm xúc mở rộng thành suy tư về thời gian:

“Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua

Năm qua, năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa.”

Thời gian trôi đi không ngừng, mùa xuân đến rồi lại đi, năm cũ qua và năm mới lại đến. Nhịp thơ chậm rãi, lặp lại gợi sự tuần hoàn vô tận của thời gian. Trong dòng chảy ấy, con người càng ý thức rõ hơn về sự hữu hạn của đời người và sự dài lâu của nỗi nhớ. Hình ảnh “nắng như tơ” là một sáng tạo tinh tế: sợi tơ mỏng manh nhưng dai dẳng, mềm mại nhưng bền bỉ. Nỗi nhớ cũng vậy – nhẹ nhàng mà không thể dứt, âm thầm mà kéo dài theo năm tháng.

Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi. Các hình ảnh thiên nhiên như nắng hanh, tiếng sếu, khói bếp, rừng thông… đều mang tính biểu tượng, vừa tả thực vừa gợi cảm xúc. Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, tha thiết, phù hợp với mạch cảm xúc nhớ thương. Đặc biệt, tác giả đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa tả cảnh và tả tình: cảnh không chỉ là phông nền mà trở thành phương tiện biểu đạt tâm trạng, còn tình cảm lại thấm sâu vào cảnh vật, khiến thiên nhiên như có hồn.

Có thể nói, “Nắng đã hanh rồi” là một bài thơ đẹp ở sự tinh tế và chân thành. Qua những rung động rất khẽ của tâm hồn trước thiên nhiên và thời gian, Vũ Quần Phương đã khắc họa một tình yêu dịu dàng mà sâu sắc, một nỗi nhớ nhẹ nhàng mà dai dẳng. Bài thơ để lại trong lòng người đọc dư âm bâng khuâng, như chính “sợi tơ nắng” vẫn còn rung mãi nơi một góc tâm hồn.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 6

Trong dòng chảy của thơ ca hiện đại Việt Nam, viết về thiên nhiên và tình yêu luôn là một đề tài quen thuộc nhưng chưa bao giờ cũ. Với “Nắng đã hanh rồi”, nhà thơ Vũ Quần Phương đã mang đến một hơi thở mới cho mùa đông Bắc Bộ – không phải cái lạnh tê tái, mà là một mùa đông xao động, tình tứ và đầy trăn trở. Bài thơ là sự giao thoa tuyệt đẹp giữa bức tranh thiên nhiên hanh vàng và nỗi lòng nhớ thương da diết của một tâm hồn đang yêu.

Ngay từ khổ thơ mở đầu, tác giả đã tái hiện một không gian giao mùa đầy đặc trưng. Cái nắng đầu đông hiện lên thật lạ qua nhãn quan nghệ thuật của thi sĩ:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Trước sân mây trắng về đông lắm

Em ở xa nhà, em có hay.”

Vũ Quần Phương không dùng những tính từ mạnh để tả cái nắng, mà so sánh nắng với “phấn bay”. Hình ảnh này gợi lên cái nắng nhẹ tênh, mịn màng và có chút hư ảo, bao phủ lên vạn vật. Tiếng sếu vọng lại từ phía “sông gày” – một cách dùng từ rất đắt. “Sông gày” không chỉ là dòng sông cạn nước mùa khô mà còn gợi lên cái dáng vẻ gầy guộc, trầm mặc của thiên nhiên khi vào đông. Giữa không gian có phần tĩnh lặng ấy, câu hỏi “Em có hay” vang lên đầy nhẹ nhàng nhưng cũng đầy sức nặng, kéo người đọc từ bức tranh ngoại cảnh trở về với thế giới tâm cảnh của nhân vật trữ tình.

Nỗi nhớ người yêu trong bài thơ không ồn ào mà được lồng ghép khéo léo vào những hình ảnh thân thuộc của quê hương:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá

Anh chẳng là cây cũng trĩu cành”.

Hình ảnh “khói ủ mộng yên lành” gợi lên vẻ đẹp thanh bình, ấm áp của làng quê Việt Nam. Đặc biệt, câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nếu cái cây trĩu cành vì hoa thơm trái ngọt, thì “anh” trĩu nặng vì nỗi nhớ mong. Sức nặng của tình cảm được hữu hình hóa, khiến người đọc cảm nhận được tâm trạng bồi hồi, xao động của người ở lại.

Càng về sau, nỗi nhớ ấy càng lan tỏa vào không gian rộng lớn hơn, từ vườn tược lên đến núi cao, rừng thông:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”.

Tiếng “thầm thĩ” của rừng thông như tiếng lòng của nhân vật trữ tình đang muốn giãi bày. Phép đối giữa “thông in đất" và nỗi nhớ không có nơi để “ngả” vào cho thấy một sự bơ vơ, trống trải. Khi nhìn thấy thiên nhiên có đôi có cặp (bóng thông và mặt đất), con người lại càng cảm thấy cô đơn khi thiếu vắng hình bóng người thương.

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng những suy tư mang tính triết lý về thời gian và sự vĩnh cửu của cảm xúc:

“Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua

Năm qua, năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa.”

Nhịp thơ nhanh với sự lặp lại của từ “qua” diễn tả dòng chảy miên viễn, không ngừng nghỉ của thời gian. Nhưng giữa sự biến đổi không ngừng đó, hình ảnh nắng hiện lên “như tơ” đã tạo nên một điểm nhấn tĩnh tại. Nắng không còn tan ra như phấn mà kết lại thành sợi, bền chặt và xuyên suốt. Cái “rung” của nắng từ trời cao xuống ngõ nhỏ cũng chính là sự rung động không bao giờ tắt trong trái tim nhà thơ. Nắng hay chính là sợi tơ tình cảm, nối liền mọi khoảng cách không gian và thời gian.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, nhịp điệu êm ái như một lời thủ thỉ, tâm tình. Cách sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ và câu hỏi tu từ đã giúp bài thơ thoát khỏi lối tả cảnh thông thường, trở thành một tiếng lòng đầy tính nhân văn.

Nhìn chung, “Nắng đã hanh rồi” là một bài thơ đẹp về cả cảnh vật lẫn tình người. Qua ngòi bút tài hoa của Vũ Quần Phương, mùa đông không còn đơn điệu mà trở nên đa sắc, đa thanh và tràn đầy sức sống. Bài thơ khẳng định một chân lý đơn giản nhưng sâu sắc: Thiên nhiên và tình yêu luôn hòa quyện, chính tình yêu làm cho cảnh vật thêm tình và chính cảnh vật lại là nơi lưu giữ những rung động tinh tế nhất của con người.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 7

Thời gian vốn là một dòng chảy vô hình, nhưng mỗi độ thu qua đông tới, nó lại để lại những dấu ấn hữu hình lên vạn vật: một chút hanh hao của nắng, một chút se lạnh của gió. Trong cái khoảnh khắc giao mùa đầy xao động ấy, thi sĩ Vũ Quần Phương đã bắt gặp một sợi tơ nắng vắt ngang bầu trời để rồi dệt nên bài thơ “Nắng đã hanh rồi”. Không chỉ đơn thuần là bức tranh phong cảnh, bài thơ còn là bản nhạc của những rung động tinh tế, nơi thiên nhiên và nỗi nhớ hòa quyện vào nhau, khiến cái lạnh của mùa đông bỗng trở nên ấm áp lạ thường bởi hơi thở của tình yêu.

Ngay từ nhan đề, Nắng đã hanh rồi đã gợi mở một trạng thái thời gian và cảm xúc rất riêng. “Nắng hanh” không còn là cái nắng rực rỡ của mùa hè, cũng chưa phải cái lạnh giá của mùa đông, mà là thứ nắng cuối thu – đầu đông, trong trẻo mà se sắt, nhẹ nhàng mà gợi buồn. Đó là khoảnh khắc giao mùa khiến lòng người dễ rung động, dễ hoài niệm. Chính trong không gian ấy, những cảm xúc yêu thương và nhớ nhung như được đánh thức. Cả bài thơ vì thế trở thành một chuỗi những xao động tinh vi trước sự đổi thay của thiên nhiên, đồng thời là sự bộc lộ chân thành của một trái tim đang yêu.

Mở đầu bài thơ là một bức tranh thiên nhiên thấm đẫm cảm giác:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Trước sân mây trắng về đông lắm

Em ở xa nhà, em có hay.”

Hai chữ “đã” lặp lại như một sự xác nhận: mùa thu đã qua, mùa đông đang đến. Hình ảnh “nắng vàng hanh như phấn bay” là một so sánh đầy sáng tạo, khiến ánh nắng trở nên mỏng nhẹ, mong manh, như có thể tan vào không gian. Âm thanh “tiếng sếu” vọng lại từ “sông gày” càng làm tăng thêm vẻ vắng lặng, hiu quạnh của cảnh vật. Đặc biệt, hình ảnh “sông gày” là một nhân hóa độc đáo, khiến thiên nhiên như mang thân phận con người, cũng biết hao gầy, thiếu vắng. Trong khung cảnh ấy, câu hỏi “Em ở xa nhà, em có hay” vang lên như một lời gửi gắm nỗi lòng. Không phải là câu hỏi tìm câu trả lời, mà là cách bộc lộ một nỗi nhớ âm thầm, sâu lắng: liệu người ở xa có cảm nhận được cái hanh hao của đất trời, cũng như nỗi cô đơn trong lòng người ở lại?

Nếu khổ thơ đầu mở ra không gian rộng lớn của thiên nhiên, thì khổ thơ thứ hai lại đưa người đọc trở về với những gì gần gũi, thân thương:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá

Anh chẳng là cây cũng trĩu cành.”

Những hình ảnh mái tranh, khói bếp, vườn tre mía gợi nên một bức tranh làng quê ấm áp, yên bình. Từ “ủ” trong “khói ủ mộng yên lành” gợi cảm giác che chở, nâng niu, như giữ gìn một giấc mơ giản dị về hạnh phúc. Nhưng chính trong cái yên lành ấy lại ẩn chứa nỗi thiếu vắng. Câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” mang ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc: con người không phải cây, nhưng vẫn “trĩu” nặng những cảm xúc, những nỗi niềm. Đó là nỗi nhớ, là tình yêu đang đầy ắp mà không có nơi gửi gắm. Cách nói phủ định “chẳng là cây” lại càng làm nổi bật cái “trĩu cành” vô hình trong tâm hồn, thể hiện khả năng liên tưởng tinh tế của nhà thơ.

Đến khổ thơ thứ ba, nỗi nhớ không chỉ dừng lại ở hoài niệm mà đã trở thành khát khao được sẻ chia:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong.”

Không gian lúc này được mở rộng lên miền núi cao với rừng thông tĩnh lặng. “Tiếng rừng thông thầm thĩ” gợi một sự giao cảm mơ hồ, sâu kín giữa thiên nhiên và con người. Điệp cấu trúc “Em có…” lặp lại như một lời mời gọi tha thiết, một mong muốn được đồng hành. Nhưng thực tại vẫn là chia xa. Hai câu thơ cuối tạo nên một sự đối lập đầy ám ảnh: nếu “nắng chiều ngả bóng thông in đất” là hình ảnh cụ thể, có điểm tựa, thì “Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong” lại là câu hỏi trĩu nặng cô đơn. Nỗi nhớ trở nên vô hình, không nơi nương tựa, khiến con người càng thêm lạc lõng giữa không gian rộng lớn.

Khổ thơ cuối đưa cảm xúc lên một tầng sâu hơn – suy tư về thời gian:

“Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua

Năm qua, năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa.”

Nhịp điệu lặp lại của “xuân sắp sang… xuân sắp qua”, “năm qua, năm tới” gợi sự tuần hoàn vô tận của thời gian. Con người đứng trước dòng chảy ấy trở nên nhỏ bé, bất lực. Nhưng điều đáng chú ý là hình ảnh “nắng như tơ”. Đó vừa là ánh sáng mảnh mai, vừa là sợi dây vô hình của cảm xúc. “Rung tự trời cao xuống ngõ xa” – một chuyển động nhẹ mà bền bỉ, như chính nỗi nhớ đang lan tỏa, kéo dài không dứt. Kết thúc bài thơ, nỗi nhớ không còn chỉ là cảm xúc cá nhân mà đã trở thành một phần của thiên nhiên, của vũ trụ.

Xét về nghệ thuật, bài thơ thể hiện rõ phong cách sáng tác của Vũ Quần Phương. Thể thơ bảy chữ truyền thống được vận dụng linh hoạt, kết hợp với ngôn ngữ giản dị mà giàu hình ảnh. Những biện pháp tu từ như so sánh (“nắng như phấn bay”, “nắng như tơ”), nhân hóa (“sông gày”, “khói ủ”) đã tạo nên một thế giới nghệ thuật giàu sức gợi. Giọng điệu thơ nhẹ nhàng, trầm lắng, cùng với hệ thống câu hỏi tu từ lặp lại đã tạo thành một điệp khúc nhớ thương da diết.

“Nắng đã hanh rồi” không chỉ là một bài thơ về tình yêu đôi lứa mà còn là khúc nhạc trầm về thời gian, về nỗi nhớ và sự gắn bó với quê hương. Qua những hình ảnh giản dị mà giàu ý nghĩa, Vũ Quần Phương đã gửi gắm một nỗi nhớ mong manh mà bền bỉ, như sợi tơ nắng vẫn rung mãi trong không gian và trong lòng người đọc mỗi khi mùa hanh trở lại.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 8

Xưa nay, nắng vẫn là “nàng thơ” kiều diễm trong lòng các thi sĩ. Nếu nắng trong thơ Hàn Mặc Tử rực rỡ “hàng cau nắng mới lên”, nắng của Xuân Diệu nồng nàn “tôi muốn buộc nắng lại”, thì đến với Vũ Quần Phương, ta lại gặp một sắc nắng thật lạ - nắng “vàng hanh như phấn bay”. Bài thơ “Nắng đã hanh rồi” như một lát cắt dịu dàng của thời gian, nơi tác giả không chỉ vẽ lên cái sắc màu của mùa đông Bắc Bộ mà còn gửi gắm vào đó một nỗi nhớ da diết, một sự ngả nghiêng của tâm hồn trước cái đẹp tĩnh lặng của quê hương và bóng hình người thương ở xa.

Điều đáng chú ý trước hết là cách nhà thơ cảm nhận thiên nhiên không đơn thuần bằng thị giác mà bằng toàn bộ giác quan và tâm trạng. Ngay ở hai câu thơ mở đầu:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Thiên nhiên hiện lên như một thực thể sống động, có âm thanh, có hình khối, thậm chí có cả “thân phận”. Ánh nắng không còn là thứ ánh sáng vô hình mà trở thành “phấn bay” – nhẹ, mịn, có thể cảm nhận bằng xúc giác. Còn “sông gày” lại là một liên tưởng táo bạo: dòng sông vốn vô tri bỗng mang dáng vẻ hao gầy, như con người khi thiếu vắng, khi cô đơn. Như vậy, thiên nhiên ở đây đã được “nhân hóa tâm trạng”, trở thành tấm gương phản chiếu nội tâm của chủ thể trữ tình. Cái hanh hao của đất trời cũng chính là cái hanh hao trong lòng người.

Từ thiên nhiên, mạch thơ chuyển sang con người một cách tự nhiên:

“Em ở xa nhà, em có hay.”

Đây không phải là một lời gọi, cũng không phải một lời trách, mà là một câu hỏi lửng lơ, mang sắc thái tự vấn. “Em có hay” không chỉ hỏi về sự nhận biết, mà sâu xa hơn là hỏi về sự đồng cảm. Người ở lại không đòi hỏi được nhớ đến, mà chỉ mong người đi xa có thể “hiểu” được những gì mình đang cảm nhận. Chính điều đó khiến nỗi nhớ trong bài thơ mang một sắc thái rất riêng: không ồn ào, không bi lụy, mà âm thầm, kín đáo nhưng sâu sắc.

Ở khổ thơ thứ hai, không gian thu hẹp lại trong khung cảnh làng quê:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá

Anh chẳng là cây cũng trĩu cành.

Điểm đặc biệt ở đây là sự đối lập giữa “yên lành” của cảnh và “trĩu nặng” của tình. Cảnh vật hiện lên thật ấm áp: mái tranh, khói bếp, vườn cây – tất cả đều gợi một cuộc sống bình dị, đủ đầy. Nhưng chính trong cái “yên lành” ấy lại nổi bật lên nỗi thiếu vắng. Câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” có thể xem là một điểm nhấn độc đáo của toàn bài. Ở đây, nhà thơ không trực tiếp nói “anh nhớ em”, mà mượn hình ảnh của tự nhiên để nói về lòng mình. Cái “trĩu” không phải của vật chất mà là của cảm xúc – một thứ vô hình nhưng lại có sức nặng ghê gớm. Đây chính là cách biểu đạt rất đặc trưng của Vũ Quần Phương: nói ít mà gợi nhiều.

Nếu ở hai khổ đầu, nỗi nhớ còn mang tính tĩnh tại, thì đến khổ thơ thứ ba, nó đã chuyển thành một nhu cầu được chia sẻ:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông…”

Không gian mở rộng lên vùng núi cao, nơi con người có thể thoát khỏi những ràng buộc thường nhật để hòa mình vào thiên nhiên. Nhưng điều đáng chú ý không phải là cảnh núi rừng, mà là khát vọng “cùng nhau”. Điệp ngữ “Em có…” lặp lại nhiều lần không chỉ là một câu hỏi, mà là một lời mời, một ước muốn. Tuy nhiên, càng hỏi lại càng thấy rõ sự vắng mặt của “em”. Đỉnh điểm của cảm xúc là câu thơ:

“Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong.

Đây là một câu hỏi không có lời giải. “Ngả” thường gợi một hành động tìm điểm tựa, nhưng “nỗi nhớ” thì vô hình, không có nơi nương náu. Câu thơ vì thế vừa mang tính cụ thể (hành động “ngả”), vừa mang tính trừu tượng (đối tượng “nỗi nhớ”), tạo nên một nghịch lý đầy ám ảnh. Nó diễn tả chính xác trạng thái cô đơn của con người khi tình cảm không được hồi đáp trực tiếp.

Khổ thơ cuối cùng đưa bài thơ vượt ra khỏi phạm vi của một câu chuyện tình riêng để chạm đến ý nghĩa khái quát hơn

“Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua

Năm qua, năm tới, lại năm qua…”

Thời gian hiện lên như một vòng tròn lặp lại, không có điểm dừng. Con người dường như bị cuốn vào vòng quay ấy mà không thể cưỡng lại. Trong bối cảnh đó, hình ảnh “nắng như tơ” xuất hiện như một điểm sáng nghệ thuật:

“Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa.”

“Nắng” giờ đây không chỉ là ánh sáng mà còn là biểu tượng của ký ức, của cảm xúc. “Tơ” vừa mỏng manh vừa bền bỉ, dễ đứt mà cũng khó dứt. Hình ảnh “rung” gợi một chuyển động rất khẽ, nhưng kéo dài, lan tỏa. Như vậy, dù thời gian có trôi đi, nỗi nhớ vẫn còn đó, âm thầm mà dai dẳng. Đây chính là triết lý ngầm của bài thơ: có những điều tưởng như mong manh lại chính là thứ bền vững nhất trong đời sống tinh thần con người.

Xét về nghệ thuật, bài thơ thể hiện sự dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Thể thơ bảy chữ gợi âm hưởng cổ điển, nhưng cách cảm nhận và biểu đạt lại rất mới mẻ. Nhà thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính gợi cảm, kết hợp với các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Đặc biệt, hệ thống câu hỏi tu từ xuyên suốt bài thơ không nhằm tìm kiếm câu trả lời, mà tạo nên một không gian đối thoại nội tâm, khiến người đọc như được tham gia vào dòng suy nghĩ của tác giả.

Nhìn từ một góc độ khác, Nắng đã hanh rồi không chỉ là bài thơ về nỗi nhớ người yêu, mà còn là bài thơ về “khoảng cách” – khoảng cách không gian, khoảng cách thời gian, và cả khoảng cách trong cảm nhận giữa con người với nhau. Nhưng chính trong những khoảng cách ấy, tình yêu lại được thử thách và trở nên sâu sắc hơn. Với giọng điệu trầm lắng và những hình ảnh giàu sức ám gợi, Vũ Quần Phương đã tạo nên một thi phẩm nhỏ nhẹ mà dư âm lớn, để lại trong lòng người đọc một cảm giác bâng khuâng kéo dài, như sợi nắng hanh vẫn còn rung đâu đó giữa trời và trong lòng người.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 9

Vũ Quần Phương vốn là một hồn thơ điềm đạm, tinh tế, luôn biết cách tìm thấy cái “hồn” của sự vật trong những điều bình dị nhất. Bài thơ “Nắng đã hanh rồi” chính là minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Chỉ với vài nét vẽ đơn sơ về mái tranh, vườn chuối, rừng thông và sắc nắng hanh vàng, nhà thơ đã mở ra một không gian nghệ thuật đầy chiều sâu. Ở đó, sợi nắng không chỉ là hiện tượng thiên nhiên mà đã hóa thành sợi tơ lòng, nối liền trời cao với ngõ nhỏ, nối liền trái tim người đi với người ở lại trong một niềm mong đợi đầy nhân văn.

Mở đầu bài thơ, Vũ Quần Phương đưa ta vào một không gian ngập tràn sắc vàng nhưng không hề chói chang:

“Nắng đã vàng hanh như phấn bay

Đã nghe tiếng sếu vọng sông gày

Trước sân mây trắng về đông lắm

Em ở xa nhà, em có hay.”

Hình ảnh so sánh “nắng vàng hanh như phấn bay” là một phát hiện đầy tinh tế. Nắng không còn ở dạng lỏng chảy tràn trề như mùa hạ, mà nhẹ, xốp và mỏng manh như làn phấn phủ lên vạn vật. Tiết trời ấy đi cùng thanh âm của “tiếng sếu” và hình ảnh “sông gày” – một con sông cạn nước, trầm mặc, mang cốt cách của sự tĩnh lặng. Giữa cái không gian mênh mông, heo hút đó, một câu hỏi tu từ khẽ vang lên: “Em ở xa nhà, em có hay”. Câu thơ như một tiếng thở dài nhẹ nhõm nhưng chứa chan tình cảm, kéo người đọc từ ngoại cảnh vào sâu trong tâm cảnh.

Nỗi nhớ trong thơ Vũ Quần Phương không ồn ào mà chảy trôi âm thầm trong những hình ảnh thân thuộc của quê hương:

“Em có hình dung những mái tranh

Nắng lên khói ủ mộng yên lành

Vườn sau tre mía xôn xao lá

Anh chẳng là cây cũng trĩu cành”.

Nhà thơ đã khéo léo sử dụng những chất liệu đậm chất làng quê: mái tranh, khói bếp, vườn tre mía. Ở đó, cái nắng không chỉ làm sáng không gian mà còn “ủ" nên những mộng tưởng yên bình. Đặc biệt, câu thơ “Anh chẳng là cây cũng trĩu cành” là một điểm sáng nghệ thuật. Phép ẩn dụ này đã cụ thể hóa sức nặng của nỗi nhớ. Nếu cái cây trĩu quả vì sự phì nhiêu của đất mẹ, thì nhân vật “anh” lại “trĩu” xuống vì sức nặng của tâm tư, của những kỷ niệm về “em” đang đong đầy trong lồng ngực.

Càng về sau, không gian càng mở rộng lên cao và xa hơn, nhưng nỗi cô đơn cũng theo đó mà lớn dần:

“Em có cùng anh lên núi không

Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông

Nắng chiều ngả bóng thông in đất

Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”

Hình ảnh “thông in đất” là một sự gắn kết tuyệt đối giữa vật thể và cái bóng. Đứng trước sự khăng khít ấy của thiên nhiên, con người chợt thấy mình chênh vênh. Câu hỏi “Anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong?” vang lên đầy xót xa. Khi nỗi nhớ không có điểm tựa, nó trở thành một thực thể lửng lơ, bao trùm lên cả không gian núi rừng đại ngàn.

Khép lại bài thơ là những suy tư về quy luật vĩnh hằng của thời gian và tạo hóa:

“Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua

Năm qua, năm tới, lại năm qua

Mà sao nắng cứ như tơ ấy

Rung tự trời cao xuống ngõ xa.”

Điệp từ “qua” lặp lại ba lần trong hai câu thơ tạo nên một nhịp điệu hối hả, diễn tả dòng chảy vô tình của thời gian. Thế nhưng, đối lập với sự biến tan của năm tháng là sự hiện diện của sợi nắng. Nắng ở khổ cuối không còn là “phấn” mà đã kết thành “tơ” – một thực thể bền chặt, dẻo dai. Động từ “rung” cực kỳ đắt giá, nó không chỉ tả sự chuyển động của ánh sáng mà còn là nhịp đập của trái tim, là sự rung cảm mãnh liệt của tâm hồn nhà thơ gửi vào không gian. Sợi tơ nắng ấy chính là sợi tơ duyên, nối liền trời cao với ngõ nhỏ, nối quá khứ với hiện tại, và nối trái tim của “anh” tới nơi “em” đang ở.

Về phương diện nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ ngôn ngữ giản dị nhưng tinh lọc, nhịp điệu êm ái như một lời thủ thỉ tâm tình. Vũ Quần Phương đã chứng minh rằng: thơ ca không cần những từ ngữ đao to búa lớn mới chạm đến trái tim, mà đôi khi chỉ cần một sợi nắng hanh cũng đủ để sưởi ấm cả một mùa đông giá lạnh.

“Nắng đã hanh rồi” là một thi phẩm đẹp về sự giao hòa giữa thiên nhiên và tâm hồn. Qua bài thơ, ta không chỉ thấy một mùa đông Bắc Bộ rất riêng, mà còn thấy một tấm lòng đôn hậu, thiết tha với cuộc đời và con người. Bài thơ sẽ mãi như sợi tơ nắng vàng, rung lên những nhạc điệu dịu dàng trong lòng độc giả bao thế hệ.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng đã hanh rồi - mẫu 10

Đọc lại Nắng đã hanh rồi của Vũ Quần Phương, có một cảm giác rất lạ: bài thơ như không được viết ra, mà như được “nghe” thấy. Nghe từ những xao động nhỏ nhất của đất trời lúc giao mùa, từ một nỗi nhớ không nói hết thành lời, và đặc biệt, từ một cuộc đối thoại ngầm giữa cái tôi trữ tình với người yêu, với chính mình, và với thời gian. Nếu ở một góc nhìn khác, người ta thấy ở bài thơ một bức tranh làng quê đượm buồn, thì ở một cách đọc khác, có thể thấy đây là một ám ảnh về sự chia xa và khát vọng được sẻ chia – một ám ảnh được thể hiện bằng những hình ảnh mang tính biểu tượng cao.

Điều trước tiên gây ấn tượng là bài thơ được cấu trúc như một chuỗi những câu hỏi – lời mời gọi. Khổ một kết thúc bằng câu hỏi “Em có hay?”. Khổ hai bắt đầu bằng “Em có hình dung…”. Khổ ba là “Em có cùng anh lên núi không / Có nghe thầm thĩ tiếng rừng thông”. Điệp khúc “Em có…” ấy không phải là những câu hỏi thực sự cần câu trả lời, mà là những lời tự vấn, những tiếng gọi vọng ra từ cõi riêng. Người đọc bỗng nhận ra: nhân vật “em” trong bài thơ không bao giờ xuất hiện, cũng không bao giờ đáp lời. Sự vắng mặt ấy chính là không gian nghệ thuật lớn nhất của bài thơ. Mọi cảnh vật – nắng, sếu, sông, mây, mái tranh, khói, tre mía, rừng thông – đều quy chiếu về một sự thiếu vắng. Tình yêu trong bài thơ vì thế không phải là tình yêu song phương, mà là tình yêu như một nỗi ám ảnh đơn phương, như sự dâng đầy không có người nhận. Đây là một điểm nhìn khác để thấy được chất “hiện đại” ẩn sau lớp vỏ cổ điển của bài thơ: không phải tình yêu lãng mạn với những lời thề non hẹn biển, mà là tình yêu như một trạng thái cô đơn mang tính hiện sinh.

Từ đó, có thể thấy sự vận động của không gian trong bài thơ thực chất là sự vận động của tâm trạng. Khổ thơ đầu là không gian mở rộng phía xa: sông, trời, mây. Đó là cái nhìn hướng ngoại, tiếp nhận những tín hiệu của đất trời. Khổ thứ hai là không gian thu nhỏ, co cụm về mái ấm: vườn sau, tre mía, mái tranh. Đó là sự rút vào bên trong, vào những gì thân thuộc, yên lành nhất. Khổ thứ ba lại bật ra một không gian khác: lên núi, rừng thông, nắng chiều. Đây là không gian của sự tìm kiếm, của khát vọng vượt thoát. Và khổ cuối, không gian bỗng trở nên mơ hồ, chỉ còn là “ngõ xa” – một khoảng cách không xác định, nơi “nắng rung” như một hiện tượng vừa thực vừa ảo. Sự chuyển động không gian ấy cho thấy hành trình tâm lý của nhân vật trữ tình: từ bối cảnh thiên nhiên, trở về với ký ức gia đình, vươn tới khát vọng sẻ chia, và cuối cùng lắng đọng trong một trạng thái bâng khuâng không lối thoát. Đó không phải là sự vận động tiến lên, mà là một vòng xoáy quẩn quanh – cũng giống như vòng xoáy thời gian ở khổ cuối.

Về thời gian, Vũ Quần Phương có một cách xử lý rất riêng. Ba khổ thơ đầu dường như chỉ diễn ra trong một buổi chiều, một thời điểm “nắng hanh”. Nhưng đến khổ cuối, thời gian bất ngờ được đẩy ra đến mức độ vũ trụ: “Xuân sắp sang rồi xuân sắp qua / Năm qua, năm tới, lại năm qua”. Đây là một bước ngoặt quan trọng. Cảm giác bâng khuâng vốn chỉ là nhất thời bỗng trở thành nỗi bâng khuâng mang tính vĩnh cửu. Nó không còn là nỗi nhớ của một người trong một ngày, mà là nỗi niềm của con người trước thời gian, trước quy luật muôn đời. Điệp ngữ “năm qua, năm tới, lại năm qua” tạo thành một vòng quay không có điểm dừng, một sự lặp lại tuần hoàn mang tính vô vọng. Trong vòng quay ấy, tình yêu, nỗi nhớ, sự chờ đợi liệu có ý nghĩa gì? Câu trả lời nằm ở hai câu thơ cuối: “Mà sao nắng cứ như tơ ấy / Rung tự trời cao xuống ngõ xa”. Dẫu thời gian có trôi, dẫu năm tháng có qua, thì “nắng” – biểu tượng của nỗi nhớ, của sự rung động – vẫn cứ tồn tại, cứ lan tỏa, cứ “rung” một cách dai dẳng, không lý do, không mục đích. Chữ “cứ” ở đây rất quan trọng: nó thể hiện một sự bướng bỉnh, một sự tồn tại vượt lên trên ý chí con người.

Một góc nhìn khác nữa có thể khai thác là hệ thống hình ảnh mang tính “vật thể” và “phi vật thể” trong bài thơ. Vũ Quần Phương rất hay dùng những hình ảnh cụ thể, hữu hình để diễn tả những điều vô hình. Nắng vô hình, ông nói “nắng như phấn bay”, “nắng như tơ”. Tiếng sếu vô hình, ông cho nó “vọng” từ sông gầy. Nỗi nhớ vô hình, ông nói “anh ngả vào đâu nỗi nhớ mong”. Và đặc biệt, ở cuối bài, thứ vô hình ấy trở thành một hiện tượng có thể “rung tự trời cao xuống ngõ xa”. Cái vô hình trở nên hữu hình, cái hữu hình lại mang dáng dấp của một giấc mơ. Sự chuyển hóa này tạo ra một chất thơ vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi vừa xa xôi. Đó là bút pháp của một nhà thơ không muốn miêu tả hiện thực một cách đơn giản, mà muốn nâng hiện thực lên thành một thứ hiện thực thứ hai – hiện thực của tâm hồn.

Cũng cần nói đến âm điệu của bài thơ. Thể thơ bảy chữ, vần bằng, nhịp đều đặn, nhưng bên trong sự đều đặn ấy là những biến hóa tinh tế. Các khổ thơ đều có bốn câu, nhưng cách ngắt nhịp không giống nhau. Khổ một ngắt nhịp 4/3, tạo cảm giác chậm rãi, lắng đọng. Khổ hai ngắt nhịp 2/2/3, có phần nhanh hơn, phù hợp với sự “xôn xao” của vườn sau. Khổ ba có câu hỏi dài, ngắt nhịp đa dạng, thể hiện sự băn khoăn. Khổ cuối, câu thơ cuối cùng “Rung tự trời cao xuống ngõ xa” như một nốt trầm kéo dài, để lại dư âm. Sự biến hóa về nhịp điệu này cho thấy một kỹ thuật điêu luyện, không phô trương nhưng rất hiệu quả.

Và cuối cùng, điểm làm nên sức sống lâu bền của bài thơ, theo cách nhìn này, chính là sự bâng khuâng được nâng lên thành một ám ảnh mang tính nhân sinh. Bài thơ không đưa ra câu trả lời. Nó chỉ đặt ra những câu hỏi, chỉ vẽ ra những khoảng cách, chỉ mở ra những không gian. Người đọc có thể cảm nhận được nỗi nhớ, nhưng không biết nỗi nhớ ấy có được đáp lại hay không. Có thể thấy được sự trôi chảy của thời gian, nhưng không biết khi nào mùa xuân thực sự đến, hay sự chờ đợi sẽ kéo dài đến bao giờ. Sự bỏ ngỏ ấy chính là điểm gặp gỡ giữa thơ Vũ Quần Phương và tâm lý con người hiện đại – những con người sống trong một thế giới đầy biến động, luôn mang trong lòng những nỗi nhớ không có địa chỉ, những khao khát không có lời đáp.

Với tất cả những tầng nghĩa đó, Nắng đã hanh rồi không chỉ là một bài thơ tình. Nó là một bài thơ về khoảng cách – khoảng cách không gian, khoảng cách thời gian, và trên hết là khoảng cách giữa con người với con người trong cõi nhân sinh vô thường. Và điều kỳ diệu là, Vũ Quần Phương đã không dùng những lời lẽ bi tráng hay thê lương để nói về khoảng cách ấy. Ông chọn thứ nắng hanh vàng nhẹ, chọn tiếng sếu xa vời, chọn sợi tơ rung động vô hình – những thứ nhẹ nhàng, mong manh, tưởng như có thể tan biến bất cứ lúc nào. Nhưng chính sự mong manh ấy lại làm cho nỗi nhớ trở nên dai dẳng, ám ảnh hơn bao giờ hết. Giống như người xưa vẫn nói: cái đẹp mong manh thường là cái đẹp ám ảnh nhất. Và Nắng đã hanh rồi, trong cái nhìn khác này, vẫn là một bài thơ đẹp, một bài thơ của những ám ảnh nhẹ tênh mà không thể nào quên.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 10 sách mới các môn học