10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (điểm cao)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 1)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 2)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 3)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 4)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 5)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 6)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 7)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 8)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu 9)
- Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (mẫu khác)
10+ Phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới
1. Mở bài
- Giới thiệu được tác phẩm Nắng mới và tác giả Lưu Trọng Lư,
- Nêu cảm nhận, nêu khái quát sơ qua về tác phẩm Nắng mới.
2. Thân bài
- Phân tích lời đề từ “Tặng hương hồn thầy mẹ” và chủ đề tình cảm gia đình trong thơ của Lưu Trọng Lư.
- Phần tích tác phẩm:
a. Hình ảnh nắng mới khơi gợi nguồn cảm xúc về kí ức:
- Hình ảnh làng quê: “nắng mới”, “gà trưa” → đây là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với làng quê Việt Nam.
- Từ “hắt” diễn tả ánh sáng xuyên qua song cửa → gợi không gian hiu hắt, vắng lặng.
- Từ láy “xao xác”, “não nùng” diễn tả âm thanh xao động. Tiếng gà nhấn mạnh sự vắng lặng của không gian, lấy động để tả tĩnh. Cách ngắt nhịp 2/2/3 thể hiện cảm xúc trầm buồn, nhớ thương.
- Kết hợp từ thông thường là “buồn rười rượi” nhưng tác giả đảo từ “rượi” lên trước từ “buồn” nhằm nhấn mạnh nỗi buồn tê tái, khôn nguôi.
- Từ láy “chập chờn” thể hiện những hình ảnh trong quá khứ dần hiện lên trong tâm trí của nhân vật trữ tình.
b. Kí ức về mẹ trong tâm tưởng của nhân vật “tôi”:
- “Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời/ Lúc người còn sống, tôi lên mười”: nhân vật trữ tình trực tiếp bày tỏ nỗi nhớ về mẹ.
- Câu thơ “Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội”: khi nắng mới xuất hiện ngoài đồng nội, mẹ lại phơi áo → Kí ức về mẹ gắn liền với hình ảnh mẹ phơi áo trước giậu mỗi lần nắng mới → Hình ảnh mẹ gắn liền với quê hương.
- “Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ”: khẳng định hình dáng mẹ vẫn luôn hằn sâu trong tâm trí.
- “Hãy còn mường tượng lúc vào ra”: nhớ về bóng dáng mẹ đi lại trong nhà.
- Hai câu thơ “Nét cười đen nhánh sau tay áo, / Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa”: nhân vật trữ tình nhớ về mẹ với nụ cười đen nhánh. Hình ảnh mẹ gắn liền với nắng buổi trưa, gắn liền với căn nhà. Mẹ mang dấu ấn của người phụ nữ Việt Nam xưa với hàm răng đen nhánh, vừa lấp lánh tỏa sáng vừa kín đáo, nhẹ nhàng.
→ Mẹ hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ với đầy đủ nét duyên dáng, hiền từ.
c. Đánh giá về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm nắng mới.
-Về nội dung: tác phẩm nắng mới là một tác phẩm rất hay của nhà thơ Lưu Trọng Lư, nói về một chủ đề tình cảm gia đình giản dị, thân thuộc. Bài thơ này chính là một lời tâm sự của tác giả về tình yêu quê hương và thông qua đó bài tỏ nên nỗi lòng của mình một cách vô cùng tự nhiên. Tất cả đem lại một sự bình dị và mộc mạc trong thơ của Lưu Trọng Lư.
- Về nghệ thuật thì Lưu Trọng Lư sử dụng những từ ngữ rất giản dị, mộc mạc nhưng lại giàu sức gợi. Sự kết hợp một cách xen kẽ giữa quá khứ và hiện tại càng thể hiện rõ nét hơn nữa nỗi nhớ của nhân vật trữ tình về quê hương về người mẹ của mình. Mặc dù sử dụng hình ảnh quen thuộc và gần gữi nhưng lại dễ khơi lên sự đồng cảm cho người đọc
- Liên hệ mở rộng với các tác phẩm khác như tác phẩm Bầm ơi của Tố Hữu.
3. Kết bài
- Khẳng định giá trị của tác phẩm.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 1
Bài thơ Nắng mới là một áng thơ trữ tình sâu lắng, thể hiện tình yêu thương sâu sắc của tác giả dành cho người mẹ đã khuất. Qua hình ảnh “nắng mới”, tác giả gợi lên những kỷ niệm đẹp đẽ về tuổi thơ, về người mẹ hiền hậu, tần tảo.
Tình mẫu tử thiêng liêng: Nắng mới không chỉ là ánh sáng tự nhiên mà còn là biểu tượng cho tình mẫu tử ấm áp. Hình ảnh người mẹ "áo đỏ người đưa trước dậu phơi" trong ánh nắng trưa hè đã khắc sâu vào tâm trí tác giả.
Hoài niệm về quá khứ: Qua những câu thơ, ta cảm nhận được nỗi nhớ da diết của tác giả về một thời đã xa. Ánh nắng mới đã khơi gợi những kỷ niệm đẹp đẽ, êm đềm về tuổi thơ bên mẹ. Nỗi buồn da diết: Dù bài thơ tràn đầy tình yêu thương nhưng vẫn ẩn chứa một nỗi buồn sâu thẳm. Nỗi buồn ấy đến từ sự mất mát người thân yêu, từ những tiếc nuối về một thời đã qua.
Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh: Ngôn ngữ thơ trong sáng, gần gũi với đời sống thường ngày. Hình ảnh thơ sinh động, gợi cảm, tạo nên những bức tranh đẹp về cuộc sống. Âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng: Các câu thơ được viết bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Biện pháp tu từ: Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, điệp ngữ để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. Cảm xúc chân thật: Tình cảm của tác giả được thể hiện một cách chân thật, sâu sắc, khiến người đọc đồng cảm.
Bài thơ Nắng mới là một bức tranh đẹp về tình mẫu tử, về những kỷ niệm tuổi thơ. Tác phẩm đã thành công trong việc truyền tải những cảm xúc chân thật, sâu lắng của tác giả đến người đọc.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 2
Vào những năm 1932 - 1945, phong trào Thơ mới đã thổi vào nền văn học nước nhà một luồng gió mới lạ, đánh thức cả một nền thơ đang “triền miên trong cõi chết”. Một trong số những nhà thơ tiên phong và góp phần làm nên chiến thắng không nhỏ trong phong trào Thơ mới phải kể đến Lưu Trọng Lư. Năm 1939, ông cho ra đời tập thơ đầu tay “Tiếng thu” gây nhiều tiếng vang nhất bởi chất thơ cất lên từ những kỉ niệm thời thơ ấu, về quê hương, dòng sông, cánh diều, ... Trong đó phải kể đến “Nắng mới”, một trong những thi phẩm thành công, nổi bật của phong trào thơ mới.
Bài thơ là hồi ức của tác giả về người mẹ thân yêu của mình, một đề tài không hề mới lạ nhưng vẫn lay động tâm hồn người đọc bởi những xúc cảm chân thành kết hợp với nghệ thuật thơ đặc sắc.
Với tình yêu cái đẹp và tâm hồn nhạy cảm, Lưu Trọng Lư luôn đi tìm kiếm và chắt chiu cái đẹp, từ những vẻ đẹp thanh cao đến bình dị, đời thường. Thiên nhiên trong thơ ông tất thảy đều thi vị và thật nên thơ. Mở đầu bài thơ là hình ảnh quê hương trong vẻ đẹp của nắng mới:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác gà trưa gáy não nùng”
Nắng ở đây không tươi tắn như nắng trong thơ của Hàn Mặc Tử: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. “Nắng mới” ở đây là sự giao thoa giữa ấm và lạnh, nắng và mưa, sáng và tối, khô và ẩm, cũ và mới, dĩ vãng và hiện tại. Lúc này không gian đã chuyển màu sang thời gian, rồi ngược lại thời gian lóng lánh: hắt bên song – biên giới giữa trong nhà và ngoài sân, giữa riêng ta và vũ trụ. Cộng hưởng với ánh nắng soi rọi tiềm thức ấy là tiếng gà trưa xao xác, não nùng. Hai từ láy trong cùng một câu thơ khiến giọng thơ như trầm hẳn xuống, trĩu nặng.
Nhà thơ chập chờn nhớ sống lại kí ức tươi sáng về người mẹ trong những ngày nắng mới:
“Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không”.
Nhớ về thời “dĩ vàng” là nhớ về quá khứ, dù tươi đẹp đến mấy nhưng cũng đã mãi mãi lụi tàn và không thể quay trở lại. Những “ngày không”, có lẽ là những ngày ấu thơ khi tác giả còn nhỏ, được sống cùng mẹ và chưa phải lo nghĩ, vướng bận điều gì.
Từ nỗi nhớ về ngày thơ bé, hình ảnh người mẹ thân yêu, giản dị hiện lên ngày càng rõ nét:
“Tôi nhớ mẹ tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Người mẹ đã không còn nữa, tất cả những gì còn lại chỉ là kỉ niệm nhạt nhòa đọng lại trong tâm trí đứa trẻ lên mười. Cũng là “nắng mới”, nhưng trong quá khứ, nắng không “hắt bên song” mà tràn đầy sức sống, niềm vui “reo ngoài nội” vì ánh nắng đó đến vào những ngày còn mẹ. Từ “reo” như một nốt nhạc bay bổng, lảnh lót, tươi vui giữa một bản nhạc trầm lắng, da diết có phần não nùng. Câu thơ như bừng lên sức sống vui tươi, khác lạ. Trong khổ thơ, hình ảnh mẹ gián tiếp xuất hiện thấp thoáng sau màu áo đỏ, trước giậu phơi. Có lẽ đó chính là hình ảnh thân thuộc nhất đọng lại trong tâm trí người con.
Hình ảnh người mẹ hiền lương - người gắn bó sâu nặng nhất với tác giả, đã chịu biết bao khổ cực trong cuộc sống hiện lên trong những dòng thơ nhẹ nhàng mà đầy cảm xúc. Chi tiết miêu tả ngoại hình của mẹ chỉ xuất hiện trong hai dòng thơ cuối, nhưng đó là hình ảnh đẹp nhất:
“Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa”
Buổi trưa là thời gian ngưng đọng nhất. Lưu Trọng Lư đã đi rất xa về quá khứ để nhớ tỉ mỉ cảnh người mẹ đưa áo ra dậu phơi mỗi khi có nắng mới. Cái nắng mới của hoài niệm này nao nức, tươi vui bởi gắn với một cậu bé lên mười, với một người mẹ trẻ chăm chút, hiền dịu, nụ cười tỏa sáng trên gương mặt. Không gian màu đỏ của nắng và áo trở thành một điểm son trong nỗi nhớ về tuổi thơ của tác giả. Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh “nét cười đen nhánh” để lại dư vị, cảm xúc vấn vương, lan tỏa trong lòng người đọc. Không phải “nụ cười” hay “miệng cười” mà chỉ là “nét cười” - sự kín đáo, nhẹ nhàng và cũng thật nhanh, như chỉ lướt qua chứ chưa kịp đọng lại trên khuôn mặt mẹ. Hình ảnh ấy cũng gợi nhớ đến hình ảnh những cô hàng xén trong thơ Hoàng Cầm:
“Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng”
(Bên kia sông Đuống)
Bài thơ không chỉ hấp dẫn độc giả bởi tình cảm tha thiết, chân thành và nỗi nhớ sâu sắc của người con hướng về người mẹ tần tảo sớm hôm mà còn bởi nghệ thuật, tài năng ngòi bút Lưu Trọng Lư. Nghệ thuật đảo ngữ được nhà thơ sử dụng góp phần làm tăng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ thơ. Giọng điệu thơ giãi bày, bộc bạch những tâm tình sâu kín, chủ thể “tôi” trực tiếp thể hiện những cảm xúc chân thực, lay động lòng người. Ngôn ngữ thơ giản dị, tự nhiên, gần gũi với bạn đọc, ...
Đọc bài thơ, ta càng thấm thía hơn về tình mẫu tử - thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý trong mỗi con người. Bên cạnh những dòng thơ chan chứa tình cảm, cảm xúc về mẹ - người phụ nữ cả đời tần tảo hi sinh của nhà thơ, người đọc còn cảm nhận được sự tinh tế, tâm hồn nhạy cảm của Lưu Trọng Lư trước thiên nhiên, đất trời. Có lẽ bởi vì vậy mà nhiều năm trôi qua nhưng sức sống của bài thơ vẫn tràn đầy, để lại những ấn tượng nhẹ nhàng mà đậm sâu trong lòng độc giả.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 3
Quả thật, tình mẫu tử luôn là thứ tình cảm thiêng liêng, cao cả bởi chỉ bậc cha mẹ mới là người yêu thương chúng ta vô điều kiện. Người mẹ sinh ta ra đời, yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng tâm hồn bé bỏng trở thành những chàng trai, cô gái có ích cho xã hội.
Tình cảm thiêng liêng đó đã được thổi hồn vào những câu văn câu thơ dạt dào cảm xúc, trong đó không thể không kể đến bài thơ “Nắng mới” trích trong tập “Tiếng thu” của nhà thơ Lưu Trọng Lư. Bài thơ nói về nỗi nhớ da diết và tình cảm dâng trào của người con dành cho mẹ mình, nhưng chỉ có thể gặp mẹ trong mơ.
Mở đầu tác phẩm, tác giả đã thể hiện nỗi niềm tiếc thương da diết với mẹ của mình bởi dùng thơ “Tặng hương hồn mẹ”. Mẹ của nhà thơ Lưu Trọng Lư đã rời xa trần thế nhưng tình yêu của bà vẫn còn đọng lại trong tâm trí của tác giả suốt đời. Khổ thơ đầu là khung cảnh thiên nhiên ẩn chứa nỗi nhớ về những kỷ niệm xưa cùng mẹ:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.”
Cứ hễ “nắng mới” lên là một mùa xuân lại đến. Nắng mới đẹp dịu dàng xua tan đi mùa Đông lạnh giá nhưng lại không thể xua tan đi kỷ niệm xưa. Nắng mới hắt bên song cùng tiếng gà gáy trưa như bản nhạc du dương nhẹ nhàng, yên bình. Nhưng chính cái yên bình đó lại làm cho Lưu Trọng Lư “lòng buồn rượi” nhớ về miền ký ức xưa, “chập chờn” sống lại những ngày còn bên mẹ:
“Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”
Nỗi nhớ mẹ lúc này không còn giấu mình trong ánh nắng mới mà được tác giả thổ lộ trực tiếp “Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời”. Kí ức về chắc hẳn vẫn đọng lại rõ nét trong tâm trí của nhà thơ, ông vẫn còn nhớ khi ông lên mười, mẹ vẫn còn sống. Ông vẫn còn nhớ chiếc áo mẹ mặc màu đỏ tươi đang đứng phơi quần áo dưới ánh nắng mới êm dịu, dễ chịu.
Hình bóng mẹ còn được lột tả rõ nét hơn ở khổ thơ thứ hai. Nhà thơ khẳng định rằng hình bóng của mẹ “chưa thể xóa mờ”, nó vẫn luôn hiện hữu như thể mẹ vẫn còn đang sống bên cạnh đứa con của mình. Ông vẫn còn “mường tượng” lúc được mẹ bận rộn với công việc nhà, bận rộn chăm sóc cho ông.
Tuy không có câu thơ nào miêu tả rõ hình dáng của người mẹ nhưng chỉ với “nét cười đen nhánh” đã làm cho ta hình dung được mẹ của nhà thơ chắc hẳn là một người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng, hiền từ. Và có lẽ vì điều đó làm cho nhà thơ nhớ mãi về mẹ, nhớ cả những điều bình dị mẹ “đứng trước giậu phơi”.
“Nắng mới” của Lưu Trọng Lư với những ngôn từ bình dị nhưng đã gợi lên tình yêu tha thiết của người con đối với người mẹ của mình, từ đó ca ngợi tình mẫu tử cao cả, vẻ đẹp của người phụ nữ truyền thống Việt Nam luôn hết lòng vì gia đình.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 4
Trong phong trào Thơ Mới, bên cạnh những tiếng thơ say đắm tình yêu hay khát khao cá nhân, vẫn có những vần thơ lắng sâu, hướng về ký ức và tình thân. Nắng mới của Lưu Trọng Lư là một thi phẩm như thế. Bài thơ không cầu kỳ về hình ảnh, không ồn ào về cảm xúc, mà nhẹ nhàng khơi dậy một nỗi nhớ mẹ da diết, thiêng liêng. Qua dòng hồi tưởng tinh tế, tác giả đã thể hiện tình mẫu tử sâu nặng cùng vẻ đẹp của ký ức tuổi thơ không thể phai mờ.
Mở đầu bài thơ là một khung cảnh quen thuộc, bình dị nhưng giàu sức gợi:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.”
Hình ảnh “nắng mới” không chỉ là ánh nắng đầu ngày mà còn là tín hiệu của thời gian, là chiếc cầu nối giữa hiện tại và quá khứ. Từ “hắt” gợi ánh nắng nhẹ, nghiêng nghiêng, len lỏi qua khung cửa, tạo nên một không gian yên tĩnh, trầm lắng. Trong không gian ấy, âm thanh “gà trưa gáy não nùng” vang lên, vừa quen thuộc vừa gợi buồn. Từ láy “xao xác”, “não nùng” đã diễn tả tinh tế sự rung động của cảnh vật và tâm trạng con người. Chính những yếu tố rất đỗi bình dị ấy đã khơi dậy trong lòng thi sĩ một nỗi buồn man mác, khiến “lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng”. Từ “rượi” diễn tả một trạng thái buồn thấm sâu, lan tỏa, không dồn nén mà nhẹ nhàng nhưng day dứt. Ký ức vì thế hiện lên “chập chờn”, lúc rõ lúc mờ, như một giấc mơ xa xăm mà tha thiết.
Từ dòng hồi tưởng ấy, hình ảnh người mẹ hiện lên đầy xúc động:
“Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Câu thơ mở đầu trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ: “Tôi nhớ mẹ tôi”. Không vòng vo, không ẩn dụ, lời thơ giản dị mà chân thành. Ký ức được xác định rõ ràng về thời gian: “thuở thiếu thời”, “tôi lên mười” – một khoảng thời gian tuổi thơ trong trẻo nhưng cũng đã xa vắng. Đặc biệt, hình ảnh “nắng mới reo ngoài nội” tạo nên một không gian sống động, tràn đầy ánh sáng và âm thanh. Từ “reo” khiến ánh nắng như có linh hồn, vui tươi, rộn rã. Trong khung cảnh ấy, người mẹ hiện lên với hình ảnh “áo đỏ người đưa trước giậu phơi” – một chi tiết rất đời thường mà giàu sức gợi. Màu “áo đỏ” trở thành điểm nhấn ấm áp giữa không gian ký ức, vừa gợi sự tươi tắn, vừa gợi tình yêu thương, sự chăm sóc của mẹ. Hành động “đưa áo phơi” giản dị nhưng chứa đựng cả một trời yêu thương, tảo tần.
Nếu ở khổ thơ trước, hình ảnh mẹ hiện lên qua một khoảnh khắc cụ thể, thì ở khổ thơ cuối, mẹ trở thành một hình bóng in sâu trong tâm trí:
“Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”
Dù thời gian trôi qua, “hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ” – nghĩa là ký ức về mẹ vẫn còn nguyên vẹn, sống động trong lòng người con. Từ “mường tượng” cho thấy ký ức không hoàn toàn rõ nét mà như được tái hiện qua cảm xúc, qua nỗi nhớ. Những chi tiết nhỏ như “lúc vào ra”, “nét cười đen nhánh sau tay áo” lại trở nên vô cùng quý giá. Nụ cười của mẹ không hiện ra trực tiếp mà “sau tay áo”, gợi sự e ấp, dịu dàng, kín đáo – nét đẹp rất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Tất cả hiện lên trong “ánh trưa hè trước giậu thưa” – một không gian quen thuộc, giản dị, đậm chất làng quê.
Khổ thơ cuối không chỉ tái hiện hình ảnh người mẹ mà còn cho thấy sự gắn bó sâu sắc giữa con người với ký ức. Mẹ không chỉ là một con người cụ thể mà đã trở thành một phần của tuổi thơ, của tâm hồn, của những gì thiêng liêng nhất.
Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm phong cách của Lưu Trọng Lư: nhẹ nhàng, tinh tế, giàu cảm xúc. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi; hình ảnh quen thuộc mà chứa đựng chiều sâu. Các từ láy như “xao xác”, “não nùng”, “chập chờn” góp phần tạo nên âm điệu buồn man mác. Đặc biệt, bút pháp hồi tưởng kết hợp với cảm xúc trữ tình đã giúp dòng ký ức hiện lên tự nhiên, chân thật.
Nắng mới không chỉ là một bài thơ hay về tình mẫu tử mà còn là một khúc nhạc buồn về ký ức và thời gian. Qua những hình ảnh giản dị mà ám ảnh, Lưu Trọng Lư đã chạm đến những rung động sâu kín trong lòng người đọc. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân trọng những người thân yêu khi còn có thể, bởi một khi đã mất đi, chỉ còn lại những ký ức “chập chờn” mà không bao giờ có thể quay lại.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 5
Nếu coi phong trào Thơ mới là một cuộc cách mạng về cảm xúc, thì Lưu Trọng Lư chính là một trong những nhà thơ đã đưa cuộc cách mạng ấy vào chiều sâu tâm linh. Thơ ông không ồn ào, không đòi hỏi, mà lặng lẽ như tiếng mưa rơi trên mái hiên, thấm vào lòng người đọc một nỗi buồn mênh mang, khó gọi thành tên. Nắng mới sáng tác nằm trong tập Tiếng thu (1939) không chỉ là một bài thơ về nỗi nhớ mẹ, mà còn là một ám ảnh nghệ thuật về cách con người đối diện với quá khứ qua những tín hiệu mong manh của thiên nhiên.
Ngay từ những dòng đầu tiên, người đọc bị đặt vào một không gian nửa thực nửa mơ:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Có một sự phân thân kỳ lạ trong nhân vật trữ tình. Anh ta đang ở hiện tại – nhìn nắng hắt bên song, nghe tiếng gà trưa xao xác. Nhưng cũng chính anh ta lại đang trôi vào quá khứ, bởi “lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng”. Điều thú vị là thời gian trong bài thơ không vận động tuyến tính (quá khứ - hiện tại - tương lai). Nó vận động theo kiểu đứt gãy và trùng phùng: “mỗi lần nắng mới” lại đánh thức “những ngày không”. “Nắng mới” là tín hiệu lặp lại của thiên nhiên (hàng năm, mỗi mùa hè đều có), nhưng “những ngày không” lại là quá khứ không bao giờ lặp lại. Sự đối lập giữa cái lặp lại vô tận của tự nhiên và cái mất đi vĩnh viễn của đời người chính là nỗi đau nền tảng của bài thơ.
Đặc biệt, cụm từ “những ngày không” là một ẩn dụ siêu hình hiếm thấy trong thơ ca giai đoạn này. “Không” không chỉ là không có, mà là hư vô, là khoảng trắng của thời gian, là những ngày đã bị xóa khỏi dòng chảy hiện sinh. Thế mà, ký ức lại có thể “sống lại” những ngày ấy một cách “chập chờn”. Sự sống lại ấy không trọn vẹn, không rõ ràng, nó chỉ là “chập chờn” – lúc hiện lúc khuất, như bóng ma của quá khứ. Ở điểm này, Lưu Trọng Lư đã chạm đến ranh giới của tâm lý học vô thức: có những ký ức không phải do ta cố nhớ, mà tự động trỗi dậy khi gặp đúng tín hiệu kích thích. Và “nắng mới” chính là tín hiệu ấy.
Khổ thơ thứ hai đưa ta về với một thời điểm cụ thể: “thuở thiếu thời”, “lúc người còn sống, tôi lên mười”. Đây là một chi tiết rất quan trọng. Tuổi lên mười – cái tuổi bắt đầu ghi nhớ, bắt đầu có ý thức về thế giới, cũng là tuổi mà vết thương mất mẹ sau này sẽ in sâu nhất. Có thể nói, cái tuổi ấy chính là “vết xước” thời gian không bao giờ lành trong tâm hồn Lưu Trọng Lư.
Hình ảnh trung tâm của khổ thơ: “Áo đỏ người đưa trước giậu phơi” cần được đọc như một biểu tượng của sự “vắng mặt hiện diện”. Người mẹ không xuất hiện trực tiếp (không thấy mặt, không thấy tay, không thấy dáng đi). Ta chỉ thấy chiếc áo đỏ, và hành động “đưa” - một động từ nhẹ nhàng, gợi sự nâng niu, chăm chút. Chiếc áo đỏ kia vừa là vật thay thế cho mẹ, vừa là bằng chứng của sự có mặt. Nó được phơi “trước giậu” ranh giới giữa trong nhà và ngoài vườn, giữa không gian riêng tư và không gian công cộng, cũng là nơi người mẹ hiện ra rõ nhất trong ký ức của đứa con.
Có một điểm rất đáng chú ý: ở khổ thơ thứ hai, tác giả viết “nắng mới reo ngoài nội”. Động từ “reo” gợi niềm vui, sự sống động của thiên nhiên. Nhưng ở khổ thơ thứ ba, ánh sáng lại là “ánh trưa hè trước giậu thưa”. “Giậu thưa” khác với “giậu phơi” - “thưa” gợi sự lộng lẫy, những khoảng trống, những lỗ hổng, qua đó ánh sáng len lỏi và hình ảnh người mẹ cũng len lỏi vào ký ức qua những khoảng trống ấy. Có thể nói, Lưu Trọng Lư rất tinh tế trong việc thay đổi từ ngữ chỉ không gian để tạo nên những sắc thái cảm xúc khác nhau.
Khổ thơ cuối cùng là nơi hội tụ của những ám ảnh nghệ thuật đẹp nhất:
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Chữ “chửa” (chưa) và “hãy còn” cho thấy một sự khẳng định dứt khoát: thời gian không thể xóa nhòa. Nhưng cái còn lại không phải là toàn bộ, mà chỉ là “mường tượng”. “Mường tượng” là một từ rất hay, nó khác với “nhớ”, khác với “hình dung”. “Mường tượng” là cái gì đó nửa thực nửa ảo, như bóng mây trôi, như làn khói mỏng. Và cái được “mường tượng” rõ nhất là “nét cười đen nhánh sau tay áo”.
“Đen nhánh” - màu của trầu, màu của thời gian, màu của tình yêu thương thầm lặng. Nụ cười ấy không phô bày, không rạng rỡ, mà “sau tay áo” một chút e ấp, một chút duyên dáng của người phụ nữ xưa. Đây là một chi tiết cực kỳ hiện thực mà cũng cực kỳ lãng mạn. Nó gợi lên một hình ảnh vừa thân thương, vừa thiêng liêng, vừa gần gũi vừa xa vời. Có lẽ, chính sự “e ấp” ấy lại càng làm cho nỗi nhớ thêm da diết: mẹ đã khuất, và ngay cả nụ cười cũng chỉ còn là một phần, một mảnh vụn, ẩn sau tay áo, không bao giờ có thể chạm vào. Điều đặc biệt là suốt bài thơ, không hề có một lời than vãn, không hề có một câu khóc lóc. Lưu Trọng Lư không nói “tôi thương mẹ”, không nói “tôi đau đớn”. Ông chỉ kể, chỉ tả, chỉ miêu tả những hình ảnh nhỏ bé, bình dị. Nhưng chính sự kìm nén, lặng lẽ ấy lại càng làm cho cảm xúc trở nên dồn nén và thấm thía hơn gấp bội. Đó là một đặc điểm của phong cách Lưu Trọng Lư: càng tình cảm bao nhiêu, càng giấu kín bấy nhiêu; càng đau đớn bao nhiêu, càng lặng lẽ bấy nhiêu.
Để thấy được nét độc đáo của Nắng mới, có thể đặt nó bên cạnh những bài thơ về mẹ nổi tiếng khác. Ví dụ, Mẹ tôi của Trần Tế Xương có giọng điệu trần tục, hài hước mà xót xa; Mẹ của Đỗ Trung Quân mang âm hưởng triết lý, khái quát; còn Nắng mới của Lưu Trọng Lư lại hoàn toàn thuộc về thế giới của cảm giác. Ông không kể chuyện, không triết lý, không ca ngợi. Ông chỉ tái hiện một khoảnh khắc, một khung cảnh, một nụ cười. Và chính khoảnh khắc ấy lại nói lên tất cả. Có thể nói, Lưu Trọng Lư là nhà thơ của “cái khoảnh khắc”, của “cái chớp mắt” – nơi toàn bộ thời gian và cảm xúc được cô đọng lại trong một hình ảnh.
So với bài thơ Tiếng thu nổi tiếng khác của ông (“Em không nghe mùa thu / Dưới trăng mờ thổn thức?”), Nắng mới có một sự khác biệt: nó không mơ hồ, không đa nghĩa đến mức khó nắm bắt, mà có một điểm tựa rất rõ ràng: hình ảnh người mẹ. Tuy nhiên, cái tài là ở chỗ, điểm tựa ấy vẫn được bao phủ bởi một lớp sương mờ của thời gian và ký ức. “Mường tượng”, “chập chờn”, “những ngày không” tất cả đều là những từ chỉ sự không trọn vẹn, sự thiếu vắng. Và chính sự không trọn vẹn ấy lại tạo nên vẻ đẹp ám ảnh của bài thơ. Nắng mới của Lưu Trọng Lư không chỉ là một bài thơ hay, mà còn là một bài thơ “lạ”. Nó lạ ở cách kết nối giữa một hiện tượng thiên nhiên bình thường với một nỗi đau siêu hình. Nó lạ ở cách miêu tả người mẹ không qua khuôn mặt, không qua lời nói, mà qua chiếc áo đỏ và nụ cười đen nhánh sau tay áo. Nó lạ ở giọng điệu, vừa lặng lẽ, vừa thổn thức, vừa như một lời kể bình thản, vừa như một tiếng khóc nghẹn ngào.
Có lẽ, điều đọng lại sâu sắc nhất sau khi đọc Nắng mới là một cảm giác: mất mát lớn nhất của đời người không phải là cái chết, mà là sự chia lìa vĩnh viễn với những người thân yêu. Và điều kỳ diệu duy nhất có thể làm sống lại những người đã khuất, dù chỉ trong khoảnh khắc, chính là ký ức – và thơ ca chính là hình thức cao đẹp nhất của ký ức. Lưu Trọng Lư, bằng Nắng mới, đã dựng lên một bàn thờ bằng ngôn từ, để mỗi lần nắng mới hắt bên song, là một lần ông thắp hương tưởng nhớ mẹ. Và chúng ta – những người đọc hôm nay – cũng tìm thấy trong bài thơ ấy một phần ký ức của chính mình, một phần nỗi nhớ về những người thân yêu đã khuất, để lòng “rượi buồn” mà vẫn thấy ấm áp, bởi tình yêu thương dù qua đi vẫn còn mãi trong những tia nắng mới mỗi độ hè về.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 6
Trong phong trào Thơ mới, nếu như thế giới của Xuân Diệu rực rỡ sắc màu ái ân, thế giới của Huy Cận chìm trong sầu vĩnh viễn, thì Lưu Trọng Lư lại dẫn dắt người đọc về một miền ký ức xa xăm, nơi có ánh nắng vàng hanh và hình bóng người mẹ hiền từ. Bài thơ Nắng mới không chỉ là một bức tranh phong cảnh hữu tình của làng quê Việt Nam xưa mà còn là một tiếng lòng thổn thức, một bài ca hiếu nghĩa được dệt nên từ những sợi tơ của hoài niệm và tình yêu thương vô bờ bến.
Mở đầu bài thơ, tác giả không đi thẳng vào nỗi nhớ mà khéo léo mượn những tác nhân của thiên nhiên để khơi gợi dòng chảy ký ức. Đó là khoảnh khắc mỗi lần nắng mới hắt bên song. Nắng mới ở đây chính là cái nắng đầu mùa, mang theo sự thay đổi của đất trời, nhưng khi đi kèm với động từ “hắt”, nó bỗng trở nên lạc lõng và đơn độc. Trong không gian tĩnh lặng của buổi trưa hè, âm thanh xao xác, gà trưa gáy não nùng vang lên như một nhịp cầu nối giữa thực tại và quá khứ. Từ láy “xao xác” gợi lên sự xao động của lá cây, của vạn vật, trong khi “não nùng” lại nhuốm màu tâm trạng con người. Chính sự cộng hưởng giữa ánh nắng hanh hao và tiếng gà hiu hắt đã đẩy nhân vật trữ tình vào trạng thái “chập chờn sống lại những ngày không” một trạng thái lơ lửng, hư thực, nơi những kỷ niệm cũ bắt đầu thức tỉnh và hiện hữu rõ rệt.
Nỗi nhớ ấy dần định hình và gọi tên một hình bóng thiêng liêng nhất: Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời. Ngược dòng thời gian về những ngày lên mười, khi mẹ còn tại thế, ký ức của đứa con hiện lên thật trong trẻo và rực rỡ. Đối lập với cái nắng “hắt” buồn bã ở hiện tại là hình ảnh nắng mới reo ngoài nội. Động từ "reo" đã nhân hóa ánh nắng, biến nó thành một thực thể tràn đầy sức sống, gắn liền với niềm vui thơ bé. Điểm nhấn tuyệt đẹp và ám ảnh nhất trong bức tranh hoài niệm này chính là hình ảnh Áo đỏ người đưa trước giậu phơi. Màu đỏ của chiếc áo không chỉ tạo nên một sự tương phản mạnh mẽ với màu vàng của nắng, màu xanh của vườn tược mà còn là biểu tượng của sự ấm áp, che chở. Chiếc áo đỏ ấy như một chứng nhân cho sự tảo tần, khéo léo của người mẹ, đồng thời là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn đứa con mỗi khi nhớ về thuở thiếu thời.
Càng về cuối bài thơ, chân dung người mẹ càng trở nên sống động và thoát tục. Dù thời gian đã trôi xa, dù thực tại nghiệt ngã đã mang mẹ đi mất, nhưng trong tâm tưởng người con, hình dáng mẹ tôi chửa xóa mờ. Mẹ vẫn hiện diện trong từng ngóc ngách của ngôi nhà, “vào ra” một cách thân thuộc và dịu dàng. Đặc biệt, chi tiết nét cười đen nhánh sau tay áo là một sáng tạo nghệ thuật vô cùng tinh tế của Lưu Trọng Lư. “Đen nhánh” gợi nhắc đến hàm răng nhuộm đen lá láng - nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam một thời. Nét cười ấy không phô trương mà ẩn sau tay áo, vừa kín đáo, ý nhị, vừa toát lên vẻ hiền hậu, đoan trang. Hình ảnh người mẹ đứng trước giậu thưa dưới ánh trưa hè đã trở thành một biểu tượng vĩnh cửu của cái đẹp và tình thương, là bến đỗ bình yên nhất cho linh hồn thi sĩ giữa dòng đời vạn biến.
Về phương diện nghệ thuật, bài thơ thành công nhờ thể thơ bảy chữ giàu nhạc điệu, ngôn ngữ giản dị nhưng hàm súc và khả năng sử dụng từ láy điêu luyện. Lưu Trọng Lư đã rất tài tình khi sử dụng các biện pháp đối lập giữa nắng xưa và nắng nay, giữa tiếng gà não nùng và nét cười rạng rỡ để làm nổi bật chiều sâu của nỗi nhớ. Bài thơ không cần đến những từ ngữ đao to búa lớn nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc bởi sự chân thành và tinh tế trong từng nhịp thở của câu chữ.
Nắng mới là một nén tâm hương thành kính mà Lưu Trọng Lư dâng lên hương hồn người mẹ quá cố. Qua bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được nỗi đau của sự mất mát mà còn thấy được vẻ đẹp bất tử của tình mẫu tử. Ánh nắng mới có thể phai đi theo thời gian, nhưng ánh nắng của tình mẹ và nét cười đen nhánh ấy sẽ mãi tỏa sáng, sưởi ấm và soi rọi cho tâm hồn những đứa con trên mọi chặng đường đời.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 7
“Thơ là tiếng lòng”, và có lẽ không có tiếng lòng nào chân thật, sâu sắc hơn nỗi nhớ về người thân đã khuất. Lưu Trọng Lư - một hồn thơ lãng mạn, tinh tế bậc nhất của phong trào Thơ Mới đã ghi lại những rung động ấy trong bài thơ Nắng mới. Với lời đề từ hướng về “hương hồn thầy mẹ”, bài thơ chỉ gồm mười hai câu nhưng đã khắc họa thành công một quy luật tâm lý tinh tế: mỗi khi “nắng mới” xuất hiện, ký ức về người mẹ lại sống dậy. Vì thế, Nắng mới không chỉ là bài thơ cảm động về tình mẫu tử mà còn là một ám ảnh nghệ thuật về mối liên hệ kỳ diệu giữa thiên nhiên và tâm hồn con người.
Mở đầu bài thơ là sự xuất hiện của một tín hiệu thiên nhiên quen thuộc:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.”
Cụm từ “mỗi lần” cho thấy cảm xúc không phải nhất thời mà đã trở thành một quy luật: cứ nắng mới xuất hiện là nỗi nhớ lại dâng lên. Ánh nắng “hắt bên song” nhẹ nhàng, mơ hồ, giống như cách ký ức trở về – không ồn ào mà thấm dần vào tâm hồn. Âm thanh “gà trưa gáy não nùng” cùng các từ láy “xao xác”, “não nùng” tạo nên một không gian vắng lặng, nhuốm màu hoài niệm. Đặc biệt, cụm từ “những ngày không” là một sáng tạo độc đáo: đó là những ngày đã qua, không còn tồn tại, nhưng vẫn “sống lại” trong ký ức một cách “chập chờn”. Nỗi nhớ vì thế vừa thiêng liêng vừa xót xa, vừa rõ ràng lại vừa mơ hồ.
Từ dòng hồi tưởng chung, ký ức dần trở nên cụ thể với hình ảnh người mẹ:
“Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Lời thơ giản dị, tự nhiên như một lời tâm sự. Những chi tiết “thuở thiếu thời”, “tôi lên mười” xác định rõ thời gian, khiến ký ức trở nên chân thực và gần gũi. Động từ “reo” rất tinh tế, khiến ánh nắng như có âm thanh, mang vẻ vui tươi, trong trẻo của tuổi thơ. Nổi bật trong khung cảnh ấy là hình ảnh “áo đỏ” của mẹ được đưa ra phơi trước giậu. Nhà thơ không miêu tả trực tiếp khuôn mặt hay dáng hình người mẹ, chỉ một chi tiết nhỏ nhưng đã gợi lên cả sự tần tảo, ấm áp và yêu thương. Chiếc áo đỏ trở thành biểu tượng của sự sống, của hơi ấm gia đình, của tình mẫu tử thiêng liêng.
Đến khổ thơ cuối, hình ảnh người mẹ được khắc họa sâu sắc hơn qua những nét ký ức còn lưu giữ:
“Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”
“Chửa xoá mờ” khẳng định ký ức về mẹ vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí người con, bất chấp thời gian trôi qua. Tuy nhiên, ký ức ấy không còn đầy đủ mà chỉ còn “mường tượng”, là những mảnh ghép rời rạc. Trong đó, ấn tượng sâu sắc nhất là “nét cười đen nhánh sau tay áo”. “Đen nhánh” gợi màu trầu – dấu ấn của người phụ nữ xưa, vừa lam lũ vừa duyên dáng. Nụ cười “sau tay áo” lại gợi sự e ấp, kín đáo, rất đỗi truyền thống. Tất cả hiện lên trong “ánh trưa hè trước giậu thưa”, một không gian quen thuộc, bình dị nhưng đầy chất thơ. Hình ảnh ấy vừa cụ thể vừa mơ hồ, như ánh sáng ký ức chiếu rọi vào tâm hồn người đọc.
Xét về nghệ thuật, Nắng mới sử dụng thơ bảy chữ được vận dụng linh hoạt với nhịp điệu chậm rãi, phù hợp với dòng hồi tưởng. Ngôn ngữ thơ giàu tính biểu cảm và tạo hình với nhiều từ ngữ đặc sắc như “hắt bên song”, “reo ngoài nội”, “rượi buồn”, “chập chờn”, “mường tượng”. Đặc biệt, nghệ thuật chọn lọc chi tiết của Lưu Trọng Lư rất tinh tế: chỉ với hai hình ảnh “áo đỏ” và “nét cười”, nhà thơ đã dựng lên một chân dung người mẹ đầy sức gợi. Bài thơ không có những lời than khóc trực tiếp, nhưng chính sự kìm nén ấy lại làm cho cảm xúc trở nên sâu sắc và ám ảnh hơn.
Nắng mới là một bài thơ nhỏ nhưng chứa đựng tình cảm lớn. Qua đó, Lưu Trọng Lư đã gợi ra một chân lý giản dị mà sâu sắc: thiên nhiên không chỉ là cảnh vật mà còn là sợi dây kết nối con người với quá khứ, với những người thân yêu đã khuất. Mỗi lần nắng mới xuất hiện, lòng người con lại “rượi buồn” nhớ về mẹ – người phụ nữ với chiếc áo đỏ và nụ cười đen nhánh sau tay áo. Có thể nói, Nắng mới là một trong những bài thơ hay nhất viết về tình mẫu tử trong văn học Việt Nam, một viên ngọc quý của phong trào Thơ Mới, vẫn còn nguyên sức lay động đối với nhiều thế hệ bạn đọc hôm nay.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 8
Trong dòng chảy của Thơ Mới, có những thi phẩm không gây ấn tượng bằng sự dữ dội của cảm xúc mà chinh phục người đọc bằng những rung động rất khẽ. Nắng mới của Lưu Trọng Lư là một bài thơ như thế. Không có những hình ảnh lớn lao hay những triết lý sâu xa, bài thơ chỉ là một dòng hồi tưởng nhẹ nhàng, nhưng lại chứa đựng nỗi nhớ mẹ sâu sắc, da diết – một nỗi nhớ âm thầm mà ám ảnh.
Điểm đặc biệt của bài thơ nằm ở hình ảnh trung tâm: “nắng mới”. Đây không chỉ là ánh nắng của thiên nhiên, mà còn là một biểu tượng nghệ thuật. “Nắng mới” là tín hiệu của thời gian, là nhịp cầu nối hiện tại với quá khứ, là yếu tố khơi nguồn cho mọi cảm xúc. Chính mỗi lần “nắng mới hắt bên song” là mỗi lần ký ức lại trở về:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng...”
Không gian hiện tại được gợi lên bằng những chi tiết rất đỗi quen thuộc: ánh nắng, tiếng gà trưa. Nhưng dưới cái nhìn của thi sĩ, những hình ảnh ấy đều nhuốm màu tâm trạng. Từ láy “xao xác” không chỉ tả âm thanh mà còn gợi cảm giác trống vắng, hiu quạnh. Tiếng “gà trưa gáy não nùng” không đơn thuần là âm thanh đời sống mà đã trở thành tiếng vọng của nỗi buồn. Tất cả như hòa quyện để đánh thức trong lòng người một nỗi nhớ mênh mang: “Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng”.
Ở đây, cảm xúc không bùng nổ mà lan tỏa, thấm sâu. Từ “rượi” diễn tả trạng thái buồn như ngấm vào tâm hồn, nhẹ mà dai dẳng. Ký ức hiện về “chập chờn”, lúc rõ lúc mờ, như những mảnh ghép của quá khứ không thể nắm giữ trọn vẹn. Chính sự mơ hồ ấy lại làm tăng thêm sức gợi, khiến nỗi nhớ trở nên ám ảnh hơn.
Từ không gian chung của ký ức, dòng hồi tưởng dần hội tụ vào hình ảnh trung tâm là người mẹ:
“Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười…”
Câu thơ giản dị mà xúc động. Không có biện pháp tu từ cầu kỳ, chỉ là lời bộc bạch trực tiếp, nhưng lại chạm đến tận cùng cảm xúc. Việc xác định cụ thể thời gian “tôi lên mười” khiến kỷ niệm trở nên chân thực, gần gũi. Đó là tuổi thơ – khoảng thời gian đẹp nhất, nhưng cũng là nơi lưu giữ những mất mát đầu đời.
Trong ký ức ấy, người mẹ hiện lên qua một chi tiết rất nhỏ:
“Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Ánh nắng “reo” – một cách nhân hóa tinh tế – làm cho không gian trở nên sống động, vui tươi. Trong khung cảnh ấy, hình ảnh “áo đỏ” của mẹ trở thành điểm nhấn nổi bật. Màu đỏ không chỉ là màu sắc, mà còn là biểu tượng của hơi ấm, của tình yêu thương. Hành động “đưa áo phơi” giản dị nhưng lại gợi lên cả một thế giới: sự tảo tần, chăm chút và tình mẹ bao la.
Điều đáng chú ý là nhà thơ không miêu tả trực tiếp khuôn mặt hay cảm xúc của mẹ, mà chỉ gợi qua những chi tiết rất đời thường. Chính sự tiết chế ấy khiến hình ảnh trở nên chân thực và giàu sức ám ảnh.
Đến khổ thơ cuối, hình ảnh người mẹ không còn là một khoảnh khắc cụ thể mà trở thành một bóng hình in sâu trong tâm trí:
“Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ,
Hãy còn mường tượng lúc vào ra…”
Ký ức về mẹ vẫn còn đó, nhưng đã bắt đầu nhòe đi theo thời gian. Từ “mường tượng” cho thấy người con đang cố gắng níu giữ hình ảnh mẹ trong tâm trí. Những chi tiết nhỏ như “lúc vào ra”, “nét cười đen nhánh sau tay áo” lại trở thành những điểm tựa cho ký ức. Đặc biệt, “nét cười đen nhánh sau tay áo” là một hình ảnh rất đẹp. Nụ cười của mẹ không hiện ra rõ ràng mà ẩn sau tay áo, gợi sự kín đáo, dịu dàng – vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Hình ảnh ấy hiện lên trong “ánh trưa hè trước giậu thưa”, tạo nên một không gian vừa cụ thể vừa giàu chất thơ. Nếu ở đầu bài, “nắng mới” là điểm khởi đầu của ký ức, thì đến cuối bài, ánh sáng ấy dường như đã hòa vào ký ức, làm sáng lên hình ảnh người mẹ. “Nắng mới” vì thế không chỉ là ánh sáng của thiên nhiên, mà còn là ánh sáng của hồi ức, của tình mẫu tử - thứ ánh sáng không bao giờ tắt trong tâm hồn con người.
Về nghệ thuật, bài thơ thể hiện rõ phong cách của Lưu Trọng Lư: nhẹ nhàng, tinh tế, giàu chất nhạc. Ngôn ngữ giản dị nhưng gợi cảm; hình ảnh ít nhưng đắt giá. Bút pháp hồi tưởng được sử dụng xuyên suốt, tạo nên một dòng cảm xúc liền mạch. Các từ láy như “xao xác”, “não nùng”, “chập chờn” góp phần làm nổi bật âm hưởng buồn man mác của bài thơ.
Nắng mới không chỉ là một bài thơ về mẹ, mà còn là một bản nhạc của ký ức, của thời gian và của những điều đã mất. Qua những hình ảnh giản dị mà sâu sắc, Lưu Trọng Lư đã khơi dậy trong lòng người đọc những rung động thiêng liêng về tình mẫu tử. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta biết trân trọng những người thân yêu khi còn có thể, bởi một khi thời gian trôi qua, chỉ còn lại những ký ức mong manh mà không gì có thể bù đắp.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 9
Trong vườn hoa phong mạn của Thơ Mới 1932 – 1945, nếu Xuân Diệu say đắm với tình yêu, Huy Cận sầu ảo não trước vũ trụ, thì Lưu Trọng Lư lại chọn cho mình một lối đi riêng về miền ký ức. Bài thơ Nắng mới chính là một nốt nhạc trầm xao xác, một tiếng lòng thổn thức khi tác giả đứng trước ngưỡng cửa thời gian để tìm về hình bóng người mẹ quá cố. Với ngôn từ giản dị mà tinh tế, bài thơ đã chạm đến sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của con người: tình mẫu tử.
Mở đầu bài thơ là sự thức tỉnh của trực giác trước thiên nhiên:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Nắng mới không chỉ là ánh nắng của một ngày vừa bắt đầu, mà còn là cái nắng hanh vàng đầu mùa, gợi sự đổi thay của thời tiết. Tuy nhiên, thay vì cảm giác tươi vui, ánh nắng ấy lại “hắt” bên song cửa, tạo ra một không gian ngưng đọng và buồn bã. Tiếng gà trưa “xao xác” – một từ láy rất đắt đã phá tan sự tĩnh lặng nhưng lại bồi đắp thêm sự "não nùng". Âm thanh ấy như một nhát dao khứa vào lòng người, đánh thức những kỷ niệm đã ngủ yên trong tầng sâu của “thời dĩ vãng”. Để rồi, nhân vật trữ tình thấy mình “chập chờn sống lại những ngày không” những ngày tháng hư ảo, xa xăm nhưng lại hiện hữu rõ rệt trong tâm tưởng.
Từ cái nền của hiện tại, nỗi nhớ dẫn dắt người đọc về với quá khứ, nơi có hình bóng người mẹ thân yêu:
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Trong ký ức của đứa con lên mười, hình ảnh người mẹ gắn liền với màu sắc và ánh sáng. Nếu nắng ở hiện tại "hắt" buồn bã thì nắng trong quá khứ lại “reo” vui ngoài đồng nội. Điểm nhấn rực rỡ nhất trong bức tranh hoài niệm ấy là chiếc “áo đỏ”. Màu đỏ của chiếc áo phơi trước giậu thưa không chỉ làm bừng sáng không gian mà còn là biểu tượng của sự ấm áp, của những ngày mẹ còn tại thế. Đó là màu của hạnh phúc đơn sơ nhưng bền vững, màu của sự chăm sóc che chở mà người mẹ dành cho con.
Khổ thơ cuối cùng là một cận cảnh về chân dung người mẹ, được vẽ bằng những nét bút nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh:
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Tác giả khẳng định hình bóng ấy “chửa xóa mờ”, vẫn “vào ra” trong tâm trí như một thực thể sống động. Chi tiết đắt giá nhất bài thơ nằm ở cụm từ “nét cười đen nhánh”. Đây là một hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác đầy sáng tạo. “Đen nhánh” là màu của hàm răng đen lá láng - một nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam xưa. Nhưng khi đi kèm với “nét cười”, nó không chỉ gợi màu sắc mà còn gợi lên sự duyên dáng, hiền hậu và kín đáo sau tay áo. Hình ảnh ấy hiện lên giữa ánh trưa hè, tạo nên một vẻ đẹp tĩnh lặng, thanh khiết và vĩnh cửu.
Về mặt nghệ thuật, Nắng mới thành công nhờ thể thơ bảy chữ nhịp nhàng, mang hơi hướng của thơ ca truyền thống. Cách sử dụng từ láy (xao xác, não nùng, chập chờn, mường tượng) rất điêu luyện, diễn tả chính xác các cung bậc của nỗi buồn và ký ức. Sự đối lập giữa nắng hiện tại và nắng quá khứ, giữa âm thanh gà trưa não nùng và nét cười hiền hậu đã tạo nên một chiều sâu cảm xúc, khiến bài thơ không chỉ là tiếng khóc cho người mẹ đã khuất mà còn là khúc ca về sự bất tử của tình yêu thương.
Bài thơ Nắng mới của Lưu Trọng Lư là một tác phẩm giàu tính nhân văn. Qua những vần thơ hàm súc, tác giả đã khắc họa một chân dung mẹ hiền gắn liền với nắng vàng và áo đỏ, đồng thời bày tỏ tấm lòng hiếu thảo, sâu nặng của mình. Bài thơ nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của gia đình và những kỷ niệm tuổi thơ, vốn là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất cho mỗi người trên hành trình cuộc đời.
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Nắng mới - mẫu 10
Trong dòng chảy của phong trào Thơ mới (1932-1945), Lưu Trọng Lư nổi lên như một hồn thơ da diết, sâu lắng, giàu chất tình và chất nhạc. Nếu như các nhà thơ cùng thời thường hướng về cái tôi cá nhân mãnh liệt, thì Lưu Trọng Lư lại có chiều hướng lặng lẽ đi sâu vào thế giới nội tâm, vào những rung động trước thiên nhiên, con người và đặc biệt là trước ký ức gia đình. Bài thơ Nắng mới với lời đề từ “Tặng hương hồn thầy mẹ” chính là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của ông. Với giọng thơ nhẹ nhàng, bâng khuâng, tác phẩm không chỉ là nỗi nhớ về người mẹ đã khuất mà còn là sự hồi sinh kỳ diệu của ký ức qua một tín hiệu thiên nhiên rất đỗi bình dị: nắng mới. Bài thơ mở ra trước mắt người đọc một bức tranh vừa thực vừa ảo, nơi hiện tại và dĩ vãng giao thoa, nơi nỗi buồn man mác hòa quyện cùng những hình ảnh đẹp đẽ, trong trẻo về người mẹ và tuổi thơ.
Trước khi đi vào những vần thơ, người đọc không thể bỏ qua dòng chữ nhỏ: “Tặng hương hồn thầy mẹ”. Đây không phải là một lời đề tặng thông thường. “Hương hồn” là từ chỉ linh hồn người đã khuất, mang tính trang nghiêm, thiêng liêng. Cách viết “thầy mẹ” (thay vì “cha mẹ”) mang âm hưởng của tiếng Việt cổ, thể hiện sự trân trọng, thành kính. Như vậy, ngay từ đầu, nhà thơ đã xác định bài thơ là một sự tri ân, một nén hương lòng gửi đến song thân, mà cụ thể hơn là người mẹ – bởi toàn bộ bài thơ chỉ khắc họa hình ảnh người mẹ.
Nhan đề “Nắng mới” cũng rất đáng suy ngẫm. “Nắng mới” không phải nắng đầu mùa hè oi ả, cũng không phải nắng hanh hao của cuối thu. “Nắng mới” là thứ nắng vừa xuất hiện, tinh khôi, trong trẻo, như một tín hiệu báo hiệu một sự khởi đầu - nhưng trong bài thơ này, nó lại khởi đầu cho những hồi ức, cho sự “sống lại” của những ngày đã qua. Cả bài thơ là một sự đối sánh giữa cái “mới” của thiên nhiên và cái “cũ” của ký ức, giữa sự sống hiện tại và cái chết đã qua.
Mở đầu bài thơ, nhà thơ viết:
Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng,
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng,
Chập chờn sống lại những ngày không.
Bốn câu thơ như một bức tranh tĩnh vật mang đầy tâm trạng. Cụm từ “mỗi lần” cho thấy đây không phải là một cảm xúc nhất thời, mà là một quy luật: hễ nắng mới xuất hiện, lòng người lại xao xuyến. “Hắt bên song” gợi ánh nắng không ào ạt tràn vào mà hắt lên, nhẹ nhàng, lung linh, như chính sự hồi tưởng: không ồn ào mà lặng lẽ, không dữ dội mà man mác.
Âm thanh “gà trưa gáy” vốn là âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam, nhưng được Lưu Trọng Lư miêu tả bằng những từ láy tượng thanh giàu sắc thái: “xao xác”, “não nùng”. “Xao xác” gợi sự lạc lõng, không đều đặn; “não nùng” gợi nỗi buồn thấm thía, dai dẳng. Cả không gian như chùng xuống trong thứ ánh sáng và âm thanh ấy.
Đến hai câu thơ cuối khổ, tâm trạng của nhân vật trữ tình được bộc lộ trực tiếp. “Lòng rượi buồn” chữ “rượi” thật đắt, nó diễn tả sự lan tỏa, thấm đẫm của nỗi buồn, như một chất lỏng thấm vào từng ngóc ngách tâm hồn. “Theo thời dĩ vãng” nỗi buồn ấy không phải tự thân, mà gắn liền với quá khứ, với những ngày đã xa. Câu thơ cuối cùng: “Chập chờn sống lại những ngày không” là một câu thơ hay và đầy ám ảnh. “Chập chờn” diễn tả trạng thái nửa thực nửa mơ, lúc hiện lúc khuất của ký ức. “Những ngày không” một sáng tạo độc đáo của Lưu Trọng Lư. “Ngày không” là ngày không còn nữa, là ngày đã mất, là quá khứ vĩnh viễn không trở lại. Sự “sống lại” của những ngày đã chết ấy vừa kỳ diệu, vừa xót xa. Như vậy, khổ thơ đầu đã đặt nền tảng cho toàn bài: nắng mới không chỉ là hiện tượng thiên nhiên, mà là chiếc chìa khóa mở cánh cửa thời gian.
Sau khoảng lùi về dĩ vãng, ký ức cụ thể bắt đầu hiện ra:
Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.
Câu thơ “Tôi nhớ mẹ tôi” vang lên giản dị, tự nhiên như một lời thì thầm, một sự trở về với cội nguồn. Không có bất kỳ sự tô vẽ hay cường điệu nào. “Thuở thiếu thời”, “lúc người còn sống, tôi lên mười” những chi tiết thời gian cụ thể cho thấy ký ức ấy vẫn còn nguyên vẹn, rõ ràng trong tâm trí nhà thơ, dù đã bao năm trôi qua.
Điều đặc biệt là mối liên hệ giữa nắng mới và hình ảnh người mẹ được lặp lại một cách có chủ ý: “Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội”. Động từ “reo” thật tinh tế. Nắng không chỉ chiếu sáng, không chỉ hắt, mà “reo” như một âm thanh vui tươi, trong trẻo, như tiếng trẻ thơ. Có lẽ, đó là cách cảm nhận của đứa trẻ lên mười trước thứ nắng đẹp đẽ của buổi trưa hè. Và trong không gian ấy, xuất hiện hình ảnh trung tâm: “Áo đỏ người đưa trước giậu phơi”.
Chỉ một câu thơ, bảy chữ, nhưng Lưu Trọng Lư đã vẽ nên một bức tranh vừa cụ thể vừa đầy sức gợi. “Áo đỏ” màu đỏ của chiếc áo mẹ, có thể là áo nâu nhuộm bã màu, cũng có thể là chiếc áo mới. Dù thế nào, “đỏ” là màu của sự sống, của tuổi trẻ, của tình yêu thương ấm áp. “Người đưa” một cách nói trân trọng, nhẹ nhàng. “Trước giậu phơi” không gian vừa thực (hàng rào, sân phơi) vừa mở ra sự bình dị, thân thương. Hình ảnh người mẹ không được miêu tả trực tiếp (không mặt, không tay, không dáng), mà chỉ qua một chi tiết: chiếc áo đỏ đang được phơi. Đó là một thủ pháp nghệ thuật đặc sắc: cái gián tiếp lại gợi nhiều hơn cái trực tiếp. Chiếc áo đỏ kia trở thành biểu tượng cho sự có mặt của mẹ, cho tình yêu thương, cho sự chăm chút, gìn giữ tổ ấm.
Khổ thơ cuối cùng tiếp tục khắc họa hình ảnh người mẹ, nhưng ở một chiều sâu hơn:
Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.
Mở đầu khổ thơ là một khẳng định: “Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ”. Thời gian có thể làm phai mờ tất cả, nhưng hình bóng mẹ thì không. “Chửa xoá mờ” cách nói của người xưa, vừa cổ kính vừa thành kính. “Hãy còn mường tượng” không phải nhìn thấy rõ ràng, mà là “mường tượng”, là gợi nhớ, là hình dung qua những khoảng trống. Và cái được nhớ nhất, được “mường tượng” rõ nhất, lại không phải toàn bộ khuôn mặt, mà là “Nét cười đen nhánh sau tay áo”.
“Nét cười đen nhánh” một hình ảnh thật độc đáo. Nụ cười của người mẹ vùng quê Bắc Bộ thường nhuốm màu nâu của trầu cau, màu thời gian, màu lam lũ. “Đen nhánh” không phải là đen tối, mà là đen óng, đen sáng, đen đầy sức sống, đen ấm áp. Nụ cười ấy “sau tay áo” – e ấp, kín đáo, như một người phụ nữ Á Đông với nét duyên thầm, vẻ đẹp không phô trương. Và tất cả hiện lên “Trong ánh trưa hè trước giậu thưa”. “Giậu thưa” hàng rào không kín, để lọt ánh nắng, để lộ những khoảng trống, cũng để lộ hình ảnh người mẹ qua những khoảng trống ấy. Câu thơ cuối cùng lặp lại gần như nguyên vẹn không gian của câu thơ cuối khổ hai (“trước giậu phơi” - “trước giậu thưa”), tạo thành một sự kết cấu vòng tròn, một sự khắc sâu hình ảnh.
Như vậy, suốt hai khổ thơ, người mẹ chỉ hiện ra qua hai chi tiết nhỏ: chiếc áo đỏ và nụ cười đen nhánh. Cái tài của Lưu Trọng Lư là biết chọn lọc những chi tiết đắt giá nhất, vừa gợi hình vừa gợi hồn. Ông không kể lể, không miêu tả tỉ mỉ, mà để người đọc tự lấp đầy bức chân dung ấy bằng chính tình cảm của mình.
Nắng mới là một bài thơ nhỏ (chỉ ba khổ, mười hai câu) nhưng chứa đựng một thế giới nghệ thuật phong phú. Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ truyền thống, nhưng không bị gò bó. Nhịp thơ chậm rãi, đều đặn, phù hợp với tâm trạng hồi tưởng, chiêm nghiệm. Cách gieo vần (song – nùng – không – thời – mười – phơi – mờ – ra – thưa) tạo nên một âm điệu trầm buồn, man mác.
Lưu Trọng Lư sử dụng nhiều từ láy giàu sức biểu cảm: “xao xác”, “não nùng”, “rượi buồn”, “chập chờn”. Đặc biệt, những sáng tạo độc đáo như “nắng mới reo”, “những ngày không”, “nét cười đen nhánh” cho thấy một bút pháp vừa bình dị vừa tài hoa. Ông có khả năng “vật chất hóa” những khái niệm trừu tượng (nỗi buồn, thời gian, ký ức) thành những hình ảnh cụ thể, hữu hình.
Bài thơ có một kết cấu vòng tròn đẹp mắt. Bắt đầu bằng nắng mới, kết thúc cũng bằng ánh nắng trưa hè. Bắt đầu bằng hình ảnh người mẹ phơi áo, kết thúc bằng hình ảnh người mẹ với nét cười sau tay áo. Sự lặp lại ấy không phải nhàm chán mà là sự khắc sâu, là cách để ký ức in dấu bền lâu.
Nắng mới không chỉ là bài thơ về tình mẫu tử. Nó còn là bài thơ về thời gian, về ký ức, về cách con người đối diện với quá khứ và cái chết. Nỗi buồn trong thơ không phải là nỗi buồn bi lụy, tuyệt vọng. Đó là nỗi buồn man mác, trong trẻo, được nâng đỡ bởi những hình ảnh đẹp đẽ về người mẹ. Mẹ đã mất, nhưng mẹ vẫn còn trong nắng mới, trong chiếc áo đỏ, trong nụ cười đen nhánh. Ký ức chính là cầu nối giữa người đang sống và người đã khuất, và thơ ca chính là hình thức cao đẹp nhất để lưu giữ ký ức ấy.
Nắng mới của Lưu Trọng Lư là một bài thơ nhẹ nhàng mà thấm thía, bình dị mà tinh tế. Qua hình ảnh “nắng mới”, nhà thơ đã mở ra một cánh cửa thời gian, đưa người đọc trở về với những ký ức tuổi thơ, với hình ảnh người mẹ tảo tần, yêu thương. Bức chân dung người mẹ không được khắc họa chi tiết, chỉ qua chiếc áo đỏ và nụ cười đen nhánh, nhưng chính sự lưu luyến, mơ hồ ấy lại càng làm tăng thêm sức ám ảnh, gợi cho mỗi người đọc những cảm xúc riêng, những nỗi nhớ riêng. Có thể nói, Nắng mới không chỉ là một thi phẩm xuất sắc của riêng Lưu Trọng Lư, mà còn là một trong những bài thơ hay nhất viết về tình mẹ trong nền thơ ca Việt Nam. Đọc bài thơ, ta không chỉ cảm nhận được tấm lòng hiếu thảo của người con dành cho mẹ, mà còn thấy được sức mạnh kỳ diệu của thơ ca: có thể làm sống lại những gì đã mất, có thể thắp sáng ký ức bằng những tia nắng mới - những tia nắng của tình yêu, của sự tri ân, của lòng biết ơn vô bờ bến.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Xuân về
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đi trong hương tràm
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Cảnh ngày xuân
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Đây thôn Vĩ Dạ
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Con đường không chọn
- Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ: Con khướu sổ lồng
Để học tốt lớp 10 các môn học sách mới:
- Giải bài tập Lớp 10 Kết nối tri thức
- Giải bài tập Lớp 10 Chân trời sáng tạo
- Giải bài tập Lớp 10 Cánh diều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 10 Global Success
- Giải Tiếng Anh 10 Friends Global
- Giải sgk Tiếng Anh 10 iLearn Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 10 Explore New Worlds
- Lớp 10 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 10 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - KNTT
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - KNTT
- Giải sgk Toán 10 - KNTT
- Giải sgk Vật lí 10 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 10 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 10 - KNTT
- Giải sgk Địa lí 10 - KNTT
- Giải sgk Lịch sử 10 - KNTT
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - KNTT
- Giải sgk Tin học 10 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 10 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - KNTT
- Lớp 10 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 10 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - CTST
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - CTST
- Giải Toán 10 - CTST
- Giải sgk Vật lí 10 - CTST
- Giải sgk Hóa học 10 - CTST
- Giải sgk Sinh học 10 - CTST
- Giải sgk Địa lí 10 - CTST
- Giải sgk Lịch sử 10 - CTST
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - CTST
- Lớp 10 - Cánh diều
- Soạn văn 10 (hay nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (ngắn nhất) - Cánh diều
- Soạn văn 10 (siêu ngắn) - Cánh diều
- Giải sgk Toán 10 - Cánh diều
- Giải sgk Vật lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Địa lí 10 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch sử 10 - Cánh diều
- Giải sgk Kinh tế và Pháp luật 10 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 10 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 10 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 10 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 10 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

