10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (điểm cao)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 1)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 2)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 3)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 4)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 5)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 6)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 7)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 8)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu 9)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (mẫu khác)
10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ
1. Mở bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Hàn Mặc Tử và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ:
+ Hàn Mặc Tử (1912 - 1940) nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng ra Trường thơ Loạn.
+ Đây thôn Vĩ Dạ (1938) in trong tập thơ Điên, là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử, ra đời trong hoàn cảnh mối tình đơn phương của Hàn Mạc Tử với cô gái gốc Huế rơi vào tuyệt vọng.
- Có thể trích dẫn nội dung bài thơ.
2. Thân bài phân tích Đây thôn Vĩ Dạ
* Khái quát chung:
- Bối cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được lấy cảm hứng từ bức ảnh do cô gái Huế có tên Hoàng Cúc gửi tặng. Đó là tấm bưu thiếp vẽ cảnh Huế với dòng sông, con đò, bến trăng hay một buổi bình minh. Khi ấy Hàn Mặc Tử đang điều trị bệnh phong tại Quy Nhơn. Nhận được bức ảnh cùng những lời thăm hỏi của cô gái mà mình thầm thương trộm nhớ, ông đã xúc động viết bài thơ này.
* Phân tích khổ thơ đầu: Bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, con người xứ Huế (thôn Vĩ)
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
- Câu hỏi tu từ Sao anh không về chơi thôn Vĩ?: lời trách móc, mời mọc tha thiết của cô gái Huế, cũng có thể là lời tự trách móc và dự cảm không hay về cuộc đời mình của chính tác giả.
- Hồi tưởng của nhà thơ về thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
+ Nắng mới lên ở những hàng cau: những tia nắng ban mai rực rỡ, phủ đầy không gian, trên tàu lá cau còn ướt sương đêm và xanh rời rợi.
+ Vườn xanh như ngọc: một màu xanh mơn mởn trong sớm mai tràn đầy sức sống, gợi sự trù phú, non tươi, mỡ màng tràn đầy sinh khí của khu vườn thôn Vĩ.
- Hình ảnh con người xứ Huế:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
+ Mặt chữ điền: biểu tượng của nét đẹp phúc hậu, hiền lành, trung thực.
+ Lá trúc chen ngang: lá trúc mảnh mai, gợi nét đẹp duyên dáng, kín đáo, dịu dàng của con người xứ Huế.
-> Nghệ thuật cách điệu hoá: trong những ngôi nhà vườn xinh xắn, sau những hàng tre trúc, thấp thoáng có bóng ai đó kín đáo, dịu dàng phúc hậu.
=> Con người và cảnh vật hòa quyện hài hòa tạo nên bức tranh tươi đẹp, tràn đầy sức sống. Qua đó thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng thiết tha đằm thắm đối với cảnh và người xứ Huế. Tất cả ẩn chứa một sự nuối tiếc, một niềm khát khao trở về thôn Vĩ yêu thương.
* Phân tích khổ thơ thứ 2: Cảnh buồn qua cái nhìn đầy nội tâm.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
- Cảnh không gian mênh mông hiện lên với gió, mây, dòng nước, hoa bắp lay.
+ “Gió theo lối gió / mây đường mây”: gió đi một đường mây đi một ngả → sự xa cách chia lìa.
-> Nội tâm và dự cảm không lành trước sự chia li, cách biệt của sinh tử.
+ “Dòng nước buồn thiu / hoa bắp lay”: dòng sông lặng lờ như mang một nỗi buồn, hắt hiu không có bóng dáng của sự sống.
-> Sự bừng tỉnh của tác giả trước cảnh ngộ thê lương của bản thân, trước con đường tăm tối vô hương, vô sắc hiện hiện tại. Nhà thơ đã gửi nỗi buồn vào dòng sông.
=> Cảnh đẹp và thơ mộng, nhưng lay lắt buồn bã trong cảm giác chia lìa
- Không gian mờ ảo đầy ánh trăng: thuyền, bến, sông trăng
+ “Sông trăng”: hình ảnh lạ, đẹp, đầy thi vị. Dòng sông tràn ngập ánh trăng vàng. Con thuyền vốn là hình ảnh có thực được nhìn qua con mắt của thi nhân trở thành một hình ảnh mộng tưởng. Thuyền đậu trên bến sông trăng để trở trăng về một nơi nào đó trong mơ. Gợi lên vẻ đẹp lãng mạn, nhẹ nhàng, tất cả đang đắm chìm trong bồng bềnh mơ mộng, như thực như ảo.
+ “ai”: Đại từ phiếm chỉ gợi cảm giác mơ hồ, xa lạ, đầy ảo mộng.
- Câu hỏi tu từ Có chở trăng về kịp tối nay?: nỗi mong chờ, niềm hi vọng thiết tha cùng nỗi buồn man mác của nhà thơ.
-> Khát vọng một tình yêu đằm thắm, kín đáo, tha thiết, sự lo lắng của tác giả trước sự hữu hạn của đời mình, lo rằng liệu bản thân còn kịp tận hưởng ánh trăng sáng hay không.
=> Bức tranh sông Hương nên thơ, huyền ảo nhưng phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn. Sự chuyển biến cảm xúc đột ngột từ niềm vui của hi vọng gặp gỡ sang trạng thái lo âu đau buồn thất vọng khi tác giả nhớ và mặc cảm về số phận bất hạnh của mình.
* Phân tích khổ thơ thứ 3: Bức tranh cảnh vật, tâm trạng con người chìm sâu vào mộng ảo
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
- Mơ: trạng thái vô thức, nhà thơ đang đắm chìm trong cõi mộng.
- Điệp ngữ “khách đường xa”: nhấn mạnh khoảng cách xa rời, chỉ là khách trong mơ.
-> Tác giả nhận thức được nỗi cô đơn và trống trải của mình trước cuộc sống trần thế, tình yêu đang dần vụt mất.
- Áo em trắng quá nhìn không ra: sự choáng ngợp, thảng thốt trước sắc trắng không thực, trắng một cách kì lạ - màu trắng trong tâm tưởng.
- “Ở đây”: nơi nhà thơ dưỡng bệnh
- “mờ nhân ảnh”: sương khói làm mờ ảo cả bóng người.
-> Mối tình mong manh, xa vời, không trọn vẹn.
=> Xứ Huế mơ mộng lắm khói sương và áo em trắng quá “mờ nhân ảnh” khiến nhà thơ không nhận ra. Lúc này đối với nhà thơ, tất cả như một màn sương hư ảo, cuộc đời như cách xa tầm tay với.
- Câu hỏi tu từ Ai biết tình ai có đậm đà?: vừa như hỏi mình lại vừa hỏi người, vừa như gần gũi lại vừa xa xôi, vừa như hoài nghi lại vừa như giận hờn, trách móc.
=> Tâm trạng bâng khuâng, bất lực trong mặc cảm chia lìa của nhà thơ trước cảnh cũ người xưa, nỗi cô đơn, trống vắng trong một tâm hồn tha thiết yêu cuộc đời và con người.
3. Kết bài
- Khái quát lại giá trị nội dung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm.
+ Giá trị nội dung: Bài thơ vừa là tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước nhưng đồng thời cũng là khao khát sống đến cháy bỏng của nhà thơ.
+ Đánh giá về nghệ thuật: Biện pháp tu từ điệp từ, nhân hóa, so sánh, câu hỏi tu từ, thủ pháp liên tưởng và lấy động gợi tĩnh; hình ảnh sáng tạo, có sự hòa quyện giữa thực và ảo; sự hòa điệu giữa tả thực, tượng trưng, lãng mạn và trữ tình...
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 1
Hàn Mặc Tử, một nhà thơ tài hoa nhưng bạc mệnh. Trong di sản văn học của mình ông đã để lại cho đời nhiều tuyệt phẩm như tập Thơ điên, Xuân như ý, Duyên kì ngộ. Nhắc đến tập Thơ điên chắc hẳn người đọc không thể không nhắc đến tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ là tiếng lòng yêu cuộc sống tha thiết, nỗi niềm hi vọng mong manh về tình yêu và hạnh phúc.
Đến với tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ, người đọc như được chìm đắm vào bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ đẹp tinh khôi, tràn đầy sức sống của khu vườn thôn Vĩ.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Câu hỏi mở đầu như đã phân tích ở trên, thực chất không phải là câu hỏi để trả lời, nó cứ buông ra thế để thành dòng độc thoại bộc lộ tâm tình của một cái tôi cô độc, cô đơn đang khao khát được đồng cảm, gắn kết. Ba câu thơ tiếp theo mở ra một không gian thôn Vĩ tươi đẹp biết bao. Nắng hàng cau mới lên, gợi lên vẻ đẹp thanh khiết, tươi mới, trong trẻo. Câu thơ hay là một câu thơ giàu sức gợi, chỉ với vài từ ngữ giản dị, nhưng lại mở ra cho ta hiểu hơn rất nhiều về hồn thơ này, rằng Hàn Mặc Tử luôn khát vọng về một vẻ đẹp tinh khiết, trong ngần, tươi mới, đó không chỉ là ngưỡng vọng của một hồn thơ, mà còn là khát khao của một tín đồ. Tiếp cái nắng trong trẻo, tươi xanh là hình ảnh “Xanh như ngọc”, vừa gợi sự sang trọng, quý giá, vừa gợi sức sống, nhựa sống căng tràn trên từng dòng thơ. Mướt gợi lên vẻ đẹp óng ả mà đầy xuân sắc, mảnh vườn bình dị bỗng chốc hiện lên đầy vẻ thanh tú cao sang mà cũng kiều diễm biết chừng nào. Câu thơ cuối hình ảnh lá trúc che ngang mặt chữ điền, gợi sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên, đồng thời cũng gợi nên vẻ đẹp cân đối hài hòa đầy hoàn hảo.
Nhưng cái dị, cái bất thường cái lạ để làm nên một hồn thơ điên chính là trong khổ thơ thứ hai này đây, khi đang trong khổ trên hình ảnh tươi mới, tràn đầy sự gắn kết, sự sống thì khổ thơ thứ hai lại mang màu sắc ảm đạm ngược lại:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Hình ảnh gió mây trong cuộc sống vốn là hai thứ không thể tách rời mà luôn song hành với nhau, sự chia cắt của hai hình ảnh này trong thơ Hàn Mặc Tử vì thế gợi lên nhiều niềm ám ảnh cũng như đầy sức gợi. Đúng vậy, đây không còn là hình ảnh của thị giác, mà là hình ảnh của mặc cảm. Mặc cảm chia lìa đã chia lìa cả những thứ tưởng như không thể chia lìa, không gian không thể tự buồn mà bởi thi nhân đã bỏ buồn vào dòng sông “dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”. Dòng nước lững lờ, ngưng đọng, hay chính dòng đời mệt mỏi, cay đắng chảy vào lòng nhà thơ khiến thi sĩ miên man trong những nỗi buồn xa xăm. Tất cả cảnh vật, sự vật trong hai câu thơ đầu đều nhuốm mình trong mặc cảm chia lìa đau thương của Hàn Mặc Tử, đến hai câu thơ cuối, phải chăng là sự níu giữ trong tuyệt vọng của hồn thơ đầy đau thương. Từ “kịp” gợi sự chấp chới, chơi vơi, vô định đồng thời cũng như khắc khoải đâu đây nỗi bất lực vô định.
Có chở trăng về kịp tối nay?
Trăng dường như đã là một nơi nương tựa duy nhất, một tri âm, một cứu tinh, một cứu chuộc. Chỉ trong hai câu thơ thôi mà dường như ta thấy được bao nhiêu dồn nén chất chứa của một hồn thơ điên, nhà thơ khát khao được sống dẫu biết lưỡi hái của thần chết đang đến gần, nên vội vàng chới với trong từng phút giây để được sống và khao khát kiếm tìm sự đồng điệu để sẻ chia. Nhưng tiếc thay:
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Cả “em”, cả thôn Vĩ tươi đẹp ấy đều đã vượt xa khỏi tầm với, đều là thế giới “ngoài kia” trong trẻo, tươi đẹp, tinh khôi. Đối lập hoàn toàn với thế giới tối tăm, đơn độc, lạnh lẽo trong này. Tất cả chỉ còn là mờ nhân ảnh, tiếng lòng của hồn đau không ngừng hướng ra ngoại giới để kiếm tìm sự đồng vọng, nhưng càng khao khát thì hiện thực phũ phàng lại càng đánh bật lại những đòn giáng trớ trêu. Câu hỏi cuối vang lên đầy khắc khoải, bởi đó vừa như tiếng thở dài, hay cũng là lời cầu mong của một kẻ tha thiết gắn bó đến cháy lòng.
Khép lại bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một nỗi niềm của một tâm hồn cô đơn, luôn kiếm tìm sự đồng điệu trong vô vọng. Có thể nói bên canh một thôn Vĩ Dạ đẹp nao lòng người là một nỗi đau của thi nhân chất chứa biết bao nỗi niềm gửi vào hậu thế sau này.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 2
Tôi đang ở giữa một vườn hoa nồng nặc sắc hương của phong trào Thơ Mới. Này đây bông hoa Xuân Diệu rực rỡ như khoe trọn vẹn mình với đời tươi, này đây bông hoa Huy Cận đẹp một vẻ đẹp hoài cổ, đáng trọng, …. nhưng tôi đặc biệt chú ý tới bông hoa của Hàn Mặc Tử lặng lẽ nơi góc vườn. giăng mắc một nỗi sầu huyền ảo, lạ lẫm. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” có thể được xem là một nốt nhạc chủ âm trong bản nhạc thơ muôn điệu của người thi sĩ họ Hàn này. Mới sinh ra, nó gần như đã được mặc định là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất của Hàn Mặc Tử nói riêng và phong trào Thơ Mới nói chung.
Hoài Thanh đã chẳng nhận xét giọng thơ Hàn Mặc Tử trong mối tương quan với các thi sĩ khác rằng: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu.” Thật vậy, Hàn Mặc Tử từ lâu đã nổi tiếng với giọng thơ Điên không trộn lẫn vào ai của mình. “Đây Thôn Vĩ Dạ” cũng được rút từ tập “Thơ Điên”, sáng tác vào khoảng năm 1938. Nhắc tới hoàn cảnh cảm hứng của bài thơ, ta không thể không nhắc tới bức ảnh phong cảnh Huế cùng lời thăm hỏi mà nàng Hoàng Thị Kim Cúc đã gửi tới thi nhân khi biết ông mắc bệnh hiểm nghèo. Chất men này đã xúc tác lên những kỉ niệm về Huế mộng Huế mơ trong hồi ức nhà văn, đưa đẩy ngòi bút viết ra những dòng thơ ám ảnh.
Bước vào khổ thơ đầu tiên là ta đã bước vào cảnh vườn và con người thôn Vĩ. Và cũng ngay đầu thế giới thơ của mình, Hàn Mặc Tử đã mở ra một câu hỏi tu từ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” đan xen thật nhiều sắc thái tình cảm: vừa như lời mời mọc, hỏi han, vừa như lời trách móc, hờn giận. Thoạt nghe tưởng như trách khách thập phương không ghé thôn Vĩ chơi nhưng đây thực chất là lời tự trách bản thân của Hàn Mặc Tử khi bản thân đang rơi vào nỗi tuyệt vọng. Khao khát được về thăm thôn Vĩ của ông đầy mãnh liệt đấy nhưng cũng đau xót khi mặc cảm về cảnh ngộ của mình… Bức tranh cảnh vật dần trải ra trước mắt: nắng hàng cau, vườn nhà ao, lá trúc, mặt chữ điền, … tất cả đều mang vẻ đẹp tinh khôi, căng tràn nhựa sống. Tuy chỉ được phác bằng vài nét nhẹ nhàng nhưng cảnh nào cảnh ấy hiện ra thật ấn tượng. Tả buổi sớm mai cũng chỉ để tô đậm sắc xanh của cây lá: “Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.” Cũng nhờ cái ánh nắng mới lên chiếu xuống mà vườn cây thêm xanh mướt. Và vạn vật thêm sinh động bởi có sự xuất hiện của con người: “Lá trúc chen ngang mặt chữ điền” Thiên nhiên và con người hòa vào nhau, tạo nên cái thần, cái hồn Vĩ Dạ. Nhưng tuyệt đối không nên hiểu ấy là hình ảnh thực của thôn Vĩ, thi nhân không phải nhiếp ảnh gia, không “chụp” điều mình thấy lên trang thơ của mình mà cảnh ấy chắc hẳn phải được khúc xạ qua cảm xúc của nhà thơ. Nó là cảnh sắc của cá tính sáng tạo nhà thơ. Cũng bởi vậy nên thôn Vĩ dù đang trong lúc nắng chiếu lấp lánh mà vẫn thoáng nét mập mờ, hư vô. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du) và tâm cảnh này sẽ được thể hiện rõ hơn ở khổ hai.
Đêm trăng thôn Vĩ hiện lên như một dấu nhấn cảm xúc:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Gió đóng khung trong gió, mây gói lại trong mây. Như đã nói, bởi con người đang hết mực cô đơn và buồn tủi nên nhìn đâu cũng chỉ thấy sự chia lìa của cảnh vật: Là tình gió tình mây “đứt gánh giữa đường” hay tình người đơn phương cũng chìm trong mặc cảm chia xa mãi? Cái buồn trong ánh mắt của thi nhân bao trùm từ bầu trời đến mặt đất, từ dòng nước đến cả hoa bắp bên sông. Mong ngóng có thể làm vơi bớt nỗi sầu đôi ngả, Hàn Mặc Tử mong ngóng người bạn cố nhân nào đó có “có…kịp?”. Kết thúc khổ thơ là lời cầu khẩn tha thiết “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Thi nhân họ Hàn rất yêu trăng, tần số trăng xuất hiện trong thơ ông không hề ít:
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ”
(Huyền ảo)
Vậy nên ông mới đặt tất cả hi vọng của mình vào trăng, vào con thuyền chở trăng như vậy. Đừng hiểu nhầm rằng Hàn Mặc Tử đang ca ngợi cái vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Hương. Không hẳn, thi sĩ đang mộng tưởng đấy, tâm trạng khởi phát ra ngoài tứ thơ, cảnh chỉ là cái nền cho tâm trạng. Trăng ở đây vừa là biểu tượng của tạo hóa nhưng sâu sắc hơn, nó còn là nhịp cầu nối duy nhất, nơi bấu víu duy nhất của ông để giao cảm với đời, để rời khỏi sự đau đớn của căn bệnh phong trong chốc lát mà hướng về cuộc sống ngoài căn cửa sổ phòng bệnh.
Hàn Mặc Tử như lặng đi với cảnh mộng và người cũng trong mộng:
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Dù là thiên nhiên hay con người thì đều bị chìm vào trong cõi mộng: mơ, nhìn không ra, mờ nhân ảnh, …. Hay chính hồn trí của nhà thơ cũng đang vô định trong hư ảo? “Khách” ở đây là giai nhân nào? Là cô gái thôn Vĩ? Bóng dáng mờ ảo thật khó xác định. Mờ ảo về không gian (“khách đường xa”), mờ ảo cả bởi sắc trắng (“áo em trắng quá nhìn không ra”). Màu trắng ở đây mạnh mẽ quá, choáng hết thị giác của nhà thơ, lại còn chìm trong sương mù nên càng khó phân định. Nhưng đây không chỉ là sương khói của thôn Vĩ, của xứ Huế, của dòng sông Hương, mà còn là sương khói của thời gian, của hoài niệm, ẩn ức trong lòng nhà thơ. Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Ai” thứ nhất có thể hiểu là bản thân tác giả. “Ai” thứ hại hiểu theo nghĩa hẹp là “khách đường xa”, còn hiểu rộng ra thì chính là người tình hoặc thôn Vĩ trong mộng ảo. Hàn Mặc Tử “không dám tin” tình giai nhân, tình người thôn Vĩ đậm đà, bởi sợ đau, sợ tin rồi lại không dứt ra được cuộc sống ngoài kia khi mà ngay đến bản thân mình cũng không biết mình có cơ hội quay trở lại thế giới ấy nữa không. Hàn Mặc Tử tha thiết yêu đời nhưng lại bị căn bệnh phong dày vò cho đến lúc mất, tâm trí luôn trong trạng thái vô thức giữa cõi thần và cõi tục, tạo nên những vần thơ theo trường phái điên loạn. Đến hơi thở cuối cùng vẫn muốn chạm vào sự sống đích thực một lần nữa.
Bài thơ về phong cảnh đã dần biến thành một bài thơ tình hư thực, một nơi nhà thơ trút bỏ những ẩn ức của bản thân. Toàn bài thơ được nối kết mạch ngầm bơi ba câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”, “Có chở trăng về kịp tối nay?”, “Ai biết tình ai có đậm đà?” Hỏi đấy nhưng không hề mong lời đáp mà là lười tự chất vấn bản thân. Giao điểm chung của ba câu hỏi này đều nằm ở sự giao cảm với đời nhuốm màu bi thương. Hàn Mặc Tử là vậy, càng khát khao bao nhiêu lại càng sầu thảm bấy nhiêu, có lẽ bởi đời văn ông tuy ngắn mà đã chịu quá nhiều nỗi dày vò thể xác lẫn tinh thần rồi.
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” tuy không dài nhưng mang những giá trị cả về tư tưởng lẫn hình thức thật sâu sắc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp tả thực và tượng trưng. Cảnh thôn Vĩ, người thôn Vĩ cũng chỉ là cớ cho Hàn bộc bạch lòng mình. Trang thơ của Hàn Mặc Tử đã khép lại nhưng lại mở ra những ý niệm mới trong lòng độc giả bằng bút lực của “Thơ điên”, cảm thế nào là tùy vào sự đồng cảm của mỗi người. Hàn đã sống một đời đau khổ rồi nên đọc thơ Hàn, phải đặt vào cái tâm lí chua cay ấy mới có thể hiểu hết được:
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da
Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên trang giấy mong manh.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 3
Hàn Mạc Tử là một nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới của Việt Nam. Ông làm thơ từ năm 14, 15 tuổi, bắt đầu bằng thơ cổ điển Đường luật, sau chuyển sang sáng tác theo khuynh hướng thơ mới lãng mạn. Qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử, người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế. Tác phẩm chính: Gái quê (1936), Thơ Điên (1.938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm cháu duyên, Duyên kì ngộ (kịch thơ, 1939), Quần tiên hội (kịch thơ), Chơi giữa mùa trăng (thơ văn xuôi, 1940). Bài thơ Đây thôn vĩ dạ là một tác phẩm nổi tiếng của ông.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh nên thơ của thôn Vĩ được tái hiện lên qua con mắt tinh tường của tác giả. Đó là cảnh thôn Vĩ Dạ trong một buổi sáng “nắng mới lên”, ngày mới bắt đầu. Hai nét vẽ thật tài hoa: một nét trên cao, nắng ban mai rực rỡ, nhảy múa lung linh trên những hàng cau; một nét dưới thấp, màu xanh mướt, như ngọc của vườn câv sum sê hoa trái.
Bút pháp tả cảnh của thi nhân ở đây thật tinh tế: có “nắng mới lên” thì sương mới tan và vườn cây mới “mướt” (loang loáng nước), và có “mướt” thì mới “xanh như ngọc” được (một màu xanh trong suốt). Tất cả gợi lên một cảnh vườn quê đẹp và đầy sức sống – cảnh vườn quê gần gũi, thân qưen của bao vườn quê nhưng lại có nét thơ mộng trữ tình riêng của Vĩ Dạ. Phải yêu thôn Vĩ lắm, thì trong hồi tưởng của mình, cảnh vườn quê thôn Vĩ mới sống dậy lung linh, rạo rực trong câu thơ như thế. Với hai câu thơ này, hàng cau quê hương và màu xanh làng quê đất Việt có thêm một giá trị mới trong ngòi bút thơ đầy phát hiện của Hàn Mặc Tử.
Cảnh đẹp nhưng lòng nhà thơ lại nuối tiếc, xót đau vì cảnh ấy đâu còn là của mình nữa?! Câu hỏi mở đầu bài thơ đã cho ta thấy điều đó: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Đây là lời tự vấn lòng mình của Hàn Mặc Tử. Biết không về được với cảnh cũ người xưa một thời yêu dấu mà vẫn cứ phải hỏi thì nỗi đau đó phải day dứt, nhức nhối lắm. Và một chữ “ai” vừa như phiếm chỉ lại như xác định, nhói lên một nỗi đau khiến cho vết thương lòng chảy máu: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Đâu còn là vườn của mình nữa, đã là vườn của ai rồi, làm sao mà về lại nữa? Và cũng không thể về được trong hoàn cảnh bệnh tật hiểm nghèo, khi Thần Chết đang từng ngày chờ ông. Ở đây có sự đối lập giữa Đẹp và Đau: Cảnh càng Đẹp thì lòng càng Đau. và lòng thi nhân càng Đau thì cảnh thôn Vĩ hiện lên càng Đẹp qua nỗi nuối tiếc, xót xa của Hàn Mạc Tử.
Bốn câu thơ gợi lên bốn hình ảnh gió, mây, sông, trăng vốn là những thi liệu quen thuộc, đặc biệt trong Thơ mới lúc bấy giờ. Chỉ có điều, ở đây thi sĩ không tả một phong cảnh có gió, mây, sông, trăng mà dùng hình ảnh đó để nói lên tâm trạng của con người. Nếu để ý, sẽ thấy sự liên hệ nội tại của bốn câu thơ là sự liên hệ của lôgíc tâm trạng chứ không phải sự liên hệ của lôgíc miêu tả. Và ở đây chính là tâm trạng xót đau, tuyệt vọng của nhà thơ trong một mối tình xa xăm, vô vọng: Gió theo lối gió, mây đường mây.
Gió, mây đã đi ngược lại với quy luật của thiên nhiên: câu thơ bộc lộ rõ cái ý đoạn tuyệt, vĩnh quyết “anh đi đường anh, tôi đường tôi”! Vì thế mà “dòng nước buồn thiu” - nỗi buồn cô đơn của tác giả. Hi vọng vẫn còn nhưng hoài nghi đã lấn át cả hi vọng. Câu hỏi từ từ vang lên một chữ kịp đầy khắc khoải, lo âu. Mới biết trong nỗi đau, trong sự bất lực của mối tình vô vọng, vẫn là một tấm lòng tha thiết của nhà thơ với cuộc sống và con người.
Nhờ thiên nhiên không được, cuối cùng, chỉ còn một con đường là tìm về với con người, may chăng, có cứu rỗi cho mình được không? Nhưng người yêu giờ đây chỉ còn trong mơ, lại là “mơ khách đường xa, khách đường xa” (láy lại hai lần để nhấn mạnh cái ý “xa lắm”) và dường như đã “tuột khỏi tay nhà thơ” đến mức Áo em trắng quá nhìn không ra! Trong tâm trạng tuyệt vọng đó, nhà thơ hoài nghi tất cả: Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Có phải “sương khói cuộc đời” đã làm mờ ảnh hình của con người? Và thi nhân đã trút một tiếng thở dài cho mối tình xa xăm, vô vọng của mình: Ai biết tình ai có đậm đà Chút hoài nghi trong câu thơ là có thực, là đúng với tâm trạng Hàn Mặc Tử lúc bấy giờ nhưng chính cái hoài nghi này lại biểu hiện niềm tha thiết với cuộc đời của nhà thơ. Bởi đây không phải là một câu nghi vấn khẳng định mà chỉ là một nỗi niềm băn khoăn, day dứt trong lòng nhà thơ (hai đại từ nhân xưng “ai” phiếm chỉ trong câư thơ đã nói lên ý đó). Trong băn khoăn, day dứt vẫn còn niềm hi vọng. Và đó chính là niềm thiết tha với cuộc đời của Hàn Mặc Tử ngay cả khi ông gặp nhiều đau thương, bi kịch nhất như lúc viết nên những câu thơ xót đau trong bài thơ này.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 4
Trong các nhà thơ mới, Hàn Mặc Tử phải là người bất hạnh nhất, lạ nhất và phức tạp nhất. Vì thế cũng bí ẩn nhất. Có ai định tranh chấp với Tử những cái “nhất” ấy không? Ví Tử với ngôi sao chổi, Chế Lan Viên đã thật có lí. Và cũng như thái độ dành cho một ngôi sao chổi quá lạ, bao ống kính thiên văn đã đua nhau chĩa về Hàn Mặc Tử. Tiếc thay, cái vừng sáng vừa trong trẻo, vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấy nhiêu. Đến nay đã có bao cuộc thăm dò, thám hiểm. Với một hiện tượng “bấn loạn” nhường này, ướm đi ướm lại, người ta thấy tiện nhất là xếp vào loại siêu: nào siêu thực, siêu thức, nào siêu thoát v.v...
Vậy mà, nào đã thoát! Rốt cuộc, lơ lửng treo phía trước vẫn cứ còn đó câu hỏi: Hàn Mặc Tử, anh là ai?
Ngày trước, cuộc xung đột “bách gia bách ý” chỉ xảy ra với Hàn Mặc Tử, nói chung. “Đây thôn Vĩ Dạ” vẫn hưởng riêng một không khí thái bình. Phải đến khi được mạnh dạn tuyển vào chương trình phổ thông cải cách, sóng gió mới ập đến cái thôn Vĩ bé bỏng của Tử. Thế mới biết, chả hồng nhan nào thoát khỏi truân chuyên! Có người hạ bệ bằng cách chụp xuống một lí lịch đen tối. Người khác đã đem tới một cái bóng đè. Không ít người thẳng tay khai trừ “Đây thôn Vĩ Dạ” khỏi danh sách những kiệt tác thuộc phần tinh chất của hồn thơ Tử...
Ngay những ý kiến đồng lòng tôn vinh thi phẩm này cũng rất phân hoá. Người si mê thấy đó chỉ là tỏ tình (với Hoàng Cúc). Người vội vàng bảo rằng tả cảnh (cảnh Huế và người Huế). Người khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu - tình quê. Kẻ bảo hướng ngoại. Người khăng khăng hướng nội. Lắm người dựa hẳn vào mối tình Hoàng Cúc như một bảo bối để tham chiến. Người khác lại dẹp béng mảng tiểu sử với cái xuất xứ không ít quan trọng ấy sang bên để chỉ đột phá vào văn bản không thôi. Người khác nữa lại hoàn toàn “dùng ngoài hiểu trong, dùng chung hiểu riêng”, ví như dùng lí sự chung chung về cái tôi lãng mạn và tâm trạng lãng mạn để áp đặt vào một trường hợp rất riêng này... Tôi tin Hàn Mặc Tử không bác bỏ hẳn những cực đoan ấy. Nếu sống lại, thi nhân sẽ mỉm cười độ lượng với mọi ý kiến vì quá yêu Vĩ Dạ bằng những cách riêng tây mà nghiêng lệch thôi. Ở toàn thể là thế. Mà ở chi tiết cũng không phải là ít chuyện. Ngay một câu "Lá trúc che ngang mặt chữ điền" cũng gây tranh cãi.
Cái màn “sương khói" làm “mờ nhân ảnh” là ở Vĩ Dạ hay thuộc chốn người thi sĩ đang chịu bất hạnh, cũng gây bất đồng... Hèn chi, hai tờ báo nhiều liên quan đến nhà trường và văn chương là được phen chịu trận. Dù muốn hay không, nó cũng đã thành một “vụ” thực sự thời bấy giờ. Đến nay, khó mà nói các ý kiến đã chịu nhau. Tình hình xem ra khá mệt mỏi, khó đặt được dấu chấm hết. Hai báo đành thổi còi thu quân với vài lời tiểu kết nghiêng về “điểm danh”. Một độ sau, nhà giáo-nhà nghiên cứu Văn Tâm khi soạn cuốn Giảng văn văn học lãng mạn (NXB Giáo Dục, 1991) đã điểm sâu hơn. Rồi nhà biên soạn này cũng nhanh chóng trở thành một ý kiến thêm vào cái danh sách dài dài đó. Cuộc hành hương về Vĩ Dạ lại tiếp tục đua chen. Khói hương và cả khói lửa, vì thế, tràn lan ra nhiều báo khác, sang tận tờ Tập văn thành đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, động đến cả những người ở Hoa Kỳ, Canada... Chắc là hiếm có bài thơ nào trong trẻo thế mà cũng bí ẩn đến thế. Xem ra, cái chúng ta “gỡ gạc” được mới thuộc phần “dễ dãi” nhất ở đó thôi!
Phải nói ngay rằng: coi một tác phẩm đã gắn làm một với cái tên Hàn Mặc Tử lại không tiêu biểu cho tinh chất của hồn thơ Tử, thì kì thật. Mỗi bài thơ hay, nhất là những tuyệt tác, bao giờ cũng có “mạng vi mạch” nối với tinh hoa tinh huyết của hồn thơ ấy. Có điều nó đã được dò tìm ra hay chưa thôi. Thậm chí, một hệ thống kiến giải mới về hiện tượng Hàn Mặc Tử sẽ khó được coi là thuyết phục, một khi chưa thử sức ở “Đây thôn Vĩ Dạ”. Đã đến lúc phải lần ra “mạng vi mạch” của thi phẩm cùng tinh hoa tinh huyết của thi sĩ. Trong cảm thụ nghệ thuật, mọi việc khác không thể thay thế việc dùng trực cảm thâm nhập vào bản thân tác phẩm. Nhưng việc độc tôn một chiều với nguyên tắc ấy ở đây đã tỏ ra không mấy hi vọng, nếu không nói là trở nên kém thiêng. Thôn Vĩ Dạ dường vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”, cự tuyệt ngay cả những linh khiếu vốn cả tin vào một trực giác đơn thuần. Vĩ Dạ vẫn điềm nhiên giấu kín ngay trong sự trong trẻo kia bao bí ẩn của nó. Muốn đến đúng chỗ giấu vàng của Thôn Vĩ, trực cảm nhất thiết phải được trang bị thêm một "sơ đồ chỉ dẫn", một chìa khoá. Những thứ này, tiếc rằng, cũng giấu mình khắp trong thơ Hàn Mặc Tử. Nói cách khác, mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc văn, căn cứ tin cậy nhất, trước sau, vẫn là văn bản tác phẩm. Đó là một nguyên tắc. Và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng hiểu và hiểu thấu đáo là hai cấp độ. Không am tường tác giả thì khó mà thấu đáo tác phẩm. Trường hợp trong trẻo mà đầy bí ẩn như “Đây thôn Vĩ Dạ”, với một vị thân sinh đầy phức tạp như Hàn Mặc Tử càng cần phải thế. Nghĩa là: thiếu cái nhìn liên văn bản, cùng những khám phá về thân phận, tư tưởng và thi pháp của tác giả sẽ khó giúp ta soi sáng được thi phẩm này.
Trong nhiều điều cần cho sự soi sáng thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, không thể không nói đến một tình yêu tuyệt vọng, lối Thơ Điên và lớp trầm tích những biểu tượng và ngôn ngữ thuộc hệ thống thi pháp của thi sĩ này. Nếu tình yêu tuyệt vọng quyết định đến điệu tình cảm chung, thì lối Thơ Điên quyết định trình tự cấu tứ, cơ cấu không gian. Trong khi lớp biểu tượng và ngôn ngữ ở tầng trầm tích lại quyết định đến hệ thống hình tượng, hình ảnh của thi phẩm đặc sắc này.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 5
Dù là thơ điên hay thơ gì chăng nữa, một khi đã là một thi phẩm dành được chỗ đứng trang trọng trong kí ức của người đọc nhiều thế hệ, thì dứt khoát phải nhờ vào vẻ đẹp tư tưởng của nó. Mà lõi cốt của tư tưởng ấy không thể là gì khác hơn một quan niệm nào đó về cái đẹp. Sự tương phản giữa hai miền không gian vừa nói trên đây ở Đây thôn Vĩ Dạ, không chỉ là mặc cảm của một con người đang phải chia lìa với cuộc đời. Sâu sắc hơn, thấm thía hơn, đó còn là mặc cảm của một thi sĩ đang phải ngày một lìa xa cái đẹp mà mình hằng khao khát, tôn thờ.
Trong thi phẩm này có sự hiện diện của những hình tượng cơ bản Vườn thôn Vĩ, Sông trăng - thuyền trăng, Khách đường xa đều là những biểu hiện sống động của của vẻ đẹp thanh khiết đó. Trong mặc cảm chia lìa, tất cả những vẻ đẹp kia đều khiến Tử lâm vào tuyệt vọng. Và đương nhiên, Tử đã cảm nhận chúng qua lăng kính của niềm tuyệt vọng. Có thể trường hợp Tử là một minh chứng đáng sợ cho định nghĩa về cái đẹp của Pôn Valeri: Cái đẹp là cái làm ta tuyệt vọng. Mặc cảm chia lìa ở đây, dường như, đã hiện ra trong cảm giác về một thực tại xa vời, một hiện tại quá ngắn ngủi và sự tồn tại mong manh của mình. Không chỉ thấm vào hơi thơ, giọng thơ khiến cho cả mạch thơ được phổ một âm điệu da diết khắc khoải thật ám ảnh, mà trước tiên, mặc cảm chia lìa với các cảm giác éo le kia đã hoá thân vào từng hình ảnh, từng cảnh sắc của thi phẩm này.
Câu mở đầu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? là một câu hỏi nhiều sắc thái: vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Giờ đây chẳng ai còn ấu trĩ gán cho nó là câu hỏi của Hoàng Cúc hay của một cô gái nào ở thôn Vĩ nữa. Bởi, là đằng này thì vô lí - không đúng sự thực, là đằng kia thì vô tình - viết để tạ lòng Hoàng Cúc mà lại nghĩ đến cô khác ư? Vả chăng, đâu chỉ có một câu hỏi này. Toàn bài có tới ba câu hỏi. Cả ba đều cùng một chủ thể. Trên kia đã phần nào nói đến việc bài thơ được viết thành ba khổ trên âm điệu chủ đạo của những câu hỏi buông ra, buột lên, không lời đáp. Thực ra, câu hỏi chỉ là hình thức bày tỏ. Nó không đợi trả lời để thành đối thoại. Nó cứ buông ra thế để thành dòng độc thoại bộc bạch tâm tình. Ngữ điệu hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Và, nhờ ngữ điệu nhất quán ấy, mà ba cảnh sắc ở ba khổ thơ vốn đứt đoạn, cóc nhảy đã được xâu chuỗi lại tự nhiên khăng khít. Đó là Tử đang phân thân để tự hỏi chính mình. Hỏi mà như nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết giờ đây có còn cơ hội để thực hiện nữa không. Ấy là về lại thôn Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Ta đều biết tuổi nhỏ Tử đã từng học trường Pellerin ở Huế, và khi in xong tập Gái quê, Tử đã từng đến tìm Hoàng Cúc tại thôn Vĩ mà rồi chỉ nấp nom ngoài rào trúc chứ không dám vào. Giờ đây, nhận được bức thiếp phong cảnh này, niềm khát khao đã cất lên thành lời tự vấn oái oăm vậy. Còn ba câu sau vẽ ra hình tượng mảnh vườn thôn Vĩ:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả đều hoà hợp và ánh lên một vẻ đẹp thanh tú. Đọc thơ Tử, qua các tập, thấy vườn thực sự là một mô-típ ám ảnh. Nào vườn trần, vườn tiên, vườn chiêm bao... Dù mỗi nơi một khác, nhưng vườn của Tử đều mang chung một diện mạo mà Tử muốn gọi là chốn nước non thanh tú. Phải, thiên nhiên mà Tử say đắm dứt khoát phải có vẻ đẹp thanh tú! Không thế, Tử khó mà động bút. Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn nhau đầu thai thành mảnh vườn Vĩ Dạ này. Chả thế mà chi tiết nào của nó dù đơn sơ cũng toát lên vẻ tinh khôi, dù bình dị cũng toát lên vẻ thanh khiết cao sang. Nghĩa là một chốn nước non thanh tú hoàn toàn.
Trong thơ Tử, nắng cũng là mô-típ ám ảnh. Ta thường gặp những thứ nắng lạ đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng chang chang, nắng loạn... Trong mảnh vườn này, Tử chỉ nói giản dị Nắng hàng cau nắng mới lên, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ hay không chỉ hay bởi những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó có thể gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên cao, sắc xanh như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới nắng mai lại rời rợi thanh tân. Nắng trên lá cau thành nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, trong nắng sớm, bóng đổ xuống vườn, in xuống lối đi những nét mảnh thật thanh thoát. Thân cau chia thành nhiều đốt đều đặn, khác nào như một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên theo từng đốt, từng đốt. Đến khi tràn trề thì nó biến cả khu vườn xanh thành viên ngọc lớn... Chẳng phải câu thơ hay còn phải đánh thức dậy bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức con người? Song, trọng tâm của hình tượng vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. Mà ấn tượng nhất là câu thơ có vẻ đẹp long lanh này: Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Vì nó có sắc mướt chăng? Vì được sánh với ngọc chăng? Quả là hai chữ ấy đã đập ngay vào trực cảm người đọc. Mướt ánh lên vẻ mượt mà óng ả đầy xuân sắc. Còn ngọc là tinh thể trong suốt nên vừa có màu vừa có ánh. Nhờ đó, vườn thôn Vĩ như một viên ngọc không chỉ rời rợi sắc xanh, mà còn đang tỏa vào ban mai cả những ánh xanh nữa. Thiếu đi những ánh sắc ấy, mảnh vườn đơn sơ bình dị này khó mà hiện ra vẻ thanh tú cao sang. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở đó không thôi, ta mới chỉ thấy tầng lộ thiên của chữ ngọc. Ẩn bên dưới, vẫn còn tầng trầm tích nữa. Khảo sát phong cách ngôn ngữ Hàn Mặc Tử, thấy thi sĩ này rất ưa dùng những vật liệu cao sang, nhất là ở giai đoạn cuối. Từ Thơ điên trở đi, các trang đều tràn ngập những vàng, gấm, lụa, trân châu, thất bảo, nhũ hương, mộc dược... đặc biệt là ngọc. Ngọc vừa được dùng lối ước lệ cổ điển như tay ngọc, mắt ngọc, đũa ngọc... vừa được dùng lối trực quan. Mà dù theo lối nào nó cũng là so sánh ở mức tuyệt đối:
Đức tin thơm hơn ngọc
Thơ bay rồi thơ bay,
Xác cô thơm quá thơm hơn ngọc
Cả một mùa xuân đã hiện hình...
Thi sĩ đang muốn tuyệt đối hoá, tột cùng hoá vẻ đẹp đẽ, quí giá, cao sang của đối tượng. Nhu cầu tuyệt đối hoá này thường xuất hiện khi niềm thiết tha với cuộc đời trần thế dâng trào đến mức đau đớn. Càng đẹp lại càng đau.
Cho nên, trong so sánh với ngọc luôn thấy chất chồng một cách oái oăm cả hai tâm thái: cảm giác càng tinh tế, cảm xúc càng đau thương. Ở đây cũng thế, Vườn ai mướt quá xanh như ngọc chứa đựng trong đó một cảm nhận về vẻ đẹp ở mức tột bậc và cả niềm thiết tha ở mức đau thương. Cũng phải thôi, lộng lẫy đến thế, ngay trước mắt thế, mà đang vuột ra ngoài tầm tay của mình, thì làm sao tránh khỏi đau thương!
Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn có những chữ khác, khép nép bên cạnh, khiêm nhường kín đáo thôi, nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà kí thác vào đó những uẩn khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ ai. Nếu cả bài chỉ có một chữ này thôi thì chưa có gì thật đáng nói. Bởi chữ ai thường mang ý phiếm chỉ hoá, ỡm ờ hoá mà thơ truyền thống, nhất là ca dao đã khai thác đến nhàm. Đáng nói vì cả bài có tới bốn chữ ai nằm ở cả ba khổ. Chúng gắn với nhau bằng cả sắc thái lẫn giọng điệu tạo thành một hệ vi mạch ẩn sâu trong lòng bài thơ, chuyển tải một cảm giác se xót - cảm giác về thực tại xa vời: Vườn ai..., Thuyền ai..., Ai biết tình ai. Thế giới này, cuộc đời này đẹp đẽ là thế, hiện ngay trước mắt thế, vậy mà đã hoá xa vời, vậy mà đã thuộc về Ngoài kia, thuộc về cõi trần ai kia. Sắc thái phiếm chỉ bỗng chốc đã làm tất cả như lùi xa, bỗng như diệu vợi hoá, mông lung hoá. Cũng trong câu này, không thể không dành quan tâm ít nhiều đến chữ quá, bởi hiệu quả nghệ thuật riêng của nó. Cũng là từ chỉ mức độ, nhưng xem ra chỉ có nó mới đem đến cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng, trầm trồ như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau cũng chưa hẳn đã thấy. Ta sẽ còn gặp ở khổ cuối tiếng kêu như thế nữa - áo em trắng quá nhìn không ra. Nó cũng là tiếng kêu muốn tuyệt đối hoá vẻ đẹp của đối tượng. Nghĩa là những tiếng kêu hàm chứa nỗi đau thương. Trong khổ này, câu thứ tư đã gây nhiều tranh luận:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gương mặt kia là phụ nữ hay đàn ông? Lối tạo hình của nó là cách điệu hay tả thực? Ý kiến xem ra chưa ngã ngũ.
Thực ra, làm sao lại có một chi tiết cách điệu lạc vào giữa một bức tranh trực quan thuần tả thực như thế này. Vả chăng, nó diễn tả một khuôn mặt chữ điền ẩn sau những lá trúc loà xoà kia mà. Có người đã cất công để chứng minh dứt khoát đấy là gương mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn xác định là đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi khác: đó là mặt người thôn Vĩ hay người trở về thôn Vĩ? Nếu xét thuần tuý về cú pháp câu thơ, người đọc có quyền hiểu theo cả hai cách. Nhưng xét trong tương quan với toàn cảnh và trong hệ thống mô-típ phổ biến ở thơ Tử, thì có thể loại trừ được cách không phù hợp. Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn), thì hẳn phải là khuôn mặt phụ nữ. Một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy chính là Tử, nói chuẩn hơn là hình tượng của chính Cái Tôi thi sĩ. Tìm trong thơ Hàn, sẽ thấy đây là lối tạo hình khá phổ biến, và cái nhân vật nép mình khi thì sau cành lá, khóm lau, khi thì sau rào thưa, bờ liễu... như thế này thường là hình bóng tự họa của Tử. Mà Tử vẫn có cái thói tự vẽ mình một cách rất kiêu hãnh và có phần... vơ vào nữa (Người thơ phong vận như thơ ấy, Có chàng trai mới in như ngọc? Gió căng hơi và nhạc lên trời, Xin mời chàng tài hoa thi sĩ đó / Ngồi xuống đây bên thảm ngọc vườn châu...). Thực ra, cũng chả riêng gì Tử vơ vào. Nguyễn Bính chân quê cũng vơ vào chả kém khi tự hoạ một cách bóng gió trong một khuôn hình gần giống thế:
Bóng ai thấp thoáng sau rào trúc
Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền.
Nghĩa là khuôn mặt và hình dáng văn nhân cả thôi. Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền sau lá trúc, không chỉ là sản phẩm của tâm lí vơ vào dễ thương thế thôi đâu. Sâu xa hơn, nó còn là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử vẽ mình trong các trang thơ như một kẻ đứng ngoài, kẻ đi ngang qua cuộc đời, kẻ đứng cách xa hàng thế giới, là vị khách xa, kẻ đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần thế. Kẻ ấy thường làm những chuyến trở về với cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén, vụng trộm. Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện lại cái lần mình đã trở về mà không vào, chỉ nép ngoài rào trúc, thì cũng thế!), vin một cành lá trúc, che ngang khuôn mặt mình để mà nhìn vào, say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Hiểu thế mới thấy câu thơ kia, hoá ra là sản phẩm nhất quán của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc cảm về thân phận mình. Trong đó chẳng phải giấu kín một niềm uẩn khúc đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao? Song, hẳn sẽ có ý thắc mắc rằng: mạch thơ đang vẽ đối tượng (cảnh nơi thôn Vĩ) sao thoắt lại chuyển sang vẽ chủ thể (cái tôi thi sĩ), liệu có cóc nhảy, phi logic không? Đúng thế. Nhưng, như bạn biết đấy, cóc nhảy và phi logic trên bề mặt chính là một đặc trưng của mạch liên tưởng thơ điên. Sự chuyển kênh đột ngột ấy, trước sau, vẫn chỉ xoay quanh một niềm thiết tha vô bờ mà cũng đầy uẩn khúc của Tử mà thôi.
Như vậy, trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ mà cũng là Ngoài kia, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, cả những cảnh vật đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử đó là thiên đường trần gian - một thiên đường giờ đây dường như không thuộc về mình nữa, đang tuột khỏi tầm mình. Về thôn Vĩ vốn là việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước ao - ước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc - hạnh phúc quá tầm tay.
Khổ thứ hai chuyển sang một cảnh khác: cảnh dòng sông. Hiểu là sông Hương cũng được mà dòng sông nào đó của cuộc đời Ngoài kia cũng được. Mặc cảm chia lìa ở đây hiện ra cả trong câu chữ, hình ảnh và nhạc điệu:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Hai câu trên nói đến một thực tại phiêu tán. Tất cả dường như đang bỏ đi: gió bay đi, mây trôi đi, dòng nước cũng buồn bã ra đi... Có phải cảnh tượng kia là một cái gì thật ngang trái trớ trêu? Đúng thế. Trước tiên, gió mây làm sao có thể tách rời - mây không tự di chuyển, gió thổi mây mới bay, chúng không thể chia tách. Rõ ràng, đây không còn đơn thuần là hình ảnh của thị giác, mà là hình ảnh của mặc cảm. Mặc cảm chia lìa đã chia lìa cả những thứ tưởng không thể chia lìa! Dòng nước buồn thiu vì mang sẵn trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn li tán chia phôi từ mây gió đã bỏ buồn vào lòng sông? Khó mà đoán chắc. Lạ nhất là chữ lay. Động thái lay tự nó không vui không buồn. Sao trong cảnh này nó lại buồn hiu hắt vậy? Nó là nét buồn phụ họa với gió mây sông nước? Hay nỗi buồn sông nước đã lây nhiễm, đã xâm chiếm vào hồn hoa bắp phất phơ này? Thật khó mà tách bạch. Có phải có một chữ lay buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo ngọn gió thời gian mà đậu vào thơ Tử:
Ai về giồng dứa qua truông
Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em?
Có phải chữ lay ấy lại trôi nổi thêm nữa để đến với hiện đại nhập vào lá ngô của thơ Trúc Thông: Lá ngô lay ở bờ sông - Bờ sông vẫn gió người không thấy về? Và tất cả những chữ lay kia có phải đều dây mơ rễ má với chữ hiu hiu đầy ám ảnh của thơ Nguyễn Du:
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về?
Hiu hiu, lay động đều là tín hiệu báo sự hiện hữu. Cứ nhìn thấy thế là người ngóng trông nhận ra sự trở về nào đó từ cõi vô hình. Còn Tử nhìn hoa bắp lay để nhận ra sự phiêu tán, sự ra đi. Cả mây, gió, cả dòng nước cứ lìa bỏ nhau và đều lìa bỏ chốn này mà đi hết cả. Chỉ riêng hoa bắp là cái tĩnh tại, không thể tự nhấc mình lên mà lưu chuyển. Bị bỏ rơi lại bên bờ, động thái lay kia có phải là một níu giữ vu vơ, một lưu luyến vô vọng của kẻ bị chia lìa? Có phải Tử đã thấy hoa bắp côi cút bên sông như vận vào mình? Có phải mặc cảm chia lìa đã khiến Tử nhìn ra cái thân phận bị bỏ rơi bên trời quên lãng của mình trong dáng lay sầu tủi của hoa bắp?
Đối mặt với cái xu thế tất cả đang chảy đi, bỏ đi, trôi đi càng lúc càng vuột xa ngoài tầm sống của mình ấy, Tử chợt ao ước một thứ có thể ngược dòng về với mình, ấy là trăng. Phải, mây đã đi, gió đã đi, dòng nước cũng đi... may ra chỉ còn trăng thôi:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Trong bài thơ này có hai chữ về. Nếu chữ thứ nhất là về với Vĩ Dạ, với Ngoài kia (Sao anh không về chơi thôn Vĩ?), thì chữ thứ hai đây đã đổi hướng, là về phía Tử, về với Trong này. Cũng phải thôi, trong lãnh cung của sự chia lìa, vốn không có niềm trăng và ý nhạc, nên Tử đã đặt vào trăng kì vọng của mình: Có chở trăng về kịp tối nay?
Trăng giờ đây như một bám víu duy nhất, một tri âm, một cứu tinh, một cứu chuộc! Tìm kiếm vẻ đẹp của những câu này, người phân tích thường chỉ chú mục vào hình ảnh sông trăng, thuyền trăng với thủ pháp huyền ảo hoá. Thực ra đó chỉ là những vẻ đẹp thuộc cái duyên phô ra của thơ mà thôi. Tôi muốn nói đến chữ khác lâu nay bị bỏ quên, bởi nó lặng lẽ khiêm nhường chứ không bóng bảy ồn ào. Nhưng nó vẫn đẹp trong quên lãng. Ấy là chữ kịp. Chữ kịp mới mang bi kịch của tâm hồn ấy, thân phận ấy. Ta và cả người đọc sau ta nữa chắc chắn không thể biết tối nay kia là tối nào cụ thể. Nhưng qua giọng khắc khoải và qua chữ kịp này ta nhận ra một lời cầu khẩn. Dường như, nếu trăng không về kịp thì kẻ bị số phận bỏ rơi bên rìa cuộc đời này, bỏ dưới trời sâu này sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương. Như thế, chữ kịp đã hé mở cho ta một cách thế sống: sống là chạy đua với thời gian. Một so sánh với Xuân Diệu có thể thấy rõ Tử hơn. Cũng chạy đua với thời gian, nhưng ở Xuân Diệu là để được hưởng tối đa, sống để mà tận hưởng mọi hạnh phúc nơi trần giới, bởi đời người quá ngắn ngủi, cái chết sẽ chờ đợi tất cả ở cuối con đường, còn Hàn Mặc Tử chỉ mong tối thiểu, chỉ được sống không thôi đã là hạnh phúc rồi, bởi lưỡi hái của tử thần đã hơ lên lạnh buốt sau lưng. Quĩ thời gian đang vơi đi từng giờ từng khắc, cuộc chia lìa vĩnh viễn đã sát gần. Trong cảnh ngộ này, trăng dường như là điểm tựa duy nhất, là bấu víu cuối cùng của kẻ cô đơn đang chới với trong nguy cơ chia lìa đương vây khốn. Thơ là sự lên tiếng của thân phận, thật trớ trêu, định nghĩa ấy hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.
Khổ thứ ba, giọng khắc khoải đã hiển hiện thành nhịp điệu. Khác hẳn các đoạn trước, nhịp thơ ở đây gấp gáp hơn, khẩn khoản hơn:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Vườn đẹp, trăng đẹp và bây giờ đến hình bóng đẹp của khách đường xa. Tất cả đều là những hình ảnh đầy mời gọi của thế giới Ngoài kia. Như thế, cuối cùng, mơ tưởng da diết khắc khoải hơn hết thảy vẫn là dành cho con người, vẫn là hướng tới những người tình xa. Bởi phải chia lìa với thế giới Ngoài kia, có lẽ mất mát lớn nhất, niềm đau thương nhất vẫn là phải chia lìa với người mình yêu vậy.
Đến đấy, Tử quay trở về với thực tại u ám của mình, ấy là chốn lãnh cung ảm đạm mịt mờ:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Được viết gần như đồng thời với bài Những giọt lệ, cho nên ta cứ nghe đâu đây trong những câu chữ kia tiếng dội của những giọt lệ đau thương, như hoài nghi, như hi vọng, như tuyệt vọng: Tôi đang còn đây hay ở đâu? / Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu? và Trời hỡi bao giờ tôi chết đi? / Bao giờ tôi hết được yêu vì?... Tử yêu đời đến đau đớn. Còn cuộc đời, tình đời còn dành cho Tử được bao nhiêu, được bao lâu? Cuộc đời Ngoài kia vẫn cứ kì diệu thế, vẫn cách xa nghìn thế giới như thế, vẫn cứ cách ở đây hẳn một tầm tuyệt vọng như thế. Tồn tại ở đây, ở trời sâu này thật quá đỗi mong manh. Chỉ có cái tình kia là sợi dây duy nhất níu buộc Tử với ngoài ấy. Thế mà cái tình kia cũng mong manh xa vời làm sao? Câu hỏi cuối cùng khép lại toàn bộ dòng tâm tư bất định này là tiếng thở dài hay là lời cầu mong của một kẻ thiết tha gắn bó đến cháy lòng? Có lẽ là cả hai. Bởi vì uẩn khúc và nghịch lí chính là nét lạ lùng nhất trong cấu trúc của tiếng nói trữ tình Đây thôn Vĩ Dạ.
Với bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” Hàn Mạc Tử đã đưa độc giả đến với không gian xứ Huế mộng mơ mà cụ thể là cảnh thôn Vĩ Dạ. Với một khung cảnh trữ tình, nên thơ cùng với tình yêu tha thiết, nhớ mong tác giả đã giãi bày tình cảm của mình với người con gái Huế mà tác giả thầm đơn phương. Tình cảm ấy son sắt, thủy chung nhưng lại bồn chồn, lo lắng về “người cũ” có còn giữ nỗi niềm xưa. Tình cảm ấy còn đọng mãi và trở thành một câu hỏi không nguôi trong lòng tác giả và cho cả người đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 6
Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút “tài hoa” nhất của phong trào thơ mới những năm 1932-1945 với nhiều tác phẩm tiêu biểu. Trong đó, tác phẩm để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc có lẽ là “Đây thôn Vĩ Dạ” – bài thơ đặc sắc trong sự nghiệp văn chương của ông. Bài thơ là một bức tranh hài hòa giữa khung cảnh thiên nhiên trong lành, thuần khiết của xứ Huế với bức tranh của một cái tôi yêu đời, khao khát đồng cảm với cuộc đời và con người nhưng đầy lo toan, trăn trở. trở lại.
Câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” như một lời quở trách nhẹ nhàng và như một lời mời tha thiết của người con gái Huế. Một lời trách móc nhẹ nhàng, nhưng đằng sau đó là một lời mời đầy ân cần và chân thành: “Sao anh không vào chơi”. Ở đây, tác giả không dùng từ “thăm” mà dùng từ “chơi” đủ thấy sự thân tình, chân chất, giản dị, gợi cảm giác thân thiết, gần gũi. Và hình như, đó cũng là câu hỏi mà nhà thơ đang tự vấn, tự trách mình sao đã quá lâu không trở về chốn xưa, để người xưa nay chỉ còn lại những nuối tiếc, trăn trở trong cơn bạo bệnh. Đoạn thơ chất chứa bao niềm khao khát được trở về Vĩ Dạ thân yêu.
Từ nỗi nhớ, bức tranh thôn Vĩ dần hiện ra trước mắt người đọc qua từng câu chữ thơ, một bức tranh Vĩ Dạ lung linh, tươi đẹp và tràn đầy sức sống:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”
Cau là loài cây dân dã cũng là linh hồn của làng quê Việt Nam. Trong truyện cổ tích, miếng trầu gắn liền với tình yêu đôi lứa. Trong thơ Hàn Mặc Tử, câu văn gắn liền với nỗi nhớ, với vẻ đẹp của thiên nhiên. Hình ảnh “hàng cau tỏa nắng” là một hình ảnh đẹp gợi sự tinh khiết, trong trẻo của những tia nắng ban mai. Màu của cây cau là một màu rất mới mà trước Hàn Mặc Tử chưa nhà thơ nào có thể gợi ra được. Những giàn cau được bao phủ bởi nắng mới, nắng hòa với những giọt sương đọng trên lá tạo nên vẻ lung linh, duyên dáng. Thiên nhiên trở nên thanh thản, trong trẻo lạ thường, không gian trở nên cao ráo, rộng rãi. Ánh nắng của những cây cau làm bừng sáng cả một khu vườn thơ mộng và hữu tình.
Xa xa là bóng cây cau, khi lại gần khu vườn càng đẹp và tươi mát hơn. Có cây khen xanh tươi, xanh trong, xanh mượt, xanh mướt:
“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”
Câu thơ như sự ngỡ ngàng của tác giả trước vẻ đẹp của tạo hóa được tưới mát bởi bàn tay khéo léo của người làm vườn. Tính từ “mượt” gợi màu xanh, ngọc bích, sắc xuân đầy sức sống của khu vườn. Có thể thấy qua những hình ảnh thơ gần gũi, giản dị mà bằng cách sử dụng từ ngữ độc đáo đã gợi lên bức tranh thôn Vĩ tươi đẹp, sinh động và cao quý.
Cảnh thôn Vĩ càng trở nên hài hòa với dáng người:
“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Cách nói cách điệu thể hiện vẻ đẹp e lệ, kín đáo, dịu dàng và rất Huế của người con gái. Sự xuất hiện của khuôn mặt hiền từ nhân hậu đã làm cho bức tranh Vĩ Dạ thêm sống động khi có sự hài hòa giữa cảnh vật và con người.
Khổ thơ thứ hai gợi lên cảnh dòng sông êm đềm, mang theo nỗi buồn và niềm mong ước hão huyền:
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Không gian có gió, mây, nước, nên thơ, đêm tĩnh mịch gợi nỗi buồn chia li. Cảnh chia ly “gió theo gió, mây đi theo mây” là nỗi mặc cảm của nhà thơ về tình yêu phải xa cách, không thể đi cùng người yêu. Vì lòng người đầy bi ai nên thiên nhiên cũng buồn theo. Dòng sông vẫn chảy nhưng “buồn bã”, gió xao xuyến, những bông ngô đồng trôi vô định trên mặt nước. “Nước buồn hoa ngô nằm” cảnh gợi sự cô đơn, thê lương, sầu muộn. Dòng sông buồn như chính tâm trạng của nhà thơ.
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Những vần thơ “Có kịp mang trăng về kịp đêm nay?” chuyển tải một nỗi niềm của nhà thơ, một niềm khao khát tình yêu được cập bến, được ở bên người để tâm sự, giãi bày. Nỗi nhớ mong, nhớ nhung, khao khát mãnh liệt của tâm hồn được cất lên bằng lời thơ bình dị. Có lẽ lúc này tác giả đang lo sợ vì số phận ngắn ngủi của đời mình. Sợ rằng thời gian ngày càng ngắn lại mà lòng người vẫn không khỏi vơi đi nỗi trống trải, cô đơn, buồn tủi. Liệu chiếc thuyền kia có chở vầng trăng hạnh phúc ấy đến với người đàn ông may mắn này?
Hiện thực khắc nghiệt và hiu quạnh khiến tác giả phải đi tìm giấc mơ, nơi anh có thể nhìn thấy người con gái mình yêu, dù chỉ là một chút hạnh phúc trong ảo ảnh:
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra;
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Trong giấc mơ đượm màu hy vọng, nhà thơ nhìn thấy từ xa có một vị khách trong tà áo dài trắng tinh, ẩn hiện trong làn sương mờ. Cái bóng dường như mờ đi và biến mất trong tích tắc. Sự thuần khiết, cao quý của cô gái trong ảo mộng khiến nhà thơ không khỏi ái ngại:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
Trong bài thơ, tác giả ngập ngừng, lo sợ về một dự cảm vô định. Một trái tim khao khát yêu và được yêu nhưng không bao giờ có được tình yêu trọn vẹn khiến tác giả nghi ngờ về tình cảm, về tình yêu của đối phương. Không biết tình người có phong phú như tình người của chúng ta không?
Bài thơ khép lại bằng một câu hỏi chất chứa những hoài nghi và thất vọng. Vĩ Dạ đẹp mà buồn, lòng người cũng buồn mà đẹp, tất cả tạo nên sự hài hòa giữa cảnh và tình.
Đây thôn Vĩ Dạ qua bao thế hệ người đọc vẫn có một sức sống dồi dào. Bài thơ không chỉ là bức tranh Vĩ Dạ êm đềm thơ mộng mà còn là bức tranh đẹp của tấm lòng tha thiết với thiên nhiên và khát vọng được sống, được yêu của Hàn Mặc Tử.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 7
Ai đã từng say trăng như Hàn Mặc Tử? Cả một thế giới trăng trong thơ ông:
Trăng nằm sóng soài trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi…”
(Bẽn lẽn)
“Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ
Sấp mặt xuống uốn mình theo dáng liễu”
(Hãy nhập hồn em)
“Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”.
(Đêm không ngủ)
Nhà thơ còn nói về thuyền trăng, sông trăng, sông trăng… Cả một thế giới hư ảo, diệu kì. Thơ Hàn Mặc Tử tràn ngập ánh trăng, thể hiện một tâm hồn “say trăng” với tình yêu thiết tha với cuộc đời, vừa thực vừa mộng. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1941). Với 28 tuổi đời (1912-1940), ông đã để lại cho nền thơ ca nước nhà hàng trăm bài thơ và một số vở kịch thơ đặc sắc. Thơ ông như chảy ra từ máu và nước mắt, với nhiều hình ảnh kinh dị. Không ai hiểu rõ về mùa xuân và thiếu nữ (“Mùa xuân chín”), về xứ Huế đẹp và chất thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” như Hàn Mặc Tử.
“Đây thôn Vĩ Dạ” trích trong “Tuyển tập thơ điên” xuất bản năm 1940, sau khi nhà thơ qua đời. Bài thơ nói rất hay về Huế, về phong cảnh thiên nhiên hữu tình, về con người xứ Huế, đặc biệt là những cô gái duyên dáng, đa tình và đáng yêu. Hàn Mặc Tử viết về một tình yêu – tình yêu đơn phương, nồng nàn nên thơ, lung linh trong sáng và huyền ảo. Đoạn thơ thể hiện một nỗi bâng khuâng, một niềm khao khát hạnh phúc của nhà thơ đa tình, có nhiều nhân duyên với cảnh và người Vĩ Dạ.
Câu đầu của khổ thơ đầu thật “ngọt ngào” như một lời mời gọi vừa hân hoan ngày đoàn tụ vừa nhẹ nhàng trách móc người thương về bao nhớ nhung, chờ đợi. Giọng thơ nhẹ nhàng, đằm thắm, trìu mến: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”. Có rất xa. Những cảnh xưa người xưa thấp thoáng trong những vần thơ đẹp với nỗi nhớ da diết. Bao kỉ niệm ùa về trong hồn thơ. Nó gắn liền với cảnh sắc miệt vườn và con người xứ Huế mộng mơ:
“Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền?”
Cảnh được nhắc đến là một buổi bình minh tuyệt đẹp ở thôn Vĩ. Nhìn từ xa, nhà thơ đang say sưa ngắm những ngọn cau, những tàu cau lấp lánh dưới nắng mới, “nắng mới” rực rỡ. Hàng cau cao vút là hình ảnh quen thuộc của thôn Vĩ Dạ từ bao đời nay. Hàng cau như chào, như vẫy gọi.
Quên màu xanh ở đây đi. Nhà thơ đã thốt lên đầy thán phục khi đứng trước một vườn Vĩ Dạ xanh mướt: “Vườn ai xanh như ngọc bích”. Sương đêm ướt đẫm cỏ cây hoa lá. Màu xanh mơn mởn, non mơn mởn, óng ả dưới ánh mai hồng trông thật “mượt” một màu xanh ngọc bích. Đất đai màu mỡ, khí hậu điều hòa, người dân cần mẫn chăm bón mới có màu “xanh ngọc” ấy. Thiên nhiên rực rỡ, trẻ trung và tràn đầy sức sống. Cũng nói về màu xanh ngọc bích, trước đó (1938) Xuân Diệu đã viết: “Đổ trời xanh ngọc bích qua kẽ lá…” (“Thơ tình”). Hai chữ “vườn ai” gợi bao bất ngờ xen lẫn xót xa. Câu thơ thứ tư tả thiếu nữ bên khóm trúc trong vườn xuân: “Lá trúc che mặt phông”. Mặt trái xoan, mặt phấn son, mặt búp sen là vẻ đẹp của một mỹ nhân. Khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt đầy đặn, vuông vức và phúc hậu. “Lá trúc giăng ngang” là nét vẽ truyền thần đã làm nổi bật vẻ đẹp của người con gái Huế duyên dáng, dịu dàng, kín đáo, đằm thắm. Hàn Mặc Tử đã hơn một lần nói về tre và những cô gái. Khóm tre như bóng mát xanh che chở cho một tình yêu đẹp đang chớm nở:
“Thầm thì với ai ngồi dưới trúc
Nghe ra ý vị và thơ ngây”
(Mùa xuân chín)
Câu 3, 4 trong khổ thơ đầu tả cau, tả nắng, tả vườn, tả tre và thiếu nữ với một cách phối màu nhẹ nhàng, thoáng đãng, ẩn hiện, mơ hồ. Đặc sắc nhất là hai hình ảnh so sánh và ẩn dụ (xanh như ngọc… mặt chữ điền). Cảnh và người ở Vĩ Dạ thật hiền hòa, thân thiện và dễ mến.
Vĩ Dạ là một ngôi làng nằm bên bờ Hương Giang, ngoại ô cố đô Huế. Vĩ Dạ đẹp với con đò thơ mộng, vườn cây xanh tươi bốn mùa, hoa trái xum xuê. Những ngôi nhà xinh xắn thấp thoáng sau những hàng cau, rặng tre, nơi thường cất lên câu hát “Nam Ai, Nam Bình” qua tiếng đàn tranh, tiếng đàn tam thập lục huyền ảo, du dương. Đây thôn Vĩ Dạ đẹp và thơ mộng. Hàn Mặc Tử đã tặng Vĩ Dạ bài thơ đẹp nhất bằng tất cả tình cảm yêu thương của mình. Đã bao năm rồi Huế và Vĩ Dạ xa cách. Tuy nhiên, cảnh vật và con người thôn Vĩ vẫn được nhà thơ bao dung, càng trở nên lung linh huyền ảo, thể hiện niềm mong mỏi tha thiết được trở về cố đô thăm lại cảnh xưa. Bức tranh tâm trạng đã khéo léo thể hiện bức tranh thơ mộng, hữu tình của thôn Vĩ.
Khổ thơ thứ hai nói về cảnh mây trời, sông nước. Một không gian nghệ thuật thoáng đãng, mơ hồ, xa xăm. Câu 5, 6 là những hình ảnh miêu tả gió, mây, sông và hoa (hoa ngô đồng). Giọng thơ nhẹ nhàng, hơi buồn. Nghệ thuật tương phản tạo nên một khung cảnh hài hòa, cân đối và sinh động. Gió và mây lùi xa như tình yêu của nhà thơ, tưởng gần mà xa, xa lắm. Dòng sông Hương êm đềm trôi lặng lẽ, trong tâm tưởng nhà thơ trở nên “buồn bã” và đượm buồn. Những bông hoa ngô đung đưa, nhẹ nhàng đung đưa trong gió nhẹ. Nhịp điệu nhẹ nhàng, thơ mộng của miền sông Hương, núi Ngự được miêu tả thật tinh tế! Những ám chỉ lôi cuốn gợi lên bao câu hỏi mơ mộng. Ngoại cảnh bao la ngăn cách như trái tim, như tâm tư nhà thơ;
“Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay”.
Hai câu tiếp theo, nhà thơ tự hỏi “ai” hay tự hỏi mình khi nhìn thấy hay nhớ lại hình ảnh con thuyền mơ màng trên sông trăng. Dòng sông Hương quê tôi trở thành “sông trăng”. Hàn Mặc Tử với tình yêu Vĩ Dạ đã làm nên bài thơ hay về sông Hương với những con thuyền dưới trăng. Nguyễn Công Trứ từng viết: “Gió trăng chứa đầy thuyền”. Hàn Mặc Tử cũng đóng góp cho thơ ca Việt Nam hiện đại một câu thơ thất ngôn độc đáo:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”
Tâm hồn nhà thơ xao xuyến khi nhìn dòng sông trăng và con thuyền. Thuyền tôi hay “thuyền ai” vừa quen, vừa xa lạ. Chất thơ kỳ ảo trong “Đây thôn Vĩ Dạ” chính là ở những chất liệu thơ ấy. Câu thơ gợi một hồn thơ xao xuyến trước vẻ đẹp thơ mộng của xứ Huế miền Trung, thể hiện một tình yêu thầm kín, nhẹ nhàng, thơ mộng và có chút buồn man mác. Ở đây, bức tranh tâm trạng tràn ngập ánh trăng, thấm đẫm một nỗi buồn cô đơn của khách đa tình.
Khổ thơ thứ ba nói về cô gái Huế và tâm trạng của nhà thơ. Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Bính đã viết về những cô gái sông Hương: “Những cô gái sông nước”
Hương – Da thơm là phấn, má hồng là son…”. Vĩ Dạ mưa nhiều, sáng chiều sương mù mịt. Khói lam mờ áo trắng em nhận không ra dáng người (người) hình ảnh) khi ngắm nhìn. Câu thơ chập chờn, thanh khiết, kín đáo và duyên dáng Gần mà xa mà thực. Mà thực mà mơ. Câu thơ rung động buồn ta biết Hàn Mặc Tử đã từng có một người đẹp mối tình ngang trái với một cô gái trẻ Huế mang tên một loài hoa đẹp, phải chăng nhà thơ đang nói về mối tình này?
“Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?”
“Mơ khách đường xa, khách đường xa… ai biết… ai có…” Những ám chỉ, luyến láy ấy tạo nên một giai điệu sâu lắng, êm dịu, mênh mang. Khoảng cách và nỗi buồn chia ly dường như kéo dài trong không gian và thời gian vô tận. Người đọc càng thêm thương cảm cho nhà thơ tài hoa, đa tình nhưng kém may mắn, từng say đắm mối tình đơn phương mà suốt đời phải sống trong cô đơn, bệnh tật.
Cũng cần nói đôi lời về chữ “ai” trong bài thơ này. Cả bốn lần từ “ai” xuất hiện đều mơ hồ và đầy ám ảnh: “Vườn ai sao xanh như ngọc?” – “Thuyền ai cập bến trên sông trăng kia?” – “Ai biết tình ai có giàu không?” Người mà nhà thơ nói đến là một người đã đi xa, trong nỗi nhớ nhung, tuyệt vọng. Nhà thơ luôn cảm thấy mình lạc lõng, lạc lõng trước một tình yêu đơn côi. niềm hy vọng mong manh mà tha thiết như có phai mờ sương khói?.
Hàn Mặc Tử đã để lại cho chúng ta một bài thơ tình hay và cảm động. Cảnh và người, mộng và thực, nồng nàn và buồn bã, ngỡ ngàng và dửng dưng… biết bao hình ảnh và cảm xúc đẹp mà buồn hội tụ trong ba khổ thơ thất ngôn, thất ngôn tứ tuyệt. “Đây thôn Vĩ Dạ” là một bài thơ tình tuyệt tác. Màu xanh ngọc bích vườn ai, con đò cập bến sông trăng, màu trắng áo em như dẫn hồn anh về thôn Vĩ Dạ khói lửa một thời đã xa, tìm bóng giai nhân, để nhớ nhà. Có tài thơ, đa tình nhưng bạc mệnh. Bức tranh tâm trạng trong “Đây thôn Vĩ Dạ” đọng lại mãi trong lòng ta. Nhà thơ Thu Bồn đã nói hộ lòng tôi.
“Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
Em rất thực mà nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô”.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 8
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là tác phẩm mà Hàn Mặc Tử đã viết bằng rất nhiều tâm huyết. Đoạn thơ thể hiện tình yêu và nỗi nhớ quê hương xứ Huế mà tác giả đã từng công tác tại đây.
Hàn Mặc Tử (1912 – 1940) quê ở Bình Định nhưng có một thời gian học ở Huế và làm việc tại đây. Với anh, Huế là quê hương thứ hai và cũng là nơi để lại cho anh nhiều dấu ấn, kỷ niệm nhất. Qua việc phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ giúp ta hình dung được cảnh vật cũng như con người xứ Huế nơi đây.
Mở đầu bài thơ là những lời ngọt ngào mà tha thiết của cô gái dành cho chàng trai: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Thôn Vĩ là một ngôi làng xinh đẹp nằm bên dòng sông Huế thơ mộng. Thôn Vĩ hay còn gọi là Đây thôn Vĩ Dạ mà tác giả nhắc đến là một làng quê yên bình và xinh đẹp.
Đây cũng là nơi tác giả đã làm việc và học tập tại đây. Phải chăng đó là những lời thủ thỉ nhắc nhở của cô gái với chàng trai rằng hãy về Đây chơi thôn Vĩ Dạ vì nơi đây có rất nhiều cảnh đẹp và bí ẩn mà lâu rồi chàng trai chưa được đến thăm. Khung cảnh nơi đây đẹp đến lạ lùng khi tác giả đã miêu tả rõ nét từng hình ảnh bình dị nhất:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Ở đây, cảnh vật có hai màu chủ đạo là xanh và nắng vàng. Cảnh quan nơi đây có những hàng cau cao vút, xanh mướt một màu. Hình ảnh cây cau mọc thành hàng, vào mùa ra hoa thật đẹp. Hoa cau vừa đẹp lại vừa thơm, đó là lý do cây cau không thể thiếu ở Huế. Nếu đã từng đến Huế, bạn sẽ có dịp chiêm ngưỡng những vườn cau đẹp mê hồn của người dân nơi đây.
Ở Huế, bạn cũng sẽ thấy những sân cỏ rộng rãi với những cây cau bên trong. Một không gian tràn ngập sắc xanh và điểm tô bởi ánh nắng vàng khiến không gian trở nên thơ mộng, trữ tình. Vườn nhà đã được tác giả nói: “thật mát” một từ cho thấy sự tươi tốt, màu mỡ của cảnh vật nơi đây. Những giọt sương long lanh còn đọng trên cây cỏ rồi ánh nắng nhẹ nhàng chiếu vào tạo nên những viên ngọc trai được tác giả miêu tả: “xanh như ngọc”.
Biện pháp so sánh được sử dụng ở đây khiến người đọc liên tưởng hoặc tưởng tượng ra một bức tranh nhiều màu sắc mà tác giả đã vẽ nên. Nhưng đến khổ thơ thứ hai, giọng thơ trở nên trầm lắng, thoáng chút buồn:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Hai thứ gió và mây khi nhắc đến bao giờ cũng gợi cho ta sự yêu thương. Mây và gió luôn không thể tách rời, tượng trưng cho tình cảm lứa đôi gắn bó, thân thiết. Nhưng ở đây, tác giả lại cho thấy điều ngược lại đó là sự ngăn cách, xa cách giữa gió và mây, mỗi người đi về một hướng. Phải chăng đây là lời nhắn nhủ của nhà thơ với người con gái Hoàng Kim Cúc? Họ xa nhau một thời gian dài khi Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn viết báo và cô Cúc phụ giúp công việc cho cha.
Câu thơ thứ hai trong khổ thơ chính miêu tả cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân xứ Huế chậm rãi, yên bình như tả dòng nước chảy chầm chậm, chầm chậm. Những bông hoa ngô đung đưa nhẹ nhàng khi gió thổi.
Câu thơ tiếp theo là một phép gợi nhớ khiến người đọc liên tưởng nhiều nhất đến cảnh có trăng và thuyền. Hai hình ảnh hiện lên thật trữ tình và soi bóng cả một dòng sông khi ánh trăng soi bóng một con thuyền. Đêm nay thuyền chở trăng về kịp hay lỡ làng? Đây là cách nói ẩn ý của tác giả rằng chuyện tình của mình sẽ còn có thể quay lại và yêu thêm lần nữa hay hai người sẽ lạc mất nhau mãi mãi?
Khổ thơ cuối là lời thốt ra từ đáy lòng của tác giả và cũng là những suy ngẫm của tác giả về người con gái ấy:
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu đầu trong khổ thơ cuối gây ấn tượng cho người đọc bởi sự lặp lại từ ngữ hai lần khách đường xa càng gợi thêm khoảng cách. Áo cô gái trắng đến nỗi tác giả không nhận ra nữa vì cô gái quá đẹp khiến tác giả không thể nhận ra người con gái mình đem lòng yêu. Sương khói dày đặc làm mờ hình ảnh của một người và tác giả tự hỏi liệu cô ấy có còn yêu và có tình cảm mãnh liệt với mình không? Câu thơ cuối là tiếng lòng của tác giả muốn hỏi người con gái ấy.
Qua phần phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, ta sẽ biết đây là bài thơ hay nhất mà Hàn Mặc Tử viết trước khi qua đời vì bệnh phong. Qua bài thơ ta có thể hình dung được vẻ đẹp của thiên nhiên cũng như con người ở mảnh đất Huế xinh đẹp, nơi từng là cố đô của nước ta. Đoạn thơ cũng khắc họa tình yêu chân thành mà nhà thơ dành cho người con gái Huế thật đậm đà và ngọt ngào!
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 9
Trong phong trào thơ Mới, Hàn Mặc Tử là một trong những cái tên nổi bật với phong cách thơ đặc biệt vừa trẻ trung, lãng mạn vừa buồn đau, tất cả xuất phát từ một cuộc đời có quá nhiều đau thương, cay đắng. của một nghệ sĩ trẻ. Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những sáng tác tiêu biểu, nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, đồng thời cũng là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của phong trào thơ Mới. Đoạn thơ mang đậm dấu ấn của tác giả khi hàm chứa những nội dung trong sáng, vô vàn, bộc lộ tình yêu thiên nhiên, tình yêu tha thiết với cuộc sống, đồng thời bộc lộ những ám ảnh, tiếc nuối của tác giả trước số phận nghiệt ngã của chính mình qua những vần thơ lạ lẫm, phức tạp đan xen giữa thực và những cảnh trong mơ.
Hàn Mặc Tử là một nhà thơ tài hoa nhưng lại có cuộc đời đầy bất hạnh cay đắng, khi còn trẻ ông không may mắc phải căn bệnh phong quái ác, đúng vào lúc sự nghiệp của ông đang ở giai đoạn thăng hoa nhất, đặc biệt là đường tình duyên. Hàn Mặc Tử cũng là một người kém may mắn khi phải chịu nhiều đau đớn, dằn vặt. Trong giai đoạn cuối đời, ông về Quy Nhơn chữa bệnh, bất ngờ nhận được tấm bưu ảnh có hình phong cảnh xứ Huế, trên đó có dòng chữ Kim Cúc, người con gái mà Hàn Mặc đem lòng yêu. Cái chết thường bỏ lỡ. Chỉ thế thôi đã khơi dậy trong trái tim cô đơn của người nghệ sĩ những cảm xúc hân hoan vui sướng, lòng ông trào dâng cảm xúc nhớ Huế, nhớ một Huế đẹp, đồng thời thổ lộ nỗi lòng. khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc đến tột độ qua những câu thơ đầu rất trong sáng, trong trẻo.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Mở đầu bài thơ là một câu hỏi mở rất dễ thương đậm chất Huế “Sao em không về chơi thôn Vĩ?”, có thể là lời than thở vu vơ của một cô gái đang mong chờ người yêu về thăm. Huế mãi mãi, đến thăm để thỏa nỗi nhớ nhung, sau đó cũng có thể là lời mời thân tình của một người bạn phương xa, muốn tác giả một lần trở lại Huế, thăm lại cố đô yên bình. Để rồi, sâu thẳm trong câu hỏi bỏ ngỏ ấy, ta dường như cũng nhìn thấu nỗi lòng của tác giả, phải chăng Hàn Mặc Tử cũng đang tự hỏi lòng mình tại sao không trở về quê cũ, bày tỏ sự bất lực trước bệnh tật, trước hoàn cảnh của cuộc đời? tai ương của chính mình.
Trong dòng hồi tưởng, thôn Vĩ của Hàn Mặc Tử hiện lên với hình ảnh đặc trưng, đó là những khu vườn với hàng cau thẳng tắp đón nắng. Hình ảnh “hàng cau tỏa nắng” là hình ảnh đặc sắc, khái quát và ấn tượng. “Tay cau” có nghĩa là nắng sớm, mặt trời đã lên khá cao, ở mức ấm nhất, chưa oi bức như mặt trời. không bật. Giữa khung cảnh ấy, ánh nắng bao trùm không gian, phủ lên những ngọn cau xanh mướt một màu vàng nhạt, mở ra một không gian trong trẻo, tràn đầy sức sống cũng như sự yên bình, tĩnh lặng nơi làng quê. “Vườn ai xanh như ngọc”, điệp từ “vườn ai” đã mang đến cho bức tranh thiên nhiên sự ấm áp của tình người, bên cạnh hơi ấm của nắng sớm, cảnh vật càng trở nên hài hòa hơn khi có sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên.
Những tính từ “mượt mà”, “xanh như ngọc” đều là nét vẽ tài tình, tinh tế của Hàn Mặc Tử khi nhớ về Đây thôn Vĩ Dạ đã khéo léo mở ra bức tranh thiên nhiên dịu dàng, sinh động, trong trẻo, tinh khiết và tràn đầy sức sống. Chính sự non tươi béo ngậy của lá cây, cái mát lành của những giọt sương mai còn đọng lại sau một đêm dài, nhưng dưới ánh mặt trời ấm áp chúng lại tỏa sáng đẹp đẽ như những viên ngọc quý, khiến người ta không khỏi ngỡ ngàng. Đến câu thơ cuối, phong cách thơ Trung Hoa đã thực sự làm rõ và tô đậm vẻ đẹp của con người xứ Huế trong bức tranh đồng quê “Lá tre che mặt chữ điền” lấy tiểu cảnh, cắt ngang làm cảnh. lá trúc để làm nổi bật gương mặt người phụ nữ đảm đang, nhân hậu, dịu dàng và thông minh, đó cũng có thể là bóng hình mà Hàn Mặc Tử thường nhớ nhung, một con người mang nét đẹp cổ kính. cuốn sách có giá trị và tâm hồn, đại diện cho một vùng đất với những con người thân thương mà tác giả ngày đêm mong chờ.
Nếu như ở khổ thơ đầu, Hàn Mặc Tử nhìn cuộc sống và con người với tinh thần tích cực, lạc quan, tràn đầy hi vọng với bức tranh thiên nhiên tươi sáng, trong trẻo, thì ở khổ thơ tiếp theo, mạch cảm xúc lại được mở rộng. Cảm xúc của tác giả thay đổi nhanh chóng với sự thay đổi giữa ngày và đêm, giữa hai bức tranh thiên nhiên hoàn toàn khác biệt với những gam màu mới.
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Từ một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, với những gam màu ấm áp, mát mẻ, giản dị, Hàn Mặc Tử lập tức chuyển sang cảnh đêm tối với hình ảnh dòng sông thăm thẳm lạnh lùng thể hiện sự trống vắng. Nỗi cô đơn đang len lỏi trong lòng tác giả. Hình ảnh “Gió cuốn theo gió mây cuốn mây đi” là một hình ảnh buồn, lạc lõng, gợi sự chia ly, tan rã không hẹn ngày gặp lại. Rõ ràng gió và mây là hai thực thể luôn gắn bó, gió thổi mây đi, tưởng như dính với nhau như hình với bóng, vậy mà trong thơ Hàn Mặc Tử gió và mây lại tách biệt. , hai nơi dường như không thể tách rời. ít tiếp xúc. Phải chăng đây là một ẩn ý cho mối tình của anh với Kim Cúc, hai người nay như cách biệt nhau, mai là âm dương cách biệt. Rồi cảnh mây gió ấy cũng gợi cho tác giả mối liên hệ với thế giới, dường như lúc này ông cũng bắt đầu cảm thấy mình không còn bao nhiêu thời gian nữa, như thể cuộc đời là dành cho ông vậy. ngày càng xa, cuộc sống trần gian của anh ta có thể không còn bao lâu nữa. Chính những suy nghĩ và thực tại đã giày vò trái tim Hàn Mặc Tử mới vừa được thắp lên niềm hy vọng. Một lá bài khiến anh hạnh phúc, tưởng chừng như anh đã thoát khỏi sự u ám, tăm tối của cuộc đời, nhưng nó vẫn không thể chiến thắng được sự nghiệt ngã của số phận và chính anh buộc phải tỉnh ngộ, trở về. với thực tế đau lòng.
Đến câu thơ tiếp theo “Nước buồn hoa rụng”, đúng với câu “Cảnh buồn bao giờ vui” của Nguyễn Du, trước nỗi buồn của số phận, Hàn Mặc Tử nghĩ về dòng sông Hương hiền hòa, Đã đi qua bao thăng trầm của lịch sử, dường như anh nhìn thấy dòng nước ấy cũng như hiểu được nỗi buồn của mình, buồn lặng lẽ, một nỗi buồn âm thầm không thể bày tỏ cùng ai, lẻ loi, lạc lõng không một bóng người. người chọn bạn. Hình ảnh “hoa ngô đẻ” là một hình ảnh có ý nghĩa đặc biệt, bông ngô là loài hoa không màu, không hương, thoang thoảng, chóng héo. Dường như đó là hình ảnh của Hàn Mặc Tử về cuối đời, chỉ héo úa mặc cho gió đung đưa mà không thể chống lại số phận khiến người ta xót xa cho cuộc đời nghệ sĩ. số phận, cũng như nỗi đau mà ông phải chịu đựng suốt cuộc đời.
Trong lúc buồn bã, tuyệt vọng và cô đơn nhất, Hàn Mặc Tử lại nhớ đến vầng trăng, người bạn tri kỷ duy nhất có thể tâm sự và thấu hiểu mình. Cảnh bến thuyền, ánh trăng vằng vặc là một trong những hình ảnh thường xuất hiện trong thơ ca cổ điển, tả cảnh dòng sông yên ả, phẳng lặng, có phần cô quạnh. Đến thơ Hàn Mặc Tử, khung cảnh ấy còn độc đáo và sáng tạo hơn với câu hỏi “Thuyền ai cập bến sông trăng kia/ Có chở trăng về kịp đêm nay?”, một câu hỏi đầy tâm tình, trung dung. của một cảnh sông nước. nước mênh mông, ánh trăng trải dài trên mặt nước, có con thuyền nằm lặng lẽ, thật nên thơ và trữ tình biết bao. Lòng Hàn Mặc Tử chẳng mấy bình yên, người vội hỏi thuyền ai neo đậu, kẻ vội hỏi có đưa trăng về kịp, đưa tri kỷ về có kịp. Dường như ta thấy Hàn Mặc Tử vội vàng, lo lắng, đầy hoang mang, sợ rằng mình không còn bao nhiêu thời gian, không còn đợi được ánh trăng rọi vào lòng. Càng đọc, càng hiểu sâu nỗi lòng nhà thơ, càng biết nỗi ưu tư, cô đơn, bất lực của ông, càng thấy xót xa cho một kiếp người đau thương, khi cả tình yêu và cuộc đời đang nằm trước mặt. ngoài tầm với. Tất cả nỗi đau trong bài thơ và nỗi tuyệt vọng về cuộc đời của Hàn Mặc Tử đều bộc lộ rõ nét tâm hồn khao khát sống, khao khát yêu thương dù trong lòng tác giả đã nhiều lần buông xuôi. , chấp nhận số phận, nhưng chỉ cần một chút niềm tin, trái tim ấy lại rạo rực và hạnh phúc hơn bao giờ hết. Mặc dù mọi thứ giống như một pháo hoa rực rỡ và đẹp đẽ, nó nở rộ và nhanh chóng tàn lụi.
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà
Từ cõi thực, Hàn Mặc Tử tiến vào cõi mộng, thể hiện rõ nét thơ ông phức tạp, khó hiểu nhất trong làng thơ Việt Nam đương đại. “Giấc khách phương xa, khách phương xa”, cũng là một câu thơ mơ hồ, không rõ ràng, “lữ khách phương xa” được lặp lại hai lần, như nhấn mạnh thêm diện mạo của nhân vật này, nhưng lại càng nổi bật hơn. thậm chí còn mơ hồ hơn. Vị khách ấy đến từ trong mơ, không rõ mặt, không rõ mặt, chỉ biết họ ngày càng xa dần, không bao giờ trở lại, ám chỉ sự vô vọng của Hàn Mặc Tử trong tình yêu dành cho Kim Cúc. Huế, cũng như sự tồn tại của anh trên cõi đời ngày càng trở nên mong manh và mờ mịt. Tác giả đã xa nhân gian, dần trở thành khách lạ, đi một chặng đường ngắn chừng 28 năm rồi ra đi không tiếng động, không màu sắc, sự liên tưởng khiến người ta vừa ám ảnh vừa xót xa. cho cuộc đời nhà thơ.
Đến câu thơ tiếp theo “Áo em trắng nhìn không thấy” là hình bóng thấp thoáng của người con gái anh yêu trong tiềm thức, cho thấy khoảng cách ngày càng xa giữa anh và nàng, đó không chỉ là khoảng cách địa lý. lý trí, mà còn là khoảng cách tinh thần, sự ngăn cách không thể thay đổi giữa sinh và tử. Chính những khoảng cách ấy đã khiến Hàn Mặc Tử ngày càng tuyệt vọng, hình bóng người con gái năm xưa ngày càng nhòe đi, anh không nhìn rõ, không thể chạm vào, muốn mà không thể chạm vào. Để giải thích cho sự mờ mịt, mông lung của nhân vật “em”, tác giả viết “Ở đây sương khói”, để giảm bớt khoảng cách, dựa vào nguyên nhân xứ Huế sương mù khiến anh không nhìn rõ mà nhấn mạnh sự mông lung, sự bế tắc, tuyệt vọng của Hàn Mặc Tử trước cuộc đời, khi chính đôi tay mình không thể vén màn sương tìm bóng hình tình yêu. bị thương, không chống nổi số mệnh không chịu chết.
Nỗi đau đớn, mặc cảm của số phận đã khiến tác giả không thể mở lòng mình để hiểu được nỗi lòng của Kim Cúc, cũng như không thể bứt mình ra khỏi những mộng tưởng dày đặc, trước hoàn cảnh đó ông chỉ có thể thốt lên “Biết đâu tình người giàu sang”, nó như một lời nhắn gửi cho người con gái xa xứ rằng liệu nàng có còn nhớ đến chàng trai đáng thương này không, đồng thời cũng là một lời trách móc đau đớn khi trái tim chàng đã sợ hãi chàng Kim. Cúc đã không còn hứng thú với phần tình cảm này từ lâu. Cuối cùng, đó vẫn có thể là một thông điệp tình yêu anh muốn gửi một cách thật tế nhị và kín đáo vì anh biết mình không còn sống được bao lâu với cô gái Huế, anh muốn cô biết tình cảm của mình, và cũng muốn cô không để. Biết đâu, sự phức tạp và mâu thuẫn đó là do một tâm hồn mang quá nhiều vết thương, đồng thời đang tiến dần đến những ngày cuối cùng của cuộc đời trần thế, chính vì thế không thể quá tin tưởng, hay gieo rắc hy vọng, yêu thương cho một ai khác. Thà rằng một mình ôm lấy nỗi đau, tình yêu tuyệt vọng ấy trong suốt quãng đời ngắn ngủi còn lại.
Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những tác phẩm tiêu biểu và đặc sắc nhất trong đời thơ Hàn Mặc Tử khi chứa đựng đầy đủ phong cách sáng tác của ông, đồng thời nội dung thơ ấn tượng với nhiều cảm xúc phong phú. thể hiện trong tranh thiên nhiên từ sáng sớm đến chiều tối, từ cảnh thực đến cảnh mộng. Bộc lộ tài năng sáng tạo, cũng như một tâm hồn dù phải chịu nhiều đau thương, bất hạnh nhưng Hàn Mặc Tử vẫn vẹn nguyên niềm yêu đời, khát khao hạnh phúc, yêu thương bình dị
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ - mẫu 10
Hàn Mặc Tử là một tâm hồn lãng mạn trữ tình, những lời thơ của ông được chắt lọc từ nỗi đau tâm hồn. Và bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một bản tình ca thắm thiết trong sáng hòa quyện với cảnh thiên nhiên tươi đẹp với nét đượm buồn, da diết.
Đoạn thơ mở đầu là lời trách móc của nhân vật trữ tình: Sao anh không về chơi thôn Vĩ. Câu hỏi được đặt dưới lời của người con gái đầy yêu thương, mong chờ. Câu thơ cũng là lời tiếc nuối của chính tác giả khi không thể ngắm nhìn vẻ đẹp nồng nàn, ấm áp của một vùng quê ngoại ô thôn Vĩ thân thương và thơ mộng. Vẻ đẹp của thôn Vĩ hiện lên tươi mới:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Thôn Vĩ hiên lên với vẻ đẹp kì vĩ rộng lớn với hình ảnh nắng trên ngọn cau rực rỡ. Đó là những tia nắng đầu tiên chiếu xuống khiến những giọt sương đêm sáng lấp lánh như những viên ngọc. Đến với câu thơ tiếp theo, ta bắt gặp cái nhìn được hạ thấp với không gian xanh mướt trong khu vườn tràn đầy sức sống dịu dàng. Tiếp đó là hình ảnh con người xuất hiện: Lá trúc che mặt chữ điền. Hình ảnh lá trúc mảnh mai mảnh che mặt chữ điền một cách mơ màng, hư ảo.
Sau đó, tác giả chuyển sang tả cảnh sông nước với sự bâng khuâng và u sầu hư ảo như trong một giấc mơ. Gió và mây buồn hơn vì gió đi theo gió, mây đi theo lối mây, đầy cách biệt gợi sự chia ly của nhà thơ với người thầm thương nhớ có thể là vĩnh viễn. Phải chăng đây là nỗi niềm mặc cảm của những cố nhân với cuộc đời. Không còn thấy giọng văn sôi nổi ở đoạn trước, ta gặp lại một tâm hồn u buồn, đa sầu Hàn Mặc Tử. Buồn làm sao, sông Hương hiện ra với cánh đồng ngô đồng hiu hắt như sương khói gợi cảm giác man mác, cô đơn. Ý thơ thật buồn ở hai câu sau:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mọi thứ như tan biến trong dòng sông trăng quen thuộc tràn ngập ánh sáng vàng rực rỡ soi bóng xuống bãi bồi. Cảnh sao mà thơ và trở nên lung linh, huyền ảo đến thế! Tác giả đã gửi gắm niềm nhớ nhung, nhớ nhung đến thuyền trăng và cả con người. Vầng trăng trở nên vô hình mê hoặc. Câu hỏi cuối khổ thơ là lo lắng về một cuộc đời không có tương lai. Tất cả cảnh vật cũng trở nên mơ ảo:
Mơ khách đường xa, khách đường xa,
Áo em trắng quá nhìn không ra…
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
Màu trắng là màu nắng của Vĩ Dạ khiến tác giả choáng ngợp, ngây ngất trước sự trong sáng của con người và cảnh vật. Trong sương khói ấy con người cũng phai và tình yêu cũng phai? Tác giả không dám khẳng định tình cảm của cô gái Huế ông yêu, ông chỉ nói: Ai biết tình ai có đậm đà? Những lời thơ cuối là nỗi thất vọng của trái tim khao khát tình yêu trọn vẹn.
“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh tươi đẹp về con người và cảnh vật thông qua tâm hồn yêu đời nhưng sâu lắng của nhà thơ với giọng thơ trữ tình, lay động và day dứt trong lòng người đọc.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Con đường không chọn
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Con khướu sổ lồng
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Hạnh phúc của một tang gia
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Thời thơ ấu
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Người trong bao
Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:
- Giải bài tập Lớp 10 Kết nối tri thức
- Giải bài tập Lớp 10 Chân trời sáng tạo
- Giải bài tập Lớp 10 Cánh diều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 10 Global Success
- Giải Tiếng Anh 10 Friends Global
- Giải sgk Tiếng Anh 10 iLearn Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 10 Explore New Worlds
- Lớp 10 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 10 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - KNTT
- Giải sgk Toán 10 - KNTT
- Giải sgk Vật lí 10 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 10 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 10 - KNTT
- Giải sgk Địa lí 10 - KNTT
- Giải sgk Lịch sử 10 - KNTT
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - KNTT
- Giải sgk Tin học 10 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 10 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - KNTT
- Lớp 10 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 10 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - CTST
- Giải Toán 10 - CTST
- Giải sgk Vật lí 10 - CTST
- Giải sgk Hóa học 10 - CTST
- Giải sgk Sinh học 10 - CTST
- Giải sgk Địa lí 10 - CTST
- Giải sgk Lịch sử 10 - CTST
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - CTST
- Lớp 10 - Cánh diều
- Soạn văn 10 (hay nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - Cánh diều
- Giải sgk Toán 10 - Cánh diều
- Giải sgk Vật lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Địa lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử 10 - Cánh diều
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

