10+ Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (điểm cao)
Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ: Dương phụ hành điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 1)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 2)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 3)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 4)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 5)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 6)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 7)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 8)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu 9)
- Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (mẫu khác)
10+ Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành (điểm cao)
Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành
I. Mở bài:
- Giới thiệu sơ lược các thông tin về tác giả, tác phẩm.
- Tác giả Cao Bá Quát và tác phẩm Dương Phụ hành.
II. Thân bài:
1. Tác giả
- Là một trong các nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam những năm nửa đầu thế kỉ XIX.
- Nhân cách: cứng rắn, ngang tàn.
- Phong cách nghệ thuật: phong phú trong nội dung, cảm hứng sáng tác.
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm Dương Phụ Hành được Cao Bá Quát sáng tác trong lần ông có dịp theo phái bộ của Đào Phú Trí đi công cán bên Indonesia.
- Nội dung: nói về người đàn bà Phương Tây đã gợi cho tác giả suy nghĩ về hạnh phúc và nỗi sầu chia li.
3. Tổng kết giá trị nghệ thuật mà tác phẩm mang tới
III. Kết bài:
- Nêu cảm nghĩ của bản thân.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 1
Cao Bá Quát là một nhà thơ lớn, một tên tuổi sáng chói của văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX. Ông nổi tiếng bởi nhân cách cứng cỏi, ngang tàng và văn tài sắc sảo, mới mẻ. Thơ ông có thể ví là cây đàn điệu hết sức phong phú về nội dung cảm hứng. Đó là những tình cảm thiết tha gắn bó với quê hương xứ sở, là sự đồng cảm sâu sắc với bao người khổ đau, bất hạnh, là niềm tự hào về quá khứ lịch sử của dân tộc và thái độ phê phán mạnh mẽ đối với chế độ phong kiến đương thời. Đặc biệt, khác với nhiều cây bút cùng thời, qua sáng tác của mình, Cao Bá Quát bộc lộ một trí tuệ sáng suốt, nhạy cảm tiếp nhận những hương vị, màu sắc xa lạ với quan niệm truyền thống và một tâm hồn phóng khoáng biết hướng tới cái đẹp đích thực không bị bó buộc, đóng khung bởi những khuôn khổ của tình cảm theo lễ giáo Khổng - Mạnh.
Ở Bài hành về người, thiếu phụ phương Tây được sáng tác trong dịp Cao Bá Quát theo phái bộ của Đào Phú Trí đi công cán ở Inđônêxia. Tiếng là được “dương trình hiệu lực” nhưng thực chất là điều đi phục dịch để “lấy công chuộc tội”. Tuy thế “có cuộc hoạn du mới biết cá lớn nghìn dặm”, trên hải trình công cán, nhà thơ mới có dịp tiếp xúc với những người châu Âu, với một nền văn minh xa lạ, từ đó mở rộng tầm mắt và tâm hồn. Đặc biệt, chuyến đi đã giúp tác giả phát hiện ra những nét mới đáng yêu của người đàn bà Tây phương và trong mắt Cao Bá Quát, người đàn bà Tây Phương hiện lên thật sinh động, hấp dẫn:
“Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu,”
Cuộc đời nhiều thăng trầm và bôn ba đã rèn cho Cao Bá Quát năng lực quan sát nhạy bén, sắc sảo. Chỉ vài chi tiết cụ thể theo lối tả thực, nhà thơ đã khắc họa được một hình ảnh đầy ấn tượng. Đó là màu áo trắng - “ tuyết” của người thiếu phụ Tây dương. Người phương Đông vốn vẫn coi màu trắng là màu của tang tóc. Ở đây, tác giả kín đáo cảm nhận màu áo đó như một vẻ đẹp. Tinh ý, ta có thể nhận thấy điều đó qua lối so sánh. Nhưng lạ hơn là hành vi của nàng “Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu”. Người đàn bà Phương Đông mẫu mực, hiền thục là ke lo phận sự “nàng không sửa túi” cho chồng và cũng chỉ quen với việc “cử án tề mi” đâu có dám "tựa vai chồng” để cùng ngồi ngắm trăng một cách vừa “thiếu ý tứ“ vừa “vô lè’" như vậy? ơ đây, thậm chí, còn ngồi ngay trước sự quan sát của tất cả mọi người. Nhưng không thể phủ nhận đó là một cảnh rất đẹp. Màu trắng của áo, ánh sáng của vầng trăng và cử chỉ tựa vai chồng thật trữ tình, lãng mạn. Chắc chắn, đằng sau những nét bút miêu tả đó là cái nhìn ngạc nhiên, thú vị. Thú vị hơn vẫn là những cử chỉ thân mật, tự nhiên của nàng:
“Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rầm rì nói với nhau”
Nhưng tất cả những điều đó chưa gây ngạc nhiên bằng những hình ảnh tiếp theo sau này:
“Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy.”
Chỉ thấy ở người thiếu phụ ấy vẻ kiều mị, duyên dáng. Cả cái nghiêng mình nũng nịu đòi sự chăm sóc chiều chuộng của chồng vẫn thật dễ thương. Tất cả đều được quan sát bằng một đôi mắt thật tinh tế và một ngòi bút miêu tả thật khách quan. Sự đồng cảm, tán thưởng chỉ được bộc lộ một cách kín đáo. Chính vì vậy mà hình tượng người đàn bà Tây dương trong bài thơ mới mang những nét riêng đặc sắc. Ngày nay, những lời nói, cử chỉ hồn nhiên kia đối với con người Việt Nam hiện đại là quá đỗi bình thường, thậm chí chẳng có mấy ý nghĩa đặc biệt. Nhưng với thời bấy giờ, khi mà xã hội phong kiến Việt Nam còn bó buộc trong những quan điểm bảo thủ, thiển cận trong những lối tự tôn lố bịch, mù quáng thì việc tán thưởng, đồng tình với một vẻ dẹp xa lạ như thế là hành vi nghệ thuật thể hiện một quan niệm mới mẻ, hiện đại.
Những mạch cảm xúc trữ tình của tác giả không dừng lại ở đó. Toàn bộ bức tranh đầy gợi cảm về hình ảnh người thiếu phụ Tây dương, về cặp vợ chồng người Phương Tây dù được miêu ta rất thực, rất sinh động vẫn có vẻ như đóng vai trò của những chi tiết nhằm dồn nén cảm xúc để đến dòng thơ cuối cùng, con người ôm nỗi thống khổ rối bời và đặc biệt kín đáo ấy không thể kìm giữ được nữa, phải thốt lên lời tự than:
Tưởng đâu là nỗi sầu xa xứ. Không phải, nỗi biệt li được gợi lên từ cảnh hạnh phúc, trìu mến của lứa đôi. Và ta có thể đoán được dòng chảy ngầm của tâm trạng tác giả: nỗi khát khao hạnh phúc gia đình, nỗi nhớ nhung tình chồng vợ. Sự giãi bày này lại cũng là một phương diện bộc lộ vẻ đẹp nhân văn sâu sắc trong tâm hồn người trí thức ngang tàng, phóng túng.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 2
Thông qua bài thơ ta thấy Cao Bá Quát có cái nhìn sắc sảo, tinh tế, nhạy cảm bắt nguồn từ tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương, nhớ thương người thân, không chịu được những nghịch cảnh, trớ trêu đầu trên quê hương hay những nơi khác lạ. Sau khi được định tội, triều đình tạm tha cho Cao Bá Quát và cho đi xuất dương hiệu lực trong phái đoàn do Đào Phú Trí là trưởng đoàn, Trần Tú Dĩnh là phó đoàn. Ở triều Nguyễn, đối với một người có thể sử dụng mà không may mắc tội thì nhà vua thường tạm tha và phân phối đi đến một đồn quân nào đó phục dịch để chuộc tội. Đó là hình thức “quân tiền hiệu lực”. Hoặc khi có một phái bộ nào xuất dương đi giao thiệp với nước ngoài thì những phạm nhân ấy cũng được đi theo phục dịch để lấy công chuộc tội gọi là "dương trình hiệu lực”, Cao Bá Quát cũng được xử trí theo những “đặc ân” đó.
Ngồi trên thuyền, giữa trùng dương rộng lớn, ông lại cảm thấy trong lòng đầy hào hứng, hùng khí lại ngùn ngụt như xưa:
“Gió Bắc đưa thuyền qua muôn trùng biển cả,
Ta ngâm câu thơ dưới cánh buồm mát dịu,
Có ai thử đem câu thơ kinh người của chàng Tiểu Tạ.
Mà đề lên khắp cái núi ở chân trời kia!”
Khi cánh buồm lộng gió đi vào trời nước bao la, ông tự hỏi: “Có ai học được nét vẽ của Tôn Vị ngày xưa để thử vẽ cái cảnh hùng vĩ này của một chàng ngâm thơ trên đầu ngọn sóng!”.
Ông ví mình như con hạc bị ốm, con chim hồng bị đau, đã bao lâu không con hi vọng, nên lại chắp cánh bay trên đường bay rộng lớn của chim bằng. Giận cho mình bao lâu chỉ làm một tài tử khốn cùng trong bút mực, anh trượng phu tầm thường giữa núi mây!
Ra nước ngoài, tầm con mắt ngài thêm mở rộng. “Cuộc ngoạn du, mới biết cá lớn nghìn dặm. Kiến thức hẹp hòi, khác nào nhìn con báo qua một chiếc ống chỉ thấy nó có một vằn".
Ông nghĩ tới lối học từ chương, thái độ đóng cửa không chịu tìm hiểu nước ngoài thật là nguy hiểm. Ý nghĩ này cọn được nêu lên trong bài ông đề cập Yên Đài Anh Ngữ của Bùi Ngọc Quỹ. Ông này đã đi sứ nước ngoài học được nhiều điều mới lạ. Cao tự trách mình: “Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn, lải nhải nhai từng câu từng chữ. Có khác gì con sâu đo, muốn đo cả trời đất”.
Phái đoàn của ông đi Indonesia và Campuchia mục đích chủ yếu là đem đường bán cho nước ngoài để mua sắm những hàng xa xỉ cho triều đình. Ra nước ngoài, ông đã thấy đời sống của người Tây phương, lại thấy cảnh người da đen kéo xe cho người da trắng, ông cũng phần nào nhận thức được sự phát triển của các Tây phương và nguy cơ bị xâm lược của các nước Á Đông. Lòng yêu nước được kích thích, ông càng nhìn rõ hơn sự nhu nhược và bất lực của triều đình, tin tưởng vào sức mạnh phản kháng của nhân dân trước nạn ngoại xâm”.
Trở lại bài thơ Dương phụ hành, Cao Bá Quát như cầm bút viết ngay một cảnh tượng về cuộc sống của người phụ nữ Tây phương lướt qua con mắt quan sát của nhà thơ. Đây là một cuộc sống đối lập với người phụ nữ Việt Nam: Giữa cái thùy mị, kín đáo với cái nũng nịu phô trương từ cách ăn mặc đến cử chỉ:
“Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu”
Và, nhiều khi họ có cái nhìn tò mò đối với người lạ rồi bình phẩm, bàn tán - một thói xấu, một cử chỉ đến khó chịu:
“Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói
Kéo áo rầm rì nói với nhau...”
Ta hiểu người đàn bà Tây dương “níu áo chồng” rồi nói những gì đó với nhau, ẩn sau câu thơ là sự căm ghét của nhà thơ đối với lối sống đó.
Tiếp đó, Cao Bá Quát miêu tả bằng những lời thơ mộc mạc nhưng nói lên đầy đủ lối sống khác lạ, phè phỡn, no đầy của họ:
“Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay...”
Tay cầm cốc sữa mà “hững hờ” không muốn uống, cảnh tượng này đối lập với con người trong bài thơ “Giữa đường gặp người đói” - lời thơ như tiếng kêu xé lòng:
“Một con người thất thểu
Áo rách nón tả tơi...
…
Ngày hai cố chiếc tráp
Ngày ba nhịn đói dài...
Cảnh tiếp theo đối lập ngay với chính tâm trạng của nhà thơ:
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy
Biết đâu nỗi khách biệt li này...”
Nghĩa là ở đây thì “bà đầm" uốn éo với chồng, nằm xuống được nhưng khi ngồi dậy phải có chồng nâng! Trong khi đó thì chính nhà thơ đang ở trong cảnh biệt li!
Thông qua bài thơ ta thấy Cao Bá Quát có cái nhìn sắc sảo, tinh tế, nhạy cảm bắt nguồn từ tình cảm tha thiết gắn bó với quê hương, nhớ thương người thân, không chịu được những nghịch cảnh, trớ trêu dầu trên quê hương hay những nơi khác lạ!
Như vậy ở bài thơ này, nhà thơ vừa nhìn thấy cái khác lạ trong đời thường, lại vừa thấm thía với bản thân mình.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 3
Cao Bá Quát, một nhà thơ nổi tiếng thời kỳ triều Nguyễn, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học Việt Nam. Thơ của ông không chỉ phản ánh lòng yêu nước và lòng nhân ái mà còn thể hiện sự sáng tạo và độc đáo trong cách viết. Bài thơ 'Dương Phụ Hành' là một minh chứng rõ ràng cho điều này.
Dương phụ hành là một tác phẩm được Cao Bá Quát viết khi ông đang phục vụ ở Indonesia. Mặc dù là một hành trình đi phục vụ nhưng nó cũng là cơ hội để ông tiếp xúc với vẻ đẹp mới và tiếp thu những trải nghiệm mới. Trong bài thơ, ông miêu tả hình ảnh một người phụ nữ Tây phương duyên dáng và xinh đẹp trong áo trắng tinh khôi.
“Thiếu phụ Tây Dương, mặc áo trắng tinh khôi,
Tựa vai chồng dưới ánh trăng vắng.”
Dường như với phần lớn người dân phương Đông, màu trắng pha không được xem là một màu sắc đẹp, mà thường mang theo một cảm giác tang thương, buồn bã. Ít ai dám mặc tự tin diện trang phục trắng ra ngoài, thường chỉ sử dụng như là lớp áo lót được che giấu bên trong, được che phủ bởi những mảnh trang phục khác màu. Tuy nhiên, người phụ nữ phương Tây lại vượt ra khỏi những quan niệm đó khi mặc một bộ váy trắng pha. Đáng ngạc nhiên hơn, trang phục ấy càng làm tôn lên vẻ đẹp dịu dàng, tinh tế của người phụ nữ. Hơn nữa, cô ấy công khai tỏ ra hạnh phúc khi tựa vào vai chồng để ngắm nhìn 'bóng trăng thâu', một hình ảnh mà đối với ngày nay có thể coi là lãng mạn, nhưng trong mắt của những người đã trải qua thời kỳ lễ giáo xưa thì lại có một sức hút đặc biệt. Tuy nhiên, với tầm nhìn và suy tư rộng lớn của mình, Cao Bá Quát lại cảm thấy hình ảnh ấy thật đẹp, thật duyên dáng và thật ngọt ngào, làm ông mơ ước rằng mình cũng có thể trải qua điều đó trong cuộc đời. Nhà thơ có vẻ ngạc nhiên và hứng thú như khi phát hiện ra điều gì đó mới lạ và thú vị, ông tiếp tục nhìn những cử chỉ thân mật, âu yếm mà người phụ nữ dành cho chồng mình, một cách tự nhiên và ấm áp.
“Nhìn thuyền Nam, đèn le lói,
Kéo áo rì rầm nói cùng nhau.”
Người phụ nữ kia thấy điều thú vị trên con thuyền, vì vậy cô nhẹ nhàng giật áo chồng để trò chuyện, chia sẻ, nhìn cô thật dễ thương và gần gũi. Hành động này đã đủ khiến người ta ngạc nhiên, nhưng nó vẫn chưa bằng ba câu sau đây:
“Cốc sữa đưa tay lười biếng,
Trời đêm gió sương lạnh thay!
Uốn éo muốn chồng dỗ dành dậy,”
Vợ chồng dựa vào nhau, cùng trải qua gió đêm lạnh lẽo, họ có ý định quay về nhà. Cô vợ thể hiện sự yếu đuối của mình bằng cử chỉ 'Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy'. Cái cử chỉ đó khiến người ta cảm thấy xao xuyến và đáng yêu đến lạ thường, đồng thời thấy lòng thương cho phụ nữ phương Đông, mà đôi khi không nghĩ tới việc được chồng quan tâm. Lời thơ của Cao Bá Quát như hơi thở dài và lòng ngưỡng mộ trước một nền văn hóa xa lạ. Tất cả những điều ông nhìn thấy từ vợ chồng người thiếu phụ chỉ là lý do, là động lực cho hàng ngàn cảm xúc dồn nén từ bấy lâu. Chỉ một câu thơ cuối mới tiết lộ tâm tư sâu kín của nhà thơ:
“Ai biết đâu nỗi xa lìa này!”
Nhà thơ nhìn thấy tình cảm ấm áp của vợ chồng và cảm thấy xót xa cho sự xa quê, xa nhà của mình. Tình cảm ấy khiến ông mường tượng về người vợ ở quê nhà, về một gia đình hạnh phúc, một mối quan hệ hòa thuận giữa chồng vợ, một tình cảm mà tốt biết mấy. Câu thơ cuối là lời than vãn của sự thiếu vắng nơi đất khách, đồng thời thể hiện cái tính cách phóng khoáng, cái vẻ đẹp nhân văn, mới lạ trong tâm hồn của nhà thơ.
Dương phụ hành là một tác phẩm nhân văn sâu sắc, phản ánh khát khao sâu thẳm trong con người, không kể đến màu da hay tôn giáo, mà là khao khát về một gia đình hạnh phúc, ấm áp. Bài thơ cũng thể hiện quan điểm về quyền của phụ nữ trong gia đình, họ có quyền được chăm sóc, được âu yếm và được yêu thương sau tất cả những gì họ đóng góp cho gia đình.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 4
Cao Bá Quát là một nhà thơ sinh sống dưới triều Nguyễn nước ta, ông là người có tài năng, học vấn, thơ văn của ông mang nhiều màu sắc phong phú và chủ đề đa dạng, bộc lộ được lòng yêu nước thương dân, tấm lòng đồng cảm sâu sắc với những số phận khổ đau, bất hạnh, đồng thời cũng lên án mạnh mẽ chế độ phong kiến mục rỗng. Và đặc biệt so với nhiều nhà thơ cùng thời, thơ của Cao Bá Quát lại mang một phong thái khác lạ, bởi ông biết du nhập và làm mới thơ văn của mình bằng những nét văn hóa, cái đẹp vượt xa ngoài lễ giáo phong kiến phương Đông. Và một minh chứng cụ thể cho quan điểm trên chính là bài Dương phụ hành.
Dương phụ hành có nghĩa là Bài hành về người thiếu phụ phương Tây, được viết khi ông bị cử theo phái bộ của Đào Phú Trí sang Indonesia làm công cán, thực chất chuyến đi này là hành trình đi phục dịch "lấy công chuộc tội". Nhưng cũng chính chuyến đi này đã làm cho Cao Bá Quát được mở rộng tầm mắt, tiếp thu những vẻ đẹp mới từ trời Âu xa xôi, mà có thể theo nhiều nhà nho nhà văn cho ấy là vô phép tắc. Trong đôi mắt nhà thơ người thiếu phụ Tây phương duyên dáng, xinh đẹp hiện lên thật khác lạ trong màu áo trắng tinh khôi như sau:
"Thiếu phụ Tây Dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu,"
Có lẽ với đa phần người phương Đông, màu "trắng phau" không phải là một màu gì đẹp đẽ, mà mang nhiều không khí tang tóc, buồn bã, cũng không ai dám mặc tự tin diện chúng ra bên ngoài cả, có chăng là lớp áo lót bên trong, được che đậy bằng thứ quần áo có màu khác bên ngoài. Thế mà người phụ nữ Tây phương ấy lại vượt ra khỏi tầm suy nghĩ khi diện một bộ váy trắng phau, và càng bất ngờ hơn bộ váy áo ấy dường như càng tôn lên cái vẻ đẹp dịu dàng, e ấp của người thiếu phụ. Hơn thế nữa, người phụ nữ ấy công khai tựa vào vai chồng thật hạnh phúc để ngắm "bóng trăng thâu", một hình ảnh mà đối với chúng ta bây giờ thực lãng mạn biết mấy, nhưng trong đôi mắt ngập tràn lễ giáo xưa thì có cái lý nào lại như vậy. Tuy nhiên bằng tầm mắt và suy nghĩ rộng mở của mình Cao Bá Quát lại thấy hình ảnh ấy thật đẹp thật duy mỹ, thật ngọt ngào tình cảm quá, khéo mơ ước cả đời cũng chẳng có dịp vậy. Nhà thơ có vẻ ngạc nhiên và cảm giác như bắt được một cái thứ gì đó mới lạ thú vị lắm, ông tiếp tục đưa đôi mắt tinh tế của mình để quan sát thì càng ngạc nhiên hơn trước những cử chỉ thân mật, âu yếm mà người thiếu phụ dành cho chồng mình thật tự nhiên, ấm áp:
"Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rì rầm nói với nhau."
Người thiếu phụ ấy thấy điều thú vị nơi chiếc thuyền, thì tay khẽ giật áo chồng ríu rít tâm sự, kể chuyện nhau nghe, trông thật dễ thương, gần gũi biết bao. Hành động này tuy đã đủ ngạc nhiên nhưng vẫn chưa bằng ba câu sau đây:
"Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,"
Vợ chồng tựa vai nhau, tâm sự cũng đã đủ gió đêm đã lạnh, cả hai cùng có ý về nhà, và cô vợ đã có một cử chỉ thật yêu kiều, thể hiện sự yếu đuối cần che chở bao bọc của người phụ nữ ấy là "Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy". Ôi nghe cái cử chỉ nũng nịu ấy sao thấy xao xuyến và dễ thương đến lạ lùng, bỗng thấy phụ nữ phương Đông thật khổ hạnh, chắc chẳng bao giờ nghĩ tới việc được chồng đỡ đàn cho tí chút, chỉ chăm chăm cơm nước hầu hạ, chẳng khác con ở là mấy. Tất cả cũng chỉ tại cái lễ giáo cứng nhắc, bảo thủ một cách hài hước đã vùi dập làm cho cái đẹp đẽ trong tình cảm vợ chồng, cái yếu đuối, mong ước được chiều chuộng của người phụ nữ không có cơ hội ngóc đầu. Lời thơ của Cao Bá Quát cũng như tiếng thở dài và lòng ngưỡng mộ trước một thứ văn hóa xa lạ, nhưng tất cả những điều ông hằng quan sát từ vợ chồng người thiếu phụ nọ chỉ là cái cớ, cái bệ phóng cho hàng vạn những cảm xúc dồn nén từ đáy lòng bấy lâu. Chỉ một câu thơ cuối ta mới vỡ lẽ ra nhưng tâm tư kín đáo ấy của nhà thơ:
Hóa ra, nhà thơ đang nhìn cảnh vợ chồng họ tình cảm mà tự thấy xót xa cho thân phận xa quê, xa gia đình của mình đấy ư, quả thật đắng cay trăm ngàn. Chính tình cảm lứa đôi ấm nồng, khiến người ta phải thổn thức ghen tị đến đỏ mắt đã khiến ông mường tượng về người vợ nơi quê nhà, nỗi khát khao về một gia đình hạnh phúc, chồng vợ thuận hòa, hai bên đỡ đần mà lại tình cảm như thế kia thì tốt biết mấy. Câu thơ cuối là lời than của sự thiếu vắng nơi đất khách, đồng thời cũng thể hiện cái bản tính phóng khoáng , vẻ đẹp thật nhân văn, mới mẻ nơi tâm hồn người thi sĩ.
Dương phụ hành là một tác phẩm có tính nhân văn sâu sắc, phản ánh khát khao sâu thẳm bên trong con người, không phân biệt màu da, tôn giáo ấy là nỗi niềm khát khao về một gia đình hạnh phúc, ấm áp, mong ước có được tình cảm gần gũi giữa vợ chồng. Đồng thời bài thơ cũng thể hiện một góc nhìn mới, một cái nhìn thật nhân văn, ấy là người phụ nữ có quyền được chở che, được nũng nịu và được thương yêu sau tất cả những gì họ hi sinh cho gia đình.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 5
Ở Bài hành về người, thiếu phụ phương Tây được sáng tác trong dịp Cao Bá Quát theo phái bộ của Đào Phú Trí đi công cán ở Inđônêxia. Tiếng là được “dương trình hiệu lực” nhưng thực chất là điều đi phục dịch để “lấy công chuộc tội”. Tuy thế “có cuộc hoạn du mới biết cá lớn nghìn dặm”, trên hải trình công cán, nhà thơ mới có dịp tiếp xúc với những người châu Âu, với một nền văn minh xa lạ, từ đó mở rộng tầm mắt và tâm hồn. Đặc biệt, chuyến đi đã giúp tác giả phát hiện ra những nét mới đáng yêu của người đàn bà Tây phương và trong mắt Cao Bá Quát, người đàn bà Tây Phương hiện lên thật sinh động, hấp dẫn:
Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu,
Cuộc đời nhiều thăng trầm và bôn ba đã rèn cho Cao Bá Quát năn lực quan sát nhạy bén, sắc sảo. Chỉ vài chi tiết cụ thể theo lối tả thực, nhà thơ đã khắc họa được một hình ảnh đầy ấn tượng. Đó là màu áo trắng - “ tuyết” của người thiếu phụ Tây dương. Người phương Đông vốn vẫn coi màu trắng là màu của tang tóc. Ở đây, tác giả kín đáo cảm nhận màu áo đó như một vẻ đẹp. Tinh ý, ta có thể nhận thấy điều đó qua lối so sánh. Nhưng lạ hơn là hành vi của nàng “Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu”. Người đàn bà Phương Đông mẫu mực, hiền thục là ke lo phận sự “nàng không sửa túi” cho chồng và cũng chỉ quen với việc “cử án tề mi” đâu có dám "tựa vai chồng” để cùng ngồi ngắm tráng một cách vừa “thiếu ý tứ“ vừa “vô lè’" như vậy? ơ đây, thậm chí, còn ngồi ngay trước sự quan sát của tất cả mọi người. Nhưng không thể phủ nhận đó là một cảnh rất đẹp. Màu trắng của áo, ánh sáng cua vầng trăng và cử chỉ tựa vai chồng thật trữ tình, lãng mạn. Chắc chắn, đăng sau những nét bút miêu tả đó là cái nhìn ngạc nhiên, thú vị. Thú vị hơn vẫn là những cử chỉ thân mật, tự nhiên của nàng:
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rầm rì nói với nhau
Nhưng tất cả những điều đó chưa gây ngạc nhiên bằng những hình ảnh tiếp theo sau này:
Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng năng đỡ dậy.
Chỉ thấy ở người thiếu phụ ấy vẻ kiều mị, duyên dáng. Cả cái nghiêng mình nũng nịu đòi sự chăm sóc chiều chuộng của chồng vẫn thật dễ thương. Tất cả đều được quan sát bằng một đôi mắt thật tinh tế và một ngòi bút miêu tả thật khách quan. Sự đồng cảm, tán thưởng chỉ được bộc lộ một cách kín đáo. Chính vì vậy mà hình tượng người đàn bà Tây dương trong bài thơ mới mang những nét riêng đặc sắc.
Ngày nay, những lời nói, cử chỉ hồn nhiên kia đối với con người Việt Nam hiện đại là quá đỗi bình thường, thậm chí chẳng có mấy ý nghĩa đặc biệt. Nhưng với thời bấy giờ, khi mà xã hội phong kiến Việt Nam còn bó buộc trong những quan điểm bảo thủ, thiển cận trong những lối tự tôn lố bịch, mù quáng thì việc tán thưởng, đồng tình với một vẻ dẹp xa lạ như thế là hành vi nghệ thuật thể hiện một quan niệm mới mẻ, hiện đại.
Những mạch cảm xúc trữ tình của tác giả không dừng lại ở đó. Toàn bộ bức tranh đầy gợi cảm về hình ảnh người thiếu phụ Tây dương, về cặp vợ chồng người Phương Tây dù được miêu ta rất thực, rất sinh động vẫn có vẻ như đóng vai trò của những chi tiết nhằm dồn nén cảm xúc để đến dòng thơ cuối cùng, con người ôm nỗi thống khố rối bời và đặc biệt kín đáo ấy không thể kìm giữ được nữa, phải thốt lên lời tự than:
Biết đâu nỗi khách biệt li này!
Tưởng đâu là nỗi sầu xa xứ. Không phải, nỗi biệt li được gợi lên từ cảnh hạnh phúc, trìu mến của lứa đôi. Và ta có thể đoán được dòng chảy ngầm của tâm trạng tác giả: nỗi khát khao hạnh phúc gia đình, nỗi nhớ nhung tình chồng vợ. Sự giãi bày này lại cũng là một phương diện bộc lộ vẻ đẹp nhân văn sâu sắc trong tâm hồn người trí thức ngang tàng, phóng túng.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 6
Cao Bá Quát là một trong các nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam những năm nửa đầu thế kỉ XIX. Ông nổi tiếng là người có nhân cách cứng rắn, ngang tàng và là ngòi bút tài hoa, các tác phẩm của ông đều rất mới mẻ, sắc sảo. Ta có thể ví thơ ông là một cây đàn điệu hết sức phong phú trong nội dung và cảm hứng sáng tác. Đó là những tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương xứ sở đồng thời cũng là sự đồng cảm sâu sắc với bao mảnh đời khổ đau, bất hạnh, bộc lộ niềm tự hào về quá khứ hào hùng của dân tộc, lên án và phê phán mạnh mẽ sự thối nát của chế độ phong kiến đương thời.
"Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu,
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rầm rì nói với nhau
Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng năng đỡ dậy.
Biết đâu nỗi khách biệt li này!"
Tác phẩm Dương Phụ Hành được Cao Bá Quát sáng tác trong lần ông có dịp theo phái bộ của Đào Phú Trí đi công cán bên Inđônêxia. Tiếng là được “dương trình hiệu lực” nhưng thực ra là điều đi để phục dịch “lấy công chuộc tội”. Tuy vậy mới “có cuộc hoạn du mới biết cá lớn nghìn dặm”, trên chặng đường đi công cán, nhà thơ đã có dịp được trò chuyện, tiếp xúc với những người châu Âu, được tiếp thu thêm một nền văn minh mới lạ, từ đó đôi mắt và tâm hồn nhà thơ như được mở rộng thêm. Đặc biệt, chuyến đi ấy đã giúp Cao Bá Quát phát hiện ra nhiều nét mới đáng yêu của người đàn bà Tây phương, trong mắt ông người đàn bà ấy hiện lên thật sinh động và hấp dẫn:
"Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu,"
Cuộc đời nhiều vất vả bôn ba, cùng với nhiều thăng trầm đã tôi luyện cho Cao Bá Quát năng lực quan sát sắc sảo, nhạy bén. Chỉ bằng vài chi tiết cụ thể khắc họa theo lối tả thực, qua đó nhà thơ đã thành công vẽ nên một hình ảnh đầy ấn tượng trong mắt độc giả. Đó là màu “áo trắng” tinh của người “thiếu phụ Tây dương”. Vốn từ xưa tới nay người phương Đông vẫn coi màu trắng là màu đại diện cho tang tóc. Nhưng ở đây, tác giả kín đáo mà tinh tế cảm nhận màu áo ấy như một vẻ đẹp. Nếu tinh ý, ta có thể phát hiện ngay điều đó qua lối so sánh của tác giả. Nhưng lạ hơn nữa là hành vi của người đàn bà ấy “Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu”. Có thể thấy những người phụ nữ Phương Đông họ rất mẫu mực, hiền thục đã quen với việc “cử án tề mi” nên chẳng dám "tựa vai chồng” để cùng chồng ngồi ngắm trăng một cách “thiếu ý tứ“ và “vô lễ’" như vậy? Nhưng không, người đàn bà này thậm chí còn ngồi ngay bên cạnh chồng trước ánh mắt thắc mắc của tất cả mọi người. Nhưng chắc chắn không thể phủ nhận rằng cảnh tượng ấy rất đẹp. Màu trắng của áo hòa cùng với ánh sáng của vầng trăng và hành động tựa vai chồng khắc họa nên một khung cảnh thật trữ tình, lãng mạn và thơ mộng biết bao. Và chắc chắn, đằng sau những nét bút, lời văn miêu tả ấy là cái nhìn ngạc nhiên, bất ngờ vô cùng. Điều khiến tác giả thấy thật sự thú vị chính là những cử chỉ tự nhiên, thân mật của nàng:
"Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rầm rì nói với nhau
Không chỉ dừng ở đó, nằng ấy còn:
Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng năng đỡ dậy."
Chỉ thấy ở người thiếu phụ ấy hiện lên vẻ yêu kiều, duyên dáng. Cả cái nghiêng mình làm nũng đòi sự yêu thương, chăm sóc chiều chuộng của chồng thật dễ thương dễ thường làm sao. Tất cả những chi tiết ấy đều được quan sát bằng đôi mắt tinh tế của Cao Bá Quát, ông đã ghi lại và miêu tả cảnh tượng ấy thật khách quan. Sự đồng cảm, tán thưởng được tác giả được bộc lộ một cách nhẹ nhàng, kín đáo. Chính vì lẽ đó mà hình tượng người đàn bà Tây dương trong tác phẩm mới mang những nét riêng rất độc đáo và đặc sắc. Trong xã hội hiện đại ngày nay, có thể những lời nói và cử chỉ hồn nhiên kia đối với mọi người là quá đỗi bình thường, thậm chí người ta còn thấy rằng rất ngọt ngào và chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt. Nhưng đối với thời bấy giờ, khi ấy xã hội phong kiến Việt Nam còn bị bó buộc bởi những quan điểm bảo thủ, cự đoan, thiển cận trong những lối tự tôn mù quáng, lố lăng thì việc tán thưởng hay đồng tình với một cảnh tượng đẹp đẽ và xa lạ như thế đã thể hiện quan niệm nghệ thuật thật mới mẻ và hiện đại.
Mạch cảm xúc trữ tình của tác giả vẫn tuôn trào và không dừng lại ở đó. Toàn bộ bức tranh đầy gợi cảm, ngọt ngào về hình ảnh người thiếu phụ Tây dương, về hành động, cử chỉ của đôi vợ chồng người Phương Tây dù được Cao Bá Quát miêu ta rất thực, rất sinh động nhưng dường như có vẻ những chi tiết ấy đóng vai trò nhằm dồn nén cảm xúc để tới dòng thơ cuối cùng thì con người thi sĩ ôm nỗi thống khố rối bời và kín đáo ấy đã chẳng thể kìm hãm được nữa, mà đã thốt lên một lời tự than:
Biết đâu nỗi khách biệt li này!
Tưởng đâu đây là nỗi sầu xa xử, nhưng không phải, từ cảnh tình cảm hạnh phúc, trìu mến của lứa đôi lại gợi lên trong tâm trí người thi sĩ về một nỗi buồn của sự biệt lí. Và ta có thể đoán được dòng chảy ngầm trong tâm trạng của nhà thơ: nỗi khát khao về một gia đình hạnh phúc, nỗi nhớ nhung tình vợ tình chồng. Sự giãi bày, chia sẽ này cũng là một trong những phương diện bộc lộ vẻ đẹp nhân văn sâu sắc ẩn sâu trong tâm hồn của người trí thức phóng khoáng, ngang tàng.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 7
Cao Bá Quát là một trong các nhà thơ lớn của nền văn học. Mạch cảm xúc trữ tình của tác giả vẫn tuôn trào và không dừng lại ở đó.
Toàn bộ bức tranh đầy gợi cảm, ngọt ngào về hình ảnh người thiếu phụ Tây dương, về hành động, cử chỉ của đôi vợ chồng người Phương Tây dù được Cao Bá Quát miêu ta rất thực, rất sinh động nhưng dường như có vẻ những chi tiết ấy đóng vai trò nhằm dồn nén cảm xúc để tới dòng thơ cuối cùng thì con người thi sĩ ôm nỗi thống khố rối bời và kín đáo ấy đã chẳng thể kìm hãm được nữa, mà đã thốt lên một lời tự than:"Biết đâu nỗi khách biệt li này!".
Tưởng đâu đây là nỗi sầu xa xứ, nhưng không phải, từ cảnh tình cảm hạnh phúc, trìu mến của lứa đôi lại gợi lên trong tâm trí người thi sĩ về một nỗi buồn của sự biệt lí. Và ta có thể đoán được dòng chảy ngầm trong tâm trạng của nhà thơ: nỗi khát khao về một gia đình hạnh phúc, nỗi nhớ nhung tình vợ tình chồng.
Sự giãi bày, chia sẽ này cũng là một trong những phương diện bộc lộ vẻ đẹp nhân văn sâu sắc ẩn sâu trong tâm hồn của người trí thức phóng khoáng, ngang tàng. Việt Nam những năm nửa đầu thế kỉ XIX. Ông nổi tiếng là người có nhân cách cứng rắn, ngang tàng và là ngòi bút tài hoa, các tác phẩm của ông đều rất mới mẻ, sắc sảo.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 8
"Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo rầm rì nói với nhau
Không chỉ dừng ở đó, nằng ấy còn:
Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy."
Chỉ thấy ở người thiếu phụ ấy hiện lên vẻ yêu kiều, duyên dáng. Cả cái nghiêng mình làm nũng đòi sự yêu thương, chăm sóc chiều chuộng của chồng thật dễ thương làm sao.
Tất cả những chi tiết ấy đều được quan sát bằng đôi mắt tinh tế của Cao Bá Quát, ông đã ghi lại và miêu tả cảnh tượng ấy thật khách quan. Sự đồng cảm, tán thưởng được tác giả được bộc lộ một cách nhẹ nhàng, kín đáo. Chính vì lẽ đó mà hình tượng người đàn bà Tây dương trong tác phẩm mới mang những nét riêng rất độc đáo và đặc sắc.
Trong xã hội hiện đại ngày nay, có thể những lời nói và cử chỉ hồn nhiên kia đối với mọi người là quá đỗi bình thường, thậm chí người ta còn thấy rằng rất ngọt ngào và chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt.
Nhưng đối với thời bấy giờ, khi ấy xã hội phong kiến Việt Nam còn bị bó buộc bởi những quan điểm bảo thủ, cực đoan, thiển cận trong những lối tự tôn mù quáng, lố lăng thì việc tán thưởng hay đồng tình với một cảnh tượng đẹp đẽ và xa lạ như thế đã thể hiện quan niệm nghệ thuật thật mới mẻ và hiện đại.
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 9
“Cao Bá Quát trước mắt chúng ta, tượng trưng cho tài thơ và tinh thần phản kháng. Còn triết lý của ông chính là bền bỉ phục vụ cho đời” (Xuân Diệu). Quả thực, Cao Bá Quát không chỉ là một người anh hùng phất cờ khởi nghĩa trong lòng nhân dân mà còn là nhà thơ kiệt xuất. Tài năng văn chương cùng tấm lòng giúp dân, giúp đời của ông được thể hiện một cách độc đáo, tinh tế qua “Dương phụ hành”.
Cao Bá Quát (1809 - 1853?), có tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho, có truyền thống khoa cử nhưng con đường quan lộ của ông lại gặp nhiều trắc trở. Ông đi thi nhiều lần không đỗ và chỉ được làm một số chức quan nhỏ trong triều đình. Cá tính phóng túng, ngang tàng của Cao Bá Quát vốn dĩ không thể hòa hợp với môi trường bảo thủ, khuôn phép cao độ của triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Khi đi chấm sơ khảo trường thi ở Thừa Thiên, do mắc phải sai sót mà ông bị điều đi “lấy công chuộc tội” ở Indonesia. Về sau, ông được khôi phục chức quan cũ rồi đảm đương một số chức quan nhỏ khác trong triều. Khi mâu thuẫn giữa nhân dân và triều đình được đẩy lên cao độ, đời sống bá tánh lầm than cơ cực, Cao Bá Quát đã dựng cờ khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa thất bại, triều đình nhà Nguyễn ra lệnh “tru di tam tộc” họ Cao và tiêu hủy các tác phẩm của Cao Bá Quát. Tuy nhiên, tên tuổi cùng những sáng tác của ông vẫn được hậu thế lưu truyền cho đến ngày nay. “Dương phụ hành” được sáng tác trong khoảng thời gian ông bị đi đày, cho thấy cảm quan hiện thực mới mẻ và sâu sắc cùng lòng nhân đạo của nhà thơ.
Khoảng thời gian đi đày, phải xa quê hương vô cùng gian khổ nhưng cũng đem lại những tác động to lớn đối với tâm hồn Cao Bá Quát. Ông có cơ hội chứng kiến những cảnh mới, người mới và nảy sinh những suy tư về xã hội, thời đại. Mở đầu bài hành là một hình ảnh giản dị mà không kém phần sinh động:
Tây dương thiếu phụ y như tuyết
Độc bằng lang kiên toạ thanh nguyệt
(Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu)
Giữa đêm trăng thanh trên đất khách, nhân vật trữ tình đã đặc biệt chú ý đến một thiếu phụ phương Tây. Trang phục của người phụ nữ ấy có màu trắng tinh tựa như tuyết, khác với trang phục thường thấy của những người phụ nữ bình dân phương Đông. Dưới ánh trăng, người phụ nữ tựa vai chồng thật tình tứ. Sắc trắng của áo thiếu phụ hòa cùng với ánh sáng bàng bạc của trăng tạo nên cảm giác yên bình và nên thơ. Sự tự nhiên, thân mật của đôi vợ chồng ấy đã tạo cho tác giả không ít bất ngờ, thích thú.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết
(Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói
Kéo áo, rì rầm nói với nhau)
Tác giả đã quan sát và ghi lại từng cử chỉ, hành động của người phụ nữ. Văn học trung đại khắc họa thiên nhiên, con người thường dùng ước lệ, tượng trưng. Những nhà nho xưa đã quen ví vẻ đẹp con người với tùng, cúc, trúc, mai. Nay Cao Bá Quát cũng viết bài hành bằng chữ Hán nhưng không cần dùng bất cứ hình ảnh ước lệ nào để làm nổi bật vẻ chân thực, sống động của cảnh trước mắt. Thiếu phụ phương Tây ngó nhìn ánh đèn le lói từ phía thuyền của người Nam. Đôi vợ chồng cùng kéo áo rì rầm điều gì đó. Đây không phải là khung cảnh thường thấy trong xã hội phong kiến nước ta lúc bấy giờ. Hành động nhỏ nhặt, bình thường cùng cảnh tượng ấm êm ấy đã làm nảy sinh trong tâm hồn nhà thơ biết bao nỗi khắc khoải, suy tư khi sống trong cảnh cô đơn nơi đất khách quê người.
Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì
Dạ hàn vô ná hải phong xuy
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi
Khỏi thức Nam nhân hữu biệt li.
(Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chống nâng đỡ dậy
Biết đâu nỗi khách biệt li này)
Các từ “Hững hờ”, “Uốn éo” cho thấy tâm thế thoải mái của người phụ nữ khi ở cạnh chồng. Cô như đòi hỏi sự yêu thương, chăm sóc từ chồng. Một hành động bình thường nhưng cho thấy sự khác biệt trong văn hóa ở những vùng đất khác nhau. Sự ấm áp, niềm hạnh phúc toát ra từ phía cặp vợ chồng đối lập với hình ảnh ở câu dưới: Dạ hàn vô ná hải phong xuy (Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!). Đêm trên bến vắng, gió thổi từng cơn lạnh lẽo, sương rơi như thấm cả vào hồn người. Kẻ tha hương mang nặng cõi lòng buốt giá. Đứng trước thiên nhiên và bầu trời đêm rộng lớn, chứng kiến sự đầm ấm từ đôi vợ chồng, Cao Bá Quát tự thấy mình là “khách biệt li” cô đơn, lẻ loi, tủi hờn. Nỗi lòng của khách biệt li chính là nỗi đau xót trước thời thế loạn lạc, tài năng không được trọng dụng, con đường công danh gặp nhiều trắc trở và đời sống nhân dân lầm than cơ cực vì xã hội phong kiến lạc hâu, triều đình bảo thủ. Cao Bá Quát đã ngầm ủng hộ quyền tự do, hạnh phúc của con người và bày tỏ niềm yêu nước, thương dân thông qua bài hành về người thiếu phụ phương Tây.
“Dương phụ hành” là tác phẩm chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả, ca ngợi khát khao hạnh phúc, tự do đáng quý của con người và cho ta thấy cái nhìn hiện thực đầy phóng khoáng của Cao Bá Quát. Từ đó, ta thấy được “cái mộng thay đổi thời cuộc và chuyển vần số mệnh” (GS. Thanh Lãng).
Nghị luận về tác phẩm Dương phụ hành - mẫu 10
Dương phụ hành được Cao Bá Quát sáng tác trong chuyến xuất dương hiệu lực năm 1844. Bài thơ được viết theo thể hành, một thể của thơ cổ phong.
Các chi tiết miêu tả người thiếu phụ phương Tây: áo trắng phau, tựa vào vai chồng, kéo chồng thì thầm nói, tay cầm một cốc sữa, nũng nịu đòi chồng đỡ dậy. Tất cả những chi tiết đó làm nổi bật lên hình ảnh một người phụ nữ đang làm nũng với chồng của mình. Nàng muốn được chồng yêu mến, chiều chuộng và cảm thấy hạnh phúc khi làm những hành động đấy. Đây cũng là cách tác giả muốn nói đến người phương Tây, họ luôn cởi mở, phóng khoáng và không e ngại khi làm những hành động như vậy ở nơi công cộng bởi theo họ vợ chồng yêu nhau là việc hết sức bình thường.
Câu thơ phần nào cho thấy sự phóng túng, sa hoa trong cách ăn mặc của người phương Tây khiến tác giả có phần lạ lẫm:
“Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói
Kéo áo, rì rầm nói với nhau”
Hình ảnh người thiếu phụ tựa vai chồng một cách âu yếm, hạnh phúc khiến tác giả có chút ghen tị khi nhìn lại hoàn cảnh của mình. Người thiếu phụ tiếp tục làm nũng chồng khiến tác giả càng thêm buồn vì tình cảnh lẻ loi, cô độc nơi đất khách quê người của mình. Nỗi buồn, cô đơn của tác giả được đẩy lên cao trào và thốt ra thành lời, tác giả thương thay cho thân phận đất khách quê hương và tình cảnh lẻ loi, cô độc của mình.
Câu thơ cuối cùng tương phản với bảy câu thơ trước đó. Nhà thơ tự hỏi chính mình:
“Biết đâu nỗi khách biệt li này”
Câu thơ cuối trở thành câu thơ hay nhất của bài Dương phụ hành. Chúng ta khâm phục, chia sẻ với những khát vọng nhân đạo chủ nghĩa ở nhà thơ. Chúng ta càng đau đớn với tấm lòng giàu tình yêu thương của ông. Cao Bá Quát sừng sững một khí phách và cũng biết bao ân tình của một trái tim dào dạt, mềm yếu! Người thì đang hạnh phúc sum họp, còn nhà thơ thì đang sống trong nỗi đau buồn và cô đơn của cảnh biệt ly. Nỗi đau càng được nhân lên nhiều lần trong cảnh ngộ phải đi “dương trình hiệu lực”, tài năng bị dập vùi, công danh bị dở dang, một kẻ sĩ trải qua nhiều cay đắng trên con đường hoan lộ. Chỉ một câu thơ mà nói được bao điều tâm sự.
Tâm trạng của nhân trạng nhân vật trữ tình trong câu thơ kết chính là nỗi nhớ khi xa quê, xa gia đình. Bên cạnh đó, câu thơ còn thể hiện tính nhân văn, một góc nhìn mới rất hiện đại, ông như được mở mang đầu óc sau chuyến đi đó. Qua bài thơ, người đọc thấy được cái nhìn đa sầu, đa cảm và tư tưởng tiến bộ của nhà thơ. Đpồng thời, cũng thể hiện tâm hồn phóng khoáng, đầy nhân văn của tác giả, tác giả cũng mong muốn có một gia đình ấm no, hạnh phúc, tác giả cũng được khai sáng hơn sau chuyến đi này, mở ra một góc nhìn thoáng hơn, mới hơn, hiện đại hơn.
Dương phụ hành là một bài thơ hay khi tác giả khắc họa chân dung người thiếu phụ Tây Dương, qua đó nhà thơ nghĩ về giai nhân và tài tử, về hạnh phúc trong sum họp và nỗi đau trong li biệt. Trong chuyến đi này, ông có dịp tiếp xúc với những người châu Âu, thấy nhiều điều mới lạ.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Bộ phim Người cha và con gái (Father and Daughter)
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Bộ phim Mùi cỏ cháy
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Thần Trụ trời
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Tiễn dặn người yêu
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Cảnh Khuya
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật: Truyện Kiều
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 11 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Friends Global
- Lớp 11 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 11 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 11 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 11 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 11 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 11 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - KNTT
- Giải sgk Tin học 11 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 11 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 11 - KNTT
- Lớp 11 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 11 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 11 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 11 - CTST
- Giải sgk Hóa học 11 - CTST
- Giải sgk Sinh học 11 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 11 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 11 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 11 - CTST
- Lớp 11 - Cánh diều
- Soạn văn 11 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 11 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 11 - Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 11 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 11 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

