10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

- Nêu cảm nhận chung về bài thơ.

2. Thân bài:

* Chủ đề và cảm hứng chủ đạo: thông qua hình ảnh hoa tràm, chủ thể trữ tình khéo léo bày tỏ tình cảm nhớ thương da diết với “em”.

a. Phân tích, đánh giá nội dung bài thơ:

* Các hình ảnh thiên nhiên:

- Hoa tràm: e ấp sau những lớp lá xanh tươi -> gợi ra vẻ đẹp thanh khiết, tinh khôi.

- Vòm lá: tươi tốt, bao học lấy hoa tràm.

- Hương tràm: hòa trong làn gió, bay khắp trời mây.

-> Hương tràm là hình ảnh xuất hiện xuyên suốt bài thơ, là hình ảnh thể hiện tâm trạng trống trải, cô đơn của chủ thể trữ tình khi thiếu vắng hình bóng “em”.

* Cảm xúc của nhân vật trữ tình: nhớ thương “em” da diết:

Quảng cáo

- Tình cảm của nhân vật trữ tình được gợi lên thông qua hình ảnh “hương tràm”:

+ “Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”: hương hoa thoáng qua làm con người không khỏi nhớ tới những ngày bên nhau.

+ “Hương tràm bên anh, mà em đi đâu”: sự cô đơn, lạc lõng khi đứng giữa thế gian rộng lớn và khi “em” không còn cạnh bên.

+ Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao”: nhân vật trữ tình luôn cảm nhận được tình cảm của “em” thông qua hương tràm -> tình yêu cao đẹp vẫn hiển hiện trong trái tim “anh” và “em”, trong cuộc sống dung dị.

- Tác giả sử dụng biện pháp điệp ngữ “dù”, “anh vẫn” để nhấn mạnh và khẳng định vào tấm lòng chân thành, thủy chung trong tình yêu của nhân vật trữ tình.

b. Phân tích, đánh giá đặc sắc nghệ thuật:

- Hình ảnh thơ gần gũi, thân thuộc.

- Ngôn từ trong sáng, mộc mạc.

- Sử dụng thành công biện pháp điệp từ “dù”, “anh vẫn”.

3. Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị tác phẩm.

Quảng cáo

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 1

Với lời thơ trữ tình cùng những cảm xúc chân thành, các tác phẩm của Hoài Vũ luôn được phổ thành nhạc và trở thành các ca khúc tình lãng mạn được nhiều người biết đến. Trong số đó, không thể không nhắc đến “Đi trong hương tràm” - một bài thơ đã để lại trong lòng người đọc biết bao cảm xúc về tình yêu đôi lứa.

Em gửi gì trong gió trong mây

Ðể sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp nơi mây hương toả bay!

 

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau

 

Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Quảng cáo

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?

 

Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

Chỉ vỏn vẹn bốn khổ thơ nhưng tình cảm cùng những lời hứa chân thành đã được Hoài Vũ thể hiện chân thành và rõ nét.

Em gửi gì trong gió trong mây

Ðể sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp nơi mây hương toả bay!

Nỗi nhớ “em” lan chiếm hết không gian và thời gian nơi Vàm Cỏ Tây, khiến “anh” phải tự hỏi “Em gửi gì trong gió trong mây” để khi sáng nay “anh” thấy khắp mọi nơi ngập tràn hương hoa tràm tỏa bay. Hình ảnh “Hoa tràm e ấp” như là những trạng thái e ấp, ngại ngùng của “anh” khi gặp “em”.

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau

Nỗi nhớ và tình cảm giành cho “em” đã được khẳng định bằng những lời nói chân thành như những lời tuyên thề về tình yêu hai đứa. Điệp từ “Dù” đã lặp lại bốn lần như lời khẳng định rằng dù ở nơi đâu, dù vạn vật thay đổi ra sao, dù em hết yêu anh thì tình cảm này vẫn luôn giành cho em. Có thể thấy, “anh” đã giành sự trung thủy đặc biệt cho “em”, rằng tình cảm này mãi mãi không bao giờ đổi thay. Hình ảnh hương tràm lại xuất hiện lần nữa. Phải chăng tình yêu lứa đôi này có liên quan đến hoa tràm?

Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?

Cơn gió nơi Tháp Mười thổi mạnh mẽ như tình cảm “anh” giành cho em, thổi rất sâu, sâu cả vào lòng “anh”, xoáy vào nỗi thương đau cũng như niềm hy vọng của chàng trai. Xung quanh “anh” có mọi thứ: Trên có bầu trời cao, dưới có cánh đồng rộng, không gian xung quanh ngập tràn hương tràm, chỉ có em là không có bên cạnh anh. Câu hỏi “mà em đi đâu?” là một câu hỏi mà khó có thể có câu trả lời.

Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

Câu thơ “Dù đi đâu và xa cách bao lâu” lại một lần nữa được lặp lại trả lời cho câu hỏi rằng dù em đi đâu hay ở đâu thì hình bóng em vẫn luôn trong tâm trí anh dù giữa bóng tràm bát ngát. Ánh mắt mà anh say đắm vẫn luôn hiện lên mỗi khi anh nhìn thấy lá tràm xanh mát. Tình cảm của em anh vẫn cảm nhận được dù cơn gió trong rừng tràm khiến không gian xôn xao, ồn ào. Không chỉ điệp từ “dù”, điệp từ “anh vẫn” cũng như một lời hứa hẹn, tuyên thề rằng tình cảm và nỗi nhớ anh giành cho em không bao giờ có thể xóa nhòa được.

Bằng ngôn ngữ thơ giản dị mà đong đầy cảm xúc, tác giả đã gửi niềm thương nỗi nhớ của mình đến nhân vật “em” một cách ngọt ngào và chân thành nhất. Tình cảm ấy được trời đất, được rừng hoa tràm bạt ngạt chứng kiến và vun vén. Trong những lời thơ dạt dào cảm xúc đó, Hoài Vũ vẫn khéo léo xen lẫn nhưng biện pháp tu từ nghệ thuật đặc sắc để làm sống động hơn thứ tình cảm này. Cách liệt kê những hình ảnh thiên nhiên xung quanh mình đã làm rộng mở hơn không gian cũng như tình cảm của mình giành cho người ấy, nói rằng tất cả mọi vật đều chứng kiến tình cảm chân thành này. Cách sử dụng điệp từ “dù”, “anh vẫn” đã cho thấy được những lời nói chân thành của tác giả dành cho “em”.

Chỉ với bốn khổ thơ ngắn gọn, Hoài Vũ đã gửi gắm trọn vẹn nỗi nhớ cùng tình cảm chân thành của mình đến “em”, mượn lời thơ tìm kiếm và mang thứ tình cảm ấy gửi đến em nơi xa. Thứ tình yêu giản dị nhưng thủy chung này luôn là thứ mà chúng ta hàng ao ước. Mong rằng, qua bài thơ, ai cũng tìm được cho mình một người như nhân vật “anh” và có được thứ tình cảm tốt đẹp ấy.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 2

Hoài Vũ đã khéo léo gửi cái ánh mắt ấy vào trong lá tràm. Để rồi bất cứ thứ gì liên quan đến “em” cũng trở thành Tràm. Tưởng như Tràm là em từ bao giờ rồi. Và bài thơ ngập trong hương tràm, lá tràm, gió tràm. Tràm chính là em, em có ở trong tràm. Cái xứ Tháp Mười này cũng trở thành xứ tràm – xứ em!

Anh vẫn thấy bóng em giữa bóng tràm bát ngát Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao…”

Em là bóng tràm. Em là mắt lá tràm. Em là hương tràm. Và vì thế cho nên rất dễ hiểu vì sao trong bốn khổ thơ, khổ nào cũng gió tràm, cũng mây tràm, cũng hương tràm, lá tràm… Và vì thế cho nên “Đi trong hương tràm” chính là đi trong tình em! Bốn khổ thơ, cuối mỗi khổ đều quấn quyện hương tràm, tưởng như cả bài thơ ngập trong cái hương tràm xôn xao kia.

Khổ thứ nhất: “Mà khắp trời mây hương tỏa bay”, khổ thứ hai: “Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”, khổ thứ ba: “Hương tràm bên anh mà em đi đâu?”, khổ thơ thứ tư: “Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao”. Mỗi khổ thơ là một khổ hương tràm, một sắc thái hương tràm. Và mỗi khổ cũng là một sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình “anh”. Tất cả đắm say trong hương tràm, trong “tình em”. Ngay từ khổ thứ nhất đã say đắm:

“Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp trời mây hương tỏa bay”

Không đắm say, không nhập tâm nhập thần cái hương tràm ấy thì làm sao mà từ bông hoa tràm trong vòm lá kia lại có thể thấy được một trời mây hương tràm tỏa bay như thế! Tuy nhiên, cái đắm say ấy cũng mới chỉ là bước khởi đầu của một chuỗi diễn biến tâm trạng của “anh”.

Nó mới chỉ là cái đắm say của cảnh, của lá tràm, bóng tràm thực tại. Khổ hai, tâm trạng bắt đầu vận động theo hương tràm. Sau một loạt những “Dù” phũ phàng và đau đớn là “Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”.

Từ bông hoa tràm mà thấy được một trời mây hương tràm tỏa bay đến không có “em” mà vẫn có thể “cho ta bên nhau” qua “một thoáng hương tràm” thì cái liên tưởng ở đây đã có chiều hướng đi sâu vào tâm tưởng. Và như một quy luật của logic tâm hồn, khi chạm đến những gì là của tâm tưởng, của tâm thức thì sau phút đắm say sẽ là nỗi đau.

Mà sự đắm say càng sâu thì nỗi đau càng giằng xé, càng quặn thắt. Cái thực tại phũ phàng “Hương tràm bên anh, mà em đi đâu” như muốn phá tan tất cả những hư ảo mơ màng của không gian tràm trước đó. Nhưng có lẽ vì anh chung tình quá nên cái không gian tràm ấy không dễ gì mà phá vỡ được. Và đến khổ cuối thì cái cảm xúc: “Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao” đã trở thành siêu liên tưởng!

“Gió Tháp Mười đã thổi thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hi vọng

Không gian thơ ở đây được phân định thành hai chiều không gian rõ ràng: Một chiều không gian thực tại với những cây tràm, bông tràm, lá tràm và “xa cách”, và “đổi hướng thay màu”, và “không trao anh nữa”, và thương đau… Một chiều không gian của tâm thức, tiềm thức với bóng tràm, với hương tràm, với mắt tràm, với mây tràm, với gió tràm, với “hy vọng”, với “cho ta bên nhau” …

Chính vì cái không gian này nên cái ngọn gió của xứ Tháp Mười – xứ tràm – xứ em kia mới “thổi rất sâu” chứ không phải là thổi rất xa hay rất cao! Cái chiều thổi của gió là chiều của tâm hồn, chiều của nỗi nhớ, của tình yêu, của niềm hy vọng…

Và có lẽ cũng bởi cái chiều không gian thứ hai này và cái chung tình của “anh” mà khiến cho cái không gian chung của bài thơ không ít mơ màng, hư ảo này bừng sáng lên trong từng câu chữ.

Cầm trên tay bài thơ “Đi trong hương tràm” của Hoài Vũ và đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc mà lòng tôi cứ bâng khuâng trong giai điệu da diết, mặn mà nhưng khắc khoải đến nao lòng:

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu.

Dù gió mây kia đổi hương thay màu.

Dù trái tim em không trao anh nữa.

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau.

Không thể giữ lòng mình khi ngoài kia gió đông vẫn vi vút thổi mà nàng xuân đã nhón bước nhẹ nhàng, e ấp đậu trên hoa đào hoa mai đang đơm nụ, tôi miên man trải lòng mình với “Đi trong hương tràm”, với hương tình yêu mãi xanh, thuỷ chung và thánh thiện…

Chưa một lần được tới Tháp Mười, chưa được thấy rặng tràm xanh mát, chưa được ngắm hoa tràm e ấp, chưa được biết hương tràm ra sao nhưng bài thơ của Hoài Vũ cứ xôn xao mãi trong lòng. Có phải vì hương, hoa, lá tràm gắn liền với tình yêu rất đỗi thuỷ chung và thánh thiện của người trai Nam Bộ!

“Gió Tháp Mười đã thổi thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hi vọng

Bầu trời thì cao cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh mà em đi đâu”

Hương tràm bên anh mà em đi đâu như một nét dao cứa vào lòng nhân vật trữ tình, nó cứ xoáy sâu, khoan vào nỗi nhớ da diết, tình yêu đằm sâu của người trai Nam Bộ. Người trai ấy đang đứng giữa Tháp Mười mênh mông. Bầu trời cao, cánh đồng rộng và hun hút gió thổi… trong lòng.

Cơn gió Tháp Mười thổi đi đâu? Nếu lên trời thì rất cao, nếu trên cánh đồng thì rất dài, rất rộng. Rất sâu, ấy là gió đã thổi vào tâm trạng, vào cõi lòng của con người. Hai chữ “Thổi” đặt cạnh nhau trong câu thơ gây một ấn tượng đặc biệt. Hình như gió cũng phải nghỉ lấy hơi, phải tiếp sức với nhau mới đi tới được “Tháp Mười” tâm trạng!

Thiên nhiên cao rộng, trống trải đến rợn ngợp. Còn con người thì đang có bão ở trong lòng. Anh có gì tựa vào để đứng vững và liệu anh có đứng vững được không? Anh chỉ có hương tràm mà thôi, hương tràm và kỷ niệm về một người con gái giờ cũng thoảng như hương: “Dù trái tim em không trao anh nữa Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”.

Nhưng sự “Bên nhau” ấy mong manh quá không che khuất được nỗi cô đơn: “Hương tràm bên anh mà em đi đâu” Tưởng như nỗi thương đau có thể làm cho con người sụp xuống. Nhưng không, hương tràm mong manh, nhưng hương tràm là một thứ bùa ngải nhiệm màu:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hương thay màu”

Khoảng cách không gian không có ý nghĩa gì, khoảng cách thời gian cũng không là gì. Ngay cả thiên nhiên với quy luật “Vĩnh hằng” có đổi thay đi nữa thì cũng không hề ảnh hưởng. Chưa hết, ngay cả trái tim không thể trao nhau như thoáng hương tràm đủ bắc cầu qua không gian, thời gian, “Qua mặt” thiên nhiên, qua cả sự trao gửi tình thương để đến niềm yêu vĩnh cửu.

Điệp một lúc những bốn chữ “Dù” và sau đó là bao nhiêu điều kiện để khẳng định tình yêu vẫn là mãi mãi. Đó phải chăng là một sự thách thức, một sự bất chấp. Liệu có phải là thái độ “Khùng khùng” một tâm trạng “Cùng ca” hay không? Không, chỉ cần đọc tiếp khổ thơ sau, ta sẽ hiểu:

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

Vậy là em và kỷ niệm xưa gắn liền với rừng tràm đã hoá thân vào cây tràm, đã biến thành một loài cây mãi mãi xanh tươi, mãi mãi sinh sôi nảy nở. Tình yêu ấy là bất tử. Nhạc sỹ Thuận Yến, người phổ nhạc cho bài thơ cho biết: Hoài Vũ viết bài thơ tặng anh Tư có người yêu là cô giao liên đã hy sinh. Như thế, “Em đi đâu” tức là em đã hy sinh mình và hoá thân vào đất Mẹ.

“Trái tim em không trao anh nữa” là em sẽ không thể trao chứ không phải đổi dạ thay lòng. Biết thêm chi tiết này là ta càng thêm quý mến sự chung tình của người con trai Nam Bộ và xúc cảm biết bao trước những người con đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ bài thơ Đi trong hương tràm với một cung thứ khác lạ, bằng những nốt luyến láy mang âm hưởng những điệu hò dân gian Nam bộ, giai điệu khiến người nghe như mường tượng ra một không gian bát ngát hương tràm.

Đi trong hương tràm qua giọng hát của NSND Thu Hiền rất được người nghe yêu thích Có lẽ Hoài Vũ đã không viết quá cụ thể, quá riêng biệt về đôi trai gái như vậy lại hay. Bài thơ vì thế mà có được sự đồng thanh đồng điệu. Còn biết bao nhiêu mối tình gắn bó với hương tràm, hương sen, hương lúa, hương chanh, hương bưởi… những hương hoa ở mọi miền quê đất Việt.

Không phải là cái chết, mà vì một lí do nào đó, họ không trao được trái tim cho nhau. Nhưng họ vẫn giữ ở trong lòng thoáng hương xưa ấy. Thoáng hương mong manh nhưng đủ để cho con người có thể sống Người hơn.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 3

Nhà thơ Hoài Vũ quê gốc ở Quảng Ngãi. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ, ông tích cực tham gia hoạt động văn học ở miền Nam. Các sáng tác của ông thường lọt vào “mắt xanh” của nhiều nhạc sĩ. Trong đó, tiêu biểu nhất là tác phẩm “Đi trong hương tràm”. Với những đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật, bài thơ đã để lại ấn tượng sâu đậm cho độc giả.

Đúng như tên nhan đề, xuyên suốt trong “Đi trong hương tràm” là hình ảnh hoa tràm tỏa hương. Mỗi lần nhân vật trữ tình nhắc đến “hương tràm”, hình bóng “em” sẽ xuất hiện. Có thể nói, hương tràm gắn bó sâu sắc với “em”, trở thành biểu tượng chính của tác phẩm.

Đọc bài thơ, ta thấy đây giống như lời độc thoại kéo dài không dứt. Lời độc thoại ấy được cất lên từ cảm xúc thương nhớ da diết của nhân vật trữ tình, người xưng “anh”. Những hồi ức sâu xa, những nỗi buồn mênh mông gắn liền với hình ảnh hoa tràm cứ thế được gợi ra. Trước hết, ta bắt gặp cảnh tượng:

“Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp trời mây hương tỏa bay!”

Tác giả đã cảm nhận sự vật bằng các giác quan. Từ hình ảnh thiên nhiên, người “anh” khéo léo gửi gắm tâm sự riêng tư của bản thân tới “em”. Mở đầu là “gió”, “mây” rồi “hoa tràm” và “vòm lá”. Sau những lớp lá xanh tươi, hoa tràm đang e ấp, thẹn thùng khoe sắc. Hoa mang trong mình vẻ đẹp thanh khiết, tinh khôi. Càng ngắm nhìn cảnh vật quanh mình, nhân vật trữ tình càng cảm thấy bồi hồi. Dường như, những điều thầm kín tự sâu trong nỗi lòng đã hòa với cảnh vật “Mà khắp trời mây hương tỏa bay!”. Giờ đây, toàn bộ không gian, thời gian, sự vật đã thấm đẫm nỗi nhớ thương của con người. Cảm xúc ấy tiếp tục được khắc họa qua:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay màu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”

Điệp từ “dù” lặp đi lặp lại ở đầu ba câu thơ chính là lời khẳng định, “tuyên thệ” cho tấm lòng chung thủy trong tình yêu của “anh”. Dù vạn vật đổi thay, dù lòng “em” không thể trao cho “anh” nhưng chắc chắn một điều, tình cảm đôi ta vẫn mãi trường tồn. Một lần nữa, hình ảnh “hoa tràm” lại xuất hiện bên cạnh hình bóng “em”. Phải chăng, hương tràm chính là dư vị ngọt ngào của một mối tình dở dang? Phải chăng, tình yêu ấy được bao bọc bởi “một thoáng hương tràm” kia?

Cô đơn đứng giữa thế gian rộng lớn, nhân vật trữ tình không khỏi cảm thấy xót xa, hụt hẫng:

“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hi vọng

Với cách ngắt nhịp khác nhau 5/3, 4/3, giọng thơ chậm rãi, hai câu thơ đầu như muốn nhấn mạnh vào nỗi đau trong lòng con người. Nỗi đau ấy giống cơn gió thổi sâu, xoáy sâu vào tâm trạng “anh”. Nó biến tình yêu đôi ta thành sự xót xa nhưng đồng thời, tạo nên sức mạnh nâng đỡ và cổ vũ con người hãy sống xứng đáng với tình cảm ấy.

Thiên nhiên cao rộng, trống trải tiếp tục được tác giả phác họa qua câu thơ:

“Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu”

“Bầu trời”, “cánh đồng” là những thứ luôn tồn tại vĩnh hằng trong đất trời, là đại diện cho sự rộng lớn, mênh mông. Đối diện với hai không gian này, nhân vật trữ tình không khỏi cảm thấy lẻ loi, hiu quanh. Nếu trước kia, anh có “hương tràm”, có “em” cạnh bên thì bây giờ, anh lại một mình bơ vơ với “hương tràm”. Giống như bầu trời và cánh đồng, hương tràm vẫn luôn hiện hữu, duy chỉ có “em” là không. Câu hỏi tu từ “Hương tràm bên anh, mà em đi đâu” vừa là lời độc thoại mà nhân vật trữ tình tự hỏi mình, vừa là câu hỏi tha thiết mà “anh” hướng tới “em”. Sau tất cả, nỗi ám ảnh nghịch lí còn – mất, nỗi ám ảnh về sự cô đơn đã khắc sắc trong tâm trí nhân vật trữ tình.

Cuối cùng, vượt lên mọi thứ, người “anh” mạnh mẽ bày tỏ tấm lòng của bản thân:

“Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em, giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mắt

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao.”

Câu thơ “Dù đi đâu và xa cách bao lâu” tiếp tục được nhắc lại lần thứ hai đã nhấn mạnh vào tình cảm sắt son, bền chặt của nhân vật trữ tình. Dù thời gian, khoảng cách có cách trở xa xôi thì “anh” mãi nhớ tới “em”. Điệp từ “anh vẫn” đặt ở đầu câu giống như lời hứa, lời thề về tình yêu mà anh dành cho em. Tất cả những gì gắn với mối tình tinh khôi của đôi ta sẽ luôn vĩnh hằng. Giờ đây, hình bóng “em” đã hóa thân vào bóng tràm, lá tràm và hương tràm, biến thành loài cây mãi tươi tốt, xanh tươi và nảy nở theo thời gian. Để rồi, mỗi lần nhìn thấy cây tràm, “anh” lại nghĩ đến “em” và kỉ niệm đôi ta. Như vậy, tình yêu giữa “anh” và “em” là bất tử, không gì chia cắt.

Bằng hình ảnh thơ gần gũi, thân thuộc; ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc, nhà thơ Hoài Vũ đã dựng lên một bức tranh thiên nhiên có hương tràm là hình ảnh trung tâm. Thông qua đó, khéo léo bộc lộ tình cảm nhớ thương sâu sắc của nhân vật trữ tình. Ngoài ra, việc sử dụng thành công biện pháp điệp ngữ “dù”, “anh vẫn” cũng góp phần diễn tả cảm xúc, tâm trạng ở người “anh”.

Với bốn khổ thơ ngắn gọn, “Đi trong hương tràm” dễ dàng đi sâu vào tâm trí nhiều độc giả. Đọc bài thơ, ta cảm nhận được cái dư vị sâu lắng của một tình yêu dang dở, của một mối tình không trọn vẹn. Mong rằng, những vần thơ da diết trong tác phẩm sẽ luôn tỏa sáng rực rỡ theo dòng chảy thời gian.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 4

Bài thơ “Đi trong hương tràm” giống như một lời độc thoại triền miên không dứt. Những hồi ức, những kỉ niệm về một tình yêu da diết, nỗi buồn nhớ mênh mông… Nỗi buồn dường như xóa nhòa cả ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, bao trùm lên cả không gian và thời gian…

Tất cả đều trang nghiêm và lặng lẽ như một khúc tưởng niệm. Hình như người còn sống đang cố gắng huy động hết khả năng cảm nhận của các giác quan để dựng lại chân dung của người đã khuất từ trong tất cả những cái vô hình và hữu hình ở thế giới xung quanh:

Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp trời mây hương tỏa bay

Người đang sống lắng nghe trong gió, dõi nhìn theo mây để trò chuyện với người đã khuất về những điều mà chỉ có hai người mới có thể chia sẻ cho nhau, đó là những điều riêng tư thầm kín đã được hình tượng hóa thành hoa tràm e ấp trong vòm lá! Hoa là biểu tượng của cái đẹp, nhưng rất phù du. Lá là biểu tượng của tuổi xuân, của sự sống; nhưng không thể vĩnh cửu.

Một tình yêu đẹp, phơi phới thanh xuân, nhưng cũng thật mong manh, nó đột nhiên bị chia lìa thật phũ phàng! Dường như nỗi đau mất mát khiến cho cả gió, mây, hoa, lá… cũng ngơ ngác, thẫn thờ. Nhưng có lẽ chính trong nỗi đau tận cùng ấy, vẻ đẹp của một tình yêu chung thủy đã thăng hoa thành một giá trị tinh thần bất tử:

Mà khắp trời mây hương tỏa bay!

Hình như toàn bộ không gian, thời gian giờ đây đều thấm đẫm nỗi xót thương, nhung nhớ, thổn thức… để tạo nên một sự giao hoà âm dương thiêng liêng và bí ẩn.

Một loạt các mệnh đề phủ định được dùng để khẳng định lòng chung thủy của tình yêu:

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay màu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Dù cuộc chia li là vĩnh viễn, dù thiên nhiên đổi thay thất thường, dù trái tim em đã thuộc về một thế giới khác vô hình vô ảnh …; nhưng sức mạnh bí ẩn của tình yêu đã biến tất cả những cái không thể ấy thành cái có thể:

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau

Cái thoảng qua của gió, của hương mơn man dịu dàng biết bao! Thiên nhiên hay tình yêu đã an ủi con người trong những khoảnh khắc cô đơn, chòng chành, hụt hẫng? Có lẽ cả hai! Triệu triệu năm qua, thiên nhiên vẫn vậy, cứ tưởng gió mây vô tình nhưng hoá ra lại thật hữu tình, nhân hậu.

Vào cái khoảnh khắc con người gần như tuyệt vọng thì thiên nhiên lại ân cần chia sẻ và nâng đỡ. Và triệu triệu năm qua tình yêu vẫn vậy, tình yêu luôn là tác nhân giúp cho con người vượt qua những phút yếu đuối ngã lòng. Vì sao vậy? Vì ở đây, tình yêu dang dở bởi một lí do cao cả. Cô gái đột ngột ra đi và do đó không thể tiếp tục chờ đợi chàng trai được nữa:

Dù trái tim em không trao anh nữa

Trái tim em đã thuộc về anh nhưng lại không thể trao cho anh! Có lẽ trong tình yêu lứa đôi, sẽ chẳng có nỗi đau nào lớn hơn thế! Cho đến phút cuối cùng, cô gái vẫn chưa được gặp lại người yêu để nói với người yêu những lời nồng nàn say đắm nhất. Cô mang theo mối tình của mình vào cõi vĩnh hằng.

Và tất nhiên chàng trai có thể hình dung ra những gì mà cô gái sẽ nói, thế cho nên chàng trai mới lắng nghe trong gió trong mây những lời thì thầm chưa và sẽ không bao giờ còn có cơ hội để nói ra được nữa của người yêu. Bằng cái linh giác tuyệt vời của những kẻ đang yêu, chàng trai như muốn kêu lên:

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau

Tình yêu đã thăng hoa thành hương tràm hay hương tràm là dư vị của một mối tình dang dở? Chỉ biết rằng hương tràm là cái sẽ còn mãi tới muôn đời! Nó từng đi qua cuộc đời của những kẻ dám xả thân cho một tình yêu không vụ lợi để cuối cùng nó mãi mãi là chứng nhân cho một tình yêu cao đẹp. Vì thế:

Gió Tháp Mười đã thổi/ thổi rất sâu

Có nỗi thương đau/ có niềm hi vọng

Hai câu thơ được ngắt nhịp khác nhau (5/3 và 4/4) dường như để tô đậm một nỗi đau không gì bù đắp nổi: những cơn gió nối tiếp nhau hú dài như xoáy vào trái tim trống vắng cô đơn, nó quất thẳng vào một vết thương tâm hồn không bao giờ thành sẹo; nhưng trong nỗi đau ấy dường như lại tiềm tàng một sức mạnh kì diệu, nó giúp cho con người không bị gục ngã trong tuyệt vọng bởi chính cái hào quang của một tình yêu cao thượng.

Tình yêu lớn thường có sức mạnh cải tạo, nâng đỡ, khích lệ và cổ vũ con người hãy sống xứng đáng với người yêu của mình. Dù biết rằng khi phải đối mặt với sự thật, nhất là sự thật về những tổn thất, mất mát là rất khó khăn:

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?

Bầu trời và cánh đồng là những sự vật lớn trong thiên nhiên, tồn tại vĩnh cửu, có thể quan sát được. Nhưng bầu trời và cánh đồng thì quá cao và quá rộng, nó khiến cho con người có mặc cảm bé nhỏ, lạc loài, bơ vơ. Hương tràm thì vô hình, không thể nhìn thấy, nhưng có thể cảm nhận bằng linh giác của tình yêu. Hương tràm cũng tồn tại vĩnh cửu như bầu trời và cánh đồng.

Như vậy, tất cả vẫn đang hiện hữu, chỉ trừ em! Và mất em, tức là anh đã mất tất cả! Chợt nhớ một câu thơ trong bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao: “Núi vẫn đôi mà anh mất em”! Sự mất mát trong tình yêu lứa đôi ở bài thơ Đi trong hương tràm và bài thơ Núi Đôi sao giống nhau đến thế?

Nó trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi trong trái tim của người đang sống. Ám ảnh trước nghịch lí còn (những sự vật vô tri) – mất (những sinh thể gắn bó máu thịt)! Và ám ảnh vì nỗi cô đơn thăm thẳm…

Nhưng chàng trai đã gắng gỏi vượt lên để tôn vinh tình yêu:

Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao

Dù sự thật là em đã vĩnh viễn đi xa, nhưng tình yêu mà em dành cho anh và anh dành cho em thì vẫn nguyên vẹn và tinh khôi như buổi ban đầu bởi: Anh vẫn có… Anh vẫn thấy… Anh vẫn nghe… trong cái màu xanh thanh xuân vô tận của bóng tràm bát ngát, lá tràm xanh mát, hương tràm xôn xao… Tất cả những gì thuộc về em đã được hóa thân thiêng liêng và gần gũi biết chừng nào?!

Bài thơ kết thúc bằng một điệp khúc khẳng định Anh vẫn… giống như tiếng vọng của một lời thề giao hòa giữa hai cõi âm-dương… Lời thề ấy vừa rất hiện thực, lại vừa vô cùng bí ẩn, mơ hồ… Phải chăng đó mới chính là nỗi ám ảnh không chỉ vì mất một người yêu cụ thể, tan vỡ một mối tình cụ thể; mà cao hơn, đó là lẽ sống hướng về cái tận thiện tận mĩ của những con người có trái tim vô cùng nhạy cảm trước thiên nhiên và cuộc sống?!

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 5

“Đi trong hương tràm” của Hoài Vũ là một trong những bài thơ đi cùng năm tháng. Với giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, bài thơ bộc bạch cảm xúc của nhân vật trữ tình - người con trai với nỗi nhớ “em” da diết. Mỗi lần “đi trong hương tràm” là mỗi lần hình bóng “em” lại ùa về trong nỗi nhớ của anh. Bởi hương tràm luôn gắn bó với “em”, nên nhìn cảnh lại nhớ đến người. Nỗi nhớ tình yêu gắn kết những tâm hồn xa cách. Chính những điều trên, đã tạo thành nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Đi trong hương tràm. Điều đó, được thể hiện cụ thể qua đoạn thơ sau:

“Em gửi gì trong gió trong mây…

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao…”

Trong thời chống Mỹ ở Long An, có lần nhà thơ Hoài Vũ đã tận mắt chứng kiến tấm gương hi sinh vô cùng anh dũng của một nữ chiến sĩ giao liên vùng Đồng Tháp Mười, nơi có đồng tràm mênh mông bên dòng sông Vàm Cỏ Tây. Sau ngày giải phóng, nhà thơ có dịp trở lại chiến trường xưa, chợt nhớ về hình ảnh cô giao liên hi sinh ngày ấy, ông cảm xúc viết bài thơ này. Bài thơ “đi trong hương tràm” được trích trong tập thơ “Tuyển tập thơ Việt Nam”.

Bài thơ là một lời độc thoại triền miên không dứt. Những hồi ức, những kỉ niệm về một tình yêu da diết, nỗi nhớ mênh mông… Nỗi buồn dường như xóa nhòa cả ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, bao trùm lên cả không gian và thời gian… Tất cả đều trang nghiêm và lặng lẽ như một khúc tưởng niệm. Hình như người còn sống đang cố gắng huy động khả năng cảm nhận của các giác quan để dựng lại chân dung của người đã khuất từ trong tất cả những cái vô hình và hữu hình ở thế giới xung quanh:

“Em gửi gì trong gió trong mây

Ðể sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp nơi mây hương tỏa bay!”

Người đang sống lắng nghe trong gió, dõi nhìn theo mây để trò chuyện với người đã khuất về những điều chỉ có hai người mới có thể chia sẻ cho nhau, đó là những điều riêng tư thầm kín đã được hình tượng hóa thanh hoa tràm e ấp trong vòm lá. Hoa là biểu tượng của cái đẹp, nhưng rất phù du. Lá là biểu tượng của tuổi xuân và sự sống, nhưng cũng không thể vĩnh cửu. Dường như nỗi đau mất mát khiến cho cả gió và mây, hoa, lá … cũng ngơ ngác, thẫn thờ. Nhưng có lẽ chính trong nỗi đau tận cùng ấy, vẻ đẹp của một tình yêu chung thủy đã thăng hoa thành giá trị tinh thần bất tử:

“Mà khắp trời mây hương tỏa bay!”

Hình như toàn bộ không gian, thời gian đây đều thấm đẫm nỗi xót thương, nhung nhớ, thổn thức… để tạo nên sự giao hòa âm dương thiêng liêng và bí ẩn.

Một loạt các mệnh đề phủ định được dùng để khẳng định lòng chung thủy của tình yêu:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay màu

Dù trái tim em không trao anh nữa”

Dù cuộc chia li là vĩnh viễn, dù thiên nhiên đổi thay thất thường, dù trái tim em đã thuộc về một thế giới khác vô hình, vô ảnh, …; nhưng sức mạnh bí ẩn của tình yêu đã biến tất cả những cái không thể ấy thành cái có thể:

“Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”.

Cái thoáng qua của gió, của hương mơn man dịu dàng biết bao. Thiên nhiên hay tình yêu đã an ủi con người trong những khoảnh khắc cô đơn, chòng chành, hụt hẫng? Tình yêu đã thăng hoa thành hương tràm hay hương tràm là dư vị của một mối tình dang dở? Chỉ biết rằng hương tràm là cái sẽ còn mãi, mãi mãi là chứng nhân cho một tình yêu cao đẹp.

“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng”

Hay câu thơ được ngắt nhịp khác nhau (5/3 và 4/4) dường như để tô đậm một nỗi đau không gì là bù đắp nổi: những con gió nối tiếp nhau như xoáy vào trái tim trống vắng cô đơn nhưng trong nỗi đau ấy dường như lại tiềm tàng một sức mạnh kì diệu, nó giúp cho con người không bị gục ngã trong tuyệt vọng bởi chính cái hào quang của một tình yêu cao thượng.

Dù biết rằng khi phải đối mặt với sự thật, nhất là sự thật về những mất mát là rất khó khăn: “Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?”

Bầu trời và cánh đồng là những sự vật lớn trong thiên nhiên, tồn tại vĩnh cửu, có thể quan sát được. Nhưng bầu trời và cánh đồng thì quá cao và rộng, nó khiến cho con người có mặc cảm bé nhỏ, lạc loài, bơ vơ. Hương tràm thì vô hình, không thể nhìn thấy, nhưng có thể cảm nhận bằng linh cảm của tình yêu. Hương tràm cũng tồn tại vĩnh viễn cùng bầu trời và cánh đồng. Như vậy, tất cả vẫn đang hiện hữu, chỉ trừ em. Ý thơ trên, làm ta chợt nhớ đến câu thơ của Vũ Cao trong bài Núi đôi:

“Núi vẫn đôi mà anh mất em”

Có thể nói, sự mất mát trong tình yêu lứa đôi ở bài thơ “Đi trong hương tràm” đã trở thành nỗi ám ảnh không nguôi trong trái tim của người đang sống:

“Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao…”

Dù sự thật là em đã vĩnh viễn đi xa, nhưng tình yêu mà em dành cho anh và anh dành cho em vẫn nguyên vẹn và tinh khôi như buổi ban đầu bằng cấu trúc câu “Anh vẫn có … anh vẫn thấy … Anh vẫn nghe …” trong cái màu xanh thanh xuân vô tận của bóng tràm bát ngát, lá tràm xanh mát, hương tràm xôn xao, … Tất cả những gì thuộc về em đã được hóa thân thiêng liêng và gần gũi biết chừng nào?

Bài thơ kết thúc bằng một điệp khúc khẳng định “anh vẫn …” giống như tiếng vọng của một lời thề giao hòa giữa hai cõi âm dương … Lời thề ấy vừa rất hiện thực, lại vừa vô cùng bí ẩn, mơ hồ, … Phải chăng đó mới chính là nỗi ám ảnh không chỉ vì mất một người yêu cụ thể, tan vỡ một mối tình cụ thể, mà cao hơn đó là lẽ sống hướng về cái tận thiện tận mĩ của những con người có trái tim vô cùng nhạy cảm trước thiên nhiên, cuộc sống và thủy chung với tình yêu.

Bằng thể thơ tự do, ngôn từ mộc mạc gần gũi, nhà thơ Hoài Vũ đã vẽ ra trước mắt người đọc một mối tình trong sáng, giản dị nhưng sâu sắc, chân thành không kém phần da diết. Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, cách ngắt nhịp biến đổi linh hoạt, khắc họa tâm tư, tình cảm của nhà thơ nhớ về người con gái ấy khi đi trong hương tràm. Tác giả vận dụng rất thành công nhiều biện pháp tu từ: điệp cấu trúc, điệp từ, điệp ngữ, câu hỏi tu từ, … làm cho bài thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, giàu cảm xúc.

Qua bài thơ “Đi trong hương tràm”, thế hệ trẻ chúng ta nhận thấy sự hi sinh to lớn của thế hệ cha ông đi trước. Họ chiến đấu, sẵn sàng hi sinh, quên đi hạnh phúc cá nhân. Tình yêu quê hương đất nước quá đỗi thiêng liêng, để rồi sau chiến tranh, nhân vật trữ tình, đi trong hương tràm nhớ về người con gái mình yêu. Tình yêu của họ quá đỗi chân thành, trong sáng và cao thượng. Là thế hệ trẻ ngày nay, chúng ta cần phải có trách nhiệm kế thừa và phát huy vẻ vang lịch sử dân tộc, yêu nước, cố gắng học tập để dựng xây đất nước, xứng đáng với sự hi sinh của người đi trước.

Tóm lại, bốn khổ thơ, mỗi khổ thơ đều quấn quyện hương tràm, tưởng như cả bài thơ ngập trong cái hương tràm xôn xao kia. Khổ thứ nhất “khắp trời mây hương tỏa bay”, khổ thứ hai “một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”, khổ thứ ba “hương tràm bên anh mà em đi đâu?”, khổ thứ tư “anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao”. Mỗi khổ thơ là một khổ hương tràm, một sắc thái của hương tràm và một nỗi niềm của tác giả, của nhân vật trữ tình, của nhân vật “anh”. Tất cả đều đắm say trong hương tràm, trong tình em. Bài thơ vì thế mà trở thành ấn tượng sâu sắc, thiết tha trong lòng người về một tình yêu đẹp, về cảnh sắc thiên nhiên Nam Bộ thân thương, gần gũi, thấm đẫm tình người.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 6

Trong dòng chảy thơ ca hiện đại Việt Nam, Hoài Vũ đã để lại dấu ấn riêng với những vần thơ đậm chất trữ tình, tha thiết và giàu cảm xúc. Bài thơ Đi trong hương tràm là một thi phẩm tiêu biểu, thể hiện vẻ đẹp của tình yêu gắn liền với không gian thiên nhiên Nam Bộ. Qua hình tượng “hương tràm”, tác giả không chỉ khắc họa một tình yêu sâu nặng, thủy chung mà còn gửi gắm nỗi nhớ da diết và niềm tin bền bỉ vào tình cảm con người.

Mở đầu bài thơ là một câu hỏi đầy bâng khuâng, gợi cảm:

“Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây”

Câu hỏi tu từ như một lời tự vấn, vừa ngỡ ngàng vừa say đắm. Không gian được mở ra với “gió”, “mây” và đặc biệt là địa danh “Vàm Cỏ Tây” – một vùng đất đặc trưng của Nam Bộ. Trong không gian ấy, hương tràm hiện lên thật tinh tế: “Hoa tràm e ấp trong vòm lá / Mà khắp nơi mây hương toả bay!”. Từ “e ấp” gợi vẻ dịu dàng, kín đáo của hoa tràm, còn “hương toả bay” lại cho thấy sức lan tỏa mạnh mẽ, như tình cảm thầm kín nhưng sâu đậm. Hương tràm ở đây không chỉ là hương của thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho tình yêu – nhẹ nhàng mà bền bỉ, âm thầm mà da diết.

Sang khổ thơ thứ hai, tình yêu ấy được thử thách trong hoàn cảnh chia xa:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”

Điệp từ “dù” được lặp lại nhiều lần như nhấn mạnh những biến đổi, cách trở của thời gian và hoàn cảnh. Tình yêu có thể chịu thử thách của khoảng cách, của sự đổi thay, thậm chí là sự phai nhạt từ phía “em”. Nhưng điều còn lại, điều bền vững nhất chính là “một thoáng hương tràm” – biểu tượng của ký ức, của những gì không thể mất đi. Chính hương tràm đã trở thành cầu nối, giúp hai con người vẫn “bên nhau” trong tâm tưởng, dù thực tại có xa cách đến đâu.

Khổ thơ thứ ba mở ra một không gian rộng lớn, đậm chất miền Tây:

“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?”

Không gian “Tháp Mười”, “bầu trời cao”, “cánh đồng rộng” gợi cảm giác mênh mang, bao la nhưng cũng đầy trống vắng. Cơn “gió thổi rất sâu” không chỉ là gió thiên nhiên mà còn là gió của tâm trạng, mang theo “nỗi thương đau” và “niềm hy vọng”. Trong không gian rộng lớn ấy, con người trở nên nhỏ bé, cô đơn, và câu hỏi “mà em đi đâu?” vang lên như một tiếng gọi đầy khắc khoải. Hương tràm lúc này không chỉ là kỷ niệm mà còn là điểm tựa tinh thần duy nhất giúp “anh” vượt qua nỗi cô đơn.

Đến khổ thơ cuối, nỗi nhớ và tình yêu được đẩy lên cao trào:

“Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...”

Điệp cấu trúc “anh vẫn…” khẳng định sự bền bỉ, thủy chung của tình cảm. Hình ảnh người con gái không còn hiện hữu trong thực tại mà hòa vào thiên nhiên: “bóng em giữa bóng tràm”, “mắt em trên lá tràm”, “tình em trong hương tràm”. Thiên nhiên và con người như hòa quyện làm một, khiến nỗi nhớ trở nên vừa cụ thể vừa mơ hồ. Hương tràm lúc này đã trở thành linh hồn của bài thơ – nơi lưu giữ tình yêu, ký ức và cả niềm tin.

Về phương diện nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi ngôn ngữ giản dị, giàu chất nhạc, mang đậm hơi thở Nam Bộ. Hình ảnh “hương tràm” được xây dựng như một biểu tượng xuyên suốt, vừa mang tính tả thực vừa mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc. Các biện pháp tu từ như điệp từ, câu hỏi tu từ, so sánh… được sử dụng linh hoạt, góp phần thể hiện rõ nét cảm xúc trữ tình của nhân vật. Giọng điệu bài thơ nhẹ nhàng, tha thiết, lúc bâng khuâng, lúc da diết, tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lòng người đọc.

Đi trong hương tràm là một bài thơ giàu giá trị nội dung và nghệ thuật của Hoài Vũ. Qua hình tượng hương tràm, tác giả đã khắc họa một tình yêu đẹp, sâu sắc và thủy chung, đồng thời thể hiện nỗi nhớ da diết cùng niềm tin bền bỉ vào tình cảm con người. Bài thơ không chỉ là khúc hát về tình yêu đôi lứa mà còn là tiếng lòng của con người trước thiên nhiên rộng lớn, góp phần làm phong phú thêm diện mạo thơ ca Việt Nam hiện đại.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 7

Giữa những vần thơ tình yêu muôn thuở, Đi trong hương tràm của Hoài Vũ nổi lên như một nốt trầm lắng, sâu lắng và đầy ám ảnh. Không ồn ào, không đổ vỡ, bài thơ là lời tự tình của một trái tim đang yêu nhưng phải xa cách, một nỗi nhớ được đo bằng chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian và chiều sâu của những cơn gió Tháp Mười. Nhà thơ đã mượn hình tượng hương tràm – thứ hương vị đặc trưng của miền đất phương Nam để làm chất xúc tác cho ký ức, để lưu giữ hình bóng người yêu trong một sự hòa quyện đến kỳ lạ giữa tình cảm con người và cảnh vật thiên nhiên.

Trước hết, bài thơ mở ra bằng một khung cảnh thiên nhiên vừa cụ thể, vừa huyền ảo. Đó là Vàm Cỏ Tây, là hoa tràm e ấp trong vòm lá, là mây hương tỏa bay khắp nơi. Câu hỏi tu từ Em gửi gì trong gió trong mây đã tạo ra một bí ẩn ngay từ đầu: phải chăng hương tràm hôm nay không còn là hương tràm thuần túy nữa, mà đã được ướp đượm bởi một cái gì đó của em? Người đọc chợt nhận ra: hương tràm đã trở thành một biểu tượng của tình yêu, của sự hiện diện vô hình nhưng đầy ám ảnh của người con gái. Cảnh vật hiện lên không chỉ bằng thị giác mà còn bằng khứu giác, một ấn tượng giác quan đặc biệt - mùi hương. Cách cảm nhận ấy đã làm cho bức tranh thiên nhiên không còn tĩnh tại mà trở nên “bay bổng”, len lỏi vào mọi ngóc ngách của tâm hồn.

Điểm đặc sắc nhất của bài thơ nằm ở khổ thơ thứ hai với điệp ngữ “Dù” được lặp lại bốn lần, tạo nên một cấu trúc giả định dồn dập, như những thử thách mà thời gian và không gian đặt ra cho tình yêu: 

Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa.

Mỗi “dù” là một mức độ xa cách, một sự thay đổi, thậm chí là một sự phản bội có thể xảy ra. Tưởng chừng như những điều kiện ấy sẽ nhấn chìm tình yêu, thế nhưng câu thơ cuối của khổ đã vượt lên tất cả: 

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau.

Thật kỳ diệu! Chỉ cần “một thoáng hương tràm” thôi cũng đủ xóa nhòa mọi cách trở, đủ để hóa giải mọi đổi thay, đủ để hai tâm hồn lại được “bên nhau”. Hoài Vũ đã nâng tầm hương tràm từ một thứ hương vị tự nhiên thành một sợi dây kết nối siêu hình, một cầu nối vượt qua cả không gian và thời gian. Đây chính là một phát hiện đầy chất lãng mạn và cũng rất đỗi triết lý: tình yêu đích thực không nằm ở sự chiếm hữu hay những lời thề hẹn, mà nó tồn tại như một dư vị, một ấn tượng không thể phai mờ trong tâm khảm.

Khổ thơ thứ ba tiếp tục mở rộng không gian, nhưng lần này là không gian mang đậm dấu ấn Nam Bộ: 

Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?

Gió Tháp Mười - cái gió của vùng Đồng Tháp Mười bao la, mênh mông. Cơn gió ấy không chỉ thổi qua những cánh đồng, qua những rừng tràm mà còn thổi rất sâu vào lòng người, mang theo thương đau có niềm hy vọng. Câu thơ như một sự giãi bày: tình yêu và nỗi nhớ ở đây không chỉ đơn thuần là cảm xúc lãng mạn, mà nó đã hòa vào những trải nghiệm lớn lao hơn, có thể là những mất mát, những chờ đợi của cả một thế hệ. Và rồi, câu hỏi cuối khổ thơ vang lên đầy bối rối: Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?. Câu hỏi tu từ ấy thể hiện một nghịch lý: hương tràm thì đang ở đây, bên anh, thân thiết, ngọt ngào là thế, thế nhưng em thì lại “đi đâu” mất rồi. Sự hiện diện của hương và sự vắng mặt của người tạo nên một khoảng cách đầy ám ảnh, một nỗi nhớ không thể giải tỏa. Hành trình “đi trong hương tràm” chính là hành trình đi giữa nỗi nhớ, đi trong cái còn đó và cái đã mất.

Khổ thơ cuối cùng là một lời khẳng định đầy mãnh liệt, một niềm tin bất chấp mọi thử thách.

Dù đi đâu và xa cách bao lâu

Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...

Lại một lần nữa điệp ngữ Dù đi đâu và xa cách bao lâu được nhắc lại, nhưng lần này không phải là sự giả định đầy lo âu như ở khổ hai, mà là tiền đề cho một loạt những khẳng định chắc nịch: Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngátAnh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mátAnh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao. Điệp cấu trúc “Anh vẫn” được lặp lại ba lần, kết hợp với các động từ chỉ tri giác (có, thấy, nghe) đã nhấn mạnh sự hiện diện không thể chối cãi của “em” trong thế giới của “anh”. “Em” không còn là một thực thể riêng biệt nữa, mà đã hóa thân vào thiên nhiên: bóng em hòa trong bóng tràm, mắt em phản chiếu trên lá tràm, tình em xôn xao cùng hương tràm. Sự hòa nhập đến mức gần như đồng nhất ấy là đỉnh điểm của một tình yêu đã trở thành nỗi ám ảnh, thành một phần máu thịt. Câu thơ cuối với từ láy “xôn xao” vừa gợi tả sự chuyển động nhẹ nhàng của hương, vừa gợi tả nhịp đập rộn ràng của con tim.

Về nghệ thuật, Đi trong hương tràm thành công nhờ việc xây dựng một hệ thống biểu tượng độc đáo. Hương tràm là biểu tượng xuyên suốt, vừa là hình ảnh cụ thể của thiên nhiên Nam Bộ, vừa là ẩn dụ cho sự lưu giữ tình yêu, cho ký ức và nỗi nhớ. Các biện pháp tu từ như điệp ngữ (anh vẫn), câu hỏi tu từ (Em gửi gì..., mà em đi đâu?), và phép liệt kê được sử dụng nhuần nhuyễn, tạo nên một giọng thơ vừa da diết, vừa trầm lắng. Đặc biệt, thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, câu dài câu ngắn khác nhau đã diễn tả thành công dòng chảy cảm xúc vừa bền bỉ, vừa bồi hồi của nhân vật trữ tình.

Đi trong hương tràm của Hoài Vũ không chỉ là một bài thơ tình yêu đơn thuần. Đó là một khúc biến tấu cho nỗi nhớ, một bản tình ca về sự trường tồn của cảm xúc trước sự biến thiên của thời thế. Mượn hương sắc của rừng tràm phương Nam, nhà thơ đã nói hộ cho những trái tim đang yêu và phải xa cách rằng: tình yêu đích thực không mất đi, nó chỉ hóa thân vào thiên nhiên, vào đất trời, để mỗi khi ta đi qua một miền ký ức, nó lại trỗi dậy, “xôn xao” và “tỏa bay”. Bài thơ xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho hồn thơ Hoài Vũ – sâu lắng, đậm đà và đầy chất suy tưởng.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 8

Nếu như mỗi vùng đất đều có một “linh hồn” riêng, thì với Hoài Vũ và vùng đất Long An, linh hồn ấy chính là hương tràm. Bài thơ Đi trong hương tràm không chỉ đơn thuần là nỗi nhớ mà còn là một cuộc hành trình đi tìm hình bóng người thương trong hơi thở của đất trời, nơi tình yêu cá nhân hòa quyện với tình yêu quê hương xứ sở.

Mở đầu bài thơ bằng câu hỏi “Em gửi gì trong gió trong mây?”, Hoài Vũ đã khéo léo biến những hiện tượng thiên nhiên vô hình thành nơi chuyên chở cảm xúc. Điểm đặc sắc nhất nằm ở hình ảnh “hoa tràm e ấp”. Không lựa chọn những loài hoa rực rỡ, tác giả tìm đến hoa tràm – một loài hoa mộc mạc, khiêm nhường, thường ẩn mình trong tán lá nhưng lại có sức lan tỏa hương thơm mạnh mẽ. Chính sự đối lập giữa cái “e ấp” của hoa và cái “tỏa bay” của hương đã tạo nên một nghịch lý giàu ý nghĩa: tình yêu có thể kín đáo, thầm lặng nhưng sức sống và độ lan tỏa thì vô cùng mãnh liệt. Hương tràm vì thế trở thành biểu tượng của cái vô hình nhưng lại có khả năng níu giữ cái hữu hình níu giữ ký ức, níu giữ con người, níu giữ tình yêu.

Sang khổ thơ thứ hai, giọng điệu trở nên chắc chắn, như một lời thề nguyền thủy chung:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau.”

Điệp từ “dù” được lặp lại nhiều lần, tạo nên thế đối lập rõ rệt. Một bên là những biến đổi không ngừng của vũ trụ và lòng người: gió mây đổi hướng, tình cảm có thể phai nhạt. Một bên là sự bền vững của ký ức, của “một thoáng hương tràm”. Cách diễn đạt ấy cho thấy một quan niệm rất nhân văn về tình yêu: không phải là sự chiếm hữu tuyệt đối, mà là sự tồn tại bền bỉ trong tâm tưởng. Dù thực tại có đổi thay, chỉ cần còn giữ được ký ức, con người vẫn có thể “bên nhau” trong một không gian tinh thần riêng biệt.

Càng về sau, bài thơ càng mở rộng biên độ không gian và chiều sâu cảm xúc. Gió Tháp Mười “thổi rất sâu” không chỉ là gió của thiên nhiên mà còn là gió của tâm trạng, mang theo cả nỗi đau và niềm hy vọng. Đỉnh cao của cảm xúc nằm ở khổ thơ cuối, khi tác giả sử dụng các điệp cấu trúc “anh vẫn có”, “anh vẫn thấy”, “anh vẫn nghe” để khẳng định sự tồn tại bền bỉ của tình yêu. Hình ảnh người con gái dần hóa thân vào thiên nhiên: bóng tràm trở thành bóng em, lá tràm mang hình dáng đôi mắt em, còn hương tràm chính là tình em lan tỏa.

Ở đây, ranh giới giữa con người và cảnh vật đã hoàn toàn bị xóa nhòa. Người yêu không còn là một cá thể riêng biệt mà đã hòa tan vào từng ngọn lá, từng làn hương của quê hương. Thiên nhiên không chỉ là phông nền mà trở thành nơi lưu giữ, bảo tồn và tiếp nối tình yêu. Điều đó làm cho tình cảm trong bài thơ không chỉ mang ý nghĩa cá nhân mà còn mang tầm vóc rộng lớn, gắn liền với đất đai, sông nước, với cả một vùng văn hóa.

Nhìn chung, Đi trong hương tràm là một bài thơ “tình trong cảnh, cảnh trong tình” đặc sắc của Hoài Vũ. Với ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, hình ảnh biểu tượng độc đáo và giọng điệu tha thiết, bài thơ đã khẳng định một chân lý giản dị mà sâu sắc: chiến tranh hay thời gian có thể chia cắt con người về mặt không gian, nhưng không thể ngăn cản sự giao thoa của những tâm hồn đồng điệu. Hương tràm – linh hồn của vùng đất – cũng chính là linh hồn của tình yêu, mãi lan tỏa và bền bỉ cùng năm tháng.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 9

Trong dòng chảy của văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và những năm đầu sau thống nhất, có những bài thơ không chỉ ghi lại dấu chân của người lính trên những nẻo đường hành quân mà còn ghi lại những rung động sâu xa nhất của tâm hồn. Đi trong hương tràm của Hoài Vũ là một tác phẩm như thế. Với ngôn từ giản dị, giàu hình ảnh và nhịp điệu tha thiết, bài thơ đã kiến tạo nên một không gian nghệ thuật đầy ám ảnh, nơi tình yêu lứa đôi hòa quyện chặt chẽ với tình yêu quê hương đất nước qua biểu tượng hương tràm.

Ngay từ những câu thơ mở đầu, tác giả đã thiết lập một cuộc đối thoại nội tâm đầy dịu dàng:

“Em gửi gì trong gió trong mây

Để sáng nay lên Vàm Cỏ Tây

Hoa tràm e ấp trong vòm lá

Mà khắp nơi mây hương tỏa bay!”

Cái hay của Hoài Vũ là cách ông “cá nhân hóa” thiên nhiên. Gió, mây và dòng sông Vàm Cỏ Tây không còn là những thực thể vô tri mà trở thành những “sứ giả” mang theo thông điệp của tình yêu. Hình ảnh “hoa tràm e ấp” gợi vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng như chính người con gái phương Nam. Đặc biệt, sự đối lập giữa cái “e ấp” trong vòm lá và sự “tỏa bay” của hương thơm đã tạo nên một nghịch lý giàu sức gợi: tình yêu có thể âm thầm, kín đáo nhưng sức lan tỏa lại vô cùng mạnh mẽ, đủ để bao trùm cả không gian và thấm sâu vào lòng người.

Đến khổ thơ thứ hai, giọng điệu chuyển sang sắc thái khẳng định, như một lời cam kết bền bỉ của tình yêu:

“Dù đi đâu dù xa cách bao lâu

Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu

Dù trái tim em không trao anh nữa

Một thoáng hương tràm cho ta bên nhau”

Điệp từ “dù” được lặp lại liên tiếp tạo nên nhịp điệu chắc chắn, như những lớp sóng dâng lên của cảm xúc. Tác giả đặt ra những giả thiết khắc nghiệt nhất: sự xa cách của không gian, sự biến đổi của thiên nhiên, thậm chí cả sự đổi thay trong tình cảm. Thế nhưng, tất cả đều không thể xóa nhòa ký ức và tình yêu đã có. Chỉ cần “một thoáng hương tràm”, hai con người vẫn có thể “bên nhau” trong tâm tưởng. Ở đây, tình yêu không còn bị giới hạn bởi hiện thực mà đã thăng hoa thành một giá trị tinh thần, vượt lên mọi ranh giới của thời gian và không gian.

Khổ thơ thứ ba mở rộng không gian ra vùng Đồng Tháp Mười rộng lớn, đồng thời đào sâu hơn vào thế giới nội tâm:

“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu

Có nỗi thương đau có niềm hy vọng

Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng

Hương tràm bên anh, mà em đi đâu?”

Cụm từ “thổi rất sâu” là một cách diễn đạt giàu sức gợi, cho thấy cơn gió không chỉ chạm vào da thịt mà còn len lỏi vào tận đáy tâm hồn. Trong làn gió ấy có cả “thương đau” của chiến tranh, của chia ly, và “hy vọng” về tương lai. Không gian “bầu trời cao”, “cánh đồng rộng” gợi sự bao la nhưng cũng làm nổi bật cảm giác cô đơn của con người. Câu hỏi “mà em đi đâu?” vang lên đầy xót xa, như một tiếng gọi vọng vào khoảng không vô tận. Hương tràm lúc này trở thành điểm tựa duy nhất, là sợi dây mong manh nhưng bền chặt nối liền hiện tại với ký ức.

Đến khổ thơ cuối, hình bóng người thương đã hoàn toàn hòa nhập vào thiên nhiên, trở nên bất tử:

“Anh vẫn có bóng em giữa bóng tràm bát ngát

Anh vẫn thấy mắt em trên lá tràm xanh mát

Anh vẫn nghe tình em trong hương tràm xôn xao...”

Việc sử dụng liên tiếp các động từ cảm giác như “có”, “thấy”, “nghe” đã tạo nên một sự cộng hưởng của nhiều giác quan, khiến hình ảnh người yêu trở nên sống động và gần gũi. “Mắt em” hòa vào màu xanh của lá tràm, “tình em” tan vào hương thơm lan tỏa. Sự kết hợp giữa cái hữu hình (lá tràm, bóng tràm) và cái vô hình (hương tràm, tình cảm) đã tạo nên một sự gắn bó vĩnh cửu. Dù “em” có thể không còn hiện diện trong thực tại, nhưng tình yêu của em đã hóa thân vào thiên nhiên, trở thành một phần không thể tách rời của đất trời.

Xét về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng sâu sắc bởi hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng, đặc biệt là “hương tràm” – một sáng tạo độc đáo vừa thực vừa ảo, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Ngôn ngữ thơ giản dị, đậm chất Nam Bộ nhưng vẫn tinh tế, giàu sức gợi. Nhịp điệu chậm rãi, tha thiết, như một bản tình ca buồn nhưng không bi lụy, mà thấm đẫm niềm tin và hy vọng.

Về nội dung, Đi trong hương tràm không chỉ là bài thơ về tình yêu đôi lứa mà còn là khúc ca về lòng thủy chung và sự gắn bó máu thịt với quê hương. Qua hình tượng hương tràm, Hoài Vũ đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc: những gì giản dị, nhỏ bé nhất đôi khi lại trở thành điểm tựa tinh thần bền vững nhất trong cuộc đời. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, bài thơ vẫn giữ nguyên sức lay động, chứng minh rằng những giá trị xuất phát từ trái tim chân thành và gắn liền với hồn cốt dân tộc sẽ luôn trường tồn cùng thời gian.

Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm - mẫu 10

 Đi trong hương tràm của Hoài Vũ không kể một câu chuyện tình yêu cụ thể, mà là một triết lý về nỗi nhớ và sự trường tồn của cảm xúc. Bài thơ ngắn gọn nhưng giàu sức ám ảnh bởi hình tượng xuyên suốt: hương tràm.

Mở đầu, tác giả đặt câu hỏi Em gửi gì trong gió trong mây như một lẽ tự nhiên: cảnh vật Vàm Cỏ Tây bỗng mang hương vị lạ bởi có bóng dáng của “em”. Hoa tràm vốn là loài hoa đặc trưng của đất phương Nam, nay được nâng lên thành biểu tượng của tình yêu, của sự gửi gắm. Chỉ với bốn câu thơ, khung cảnh thiên nhiên đã được “tâm hóa”, trở thành một thực thể mang đầy kỷ niệm.

Khổ thứ hai và thứ tư tạo nên một kết cấu đối ứng đẹp. Ở khổ hai, tác giả dồn dập đưa ra những giả định đầy thử thách: Dù đi đâu dù xa cách bao lâu/ Dù gió mây kia đổi hướng thay mầu/ Dù trái tim em không trao anh nữa. Nhưng điểm tựa cuối cùng, điều không gì tàn phá nổi, là một thoáng hương tràm cho ta bên nhau. Hương tràm trở thành sợi dây kết nối kỳ diệu, xóa nhòa mọi cách trở. Đến khổ cuối, sau những trải nghiệm về gió Tháp Mười với cả nỗi thương đau và niềm hy vọng, nhà thơ khẳng định: Dù đi đâu và xa cách bao lâu, anh vẫn , vẫn thấy, vẫn nghe hình bóng em trong từng tàu lá, từng làn hương tràm. Điệp ngữ Anh vẫn lặp lại ba lần như một lời thề, một niềm tin bất diệt.

Đặc sắc nhất là cách Hoài Vũ chuyển hóa các giác quan. Không chỉ ngửi thấy hương, anh còn thấy mắt em trên lá tràmnghe tình em trong hương tràm. Sự đan xen giữa khứu giác, thị giác và thính giác cho thấy nỗi nhớ đã thấm sâu vào tiềm thức, đến nỗi em và tràm là một. Câu thơ cuối hương tràm xôn xao dùng từ láy chỉ âm thanh để tả mùi hươnglà một ẩn dụ đầy sáng tạo, gợi lên sự sống động, bồi hồi của tình yêu còn mãi.

Đi trong hương tràm là bài thơ về sự bất tử của tình yêu trong ký ức. Bằng hình tượng hương tràm đậm đà bản sắc Nam Bộ và giọng thơ vừa thiết tha vừa trầm lắng, Hoài Vũ đã chứng minh rằng: có những thứ xa cách không thể xóa nhòa, có những mất mát không thể chia lìa, bởi tình yêu đã hóa thân vào thiên nhiên, vào hương đất trời, và cứ thế “xôn xao” mãi trong lòng người ở lại.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 10 sách mới các môn học