10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (điểm cao)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 1)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 2)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 3)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 4)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 5)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 6)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 7)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 8)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu 9)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (mẫu khác)
10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng
1. Mở bài
- Kim Lân là nhà văn nổi tiếng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, chuyên viết về đời sống nông thôn Việt Nam.
- Truyện Làng (1948) khắc họa sâu sắc tình yêu làng, lòng yêu nước của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp.
2. Thân bài
- Làng ra đời năm 1948, trong bối cảnh đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
- Truyện kể về ông Hai, người nông dân yêu làng Chợ Dầu sâu sắc. Khi nghe tin làng mình theo giặc, ông đau khổ, nhưng vui mừng khi sự thật được làm sáng tỏ.
a. Luận điểm 1: Tình huống truyện
- Ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, đối lập với niềm tự hào của ông về làng.
→ Tình huống này thử thách lòng trung thành và lòng yêu nước của ông Hai.
→ Từ đó, tâm trạng ông biến đổi từ hoang mang, đau khổ đến hân hoan khi sự thật được cải chính.
b. Luận điểm 2: Tình yêu làng và yêu nước của ông Hai
- Trước Cách mạng: Ông tự hào về vẻ đẹp giàu có và lịch sử làng mình.
- Sau Cách mạng: Ông tự hào về tinh thần kháng chiến của làng.
- Diễn biến tâm lý:
+ Trước khi nghe tin làng theo giặc: Tự hào về làng.
+ Khi nghe tin làng theo giặc: Đau khổ, dằn vặt.
+ Khi tin cải chính: Vui mừng, tự hào trở lại.
c. Đặc sắc nghệ thuật:
- Ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ, gần gũi với lời nói của nông dân.
- Miêu tả tâm lý tinh tế qua lời nói, hành động và suy nghĩ của nhân vật.
- Giọng điệu tự nhiên, chân thật và giàu cảm xúc.
3. Kết bài
- Kim Lân đã khéo léo xây dựng tình huống truyện và miêu tả tâm lý nhân vật, làm nổi bật tình yêu làng và lòng yêu nước.
- Làng khẳng định tài năng của Kim Lân trong việc viết truyện ngắn, gợi xúc cảm sâu sắc trong lòng người đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 1
Khi nói về công việc sáng tác, nhà văn Kim Lân thường thổ lộ rằng ông muốn thể hiện con người mình qua trang viết. Có lẽ, ở trường hợp như Kim Lân, sự tự thể hiện thành ra một nhu cầu và chính nó tạo ra hơi thở, sức sống cho tác phẩm của ông. Những gì nhà văn chứng kiến, trải nghiệm trong những thời điểm quan trọng của lịch sử đất nước trở thành nguồn nguyên liệu trực tiếp để ông sáng tạo nên những hình tượng đặc sắc. Truyện ngắn “Làng”, với nhân vật ông Hai, chứng tỏ cho chúng ta về điều này.
Kim Lân từng nói: “Cái không khí ngày đầu kháng chiến ở nông thôn, tôi đã vào Làng. Lúc ấy Tây còn đóng tại cầu Đuống, tôi về làng chơi mấy lần, chứng kiến tận mắt thế nào là “làng chiến đấu”. Trong không khí ấy, cùng với dư luận bán tín bán nghi về làng chợ Dầu theo Tây làm Việt gian đã khiến tôi viết truyện ngắn này. Ông lão Hai chính là tôi”. Tình yêu quê hương đất nước trong mỗi con người cụ thể mang một hình hài riêng. Có thể là sự hi sinh anh dũng của những chiến sĩ ngoài mặt trận, có thể là công sức khai hoang, vun trồng những thửa ruộng, có thể là cái mượt mà hay hùng tráng của một ca khúc ca ngợi tình người, tình đười, ... Và ở đây là tình yêu, sự gắn bó thủy chung với cái làng của mình, của một người nông dân phải rời làng đi tản cư trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Thành công của truyện Làng chính là ở hình tượng nhân vật lão Hai với những trạng huống tâm lí, ngôn ngữ được khắc họa sắc sảo, chân thực và sinh động. Tuy nhiên, để nhân vật bộc lộ được tâm lí hay ngôn ngữ, trước hết, nhà văn phải xây dựng được tình huống truyện. Tính cách nhân vật chỉ được thể hiện trong một sự việc cụ thể nào đó. Hiểu lầm rồi vỡ lẽ là dạng tình huống thường được các nhà văn sử dụng. Việc rời làng đi tản cư là sự việc có ý nghĩa tạo khung cho câu chuyện. Đó chưa phải là tình huống. Phải đến khi ông Hai nghe tin đồn làng của ông theo Tây làm Việt gian thì tình huống mới thực sự bắt đầu. Tình huống truyện kết thúc khi ông Hai biết được sự thực làng của ông không theo giặc. Qua tình huống này, hình ảnh một lão nông dân tha thiết yêu làng quê của mình, một lòng một dạ theo kháng chiến hiện ra sắc nét với chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ mang đậm màu sắc cá thể hóa.
Sở dĩ cái tin làng chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, người nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại “khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán”. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực. Ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ.
Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi”. Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. [...] Cái chân ông đi tập tễnh cũng vì cái lăng ấy”. Bây giờ ông khoe làng ông khởi nghĩa, khoe “ông gia nhập phong trào từ hồi kì còn trong bóng tối”, rồi những buổi tập quân sự, khoe những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông, ...
Cũng vì yêu làng quá như thế mà ông nhất quyết không chịu rời làng đi tản cư. Đến khi buộc phải cùng gia đình đi tản cư ông buồn khổ lắm, sinh ra hay bực bội, “ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm”. Ở nơi tản cư, ông nhớ cái làng của ông, nhớ những ngày làm việc cùng với anh em, “Ô, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra. [...] Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên”. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng chợ Dầu của ông đánh Tây. Thế mà, đùng một cái ông nghe được cái tin làng chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian. Càng yêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của con người khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai trong biến cố này.
Ông lão đang náo nức, “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” vì những tin kháng chiến thì biến cố bất ngờ xảy ra. Cái tin làng chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng ngời: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, [...] giọng lạc hẳn đi”, “Ông Hai cúi gằm mặt xuống mà đi” và nghĩ đến sự dè bỉu của bà chủ nhà. Ông lão như vừa bị mất một cái gì quý giá, thiêng liêng lắm. Những câu văn diễn tả tâm trạng thật xúc động: “Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ trào ra... Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu ...”. Nỗi nhục nhã, mặc cảm phản bội hành hạ ông lão đến khổ sở: “Chao ôi! Cực nhục cha, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước ...”.
Cả nhà ông Hai sống trong bầu không khí ảm đạm: “Gian nhà lặng đi, hiu hắt, ánh lửa vàng nhờ nhờ ở ngọn đèn dầu lạc vờn trên nét mặt lo âu của bà lão. Tiếng thở của ba đứa trẻ chụm đầu vào nhau ngủ nhẹ nhàng nổi lên, nghe như tiếng thở của gian nhà”. Ông Hai ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp, bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề. Thậm chí ông không dám nhắc tới, phải gọi tên cái chuyện phản bội là “chuyện ấy”. Ông tuyệt giao với tất cả mọi người, “không dám bước chân ra đến ngoài” vì xấu hổ. Và cái chuyện vợ chồng ông lo nhất cũng đã đến. Bà chủ nhà bóng gió đuổi gia đình ông, chỉ vì họ là người của làng theo Tây. Gia đình ông Hai ở vào tình thế căng thẳng. Ông Hai phải đối mặt với tình cảnh khó khăn nhất: “Thật là tuyệt đường sinh sống! [...] đâu đâu có người chợ Dầu người ta cũng đuổi như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu”.
Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi. Về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ...”. Và “Nước mắt ông giàn ra”. Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:
- Húc kia! Thầy hỏi con nhé, con là con của ai?
- Là con thầy mấy lị con u.
- Thế nhà con ở đâu?
- Nhà ta ở làng chợ Dầu.
- Thế con có thích về làng chợ Dầu không?
Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:
- Có.
Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu ông lại hỏi:
- à, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Thằng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:
- ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nước mắt ông lão giàn ra, chảy ròng ròng trên hai má. Ông nói thủ thỉ:
- ừ đúng rồi, ủng hộ Cụ Hồ con nhỉ.
Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng như lời thề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông:
“Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông. Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.
Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trưng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội. Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu. Ông Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại được khắc họa sinh động, tài tình: “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy, …”. Ông khoe khắp nơi: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! [...] Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”, “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn. [...] Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!”.
Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin ấy chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách “người làng Việt gian”. Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến ông lại được sống như một người yêu nước, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêu của mình, ... Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điểm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo của ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân.
Người đọc sẽ không thể quên được một ông Hai quá yêu cái làng của mình như thế. Mặt khác, cũng như các nhân vật quần chúng (chị cho con bú loan tin làng chợ Dầu theo giặc, bà chủ nhà,) ... cái khó quên ở nhân vật này còn là nét cá thể hóa rất đậm về ngôn ngữ. Lúc ông hai nói thành lời hay khi ông nghĩ, người đọc vẫn nhận thấy rất rõ đặc điểm ngôn ngữ của vùng quê Bắc Bộ, của một làng Bắc Bộ: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó”, “không đọc thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy”, “Thì vẫn”, “có bao giờ dám đơn sai”, ... Đặc biệt là nhà văn cố ý thể hiện những từ ngữ dùng sai trong lúc quá hưng phấn của ông Hai. Những từ ngữ "sai sự mục đích cả" là dấu ấn ngôn ngữ của người nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mới nhưng từ ngữ chưa hiểu hết. Sự sinh động, chân thực, thú vị của câu chuyện phần nào cũng nhờ vào đặc điểm ngôn ngữ này.
Kim Lân đã từng được đánh giá là một cây bút hàng đầu về đề tài phong tục. Trong truyện Làng, sự thông hiểu về lề thói, phong tục của làng quê đợc ông vận dụng hết sức khéo léo vào xây dựng tâm lí, hành động, ngôn ngữ nhân vật. Cốt truyện đơn giản, sức nặng lại dồn cả vào mạch diễn biến tâm trạng, vào lời thoại của nhân vật nên câu chuyện có sức hấp dẫn riêng, ấn tượng riêng, độc đáo. Trong số rất nhiều những nhân vật nông dân khác, người đọc khó có thể quên một ông Hai yêu làng quê, yêu đất nước, thủy chung với kháng chiến, với sự nghiệp chung của dân tộc. Một ông Hai thích khoe làng, một ông Hai sốt sắng nghe tin tức chính trị, một ông Hai tủi nhục, đau đớn khi nghe tin làng mình theo giặc, một ông Hai vui mừng như trẻ thơ khi biết tin làng mình không theo giặc, ... Ai đó đã một lần thấy nhà văn Kim Lân, nghe ông nói chuyện còn thú vị hơn nữa: hình như ta gặp ông đâu đó trong Làng rồi thì phải. quê hươnq đất nước, là lòng tự hào và biết ơn người dân cày Việt Nam.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 2
Truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân là một hành trình sâu sắc vào tâm hồn và tình cảm của người nông dân Việt Nam trong bối cảnh cuộc Cách mạng Tháng Tám và cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp. Câu chuyện khắc họa rõ nét quá trình thay đổi và trưởng thành của nhân vật ông Hai, một người nông dân chất phác, yêu làng, yêu nước, qua những biến cố chính trị và quân sự mà đất nước đang trải qua.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc. Sự kiện này không chỉ đánh dấu sự ra đời của một nhà nước độc lập mà còn trở thành động lực mạnh mẽ truyền cảm hứng cho toàn dân tộc đứng lên kháng chiến chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Kim Lân đã chọn bối cảnh này để xây dựng câu chuyện “Làng,” thể hiện sự gắn kết giữa tình yêu làng quê và lòng yêu nước trong con người Việt Nam, mà đại diện tiêu biểu là ông Hai.
Ông Hai, nhân vật trung tâm của truyện, là một nông dân gắn bó suốt đời với làng Chợ Dầu. Từ khi giặc Pháp đến, ông và gia đình buộc phải tản cư sang làng khác. Tuy phải xa làng, nhưng tình yêu của ông dành cho quê hương vẫn không hề phai nhạt. Ông Hai thường kể về làng mình với niềm tự hào vô hạn, đặc biệt là những đóng góp của làng trong phong trào kháng chiến. Tình yêu làng trong ông không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp của cảnh vật hay con người mà còn gắn liền với tinh thần chiến đấu và sự tham gia của dân làng vào cuộc kháng chiến.
Việc ông Hai thường xuyên khoe khoang về làng mình là một chi tiết đặc sắc, thể hiện lòng tự tôn của một người nông dân mộc mạc, đồng thời cũng cho thấy sự biến đổi trong nhận thức của ông về giá trị thực sự của làng trong bối cảnh cách mạng. Ông không còn chỉ khoe “sinh phần” – một công trình kiến trúc liên quan đến quan lại phong kiến mà trước kia ông rất tự hào, mà giờ đây ông khoe về tinh thần cách mạng của làng, về những ngày tập quân sự, về phòng thông tin tuyên truyền của làng.
Một điểm nhấn quan trọng trong câu chuyện là khi ông Hai nghe tin đồn rằng làng Chợ Dầu đã theo giặc Pháp. Đây là cú sốc lớn đối với ông, vì tình yêu và niềm tự hào về làng là phần không thể thiếu trong con người ông. Khi nghe tin này, ông Hai cảm thấy tủi nhục và đau đớn vô cùng. Trong lòng ông, giữa tình yêu làng và lòng trung thành với Cách mạng, sự đấu tranh nội tâm diễn ra gay gắt. Tuy nhiên, tình yêu đối với Tổ quốc và sự trung thành với cụ Hồ đã thắng thế, ông thầm nhủ rằng dù làng có theo giặc, ông vẫn quyết ủng hộ Cách mạng, ủng hộ cụ Hồ.
Chi tiết này khắc sâu tính cách kiên định, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng của ông Hai. Đồng thời, nó cũng cho thấy sự xung đột và thử thách mà lòng yêu làng và yêu nước phải đối mặt trong bối cảnh kháng chiến. Ông Hai không chỉ yêu làng vì những gì nó từng có, mà ông yêu làng vì đó là một phần của cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Niềm vui sướng tột cùng đến với ông Hai khi ông nghe tin đồn về làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Niềm tự hào và danh dự của làng được khôi phục, và với ông Hai, điều này cũng đồng nghĩa với việc lòng yêu làng và lòng trung thành với Tổ quốc của ông không còn bị giằng xé. Ông trở lại với niềm vui và sự tự hào về làng, kể lại cho mọi người những chuyện về làng Chợ Dầu với tinh thần hào hứng và say mê như trước đây.
Kim Lân đã thành công trong việc khắc họa diễn biến tâm lý phức tạp của ông Hai qua những sự kiện và tình huống cụ thể. Sự mâu thuẫn trong tình cảm và niềm tin của ông không chỉ là nỗi đau của cá nhân mà còn phản ánh một phần tâm trạng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến. Từ đó, truyện ngắn không chỉ là câu chuyện về tình yêu làng, mà còn là bài ca về lòng yêu nước và tinh thần cách mạng.
Kim Lân đã sử dụng một cách tài tình nghệ thuật kể chuyện tự nhiên, gần gũi nhưng giàu sức gợi. Ông Hai, với những cuộc đối thoại hài hước, bình dị, trở thành một nhân vật vừa thực tế, vừa đầy tính biểu tượng cho người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến. Ngôn ngữ đời thường, những câu chuyện thời sự ông nghe lỏm hay những khoảnh khắc ông tự hào khoe về làng mình không chỉ tạo nên sự sinh động cho câu chuyện mà còn khiến nhân vật trở nên gần gũi, đáng mến.
Ngoài ra, cách tác giả lồng ghép những chi tiết về cuộc kháng chiến, về sự tham gia của toàn dân vào cuộc đấu tranh cũng tạo nên bức tranh toàn cảnh về một thời kỳ lịch sử đáng nhớ. Bức tranh ấy không chỉ có những trận đánh hay sự hy sinh của những người lính nơi tiền tuyến mà còn có cả những nỗi lòng, những tâm tư sâu kín của những người nông dân nơi hậu phương.
Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân không chỉ là một câu chuyện về tình yêu làng quê, mà còn là một tác phẩm sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần cách mạng và sự gắn kết của con người Việt Nam với quê hương, đất nước trong thời kỳ kháng chiến. Qua hình ảnh ông Hai, nhà văn đã khắc họa rõ nét tâm lý và tình cảm của những người nông dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Những biến chuyển trong tư tưởng và tình cảm của ông Hai cũng chính là sự phản ánh cho sự thay đổi của cả một dân tộc trong giai đoạn lịch sử đầy thử thách nhưng cũng vô cùng vinh quang.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 3
Kim Lân là một nhà văn nổi tiếng trong nền văn học hiện đại Việt Nam, với sở trường là những truyện ngắn về cuộc sống và con người nông thôn. Ông được đánh giá là một nhà văn hiểu sâu sắc và gắn bó mật thiết với đời sống nông dân, đặc biệt là những người dân Bắc Bộ. Truyện ngắn “Làng” (1948) của Kim Lân là một tác phẩm tiêu biểu phản ánh rõ nét phong cách sáng tác và tư tưởng của ông. Qua câu chuyện về nhân vật ông Hai, nhà văn đã thể hiện trọn vẹn tình yêu làng, lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Kim Lân đã xây dựng nên tình huống truyện đặc biệt gay cấn, qua đó bộc lộ rõ nét tình yêu làng, lòng yêu nước của ông Hai, nhân vật trung tâm của câu chuyện. Tình huống này nảy sinh từ việc ông Hai nghe tin làng Chợ Dầu – nơi ông luôn tự hào và gắn bó – theo giặc. Đây là một cú sốc lớn đối với ông, khi mà lòng yêu làng của ông luôn gắn liền với niềm tự hào về tinh thần kháng chiến của quê hương. Tin tức ấy khiến ông rơi vào trạng thái đau đớn, tủi hổ và vô cùng bẽ bàng.
Tình huống này chính là điểm nút của câu chuyện, nơi mà lòng yêu nước và tình cảm với làng quê của ông Hai bị đặt vào thế xung đột gay gắt. Ông Hai vốn yêu làng đến mức luôn tự hào khoe với mọi người về làng mình, nhưng khi nghe tin làng theo giặc, ông phải đối diện với một cuộc đấu tranh nội tâm khốc liệt. Tuy vậy, lòng yêu nước của ông đã chiến thắng, ông khẳng định rằng: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù.”
Sự thắt nút này mở ra cho câu chuyện một hướng phát triển khi cuối cùng, ông Hai nhận được tin cải chính rằng làng Chợ Dầu không theo giặc. Điều này không chỉ khẳng định sự trung thành của ông Hai với kháng chiến mà còn tái khẳng định niềm tin vào lòng trung thành của làng Chợ Dầu với cách mạng và cụ Hồ.
Qua tình huống gay cấn ấy, Kim Lân đã thể hiện tài năng xuất sắc trong việc khắc họa diễn biến tâm lý nhân vật. Khi ông Hai nghe tin làng mình theo giặc, ông rơi vào trạng thái sững sờ, đau đớn đến mức không nói nên lời: “Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân.” Ông lão không thể tin rằng ngôi làng thân yêu của mình lại phản bội Tổ quốc, phản bội kháng chiến. Điều này đã đẩy ông vào một trạng thái tuyệt vọng sâu sắc, đến mức ông không dám ra ngoài, chỉ quanh quẩn trong nhà nghe ngóng tin tức, nơm nớp lo sợ bị mọi người chỉ trích.
Sự đau đớn của ông Hai không chỉ là cảm giác xấu hổ vì làng mình theo giặc, mà còn là sự xung đột giữa tình yêu làng và lòng trung thành với cách mạng. Điều này được thể hiện rõ ràng khi ông Hai tự nhủ rằng dù yêu làng đến đâu, nhưng nếu làng theo Tây, ông cũng sẽ đứng về phía kháng chiến, chống lại làng. Đây là một quyết định đau lòng, nhưng nó cho thấy lòng yêu nước của ông Hai sâu sắc và chân thành đến mức nào.
Khi nhận được tin cải chính rằng làng Chợ Dầu không theo giặc, ông Hai như được “sống lại.” Tâm trạng ông thay đổi hoàn toàn, từ đau buồn và tuyệt vọng sang niềm vui sướng, hân hoan. Ông bỗng trở nên vui vẻ, hoạt bát, và điều đầu tiên ông làm là chạy đi khoe với mọi người tin tức rằng làng mình không phản bội. Câu nói đầu tiên của ông không phải là việc làng không theo giặc, mà là: “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn!” Đối với người nông dân, căn nhà là cả gia sản, nhưng với ông Hai, việc nhà bị đốt không quan trọng bằng việc làng không theo giặc, vì điều đó chứng minh rằng làng vẫn trung thành với cách mạng, với cụ Hồ.
Chi tiết này thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của ông Hai và sự sẵn sàng hy sinh mọi thứ, kể cả tài sản, để đóng góp cho kháng chiến. Đây là một chi tiết đặc biệt xúc động, cho thấy tinh thần yêu nước mãnh liệt của người nông dân Việt Nam thời kháng chiến.
Kim Lân đã rất thành công trong việc xây dựng tình huống truyện gay cấn, tạo nên sự kịch tính và sức hấp dẫn cho câu chuyện. Qua đó, ông đã khéo léo thể hiện chiều sâu tâm lý của nhân vật ông Hai, người nông dân mộc mạc nhưng có tình yêu quê hương và đất nước mãnh liệt. Sự thay đổi trong tâm trạng của ông Hai từ vui mừng, tự hào, đến đau đớn, tuyệt vọng và cuối cùng là hân hoan, tất cả đều được miêu tả một cách sinh động, chân thực.
Ngôn ngữ trong truyện ngắn “Làng” mang đậm chất khẩu ngữ, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân. Điều này làm cho câu chuyện trở nên sống động, gần gũi hơn với đời sống của nhân dân thời kỳ đó. Ngôn ngữ của ông Hai không chỉ thể hiện tính cách nông dân chất phác, mà còn bộc lộ những nét tâm lý sâu sắc, phức tạp, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh nội tâm của ông khi đối diện với tin làng theo giặc.
Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân là một tác phẩm đặc sắc, không chỉ thành công trong việc khắc họa hình ảnh người nông dân Việt Nam với tình yêu làng, lòng yêu nước mà còn mang đến cho người đọc những cảm xúc chân thật về cuộc sống, tâm trạng của những con người trong thời kháng chiến. Nhân vật ông Hai với những diễn biến tâm lý phức tạp, sống động đã trở thành biểu tượng cho tinh thần yêu nước và trung thành với cách mạng của người dân Việt Nam.
Tác phẩm không chỉ phản ánh bức tranh về tình cảm quê hương, đất nước mà còn khắc họa thành công hình ảnh người nông dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Kim Lân đã tạo nên một tác phẩm đậm đà tính nhân văn, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 4
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã xây dựng thành công hình ảnh những con người Việt Nam kiên cường, bất khuất với một tinh yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu nặng. Bên cạnh hình ảnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên mặt trận còn có những con người hi sinh lặng thầm nơi hậu phương đế góp phần vào thắng lơi của kháng chiến. Đó là những người nông dân có lòng yêu nước thiết tha, bình dị, sâu sắc. Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh nhân vật ông Hai - một người nông dân chân chất nhưng mang nặng tình yêu làng và lòng yêu quê hương, có tinh thần kháng chiến mạnh mẽ.
Phải đi tản cư do làng bị địch chiếm đóng nhưng ông lại không lúc nào nguôi nỗi nhớ về làng mình. Đó là nỗi nhớ da diết của một con người cả đời gắn bỏ sâu nặng với mảnh đất nơi mình sinh ra, lớn lên. Tình yêu ấy được Kim Lân cảm nhận một cách sâu sắc và thể hiện hết sức giản dị, chân thành.
Những ai đã đọc Làng đều cảm nhận được ở ông Hai tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với làng xóm, với quê hương. Đối với người nông dân chất phác ấy, tình cảm với làng quê, thôn xóm là tình cảm tự trong tim, ngấm sâu vào máu thịt. Cũng như bao người dân lao động khác, cả một đời ông Hai gắn bó với mảnh đất quê nghèo mà nặng sâu ân tình. Cái làng Chợ Dầu ấy đã trở thành nguồn vui sống của ông. Tác giả đã để cho ông Hai bộc lộ tình yêu đó một cách chân thật, nồng nhiệt, vừa có những nét quen thuộc vừa có những nét riêng biệt chỉ có ở ông Hai. Yêu làng, ông yêu tất cả những gì thuộc về làng, thậm chí yêu cả những cái mà ông và biết bao người đã phải khổ sở vì nó. Ông Hai tự hào vì làng Chợ Dầu của ông có những ngôi nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hat thóc đất... Ông tự hào về tất cả những nét độc đáo, những thứ đả làm nên bề dày lịch sử của làng ông.
Nhưng tình yêu làng của người nông dân ấy không bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo sự biến chuyển của thời đại. Kháng chiến nổ ra mang theo những luồng tư tưởng mới chiếu rọi tâm hồn ông. Giờ đây, đối với ông Hai, cái lăng cụ Thượng, cái sinh phần kia đều đáng căm thù; niềm tin về làng là những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quán sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vào gậy tham gia; những hố, những ụ, những hào, chòi phát thanh. Tất cả những điều đó, từ những cái nhỏ nhặt cho đến điều lớn lao, đều trở thành đối tượng của tình yêu tha thiết, đậm sâu trong ông. Qua những lời khoe của ông Hai, ta có cảm tưởng như cảnh vật, làng xóm đã hằn in trong ông chiếm trọn con tim, khối óc người nông dân ấy.
Yêu làng, ông Hai có nhu cầu thể hiện, thổ lộ tình yêu ấy với tất cả mọi người. Đi đến đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Ông say sưa kể về làng của mình mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Mỗi khi bắt đầu nói về làng, “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mắt biến chuyển”. Chỉ một chi tiết ấy thôi, Kim Lân đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng của ông Hai dành cho mảnh đất quê mình. Tình yêu ấy luôn ấm nóng trong trái tim ông và càng trở nên mạnh mẽ hơn khi ông phải xa làng. Trong những ngày xa quê, sống nơi sơ tán xa lạ. chính tình yêu làng đã trở thành sức mạnh trong ông. Những khi mệt nhọc, chỉ cần nghĩ về làng, kể chuyện làng là ông quên hết tất cả.
Nếu như cuộc sống cứ diễn ra yên bình như thế thì tình yêu làng của ông Hai mới chỉ là “tâm lí làng xã” của những người dân quê Việt Nam - những con người cả đời gắn bó với luỹ tre, cây đa, bến nước, sân đình; yêu nơi “chôn rau cắt rốn” bằng một tình yêu bản năng, máu thịt. Kim Lân đã để cho nhân vật trải qua tình huống truyện độc đáo: ông Hai nghe tin làng theo Tây. Đây chính là tác nhân làm bùng nổ tình yêu nước thiết tha, sâu đậm của ông. Ở người nông dân ấy, tình yêu làng gắn liền với lòng yêu nước: Ta bắt gặp ở đây chân lí về cội nguồn của lòng yêu nước theo quan điểm của nhà văn Liên Xô (cũ) I. Ê-ren-bua: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất... Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”'.
Nghe tin làng theo giặc, “cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, ông lão lảng đi, tưởng như không thể thở được”. Trong ông đã diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt: ông tủi nhục, đớn đau, ông tự giày vò, ông hoài nghi rồi lại tự nhủ mình phải tin vì mọi chuyện đã hết sức rõ ràng. Cuốì cùng, ông cay đắng rít lên: “Chúng bay ăn miệng cơm hay ăn miệng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này...”. Tiếng rít ấy là tiếng nói của lòng căm hờn, sự căm giận đang ngùn ngụt trong lòng ông Hai. Trong ông đang có cuộc giằng co dữ dội: Ông yêu làng, làng ông đáng tự hào là thế, mà giờ lại theo Tây. Tình cảm của ông phải thế nào đây? Nhưng sự giằng co ấy nhanh chóng đi đến kết luận: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì ta phải thù”. Một thái độ dứt khoát, một tình yêu mạnh mẽ nhưng không mù quáng. Tình yêu làng trong ông rất mãnh liệt, nhưng làng phải gắn với nước. Giờ đây, làng Chợ Dầu của ông theo Việt gian, tức là hại nước, hại cách mạng thì không thế yêu làng như xưa được nữa. Niềm đau, sự oán trách cũng như thái độ kiên quyết... tất cả, tất cả đều là biểu hiện sống động nhất của tình yêu nước trong ông Hai.
Những diễn biến trong cảm xúc, tâm trạng, những suy nghĩ và cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt của ông Hai trong những ngày nghe tin làng theo Tây chính là tình huống giúp Kim Lân khắc họa rõ nét hơn bức chân dung tinh thần và lòng yêu nước sâu nặng, tình yêu làng tha thiết của ông Hai. Ông thấy tủi hổ vì niềm tự hào bấy lâu nay của ông giờ thành ra như thế. Ông chỉ biết “cúi gằm mặt xuống mà đi”, ông thương lũ con ông vì chúng có một quê hương đáng xấu hổ: “nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu”. Suốt những ngày đó, ông không dám đi đâu, chỉ “nằm rũ ở trên giường, không nói gì”, “quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội mà nghe ngóng”, lúc nào cũng nơm nớp lo âu. Ta bỗng hiểu hơn tại sao tác giả lại kể và tả tỉ mỉ những biểu hiện của tình yêu làng nơi ông Hai những ngày làng còn chưa bị đồn là theo Tây. Nó là sự đối nghịch với thái độ kiên quyết khi nghe tin làng làm Việt gian, là sự khẳng định mạnh mẽ tình yêu nước lớn lao trong ông. Tình yêu ấỵ không chỉ là bản năng mà đã trở thành ý thức của một công dân. Nó gắn liền với tình cảm dành cho kháng chiến và đối với Cụ Hồ, được thể hiện thật cảm động khi ông giãi bày tâm sự với đứa con út ngây thơ.
Niềm vui sướng vỡ òa khi ông Hai biết rằng làng mình vẫn là làng Kháng chiến. Không còn nỗi tủi nhục đè nặng trong lòng, ông lại tiếp tục khoe về làng Chợ Dầu anh dũng của mình, “lại ngồi, trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái Làng của ông”. Người nông dân vốn gắn bó với nhà cửa ruộng vườn... Phải bỏ nhà ra đi họ đã xót xa lắm, ông Hai cũng thế. Nhưng ta lại bắt gặp hình ảnh ông Hai tất bật đi khoe cái tin “Tây nó đốt hết nhà tôi rồi, hết hẳn”, ông sung sướng bởi việc Tây đốt nhà là biểu hiện của làng ông trong sạch, làng ông không làm Việt gian. Làng vẫn là tình yêu, là niềm tự hào tha thiết của ông Hai. Nhà ông bị đốt hết nhưng như thế có là gì. Đó chỉ là một phần ông cống hiến cho đất nước. Tài sản riêng mất mát nhưng cách mạng, đất nước sẽ vững mạnh hơn, đó mới thực sự là niềm vui, là hạnh phúc.
Tình yêu làng, yêu nước, hòa quyện trong tâm hồn người nông dân mộc mạc, chất phác thật đẹp biết bao. Làng của Kim Lân là một khúc ca về tình yêu quê hương đất nước mà những người lao động nghèo là những thanh âm trong trẻo, réo rắt nhất, để lại bao dư âm lắng đọng trong lòng độc giả.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 5
Kim Lân là nhà văn hiện đại có một vốn sống vô cùng sâu sắc về nông thôn Việt Nam. Những thú chơi dân dã mang cốt cách “phong lưu đồng ruộng” như thả diều, chọi gà, nuôi chó săn, thả chim bồ câu, chơi núi non bộ, gánh hát chèo, trẩy hội mùa xuân, ... được ông viết rất hay và cho ta nhiều điều thú vị. Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc mang hương đồng gió nội qua hai tác phẩm “Con chó xấu xí” và “Nên vợ nên chồng”. Viết về đề tài nông dân và kháng chiến, truyện “Làng” của Kim Lân thành công hơn cả. Nhân vật chính của truyện là ông Hai đã để lại trong lòng độc giả nhiều ấn tượng sâu sắc và đẹp đẽ.
Cũng như hàng triệu người nông dân khác, ông Hai là một lão nông cần cù, chất phác, đáng yêu và giàu lòng yêu quê hương đất nước. Ông gắn bó với cách mạng, quyết tâm đi theo kháng chiến, trung thành tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Cụ Hồ Chí Minh. Ông hay lam hay làm, “ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay”. Đi cày, đi cuốc, gánh phân, tát nước, đan rổ, đan rá, ... ông đều làm khéo, làm giỏi.
Ông Hai đã sống qua hai chế độ, trước kia ông mù chữ, sau nhờ Cách mạng mà ông được học “Bình dân học vụ” và biết đánh vần. Kim Lân đã kể rất hay về tình yêu làng của ông Hai. “Làng ta phong cảnh hữu tình”... không yêu làng sao được? Cái làng Dầu vốn là nơi chôn nhau cắt rốn của ông, “nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh", “đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân”... Ông Hai yêu làng mình với tất cả tấm lòng của một người dân quê chất phác.
Trước kia, ông Hai rất lấy làm tự hào về cái sinh phần quan tổng đốc làng ông. Đi đâu ông cũng khoe, gặp ai ông cũng khoe “cái dinh cơ cụ thượng làng tôi có lăm lắm là của. Vườn hoa cây cảnh nom như động ấy...”. Ông yêu làng Dầu với tất cả sự hồn nhiên, ngây thơ của người ít học. Ông đã mang thương tật trên mình khi bị bắt làm phu xây cái lăng ấy! Đáng lẽ ông không nên khoe! Nỗi đau, nỗi nhục của một đời người nói làm gì nữa cho thêm phần nhục nhã? Nhắc lại chuyện xưa cũ ấy của ông Hai, Kim Lân đã viết với một giọng văn châm biếm nhẹ nhàng. Từ ngày cách mạng thành công, ông Hai vẫn yêu làng, yêu với tất cả tình cảm trong sáng, chân thành. Ông đã có nhiều thay đổi về mặt nhận thức. Ông không bao giờ còn “đả động” đến “cái sinh phần" ấy nữa, ông biết “thù nó” đến tận tim gan. Ông yêu cái làng Dầu kháng chiến với tất cả niềm kiêu hãnh cao cả!
Cái làng Dầu của ông “có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy”. Ông khoe làng mình “những ngày khởi nghĩa rầm rập”, các cụ phụ lão râu tóc bạc phơ vác gậy đi tập quân sự, nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì lắm công trình không để đâu hết!". Có thể nói, từ ngày đi tản cư phải xa làng thân yêu, bao nỗi buồn vui của quá khứ và hiện tại chứa chất trong lòng ông bao tâm sự. Dưới ngòi bút của Kim Lân, ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước, hiền lành, chất phác... hiện lên một cách chân thực, ta thấy gần gũi, bình dị và đáng yêu lắm. Tình yêu làng, tình yêu quê hương là một trong những tình cảm sâu sắc nhất của người dân cày Việt Nam.
Quyết tâm kháng chiến, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chủ tịch cũng là một nét rất đẹp trong tư tưởng, tình cảm của ông Hai. Kháng chiến thì khắp nơi. Ruộng rẫy là chiến trường. “Cuốc cày là vũ khí. Nhà nông là chiến sĩ!”. Vợ con đi tản cư, nhưng ông Hai vẫn ở lại cùng với đội du kích “đi đào đường đắp ụ” để bảo vệ cái làng Dầu thân yêu. Khi hoàn cảnh gia đình neo bấn, vợ con thúc bách, cực chẳng đã phải xa quê hương, ông tự an ủi mình: “Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được thì tản cư âu cũng là kháng chiến!”. Xa làng rồi nhớ làng, tính nết ông Hai có phần thay đổi. Ông ít nói ít cười, lầm lầm lì lì, thậm chí cáu gắt, chửi bới vợ con. Ông vô cùng đau khổ: “Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!”. Chúng ta cảm thông với “tâm sự” u uẩn của ông, thương ông lắm!
Trong lúc ông Hai đang hồ hởi với những chiến tích kháng chiến, những gương dũng cảm anh hùng của quân và dân ta thì ông như bị sét đánh về cái tin "dữ" cả làng Dầu “Việt gian theo Tây”, “vác cờ thần ra hoan hô” lũ giặc cướp! Ông tủi nhục cúi gằm mặt mà đi, nằm vật ra giường như bị ốm nặng, nước mắt cứ tràn ra, có lúc ông chửi thề một cách chua chát! Ông sống trong bi kịch triền miên. Vợ con vừa buồn vừa sợ. “Gian nhà lặng đi, hiu hắt”. Ông sợ mụ chủ nhà... có lúc ông nghĩ quẩn hay là quay về làng… nhưng rồi ông lại kiên quyết: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. Kim Lân rất sâu sắc và tinh tế miêu tả những biến thái vui, buồn, lo, sợ... của người nông dân về cái làng quê của mình. Họ đã yêu làng trong tình yêu nước, đặt tình yêu nước lên trên tình yêu làng. Đó là mộl bài học vô cùng quý giá và sâu sắc của ông Hai đem đến cho mỗi chúng ta!
Cuộc đối thoại giữa hai bố con ông Hai là một tình tiết cảm động và thú vị:
... - À, thầy hỏi con nhé. Thế con ủng hộ ai?
Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!
Nghe con ngây thơ nói mà nước mắt ông chảy ròng ròng trên hai má... Lòng trung thành của cha con ông, của hàng triệu nông dân Việt Nam đối với lãnh tụ là vô cùng sâu sắc, kiên định, vẻ đẹp tâm hồn ấy của họ rất đáng tự hào, ngợi ca. Vì thế, khi cái tin thất thiệt “cả cái làng Dầu Việt gian theo tây” được cải chính thì ông Hai là người sung sướng nhất. Ông “tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”, “mồm bỏm bẻm nhai trầu cặp mắt hung hung đỏ ...”. Ông mua quà cho con. Ông chạy sang nhà bác Thứ để “khoe” cái tin làng Dầu đánh giặc, nhà ông bị Tây đốt. Tự hào lắm chứ! Người đọc như được san sẻ niềm vui sướng cùng ông.
Gấp trang sách lại, chúng ta bồi hồi xúc động về tình yêu làng của ông Hai, về nghệ thuật kể chuyện tạo tình huống hấp dẫn, hồi hộp của nhà văn Kim Lân. Những phẩm chất tốt đẹp của ông Hai như cần cù lao động, chất phác, yêu quê hương đất nước... tiêu biểu cho bản chất cao quý, trong sáng của người dân cày Việt Nam. Chính họ đã đổ mồ hôi làm nên những bát cơm đầy dẻo thơm nuôi sống mọi người. Chính họ đã đem xương máu, đánh giặc “giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”... (Thép Mới).
“Quê hương là chùm khế ngọt...” là niềm vui, nỗi buồn, là ước mơ đẹp của mỗi chúng ta. Quê hương đang đổi mới “ngói hóa”, no ấm, giàu có trong thanh bình. Bài học sâu sắc nhất đối với em khi đọc truyện ngắn Làng của Kim Lân là tình yêu quê hươnq đất nước, là lòng tự hào và biết ơn người dàn cày Việt Nam.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 6
Kim Lân là nhà văn trưởng thành từ trước Cách Mạng Tháng 8 với nhiều truyện ngắn nổi tiếng. Nhờ gắn bó với thôn quê từ lâu nên ông khá am hiểu về tính cách, tâm hồn của người nông dân. Điều này đã được ông thể hiện rõ qua truyện ngắn Làng. Truyện ra đời từ năm 1948 trong những ngày đầu của cuộc chiến chống thực dân Pháp. Nội dung chính của truyện xoay quanh nhân vật ông Hai và câu chuyện về làng chợ Dầu. Thông qua đó, chúng ta sẽ cảm nhận được nét đẹp về tính cách, tâm hồn của người nông dân lúc bấy giờ.
Nhân vật ông Hai được xây dựng với niềm tự hào về làng quê. Thế nhưng, ông lại nghe tin làng theo giặc. Tình huống truyện được xây dựng vô cùng đối nghịch với tình cảm mãnh liệt của nhân vật. Điều này khác hoàn toàn so với cái suy nghĩ của ông về làng quê với tinh thần cách mạng. Thông qua tình huống ấy, chúng ta sẽ thấy được diễn biến tâm trạng của nhân vật thay đổi có chiều sâu. Đây cũng chính là yếu tố góp phần thử thách lòng yêu làng quê, đất nước của ông Hai.
Tình yêu làng được thể hiện rõ nét qua những ngày ông đi tản cư. Mặc dù xa làng nhưng ông vẫn nhớ về làng, nhớ về con đường, ngõ xóm. Ông yêu tất cả những gì quen thuộc, gần gũi với cái làng chợ Dầu ấy. Tình yêu còn được thể hiện qua niềm hạnh phúc khi được cùng mọi người đào đường, đắp ụ, … Chưa dừng lại ở đó, ông còn luôn theo dõi tin tức về làng mặc dù đang tản cư. Ông đến phòng thông tin để nghe tin tức về cái làng của mình. Nhờ đó mà ông nắm được rất nhiều tin hay như “anh trung đội trưởng sau khi giết được tên giặc đã tự sát bằng quả lựu đạn cuối cùng”, … Những tin tức này khiến ông Hai cảm thấy vui vẻ và náo nức cả lên. Đi đến đâu, ông cũng tự hào và khoe về làng về tinh thần kháng chiến của cái làng chợ Dầu ấy.
Niềm vui về làng quê cách mạng của ông chưa được bao lâu thì lại nhận được cú sốc lớn: Làng chợ Dầu là Việt gian theo Tây. Cái tin này khiến cho mọi mọi thứ trong ông Hai như sụp đổ. Ông vừa bước ra khỏi phòng thông tin thì “lặng người đi, tưởng như đến không thể được”; “Ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi”. Tất cả những từ ngữ được sử dụng vô cùng chân thật để diễn tả sự bất ngờ xen chút đau đớn trong lòng ông Hai. Đây thực sự là cú sốc khiến ông hai rơi vào tột cùng. Những ngày sau đó, ông chỉ ở trong nhà chẳng dám đi đâu cả. Cái giọng của người bà đàn tản cư kia cứ in mãi trong đầu: 'đói khổ ăn cắp ăn trộm, bắt được người ta còn thương chớ cái giống Việt gian bán nước ấy thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.
Hàng ngàn câu hỏi cứ vang lên trong đầu khiến ông giằng xé và đau đớn. Lúc này, nội tâm ông vẫn có sự đối lập. Bởi vì lòng yêu làng quá lớn nên ông không tin vào điều đó. Ông trò chuyện với đứa con út để vơi đi nỗi đau. Đồng thời, ông còn khẳng định rõ ràng niềm tin của mình vào cụ Hồ: “Các đồng chí biết cho bố con ông, Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông”. Dù yêu làng quê nhưng vẫn quyết báo thù nếu làng theo Tây. Chính điểm này đã cho chúng ta thấy rõ lý tưởng cách mạng và tình cảm của người nông dân có bước chuyển biến mới.
Tình yêu rõ nét hơn khi nghe tin tức được cải chính. Trải qua bao nhiêu sự đau đớn, giằng xé, ông Hai lại lần nữa phấn khởi hơn khi nghe tin tức được cải chính. Cái làng chợ Dầu của ông không có theo Tây. Ông lại được dịp khoe về làng, tự hào về tinh thần cách mạng của làng. Tình yêu ấy còn thể hiện mạnh mẽ hơn qua chi tiết nhà của ông bị đốt. Mặc dù mất nhà, mất tài sản nhưng ông lại rất vui. Thông qua diễn biến tâm lý đặc sắc của ông Hai, chúng ta sẽ cảm nhận sâu sắc tình yêu với làng quê, đất nước. Ông tự hào, đau đớn và rồi vui sướng qua mỗi giai đoạn, hoàn cảnh thực tế.
Đọc truyện Làng, ta cảm nhận được giá trị nghệ thuật đặc sắc mà tác giả sử dụng. Ngôn ngữ vô cùng gần gũi mang đậm tính khẩu ngữ. Đây đều là những lời ăn tiếng nói quen thuộc của người nông dân. Đi kèm với đó là những lời nói trần thuật mang giọng điệu và sắc thái ấn tượng. Nghệ thuật đắt giá nhất chính là diễn biến tâm lí nhân vật qua lời nói, độc thoại, ý nghĩ và hành vi.
Qua Làng, người đọc cảm nhận được sâu sắc tình yêu làng quê, đất nước của những người nông dân, mà trong đó ông Hai là nhân vật đại diện tiêu biểu. Người nông dân với tình cách chất phác, thật thà chỉ luôn một lòng hướng về quê hương và sẵn sàng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Đồng thời, qua tác phẩm chúng ta còn hiểu rõ hơn về tài năng của Kim Lân. Ông không chỉ thành công trong việc xây dựng nhân vật mà còn thấu hiểu và đồng cảm cùng người nông dân. Chính ông cũng rất yêu nước, thương dân nên mới cho ra đời được tác phẩm đặc sắc mang đến nhiều giá trị và ý nghĩa đến vậy.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 7
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là cây bút chuyên viết về người nông dân với những trang văn giản dị mà sâu sắc. Truyện ngắn Làng là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện chân thực và cảm động tình yêu làng quê gắn liền với lòng yêu nước của người nông dân trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã khắc họa thành công sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của người nông dân: từ tình yêu làng truyền thống đến tình yêu nước sâu sắc.
Trước hết, ông Hai hiện lên là một người nông dân có tình yêu làng tha thiết và mãnh liệt. Làng Chợ Dầu đối với ông không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà còn là niềm tự hào lớn lao. Đi đâu ông cũng khoe về làng với tất cả sự hãnh diện: nào là làng có đường lát đá, nhà ngói san sát, đặc biệt là tinh thần kháng chiến sôi nổi. Dù phải đi tản cư, sống nơi đất khách quê người, ông vẫn luôn hướng về làng với nỗi nhớ da diết. Ông nhớ những ngày cùng anh em đào hào, đắp ụ, nhớ không khí kháng chiến khẩn trương. Tình yêu làng của ông Hai vì thế không chỉ là tình cảm gắn bó đơn thuần mà còn gắn với niềm tự hào và ý thức trách nhiệm với quê hương.
Tuy nhiên, tình yêu ấy đã bị đặt vào một thử thách nghiệt ngã khi ông nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc. Đây chính là tình huống truyện đặc sắc, làm bộc lộ sâu sắc tâm lý nhân vật. Khi vừa nghe tin, ông Hai như chết lặng: “cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân”. Nỗi đau đớn, xấu hổ khiến ông cúi gằm mặt mà đi, không dám nhìn ai. Về đến nhà, ông sống trong tâm trạng tủi nhục và lo sợ. Ông sợ bị người ta khinh rẻ, sợ bị đuổi đi, sợ các con ông mang tiếng là “Việt gian”. Từ một người vốn thích giao tiếp, ông trở nên lầm lì, chỉ quanh quẩn trong nhà. Nỗi đau ấy không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là nỗi đau danh dự, nỗi đau của một con người gắn bó sâu sắc với quê hương. Qua đó, Kim Lân đã thể hiện rất tinh tế diễn biến tâm lý phức tạp của ông Hai, đồng thời cho thấy tình yêu làng của ông sâu nặng đến nhường nào.
Đặc biệt, trong hoàn cảnh éo le ấy, ông Hai đã có một sự lựa chọn dứt khoát, thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức. Khi bị dồn đến đường cùng, ông đã tự nhủ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Câu nói giản dị mà dứt khoát ấy đã thể hiện rõ ràng sự chuyển biến trong tư tưởng của người nông dân. Tình yêu làng của ông không còn là thứ tình cảm mù quáng mà đã gắn bó chặt chẽ với lòng yêu nước. Ông đặt lợi ích của đất nước, của kháng chiến lên trên tình cảm cá nhân. Đây chính là vẻ đẹp cao quý của người nông dân Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến: biết hi sinh tình cảm riêng để hướng tới cái chung lớn lao.
Niềm vui của ông Hai vỡ òa khi tin làng theo giặc được cải chính. Khi nghe tin làng mình không theo Tây, ông vui sướng đến tột độ. Ông chạy đi khắp nơi khoe tin, gương mặt rạng rỡ hẳn lên. Thậm chí, ông còn khoe cả việc “nhà ông bị Tây đốt”, bởi đó là minh chứng cho sự trong sạch của làng, cho tinh thần kháng chiến kiên cường. Niềm vui ấy cho thấy danh dự của làng đã được khôi phục, đồng thời giải tỏa mọi đau khổ, dằn vặt trong lòng ông. Qua đó, ta càng hiểu rõ hơn tình yêu làng và lòng yêu nước hòa quyện làm một trong con người ông Hai.
Không chỉ thành công về nội dung, truyện ngắn Làng còn đặc sắc về nghệ thuật. Kim Lân đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo, giàu kịch tính. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, chân thực, đặc biệt là diễn biến nội tâm của ông Hai. Ngôn ngữ truyện giản dị, mang đậm màu sắc nông thôn, góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật.
Tóm lại, Làng là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, đã khắc họa chân thực và cảm động hình ảnh người nông dân Việt Nam trong kháng chiến. Qua nhân vật ông Hai, nhà văn đã gửi gắm một chân lý sâu sắc: tình yêu làng quê chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn liền với tình yêu Tổ quốc. Tác phẩm vì thế không chỉ có giá trị hiện thực mà còn mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc, để lại ấn tượng bền lâu trong lòng người đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 8
Kim Lân là nhà văn có duyên nợ với nông thôn. Ông am hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lý của những người chân lấm tay bùn. Viết về đề tài người nông dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp, truyện ngắn Làng (1948) nổi lên như một tác phẩm xuất sắc nhất. Qua nhân vật ông Hai, Kim Lân đã khắc họa một cách cảm động và chân thực sự chuyển biến trong nhận thức của người nông dân: Tình yêu làng quê giờ đây đã hòa quyện, thống nhất với tình yêu đất nước và tinh thần kháng chiến.
Mở đầu tác phẩm, người đọc gặp một ông Hai đầy sức sống với niềm tự hào vô bờ bến về làng Chợ Dầu của mình. Dù phải đi tản cư, lòng ông lúc nào cũng hướng về quê hương. Ông có cái tính “khoe làng” rất đặc biệt. Ông khoe về sự sầm uất, về tinh thần cách mạng và những hố chông, ụ giao thông hào của làng mình. Niềm tự hào ấy cho thấy tình cảm của ông với làng vẫn mang nặng tâm lý cục bộ của người nông dân truyền thống: Coi làng mình là nhất, là niềm hãnh diện duy nhất của bản thân.
Tuy nhiên, giá trị nhân đạo và cái nhìn mới mẻ của Kim Lân nằm ở cách ông đặt nhân vật vào một tình huống ngặt nghèo: Tin làng Chợ Dầu theo giặc làm Việt gian. Khi nghe tin này từ những người tản cư mới lên, ông Hai rơi vào một cơn địa chấn tâm lý. Cái tin ấy như một gáo nước lạnh tạt vào niềm kiêu hãnh của ông. Kim Lân đã miêu tả rất tinh tế: “Cổ ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân. Ông lặng đi, tưởng như đến không thở được”. Sự đau đớn ấy không chỉ là nỗi hổ thẹn với bà con mà còn là sự đổ vỡ của một niềm tin sắt đá.
Những ngày sau đó, ông Hai sống trong sự ám ảnh và tuyệt vọng. Ông không dám bước chân ra khỏi nhà, cứ nghe thấy tiếng xì xào là ông lại thon thót, nơm nớp lo sợ người ta đang bàn tán về cái làng “phản bội” của mình. Sự đấu tranh nội tâm diễn ra dữ dội khi bà chủ nhà có ý định đuổi gia đình ông đi vì họ là người của làng theo Tây. Trong phút giây bế tắc nhất, ông Hai đã đưa ra một lựa chọn mang tính lịch sử: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Đây chính là bước ngoặt quan trọng trong tư duy của người nông dân. Tình cảm riêng tư dành cho nơi chôn rau cắt rốn giờ đây đã nhường chỗ cho tình yêu Tổ quốc rộng lớn. Lòng trung thành với cụ Hồ, với kháng chiến đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của ông.
Càng xúc động hơn khi ông Hai trò chuyện cùng đứa con út - cu Húc. Những lời ông nói với con thực chất là lời tự nhủ với lòng mình, là lời thề thủy chung với cách mạng. Dù có rơi vào cảnh khốn cùng, ông vẫn muốn con ghi nhớ: “Nhà ta ở làng Chợ Dầu”, và quan trọng hơn cả là “Ủng hộ cụ Hồ Chí Minh”. Lòng yêu nước của ông Hai không cần những triết lý cao siêu, nó mộc mạc và chân thành như chính tâm hồn của ông.
Đỉnh điểm của cảm xúc là khi tin đồn được cải chính. Khi biết làng mình vẫn kiên cường chống giặc, ông Hai như được hồi sinh. Chi tiết ông đi khoe với mọi người rằng: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn!” là một chi tiết đầy kịch tính và ý nghĩa. Bình thường, ngôi nhà là tài sản lớn nhất của người nông dân, nhưng ông Hai lại sung sướng khi nhà mình bị cháy. Bởi lẽ, sự cháy trụi của ngôi nhà là minh chứng hùng hồn nhất cho việc làng ông không theo giặc, là bằng chứng cho sự hy sinh của gia đình ông cho kháng chiến.
Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo, ngôn ngữ nhân vật đậm chất nông dân và cách xây dựng tình huống truyện độc đáo, Kim Lân đã xây dựng thành công hình tượng ông Hai – đại diện tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong kháng chiến.
Truyện ngắn Làng không chỉ là bài ca về tình yêu quê hương đất nước mà còn khẳng định một chân lý: Khi lòng yêu làng hòa quyện cùng lòng yêu nước, nó sẽ tạo nên một sức mạnh tinh thần vô địch, giúp con người vượt qua mọi nghịch cảnh để hướng tới tự do và độc lập. Tác phẩm xứng đáng là một viên ngọc sáng trong nền văn học hiện đại Việt Nam.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 9
Kim Lân được biết đến là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam thời hiện đại. Ông viết nhiều, viết hay về đề tài người nông dân và cảnh sắc làng quê Bắc Bộ với một tình cảm vừa chân thực, vừa sâu lắng. Trong số những sáng tác của ông, truyện ngắn Làng được xem là một trong những thành công nhất, ra đời trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bằng việc xây dựng một tình huống truyện độc đáo và khắc họa tinh tế diễn biến tâm lý nhân vật, Kim Lân đã đặt ra và giải quyết một vấn đề lớn: tình yêu làng quê và lòng yêu nước thống nhất làm một trong tâm hồn người nông dân Việt Nam. Tác phẩm không chỉ là bức tranh sinh động về đời sống tinh thần của người nông dân trong kháng chiến mà còn là bài ca về tình cảm thiêng liêng đối với quê hương, đất nước.
Trước hết, Làng thành công ngay từ tình huống truyện đặc sắc, giày vò nội tâm nhân vật. Điểm đặc biệt của truyện ngắn này là Kim Lân đã đặt nhân vật vào một hoàn cảnh thử thách vô cùng gay gắt. Ông Hai – một người nông dân yêu làng Chợ Dầu tha thiết – phải rời làng đi tản cư. Xa làng, ông luôn nhớ về làng với nỗi nhớ da diết. Thế rồi, bất ngờ ông nghe được tin đồn khủng khiếp: “Làng Chợ Dầu theo giặc làm Việt gian”. Đây là một cú sốc tinh thần lớn lao, khiến ông rơi vào bi kịch nội tâm sâu sắc. Giữa một bên là tình yêu làng nồng nàn, máu thịt và một bên là lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng, với kháng chiến, ông Hai phải đứng trước sự lựa chọn: còn yêu làng hay không khi làng có thể đã phản bội Tổ quốc? Tình huống ấy đã tạo ra xung đột nội tâm kịch tính, qua đó bộc lộ những phẩm chất sâu kín, cao đẹp nhất trong tâm hồn người nông dân. Có thể nói, không có tình huống này, nhân vật ông Hai khó có thể tỏa sáng và câu chuyện khó có thể đạt được chiều sâu tư tưởng như vậy.
Nhân vật ông Hai chính là thành công lớn nhất của truyện, là nơi hội tụ và tỏa sáng những phẩm chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trong thời kháng chiến. Trước hết, ông Hai là người có tình yêu làng sâu sắc, tha thiết. Với ông, làng Chợ Dầu không chỉ là nơi chôn rau cắt rốn mà còn là niềm tự hào vô bờ. Khi xa làng đi tản cư, ông “nhớ cái làng quê của ông da diết”. Ông nhớ từng cảnh vật, từng con người, nhớ cái “nhà ngói san sát sầm uất như tỉnh”, nhớ cây đa, bến nước, mái đình. Niềm tự hào ấy được ông thể hiện qua những lần khoe về làng với mọi người xung quanh, kể cả với đứa con nhỏ. Mỗi lần như vậy, mắt ông sáng lên, giọng nói trở nên hào hứng như muốn truyền cho người khác tình cảm thiêng liêng mà ông dành cho làng. Tình yêu ấy vừa cụ thể, vừa thiêng liêng, đã ngấm sâu vào máu thịt, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời ông.
Không chỉ dừng lại ở tình yêu làng, ông Hai còn là người nông dân có lòng yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với cách mạng và Cụ Hồ. Ông tin tưởng vào cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc, vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã chọn. Niềm vui lớn nhất của ông là mỗi khi nghe được tin thắng trận, hay tự hào khoe về những đóng góp của làng mình cho kháng chiến. Chính sự kết hợp hài hòa giữa tình yêu làng và lòng yêu nước đã tạo nên vẻ đẹp nhân cách ở ông Hai. Ông không chỉ yêu làng bằng tình cảm tự nhiên, máu thịt mà còn yêu làng trong mối quan hệ với vận mệnh chung của đất nước. Làng đẹp là làng kháng chiến, làng trung thành với Cụ Hồ.
Đặc biệt, khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông Hai đã rơi vào một bi kịch nội tâm đau đớn tột cùng. Ông đau đớn vì làng mình bị coi là làng Việt gian, tủi hổ vì mang tiếng là “người làng Việt gian”. Ông không dám ra ngoài, không dám nói chuyện với ai vì sợ người ta khinh bỉ. Cõi lòng ông giằng xé dữ dội giữa yêu làng và căm thù bọn phản bội. Và rồi, từ trong nỗi đau ấy, một nhận thức sâu sắc vụt sáng lên: “Làng yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”. Câu nói ấy đã cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của người nông dân: tình cảm riêng tư, dù thiêng liêng đến đâu, cũng phải đặt dưới nghĩa lớn của Tổ quốc. Đỉnh cao của bi kịch là khi ông tâm sự với đứa con nhỏ, vừa như để trút nỗi lòng, vừa như một lời thề dứt khoát: “Thì thôi, cha mẹ ạ!... Làng yêu thật, làng theo Tây thì ta phải thù”. Sẵn sàng từ bỏ tình cảm thiêng liêng nhất của đời mình để giữ lòng trung với nước – đó là một sự hy sinh lớn lao, thể hiện phẩm chất cao đẹp của người nông dân mới trong thời đại Hồ Chí Minh.
Và khi nghe tin cải chính: “Làng Chợ Dầu không theo giặc, làng vẫn một lòng một dạ theo kháng chiến”, ông Hai như sống lại. Niềm vui vỡ òa trào dâng, ông chạy đi khoe khắp nơi, khoe một cách hồn nhiên, sung sướng như đứa trẻ được trả lại món đồ quý giá. Lúc này, tình yêu làng và lòng yêu nước trong ông lại được hòa hợp một cách trọn vẹn, viên mãn. Ông hạnh phúc vì làng mình vẫn trong sạch, vẫn xứng đáng để ông yêu thương và tự hào. Có thể nói, từ đau khổ đến hạnh phúc, từ giằng xé đến thanh thản, tất cả những cung bậc cảm xúc ấy đã tạo nên một bức chân dung tâm hồn sống động và chân thực về người nông dân Việt Nam.
Bên cạnh nội dung sâu sắc, Làng còn chinh phục người đọc bằng những đặc sắc nghệ thuật. Tác phẩm là một bản cáo trạng xuất sắc về nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật. Kim Lân tập trung khai thác thế giới nội tâm nhân vật qua các hình thức độc thoại nội tinh tế. Những lời ông Hai độc thoại với chính mình, với đứa con nhỏ (nghe như nói với chính mình) đã bộc lộ một cách chân thực, không giấu giếm những dằn vặt, đau khổ và lựa chọn của nhân vật. Diễn biến tâm lý của ông Hai từ tự hào sang đau khổ, từ đau khổ sang xấu hổ, rồi sang giận dữ, căm thù và cuối cùng là vỡ òa hạnh phúc – tất cả đều được miêu tả rất tự nhiên, hợp lý và thuyết phục. Đặc biệt, ngôn ngữ nhân vật vô cùng đặc sắc. Ông Hai nói năng mộc mạc, giản dị, đậm chất nông dân Bắc Bộ. Lời kể chuyện cũng linh hoạt, đôi khi hòa vào lời nhân vật, tạo nên giọng điệu vừa chân thực, vừa giàu cảm xúc. Tất cả những yếu tố nghệ thuật ấy đã góp phần làm nên thành công của tác phẩm.
Tóm lại, truyện ngắn Làng của Kim Lân là một viên ngọc quý trong kho tàng văn xuôi Việt Nam thời kháng chiến. Bằng một tình huống truyện độc đáo, nghệ thuật miêu tả tâm lý sâu sắc và ngôn ngữ nhân vật chân thực, Kim Lân đã khắc họa thành công hình ảnh người nông dân Việt Nam trong buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Qua nhân vật ông Hai, tác phẩm khẳng định một chân lý giản dị mà lớn lao: tình yêu làng quê, yêu máu thịt nơi chôn rau cắt rốn không hề đối lập mà trái lại, luôn gắn bó máu thịt với tình yêu đất nước. Trong tâm hồn người nông dân Việt Nam, làng và nước, quê hương và Tổ quốc là một. Làng xứng đáng là một trong những truyện ngắn hay nhất viết về đề tài người nông dân và cuộc kháng chiến của dân tộc, để lại trong lòng người đọc nhiều thế hệ những rung động sâu sắc và bài học quý giá về tình yêu quê hương, đất nước.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Làng - mẫu 10
Nếu phải chọn ra một nhân vật điển hình cho sự chuyển mình của nông thôn Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám, có lẽ không ai xứng đáng hơn ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Tác phẩm không chỉ đơn thuần kể về tình yêu quê hương, mà còn là một bản phân tích tâm lý sâu sắc về sự “lột xác” từ một người dân làng thuần túy trở thành một công dân yêu nước, đặt vận mệnh dân tộc lên trên tư tưởng cục bộ địa phương.
Sức hấp dẫn của truyện trước hết nằm ở cách Kim Lân xây dựng nhân vật ông Hai với một tình yêu làng đầy “nồng nhiệt” và có phần “ám ảnh”. Ông Hai yêu làng Chợ Dầu bằng một thứ tình cảm bản năng, hồn nhiên. Ông khoe làng không chỉ để tự hào mà còn để khẳng định giá trị bản thân. Tuy nhiên, cái hay của nhà văn là đã đẩy tình cảm ấy vào một “vùng chiến sự" của tâm hồn khi tin đồn làng theo giặc ập đến.
Tình huống truyện chính là một cuộc thử nghiệm nghiệt ngã đối với lòng trung thành. Kim Lân đã cực tả nỗi đau của ông Hai không phải qua những lời gào thét, mà qua những biểu hiện thể xác: cái nhìn hốt hoảng, tiếng cười gượng gạo, và những đêm dài trằn trọc. Nỗi ám ảnh tội lỗi vì là người của một “làng Việt gian” đã đẩy ông vào trạng thái cô lập hoàn toàn. Đây là một chi tiết rất đắt: đối với người nông dân, bị đuổi khỏi làng hoặc bị cộng đồng ruồng bỏ là nỗi đau lớn nhất, nhưng ông Hai còn đau đớn hơn vì thấy mình phản bội lại lý tưởng mà mình hằng tin tưởng – lý tưởng về cụ Hồ và cuộc kháng chiến.
Cuộc đấu tranh nội tâm của ông Hai giữa “về làng” hay “ở lại” chính là sự lựa chọn giữa Quyền lợi cá nhân/Địa phương và Vận mệnh quốc gia. Khi ông dứt khoát tuyên bố: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”, đó không còn là lời nói của một lão nông chân chất đơn thuần, mà là lời khẳng định của một chiến sĩ yêu nước. Kim Lân đã chỉ ra rằng: Cách mạng đã thay đổi hoàn toàn hệ giá trị của người nông dân. Tình yêu làng không mất đi, nó chỉ được nâng cấp, trở nên rộng lớn hơn khi hòa vào dòng chảy chung của tình yêu đất nước.
Đặc biệt, nghệ thuật trần thuật của Kim Lân đạt đến độ chín muồi ở phân đoạn cuối. Hình ảnh ông Hai hí hửng đi khoe “Tây nó đốt nhà tôi rồi” dường như là một nghịch lý trớ trêu nhưng lại vô cùng hợp lý trong logic tình cảm của nhân vật. Trong ngọn lửa cháy rụi ngôi nhà ấy, niềm tự hào về làng đã được tái sinh từ đống tro tàn. Sự mất mát về vật chất đã bảo chứng cho sự vẹn nguyên về danh dự.
Nhìn chung, qua truyện ngắn “Làng”, Kim Lân đã thực hiện một cuộc phẫu thuật tâm lý đầy nhân văn. Ông cho chúng ta thấy người nông dân Việt Nam thời kháng chiến không chỉ biết cầm súng, mà họ còn biết đấu tranh và hy sinh những tình cảm thiêng liêng nhất của mình vì đại nghĩa. Tác phẩm vẫn luôn vẹn nguyên giá trị, là nhịp cầu kết nối giữa tình cảm gia đình, làng mạc với tình yêu Tổ quốc bao la.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Người trong bao
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Số phận con người
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Số đỏ
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Tắt đèn
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Những ngày thơ ấu
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm truyện: Chiến tranh và hòa bình
Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:
- Giải bài tập Lớp 10 Kết nối tri thức
- Giải bài tập Lớp 10 Chân trời sáng tạo
- Giải bài tập Lớp 10 Cánh diều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 10 Global Success
- Giải Tiếng Anh 10 Friends Global
- Giải sgk Tiếng Anh 10 iLearn Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 10 Explore New Worlds
- Lớp 10 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 10 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - KNTT
- Giải sgk Toán 10 - KNTT
- Giải sgk Vật lí 10 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 10 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 10 - KNTT
- Giải sgk Địa lí 10 - KNTT
- Giải sgk Lịch sử 10 - KNTT
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - KNTT
- Giải sgk Tin học 10 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 10 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - KNTT
- Lớp 10 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 10 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - CTST
- Giải Toán 10 - CTST
- Giải sgk Vật lí 10 - CTST
- Giải sgk Hóa học 10 - CTST
- Giải sgk Sinh học 10 - CTST
- Giải sgk Địa lí 10 - CTST
- Giải sgk Lịch sử 10 - CTST
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - CTST
- Lớp 10 - Cánh diều
- Soạn văn 10 (hay nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - Cánh diều
- Giải sgk Toán 10 - Cánh diều
- Giải sgk Vật lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Địa lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử 10 - Cánh diều
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

