10+ Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (điểm cao)
Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Tú Uyên gặp Giáng Kiều điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 1)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 2)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 3)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 4)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 5)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 6)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 7)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 8)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu 9)
- Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (mẫu khác)
10+ Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều (điểm cao)
Dàn ý Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều
a) Mở bài:
- Dẫn dắt và giới thiệu về tác phẩm
b) Thân bài:
1. Nỗi nhớ da diết và tâm trạng tương tư của Tú Uyên
- Sau cuộc gặp gỡ tình cờ, Tú Uyên tương tư người đẹp (Giáng Kiều).
- Nỗi nhớ thể hiện qua sự thay đổi tâm trạng: buồn bã, thơ thẩn, cảnh vật qua ánh mắt chàng trở nên ảm đạm (mưa hoa, song hồ).
-> Thể hiện tình yêu chân thành, sâu sắc và sự khao khát được gặp lại người trong mộng.
2. Cuộc gặp gỡ kỳ ảo (mô-típ người trong tranh)
- Tú Uyên mua bức tranh thiếu nữ có dung nhan giống hệt người trong mộng, ngày ngày bầu bạn.
- Sự biến hóa kỳ lạ: Cơm ngon, canh ngọt bày sẵn khi chàng đi học về.
- Quyết định "rình" và chứng kiến Giáng Kiều bước ra từ tranh -> Yếu tố kỳ ảo mang đậm màu sắc lãng mạn.
-> Đỉnh điểm của tình yêu, biến ước mơ thành hiện thực, phản ánh khát vọng hạnh phúc chủ động.
3. Đối thoại và mối nhân duyên trời định
- Cuộc trò chuyện giữa Tú Uyên và Giáng Kiều: Dịu dàng, tâm đầu ý hợp.
- Giáng Kiều tự giới thiệu là tiên, đến vì mối duyên tiền định.
-> Mối tình không chỉ dựa trên sự ngưỡng mộ sắc đẹp mà còn là sự kết nối tâm hồn, mang màu sắc tri âm tri kỷ.
4. Đặc sắc nghệ thuật
- Thể thơ: Lục bát uyển chuyển, giàu tính nhạc.
- Ngôn ngữ: Ước lệ, tượng trưng, đậm đà tính văn học dân gian kết hợp ngôn từ sang trọng.
- Xây dựng tình huống: Lãng mạn, kỳ ảo, tạo nên câu chuyện tình yêu "kỳ ngộ" (gặp gỡ kỳ lạ).
c) Kết bài:
- Khẳng định giá trị tác phẩm: "Tú Uyên gặp Giáng Kiều" là một thiên tình ca lãng mạn, tôn vinh tình yêu tự do, vượt qua khuôn khổ lễ giáo.
- Ý nghĩa: Thể hiện ước mơ, khát vọng của con người về một hạnh phúc viên mãn, bền chặt.
- Cảm nghĩ bản thân: Bài học về sự kiên trì trong tình yêu và cái nhìn nhân văn của tác giả.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 1
Trong kho tàng văn học trung đại Việt Nam, truyện thơ Nôm không chỉ là phương tiện kể chuyện mà còn là không gian để con người gửi gắm những ước mơ thầm kín về cuộc sống và tình yêu. Nổi bật trong số đó, Tú Uyên gặp Giáng Kiều là một tác phẩm giàu chất lãng mạn, kết hợp hài hòa giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực, qua đó thể hiện sâu sắc khát vọng hạnh phúc, đồng thời gửi gắm những triết lý nhân sinh giàu ý nghĩa.
Trước hết, sức hấp dẫn của tác phẩm đến từ cốt truyện độc đáo, giàu tính kỳ ảo. Câu chuyện xoay quanh Tú Uyên – một nho sinh tài hoa, sống trong cảnh cô đơn – tình cờ gặp gỡ Giáng Kiều, một nàng tiên từ trong tranh bước ra. Motif “người đẹp trong tranh” không chỉ tạo nên màu sắc huyền ảo mà còn mang ý nghĩa biểu tượng: đó là hình ảnh của cái đẹp lý tưởng mà con người luôn khao khát vươn tới. Không gian truyện vì thế vừa thực vừa mộng, phản ánh tâm lý con người thời trung đại luôn mong muốn vượt thoát khỏi những ràng buộc chật hẹp của lễ giáo để tìm đến một thế giới tự do hơn.
Tuy nhiên, điều làm nên giá trị bền vững của tác phẩm không chỉ nằm ở yếu tố kỳ ảo mà còn ở chiều sâu khắc họa nhân vật. Tú Uyên hiện lên là một trí thức có tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp và khao khát tình yêu chân thành. Nhưng chàng không phải hình mẫu hoàn hảo; trái lại, sự buông thả, thiếu bản lĩnh đã khiến chàng đánh mất hạnh phúc. Khi Giáng Kiều rời đi, Tú Uyên mới thực sự thức tỉnh. Quá trình tự nhận thức này chính là điểm nhấn quan trọng, thể hiện quan niệm nhân sinh tiến bộ: con người chỉ có thể trưởng thành khi biết nhìn nhận sai lầm và sửa chữa.
Đối lập và bổ sung cho Tú Uyên là hình tượng Giáng Kiều – một nhân vật mang vẻ đẹp lý tưởng cả về ngoại hình lẫn tâm hồn. Nàng đại diện cho cái đẹp thuần khiết, cho tình yêu thủy chung và sự hy sinh. Việc Giáng Kiều chấp nhận rời bỏ tiên giới để sống với Tú Uyên cho thấy khát vọng yêu đương mạnh mẽ, dám vượt qua mọi ranh giới. Nhưng khi tình yêu bị tổn thương, nàng cũng dứt khoát ra đi, khẳng định phẩm giá và lòng tự trọng. Nhân vật này vì thế không chỉ là “người đẹp” trong nghĩa truyền thống mà còn mang chiều sâu tâm lý, thể hiện sự kết hợp giữa lý tưởng và hiện thực.
Một phương diện đáng chú ý khác là giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm. Thông qua câu chuyện tình yêu, tác giả đã ca ngợi những tình cảm chân thành, đề cao sự thủy chung và lòng vị tha. Đồng thời, truyện cũng phê phán lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm – nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc. Hành trình tan hợp rồi đoàn viên của hai nhân vật không chỉ mang tính chất “kết thúc có hậu” quen thuộc mà còn thể hiện niềm tin vào khả năng thức tỉnh của con người. Điều này cho thấy một cái nhìn nhân ái, tích cực: con người dù sai lầm vẫn có thể sửa chữa và tìm lại hạnh phúc.
Xét về nghệ thuật, tác phẩm đạt đến sự tinh tế trong việc kết hợp giữa tự sự và trữ tình. Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển góp phần tạo nên giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu tính biểu cảm giúp khắc họa rõ nét không gian kỳ ảo cũng như tâm trạng nhân vật. Đặc biệt, việc sử dụng các yếu tố siêu nhiên không hề khiên cưỡng mà hòa quyện tự nhiên vào mạch truyện, làm tăng sức hấp dẫn và chiều sâu biểu tượng.
Không dừng lại ở giá trị nội dung và nghệ thuật, Tú Uyên gặp Giáng Kiều còn mang ý nghĩa thời đại rõ nét. Trong bối cảnh xã hội phong kiến với nhiều ràng buộc khắt khe, câu chuyện về tình yêu tự do giữa Tú Uyên và Giáng Kiều chính là một lời khẳng định quyền sống, quyền yêu của con người. Dù được kể dưới lớp vỏ kỳ ảo, tác phẩm vẫn phản ánh chân thực những khát vọng rất đời thường: được yêu, được hạnh phúc và được sống đúng với cảm xúc của mình.
Tóm lại, Tú Uyên gặp Giáng Kiều là một tác phẩm giàu giá trị cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Bằng sự kết hợp tài tình giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực, giữa chất lãng mạn và triết lý nhân sinh, truyện thơ đã khắc họa thành công một câu chuyện tình vừa đẹp đẽ vừa sâu sắc. Đọc tác phẩm, người đọc không chỉ rung động trước một mối tình nên thơ mà còn nhận ra những bài học ý nghĩa về trách nhiệm, sự trân trọng và giá trị của tình yêu chân thành trong cuộc sống.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 2
Nói đến truyện thơ Nôm “Bích Câu kì ngộ”, nhiều ý kiến cho rằng tác phẩm vẫn chứa đựng sức hấp dẫn với nhân dân bao đời này bởi đây là một truyện thơ Nôm thuần Việt. Từ những địa danh đến tên người đều đậm chất Việt Nam. Trên bối cảnh của kinh thành Thăng Long xưa, tác giả đã khắc họa mối tình đẹp của Tú Uyên và Giáng Kiều. Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” kể về nỗi tương tư của chàng thư sinh và cuộc gặp mặt bất ngờ của Tú Uyên với người trong mộng.
“Bích Câu kì ngộ” có nghĩa là “Cuộc gặp gỡ kì lạ tại Bích Câu”. Cái tên “Bích Câu” trong nhan đề chính là một địa chỉ văn hóa nổi tiếng ở kinh thành Thăng Long xưa. Nơi đây thường được các vua chúa ghé thăm, tập trung nhiều văn nhân sĩ tử. Chàng thư sinh nghèo Tú Uyên cũng tới Thăng Long để học tập. Khi đi chơi hội chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên đã vô tình gặp Giáng Kiều và say đắm nàng nhưng chưa kịp ngỏ lời làm quen thì cô gái đẹp đã biến mất. Về sau, Tú Uyên gặp một ông lão bán tranh tố nữ, thấy có một bức họa giống hệt người con gái đã gặp dạo trước nên bèn mua tranh về nhà treo. Càng ngày Tú Uyên càng nhung nhớ Giáng Kiều, mải mê ngắm bức tranh:
Mưa hoa khép cánh song hồ
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
Mở đầu đoạn trích là khung cảnh nên thơ ở “song hồ” - nơi cậu học trò nghèo Tú Uyên đọc sách và tương tư về người trong mộng. Cụm từ “Sớm khuya” cho thấy vòng thời gian tuần hoàn, liên tục. Từ khi gặp Giáng Kiều, Tú Uyên mong nhớ không lúc nào nguôi. Chàng quên hết thời gian và không gian xung quanh, chỉ ngắm nhìn bức họa cả ngày lẫn đêm. Nỗi nhớ da diết và mãnh liệt đến mức Tú Uyên cảm tưởng như người con gái trong tranh đang thực sự đứng trước mặt mình. Niềm tương tư được thể hiện ở hành động cụ thể. Cặp số từ “một” - “hai” cùng với các từ “chung”, “thêm” cho thấy thái độ trân trọng, nâng niu của Tú Uyên dành cho bức chân dung Giáng Kiều. Kể cả khi ăn, chàng cũng ngồi trước bức tranh và tưởng tượng người trong mộng đang đứng trước mặt nên làm thơ, mời rượu.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa
Có khi hình ảnh cũng là phát phu
Êm trời vừa tiết trăng thu
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng
Chiều thu như gợi tấm thương
Lòng người trông xuống sông Tương mờ hình
Cặp từ đối lập “gần” - “xa” cùng hai động từ “tưởng” và “nghĩ” thể hiện niềm thương nhớ trào dâng đến bứt rứt trong cõi lòng. Tú Uyên bầu bạn với bức tranh cho khuây khỏa nhưng càng ngắm tranh lại càng nhớ nàng. Bức họa quá đẹp khiến chàng trai đã ngỡ như người thiếu nữ đang kề cạnh rất gần nhưng thực chất khoảng cách vẫn quá xa xôi. Những hình ảnh thiên nhiên như “trăng thu”, “Ngàn sương”, “lá khô” khắc họa nên khung cảnh thiên nhiên yên bình, nên thơ. Dưới ánh trăng mùa thu dịu dàng, màn sương mỏng giăng giăng khắp lối tựa như rắc muôn ngàn ánh bạc xuống nhân gian, thảm lá vàng phủ kín khoảnh sân. Thiên nhiên hòa hợp với tâm trạng con người. Trong văn học, buổi chiều là khoảng thời gian đi liền với nỗi nhớ. Ca dao xưa từng nhiều lần diễn đạt nỗi nhớ nhung rất ý nhị, ngọt ngào:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Với Tú Uyên, chiều thu cũng gợi niềm thương nỗi nhớ. Chàng thư sinh đã gửi lòng mình trôi theo dòng nước sông Tương, chìm vào cõi mộng mơ vì quá đỗi say mê bóng dáng nàng thiếu nữ. Hình ảnh sông Tương trong câu thơ gắn với điển tích khi Vua Thuần mất, hai người vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh cùng khóc thảm thiết trên sông Tương. Từ đó, đây trở thành dòng sông biểu trưng cho nỗi nhớ:
Sông Tương ai gọi rằng sâu
Chẳng bằng phân nửa mạch sầu của ta
Sông Tương sâu hãy còn có đáy
Bệnh tương tư không bảy không bờ
Hướng về thiên nhiên, thiên nhiên càng khắc sâu sự thương nhớ, trông mong nên Tú Uyên lại quay về giãi bày với chính mình và tâm sự với bức tranh:
Kề bên năn nỉ bày tình
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa
Từ phen giáp mặt đến giờ
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn
Ấy ai điểm phấn tô son
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Động từ “năn nỉ” thể hiện sự cồn cào, khao khát được giãi bày tình cảm mãnh liệt của Tú Uyên. Tú Uyên trải lòng về hoàn cảnh của chính mình và về tình yêu. Cặp từ đối lập “ngày” - “đêm” đi liền với hai từ “tưởng”, “mơ” thể hiện nỗi nhớ thường trực, không lúc nào ngơi nghỉ mà luôn cuộn xoáy trong tâm trí chàng trai. “đã chồn” tức là quá mệt mỏi, Tú Uyên nhớ nhung Giáng Kiều đã trở thành “bệnh tương tư”. Lời thơ dường như một lời than vãn, trách móc rất tình tứ. Tú Uyên trách thiếu nữ vì sao lại “điểm phấn tô son” để người quân tử “ruột héo gan mòn”. Tiếng “ai” được lặp lại hai lần, vừa chỉ đối phương vừa chỉ chính mình, đồng nhất hai con người và cũng là hai đầu nỗi nhớ
Tình yêu luôn chứa đựng sức mạnh diệu kì khiến con người có thể đánh đổi tất cả để có được nó. Tú Uyên cũng vậy, chàng đã lấy “Nghìn vàng” và “cung trăng” để thể hiện tình yêu:
Buồng đào nửa bước chẳng rời
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Tú Uyên nhớ Giáng Kiều đến mức tách mình với thế giới bên ngoài, không rời căn buồng nửa bước. Chàng xin được đổi nghìn vàng để lấy nụ cười của nàng. Chữ “nghìn” chỉ nỗi nhớ đằm sâu, không gì so sánh được. Câu thơ là một câu hỏi tu từ, có tác dụng nhấn mạnh tình cảm của Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Không chỉ vậy, chàng còn muốn mở khóa cung trăng để lại được chiêm ngưỡng dung mạo của nàng, vượt qua giới hạn của không gian và thời gian.
Bằng những điển tích, hình ảnh thiên nhiên giàu tính ước lệ, các cặp từ đối lập, cùng câu hỏi tu từ, đoạn thơ đã thể hiện nỗi nhớ da diết, tình yêu mãnh liệt mà Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Tình yêu ấy là biểu tượng cho khát khao hạnh phúc, thoát khỏi thực tại buồn bã của con người.
Tiếp đến là những câu thơ thuật lại sự việc khi Tú Uyên và Giáng Kiều gặp nhau:
So xem phong vị khác thường
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Bỗng đâu thấy sự lạ đời
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhân nhân mày liễu mặt hoa
Này người khi trước đâu mà đến đây?
Một hôm, Tú Uyên đi học, khi trở về đã thấy trong nhà có cơm canh bày sẵn. Bữa cơm ấy có “phong vị khác thường”, tỏa hương thơm như hoa ngọt ngào. Tú Uyên thấy lạ, lòng nảy sinh mối nghi ngờ. Sáng hôm sau, Tú Uyên vờ đi ra ngoài và bất ngờ trở về thì bắt gặp người con gái có dung mạo vô cùng xinh đẹp từ trong tranh bước ra. Trước sự việc ấy, Tú Uyên quá hạnh phúc khi gặp được người trong mộng nên đã hành động vội vã: “Vội vàng đánh tiếng ra chào”. Chi tiết “Bên mừng bên lệ” cho thấy cảm xúc rối rời, hạnh phúc đến mức rơi lệ.
Đáp lại lời chào hỏi từ Tú Uyên, Giáng Kiều cũng e thẹn giới thiệu về mình. Sự xuất hiện của Giáng Kiều khiến ta liên tưởng đến hình ảnh những nàng tiên, cô Tấm trong truyện cổ dân gian Việt Nam rất mực hiền thục, có tấm lòng thơm thảo. Giáng Kiều cũng là cô gái như vậy. Lời nói của nàng toát lên vẻ đoan trang, dịu dàng:
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường
Vì mang má phấn nên vương tơ điều
Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu
Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên
Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân
Cũng là nhờ đức tiên quân
Đóa hoa biết mặt chúa xuân từ rày”
Nàng tự nhận là thân “bồ liễu” mỏng manh, vốn là “khách thanh tiêu” trên trời, có hiệu là Tiên Thù, tên gọi là Giáng Kiều. Vì mối “tơ điều” đã gắn kết nàng và Tú Uyên nên “Ba sinh đã nặng vì duyên”. Qua lời nói của Giáng Kiều có thể thấy mối tình Uyên - Kiều là mối thiên duyên tiền định, được sự đồng thuận của trời đất. Lắng nghe lời nói của Giáng Kiều, Tú Uyên cũng bày tỏ những tâm tư đã chồng chất trong lòng bấy lâu: “ Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi? ”.
Không chỉ có dung nhan xinh đẹp, lời nói ngọt ngào, phẩm cách trang nhã mà Giáng Kiều còn là người phụ nữ có tấm lòng thủy chung, son sắt trong tình yêu và có ý thức cao độ về danh dự của mình:
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh
Dám đâu học thói yến oanh
Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương
Gieo thoi trước đã dở dang
Sao nên nát đá phai vàng như chơi
Mái Tây còn để tiếng đời
Treo gương kim cổ cho người soi chung
Lạ gì hoa với gió đông
Tiếc hương vả cũng nể lòng chim xanh
Một mai mưa gió bất tình
Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ
Nghĩ trong thân phận yếu thơ
Làm chi để tiếng sờ sờ lại sau!
Tác giả đã vận dụng điển tích kén rể của vua Hán Vũ Đế cho công chúa ngồi trên lầu cao ném quả cầu xuống, ai bắt được cầu thì lấy người ấy để thể hiện tấm lòng mà Giáng Kiều dành cho Tú Uyên. Hai từ “quyết” và “thề” được đặt ở hai dòng thơ liền nhau cho thấy thái độ nghiêm túc, trang trọng của Giáng Kiều khi nói về hôn nhân, hạnh phúc. Nàng khẳng định tấm lòng trinh bạch của mình khác xa với “thói yến oanh” ham vui và ngắn ngủi. Cặp từ đối lập “mặn” - “nhạt”, “trăng gió” (hời hợt) - “lửa hương” (mặn nồng) được đặt trong cùng một câu thơ càng khẳng định vẻ đẹp phẩm chất của cô gái và tấm lòng chung thủy trong tình yêu. Những điển tích điển cố như “Gieo thoi”, “Mái Tây” thể hiện ý thức giữ gìn tình yêu của người con gái.
Thưa rằng: “Túc trái tiền nhân
Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi
Song còn mấy bạn tương tri
Bấy lâu chưa có chút gì là đâu
Trước xin từ biệt cùng nhau
Chữ duyên này trở về sau còn dài”
Giáng Kiều đã vận đến “tiền nhân” - duyên nợ từ kiếp trước để nói về lí do nàng xuống trần. Từ trong thâm tâm, Giáng Kiều đã thực sự coi Tú Uyên là “bạn tương tri”. Mối quan hệ tri âm, tri kỉ xưa nay dễ gì bị phai nhạt bởi khoảng cách nên nàng đã hứa “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. Nét đẹp của Giáng Kiều nằm ở sự thông minh, khéo léo, tế nhị và tấm lòng trước sau như một.
Sau cuộc gặp gỡ, đối thoại giữa Tú Uyên và Giáng Kiều là khung cảnh hạnh phúc của đôi uyên ương. Giáng Kiều đã “rút chiếc trâm đầu”, hóa phép tiên để thay đổi khung cảnh xung quanh:
Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài
Tường quang sáng một góc trời
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh tạo
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai
Lả lơi bên nói bên cười
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang
Đong đưa khoe thắm đua vàng
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha
Chỉ trong phút chốc, lều cỏ đã hóa thành lâu đài. Vầng dương quang bao phủ rực rỡ, sáng cả một góc trời. Kẻ vào người ra tấp nập, ai nấy cũng thanh tao, lịch lãm. Các từ láy “Nhởn nhơ”, “Lả lơi”, “Đong đưa” cùng động từ “nói, cười”, “đua”, “khoe” đã diễn tả tâm trạng vui tươi, say trong men rượu của quan khách và gia chủ.
Như vậy, đoạn trích bao gồm nỗi nhớ của Tú Uyên với dáng Kiều, cuộc gặp gỡ của đôi uyên ương chính là biểu hiện cho khát khao hạnh phúc lứa đôi và niềm hy vọng vào tình yêu mãnh liệt. Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc, hệ thống các từ láy giàu tính biểu đạt, các điển tích điển cố, những hình ảnh thiên nhiên ước lệ tượng trưng đã góp phần làm nên thành công cho tác phẩm.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 3
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, những truyện thơ Nôm không chỉ là tiếng nói của trí tưởng tượng mà còn là nơi gửi gắm khát vọng sống, khát vọng yêu của con người. Tú Uyên gặp Giáng Kiều là một tác phẩm tiêu biểu, kể về mối duyên kỳ ngộ giữa người trần và tiên giới, qua đó phản ánh sâu sắc ước mơ về tình yêu tự do, chung thủy và hạnh phúc lứa đôi trong xã hội xưa.
Trước hết, tác phẩm gây ấn tượng bởi cốt truyện giàu yếu tố kỳ ảo. Nhân vật Tú Uyên – một nho sinh tài hoa nhưng cô đơn – đã gặp gỡ và nên duyên với Giáng Kiều, một nàng tiên giáng trần. Chi tiết bức tranh hóa thành người thật không chỉ thể hiện trí tưởng tượng phong phú của tác giả mà còn mở ra một thế giới nơi ranh giới giữa thực và mộng bị xóa nhòa. Yếu tố kỳ ảo ấy không đơn thuần để gây hấp dẫn mà còn góp phần thể hiện khát vọng vượt thoát khỏi thực tại tù túng, nơi con người bị ràng buộc bởi lễ giáo và định kiến.
Bên cạnh đó, hình tượng nhân vật Tú Uyên mang đậm dấu ấn của con người thời đại. Chàng là người có học thức, biết thưởng thức cái đẹp, có tâm hồn nhạy cảm và khao khát tình yêu chân thành. Tuy nhiên, Tú Uyên cũng không tránh khỏi những yếu đuối, đặc biệt là sự buông thả trong cuộc sống khiến Giáng Kiều phải rời xa. Chính chi tiết này đã tạo nên bước ngoặt quan trọng, giúp nhân vật nhận ra giá trị của tình yêu và sự tỉnh thức trong lối sống. Qua đó, tác phẩm gửi gắm bài học sâu sắc: muốn giữ gìn hạnh phúc, con người cần có trách nhiệm với chính bản thân và với người mình yêu.
Nhân vật Giáng Kiều hiện lên như biểu tượng của vẻ đẹp lý tưởng. Nàng không chỉ xinh đẹp, dịu dàng mà còn giàu lòng vị tha. Việc nàng rời bỏ tiên giới để đến với Tú Uyên thể hiện khát vọng yêu đương mãnh liệt, dám vượt qua mọi ranh giới. Tuy nhiên, khi tình yêu bị tổn thương, nàng cũng quyết định rời đi, qua đó khẳng định lòng tự trọng và phẩm giá. Hình tượng Giáng Kiều vì thế vừa mang vẻ đẹp siêu thực, vừa rất gần gũi với tâm lý con người.
Một trong những giá trị nổi bật của tác phẩm là ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác giả đã ca ngợi tình yêu chân thành, đề cao sự thủy chung và khát vọng hạnh phúc. Đồng thời, truyện cũng phê phán lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm – nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ trong tình cảm. Hành trình đoàn tụ của Tú Uyên và Giáng Kiều ở cuối truyện không chỉ là kết thúc có hậu mà còn thể hiện niềm tin của con người xưa vào sự thức tỉnh và khả năng hàn gắn.
Về nghệ thuật, truyện thơ sử dụng thể lục bát mềm mại, giàu nhạc điệu, kết hợp với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất trữ tình. Các yếu tố kỳ ảo được xây dựng hợp lý, góp phần tăng sức hấp dẫn và chiều sâu ý nghĩa cho tác phẩm. Đặc biệt, cách khắc họa tâm lý nhân vật tinh tế đã giúp câu chuyện vượt lên khỏi khuôn khổ một truyện tình đơn thuần để trở thành một tác phẩm có giá trị nhân sinh.
Tóm lại, Tú Uyên gặp Giáng Kiều không chỉ là câu chuyện tình yêu lãng mạn mà còn là tiếng nói về khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người. Tác phẩm để lại dư âm sâu lắng bởi sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố kỳ ảo và hiện thực, giữa chất trữ tình và triết lý nhân sinh. Qua đó, người đọc hôm nay vẫn có thể tìm thấy những bài học ý nghĩa về tình yêu, trách nhiệm và giá trị của sự trân trọng những gì mình đang có.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 4
Bích Câu kì ngộ vẫn được coi là một tác phẩm thuần Việt hấp dẫn với người đọc nhờ vào bối cảnh lịch sử Thăng Long cổ và mối tình đẹp của Tú Uyên và Giáng Kiều. Trong đoạn trích, Tú Uyên gặp Giáng Kiều tạo nên một câu chuyện tình yêu lãng mạn và đầy cảm xúc.
Tác phẩm mang tên Bích Câu kì ngộ dịch sang tiếng Việt có nghĩa là Cuộc gặp gỡ kỳ lạ tại Bích Câu. Bích Câu là một địa điểm lịch sử nổi tiếng ở Thăng Long, thường được các vị vua ghé thăm. Tú Uyên, một thư sinh nghèo, cũng đến Thăng Long để học tập. Một ngày, khi thăm chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên tình cờ gặp Giáng Kiều và bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của cô gái. Sau đó, khi mua tranh tại một tiệm tranh, Tú Uyên nhận ra rằng bức tranh đó giống hệt Giáng Kiều. Từ đó, Tú Uyên ngày đêm mải mê ngắm nhìn bức tranh và nhớ về Giáng Kiều:
Mưa hoa khép cánh song hồ
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
Khởi đầu đoạn trích là cảnh tượng đẹp và lãng mạn ở bên hồ, nơi Tú Uyên đọc sách và nhớ về người yêu. Từ “Sớm khuya” cho thấy thời gian liên tục. Tú Uyên ngày càng nhớ Giáng Kiều đến mức quên hết thời gian và không gian xung quanh, chỉ tập trung ngắm nhìn bức tranh. Sự tương tư của Tú Uyên được thể hiện qua hành động của anh:
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa
Có khi hình ảnh cũng là phát phu
Êm trời vừa tiết trăng thu
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng
Chiều thu như gợi tấm thương
Lòng người trông xuống sông Tương mờ hình
Dùng cặp từ “gần” - “xa” kết hợp với “tưởng” và “nghĩ” thể hiện sự đắn đo, lo lắng của Tú Uyên trong tâm trạng nhớ nhung. Dù đã tìm thấy sự thoải mái khi ngắm tranh, nhưng càng nhìn, anh càng nhớ đến người trong tranh. Hình ảnh thiên nhiên như “trăng thu”, “Ngàn sương”, “lá khô” vẽ nên một bức tranh tự nhiên tĩnh lặng, đẹp đẽ. Dưới ánh trăng mùa thu nhẹ nhàng, màn sương mỏng che phủ như bạc, lá vàng rơi rụng trên sân. Thiên nhiên phản ánh tâm trạng của con người. Buổi chiều thường gắn liền với nỗi nhớ trong văn học, như một ca dao truyền thống đã nói:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Đối với Tú Uyên, chiều thu là thời khắc nhớ nhung và thương tiếc. Chàng đã đắm chìm trong sự mê muội của hình ảnh nàng, để tâm hồn trôi theo dòng sông Tương. Sông Tương trong thơ là biểu tượng của nỗi nhớ, ký ức:
Sông Tương ai gọi rằng sâu
Chẳng bằng phân nửa mạch sầu của ta
Sông Tương sâu hãy còn có đáy
Bệnh tương tư không bảy không bờ
Hướng về thiên nhiên, Tú Uyên thấy sự thương nhớ và hy vọng trong lòng càng sâu sắc hơn, anh quay về trò chuyện với chính mình và tâm sự với bức tranh:
Kề bên năn nỉ bày tình
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa
Từ phen giáp mặt đến giờ
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn
Ấy ai điểm phấn tô son
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Động từ “năn nỉ” thể hiện sự cầu khẩn, khát khao giãi bày tình cảm mãnh liệt của Tú Uyên. Anh chàng mở lòng về hoàn cảnh cá nhân và về tình yêu. Cặp từ đối lập “ngày” - “đêm” đi kèm với “tưởng”, “mơ” thể hiện nỗi nhớ không ngừng nghỉ, luôn xoay sở trong tâm trí anh. “đã chồn” biểu hiện sự mệt mỏi, Tú Uyên nhớ Giáng Kiều đã trở thành “bệnh tương tư”. Lời thơ như một lời than thở, trách móc rất cảm động. Tú Uyên trách thiếu nữ tại sao lại “điểm phấn tô son” để người quân tử “ruột héo gan mòn”. Tiếng “ai” được lặp lại hai lần, vừa chỉ người kia vừa chỉ chính bản thân, đồng thời là hai đầu nỗi nhớ
Tình yêu luôn có sức mạnh kỳ diệu, khiến con người sẵn lòng hy sinh tất cả để giữ lấy. Tú Uyên cũng như vậy, anh đã sẵn sàng đổi “Nghìn vàng” và “cung trăng” để thể hiện tình yêu:
Buồng đào nửa bước chẳng rời
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Tú Uyên nhớ Giáng Kiều đến mức tách mình với thế giới bên ngoài, không rời căn buồng nửa bước. Chàng xin được đổi nghìn vàng để lấy nụ cười của nàng. Chữ “nghìn” chỉ nỗi nhớ đằm sâu, không gì so sánh được. Câu thơ là một câu hỏi tu từ, có tác dụng nhấn mạnh tình cảm của Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Không chỉ vậy, chàng còn muốn mở khóa cung trăng để lại được chiêm ngưỡng dung mạo của nàng, vượt qua giới hạn của không gian và thời gian.
Bằng những điển tích, hình ảnh thiên nhiên giàu tính ước lệ, các cặp từ đối lập, cùng câu hỏi tu từ, đoạn thơ đã thể hiện nỗi nhớ da diết, tình yêu mãnh liệt mà Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Tình yêu ấy là biểu tượng cho khát khao hạnh phúc, thoát khỏi thực tại buồn bã của con người.
Tiếp đến là những câu thơ thuật lại sự việc khi Tú Uyên và Giáng Kiều gặp nhau:
So xem phong vị khác thường
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Bỗng đâu thấy sự lạ đời
trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhân nhân mày liễu mặt hoa
Này người khi trước đâu mà đến đây?
Một hôm, Tú Uyên đi học, khi trở về đã thấy trong nhà có cơm canh bày sẵn. Bữa cơm ấy có “phong vị khác thường”, tỏa hương thơm như hoa ngọt ngào. Tú Uyên thấy lạ, lòng nảy sinh mối nghi ngờ. Sáng hôm sau, Tú Uyên vờ đi ra ngoài và bất ngờ trở về thì bắt gặp người con gái có dung mạo vô cùng xinh đẹp từ trong tranh bước ra. Trước sự việc ấy, Tú Uyên quá hạnh phúc khi gặp được người trong mộng nên đã hành động vội vã: “Vội vàng đánh tiếng ra chào”. Chi tiết “Bên mừng bên lệ” cho thấy cảm xúc rối rời, hạnh phúc đến mức rơi lệ.
Đáp lại lời chào hỏi từ Tú Uyên, Giáng Kiều cũng e thẹn giới thiệu về mình. Sự xuất hiện của Giáng Kiều khiến ta liên tưởng đến hình ảnh những nàng tiên, cô Tấm trong truyện cổ dân gian Việt Nam rất mực hiền thục, có tấm lòng thơm thảo. Giáng Kiều cũng là cô gái như vậy. Lời nói của nàng toát lên vẻ đoan trang, dịu dàng:
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường
Vì mang má phấn nên vương tơ điều
Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu
Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên
Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân
Cũng là nhờ đức tiên quân
Đoá hoa biết mặt chúa xuân từ rày”
Nàng tự nhận là thân “bồ liễu” mỏng manh, vốn là “khách thanh tiêu” trên trời, có hiệu là Tiên Thù, tên gọi là Giáng Kiều. Vì mối “tơ điều” đã gắn kết nàng và Tú Uyên nên “Ba sinh đã nặng vì duyên”. Qua lời nói của Giáng Kiều có thể thấy mối tình Uyên - Kiều là mối thiên duyên tiền định, được sự đồng thuận của trời đất. Lắng nghe lời nói của Giáng Kiều, Tú Uyên cũng bày tỏ những tâm tư đã chồng chất trong lòng bấy lâu: “ Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi? ”.
Không chỉ có dung nhan xinh đẹp, lời nói ngọt ngào, phẩm cách trang nhã mà Giáng Kiều còn là người phụ nữ có tấm lòng thủy chung, son sắt trong tình yêu và có ý thức cao độ về danh dự của mình:
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh
Dám đâu học thói yến oanh
Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương
Gieo thoi trước đã dở dang
Sao nên nát đá phai vàng như chơi
Mái Tây còn để tiếng đời
Treo gương kim cổ cho người soi chung
Lạ gì hoa với gió đông
Tiếc hương vả cũng nể lòng chim xanh
Một mai mưa gió bất tình
Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ
Nghĩ trong thân phận yếu thơ
Làm chi để tiếng sờ sờ lại sau!
Tác giả đã sử dụng hình ảnh câu chuyện cổ tích về vua Hán Vũ Đế để diễn đạt tình cảm của công chúa, ngồi trên lầu cao ném quả cầu xuống, người nào bắt được quả cầu thì sẽ được lấy làm vợ để thể hiện tình yêu của Giáng Kiều đối với Tú Uyên. Hai từ “quyết” và “thề” xuất hiện liền nhau trong bài thơ, thể hiện sự nghiêm túc, trang trọng của Giáng Kiều khi nói về hôn nhân, hạnh phúc. Nàng khẳng định tấm lòng trong sáng của mình hoàn toàn khác biệt với “thói yến oanh” ham vui và ngắn ngủi. Sự đối lập giữa “mặn” - “nhạt”, “trăng gió” (hời hợt) - “lửa hương” (mặn nồng) trong cùng một câu thơ càng làm nổi bật vẻ đẹp tinh thần của cô gái và lòng chung thủy trong tình yêu. Những hình ảnh từ câu chuyện cổ tích như “Gieo thoi”, “Mái Tây” thể hiện ý thức giữ gìn tình yêu của người con gái.
Giáng Kiều đã đến với “tiền nhân” - duyên nợ từ kiếp trước để giải thích lý do nàng xuống trần. Từ sâu trong lòng, Giáng Kiều đã thực sự xem Tú Uyên như “bạn tri kỷ”. Mối quan hệ tri âm, tri kỉ lâu nay dễ bị phai nhạt bởi khoảng cách nên nàng đã hứa “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. Nét đẹp của Giáng Kiều nằm ở sự thông minh, khéo léo, tế nhị và tấm lòng trước sau như một.
Sau cuộc gặp gỡ, trò chuyện giữa Tú Uyên và Giáng Kiều là bức tranh hạnh phúc của đôi uyên ương. Giáng Kiều đã “rút chiếc trâm đầu”, biến khung cảnh xung quanh thành:
Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài
Tường quang sáng một góc trời
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh tạo
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai
Lả lơi bên nói bên cười
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang
Đong đưa khoe thắm đua vàng
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha
Theo sau cuộc gặp, cuộc trò chuyện giữa Tú Uyên và Giáng Kiều là hình ảnh hạnh phúc của đôi lứa. Giáng Kiều đã “rút chiếc trâm đầu”, biến khung cảnh xung quanh thành:
Chỉ trong nháy mắt, lều cỏ biến thành lâu đài. Ánh dương bao phủ rực rỡ, chiếu sáng một góc trời. Người vào người ra hối hả, ai cũng lịch lãm, thanh tao. Cụm từ như “Nhởn nhơ”, “Lả lơi”, “Đong đưa” cùng động từ “nói, cười”, “đua”, “khoe” diễn tả tâm trạng vui vẻ, say sưa trong men rượu của quan khách và chủ nhà.
Về phần đoạn trích này, nó thể hiện nỗi nhớ của Tú Uyên về Kiều, cuộc gặp gỡ của hai người yêu nhau là biểu hiện của khát khao hạnh phúc và niềm hy vọng vào tình yêu mãnh liệt. Hình thức thơ lục bát truyền thống của dân tộc, việc sử dụng các từ ngữ giàu tính biểu đạt, các hình ảnh thiên nhiên tượng trưng đã làm nên thành công của tác phẩm
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 5
Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” kể về nỗi tương tư của chàng thư sinh và cuộc gặp mặt bất ngờ của Tú Uyên với người trong, thể hiện tình yêu đôi lứa trong xã hội phong kiến thời xưa.
Mỗi thời đại, quan niệm về tình yêu của con người khác nhau khiến cho cái đẹp trong tình yêu cũng có những chuẩn mực riêng biệt. Sự khác biệt giữa quan niệm tình yêu của mỗi thế hệ không mang ý nghĩa phủ định quan niệm tình yêu và vẻ đẹp của tình yêu xưa cũ hay hiện đại.
Khác với thời xưa, có lẽ tình yêu bây giờ thoải mái và tự do hơn, không bị gò bó, chịu sự sắp đặt của gia đình, và những người liên quan. Xã hội phong kiến ngày xưa có quan niệm rằng hạnh phúc và tình yêu trong hôn nhân là không quan trọng. Trong thời đó, hôn nhân thường được sắp đặt bởi gia đình và không dựa trên tình yêu thực sự của hai người. Vấn đề hôn nhân của con cái thường được xem là một vấn đề xã hội và gia đình quan tâm, chứ không phải là quyền tự do cá nhân.
Sự tự do trong tình yêu cũng không được coi trọng trong xã hội phong kiến ngày xưa. Người ta tin rằng tình yêu không nên là tiêu chuẩn để chọn đối tác trong hôn nhân, mà phải tuân theo các quy tắc và truyền thống xã hội. Điều này dẫn đến việc nhiều người phải kết hôn với người mà họ không yêu thực sự.
Và đối tượng thiệt thòi nhất trong thời phong kiến là phụ nữ. Phụ nữ thường bị coi thường và bị xem là tài sản của gia đình. Họ không được tự do lựa chọn đối tác trong hôn nhân và thường phải chịu đựng những điều kiện khắt khe từ gia đình chồng. Ngoài ra, phụ nữ cũng không được công nhận và đánh giá bằng những thành tựu cá nhân mà thường chỉ được xem là người phụ trợ cho chồng và gia đình.
Trong khi đó, tình yêu thời hiện đại đều xuất phát từ sự tìm hiểu một cách chủ động từ hai phía. Khi một chàng trai có tình ý với một cô gái, họ sẽ tìm cách để chiếm được cảm tình của đối phương. Hoặc ngược lại, một người con gái hiện đại cũng sẽ sẵn sàng thể hiện tình cảm với người mà họ yêu thương. Thời đại công nghệ, tình yêu ngày nay dễ đến dễ đi, chóng qua như một cái like và khô khan như mẩu chat Facebook. Cũng như vậy, người ta có thể nói lời yêu do phương tiện bạn đang đi, đôi giày hiêu bạn đang mang, chiếc smartphone bạn đang sử dụng chứ không hẳn vì con người bạn.
Bởi bản chất của tình yêu qua các thời đại vẫn vẹn nguyên, chỉ khác nhau ở quan niệm và cách biểu hiện, việc so sánh tình yêu xưa và nay chỉ làm rộng hơn khoảng cách giữa các thế hệ, làm ta cô độc hơn trong tình yêu ngày nay vốn phức tạp và đa chiều. Đồng thời, ta cũng khẳng định rằng tình yêu hiện đại vẫn cần đến những giá trị xưa cũ, người trẻ hãy sống chậm, hãy đợi tình đến rồi hãy yêu, chân thành và không toan tính.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 6
Nói về truyện thơ Nôm “Bích Câu kì ngộ”, có nhiều ý kiến cho rằng tác phẩm vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn với nhân dân qua các thời kỳ, bởi đây là một kiệt tác thơ Nôm thuần Việt. Từ những địa danh đến tên của nhân vật, tất cả đều toát lên vẻ đậm chất Việt Nam. Trên nền văn hóa của kinh thành Thăng Long xưa, tác giả đã minh họa một cách tinh tế câu chuyện tình cảm đẹp đẽ giữa Tú Uyên và Giáng Kiều. Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” mô tả sự tương tư của chàng thư sinh và cuộc gặp mặt bất ngờ, khi Tú Uyên chạm trán với người trong mộng của mình.
“Bích Câu kì ngộ” chính là “Cuộc gặp gỡ kì lạ tại Bích Câu”. Chính tên “Bích Câu” trong tựa đề là một địa điểm văn hóa nổi tiếng tại kinh thành Thăng Long ngày xưa. Đây thường là điểm đến của các vị vua chúa, nơi tập trung đông đảo văn nhân sĩ tử. Tú Uyên, chàng thư sinh nghèo, cũng đến Thăng Long với hi vọng học tập. Trong chuyến thăm chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên tình cờ gặp gỡ Giáng Kiều và bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của cô gái. Tuy nhiên, trước khi có cơ hội quen biết, Giáng Kiều bí mật biến mất. Sau đó, Tú Uyên tình cờ mua được một bức tranh tố nữ từ một ông lão bán tranh, nhận ra đó chính là hình ảnh của người con gái đã gặp trước đó. Ngày càng trôi qua, Tú Uyên càng trở nên hoài niệm và mê đắm trong hình ảnh của Giáng Kiều:
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
…
Cho hay tình cũng là chung
Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!
Tác giả trong “Bích Câu kì ngộ” đã biểu hiện nỗi nhớ của Tú Uyên như là “sông Tương mơ hình”. Sông Tương, nơi mà hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đã rơi lệ thương chồng, giờ đây trở thành biểu tượng cho tình cảm nhớ nhung và tương tư mạnh mẽ của nhân vật chính. Một ngày nọ, khi Tú Uyên tình cờ mua được một bức tranh thiếu nữ, vẻ đẹp của nó giống hệt người mà chàng đang nhớ, và anh mua về treo trong nhà để “sớm khuya” ôm mộng. Tưởng tượng của chàng về người thiếu nữ trong tranh trở nên quá mạnh mẽ, đến mức anh có thể “phát phu”, lầm tưởng rằng người trong tranh thực sự tồn tại.
Chàng ôm nhung nhớ đến “chồn”, một từ mà chàng hiểu là ốm yếu. Tương tư nặng nề khiến chàng không chỉ mất ngủ mà còn mất ăn. Chàng thậm chí ước mơ về việc “bẻ khóa cung trăng” để gặp gỡ “chị Hằng” mà chàng thường mơ đến. Nỗi niềm tương tư và tình cảm của Tú Uyên được mô tả sâu sắc, giống như tâm trạng mà nhà thơ Xuân Diệu đã chia sẻ trong bài thơ “Vấn vương”.
Một khoảng thời gian sau, khi Tú Uyên trở về nhà muộn, anh phát hiện bữa ăn đã được chuẩn bị sẵn. Bất ngờ và tò mò, chàng quyết định tìm hiểu người đã chăm sóc cho anh những ngày qua:
“Ra việc trường, trở về đã thấy bát trân sẵn sàng, Mùi hoa sực nức, mùi hương ngọt ngào. Bếp trời sẵn đó hay sao? Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!”
Cơm canh tiếp đón không chỉ là bữa cơm canh thông thường mà đầy đủ và phong phú như “bát trân”. Bát trên là mâm cơm với 6 món ăn quý giá, chàng không tin vào mắt mình, chắc chắn chỉ có “bếp trời” mới có thể chuẩn bị một bữa cơm ưng ý như vậy. Chàng quyết định rình một lần nữa để tận mắt chứng kiến, và đúng như mong đợi, một nàng thiếu nữ từ trong tranh bước ra.
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nàng tự giới thiệu và chia sẻ về phận thường của mình. Nàng là Tiên Thù, và tên gọi Giáng Kiều chỉ là một trong những danh xưng của mình. Thỏa nỗi nhớ mong của Tú Uyên, chàng tỏ ra thổ lộ tình cảm từ lâu với nàng. Người tiên nữ, dù e thẹn nhưng tự xưng là Giáng Kiều, quyết định hạ phàm xuống đất vì có tiền duyên với chàng.
“Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân.”
Nàng nhấn mạnh về nhân duyên từ kiếp trước, và tơ trăng xe đến nay mới thể hiện rõ mối quan hệ này. Nàng đề xuất gieo cầu và thề tấm son để hóa giải mối nhân duyên giữa họ.
“Đã rằng: tác hợp duyên trời
Làm chi cho bận lòng người lắm nao!”
Chương mới của cuộc đời Tú Uyên và Giáng Kiều bắt đầu từ đây. Họ sống hạnh phúc, thấu hiểu lẫn nhau, và mọi sự kiện xung quanh như chim yến, trăng, hoa đều chúc phúc cho họ. Nàng hoá phép ra lâu đài nguy nga, lộng lẫy, có đầy đủ kẻ hầu và người hạ phục. Thiên thời địa lợi nhân hòa chung vui với đôi vợ chồng, “Vũ y”, “Nghê thường” hay chính là quần áo, xiêm y lả lướt, thiết tha.
Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” không chỉ là một câu chuyện tình cảm đẹp đẽ mà còn là sự kết hợp tinh tế giữa cảnh và tình, mang đậm tình dân tộc. Tác phẩm cũng chứa đựng sự phê phán của tác giả về xã hội loạn lạc, đồng thời làm thấy mình thoát ly khỏi thực tại. Mặt khác, nó cũng khuyến khích con người giải tỏa, tìm đến sự cải cách tâm hồn, và hướng dẫn họ thoát khỏi các ràng buộc tư tưởng Nho giáo, tiến đến Phật giáo và Đạo giáo.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 7
Trong vẻ đẹp mộng mơ của truyện thơ Nôm "Bích Câu kì ngộ", chúng ta được dẫn đến một thế giới cổ kính, nơi những giá trị văn hóa truyền thống nở rộ và một câu chuyện tình yêu tinh khôi diễn ra. Đây không chỉ là một câu chuyện tình lãng mạn, mà còn là một hành trình đầy bí ẩn và hấp dẫn trong thế giới của ngôn từ và cảm xúc.
Tác phẩm "Bích Câu kì ngộ" không chỉ là một bức tranh đẹp về địa danh và tên tuổi trong kinh thành Thăng Long xưa, mà còn chứa đựng những tâm trạng sâu sắc và đầy ý nghĩa. Qua mỗi chi tiết, từ bức tranh cho đến những cảm xúc của nhân vật, chúng ta như được đưa vào thế giới của Tú Uyên, nơi tưởng chừng chỉ có trong trí tưởng tượng nhưng lại trở nên sống động và thực tế đến không ngờ. Mỗi dấu chấm, mỗi từ ngữ trong "Bích Câu kì ngộ" đều được đặt vào đúng chỗ, tạo nên một luồng hơi thở riêng, một không gian tĩnh lặng nhưng đầy ý nghĩa. Qua câu chuyện của Tú Uyên và Giáng Kiều, chúng ta cảm nhận được những luyến tiếc, những lo âu, và cả niềm hy vọng. Từng dòng thơ là nhưng đóa hoa khoe sắc, là những tia nắng nhẹ nhàng chiếu sáng lên hạnh phúc và đau thương của họ.
Chính sự kỳ diệu của "Bích Câu kì ngộ" không chỉ nằm ở những hình ảnh quen thuộc của Thăng Long xưa, mà còn ẩn chứa sức hút không lẫn vào đâu được. Có lẽ, đó chính là sức mạnh của văn học, khi nó không chỉ là câu chuyện của một thời đại, một nơi địa, mà còn là câu chuyện của tâm hồn, của con người, khiến cho chúng ta không ngừng tìm kiếm, suy tư và yêu mến hơn về nền văn hoá của mình.
Mưa hoa khép cánh song hồ
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
Mở đầu đoạn trích, ta bước vào một khung cảnh sáng đẹp tại "song hồ," nơi mà cậu học trò nghèo Tú Uyên đọc và tương tư về người trong mộng. Cảnh sáng qua cụm từ "Sớm khuya" cho thấy vòng thời gian tuần hoàn và liên tục, thể hiện sự thời gian không bao giờ dừng lại. Từ khi gặp Giáng Kiều, Tú Uyên đã trở nên khắc sâu bởi nỗi nhớ, mong nhớ không bao giờ dứt. Chàng đã quên mất thời gian và không gian xung quanh, chỉ để tập trung vào việc ngắm nhìn bức họa cả ngày và cả đêm. Đây là một nỗi nhớ đắm say, mãnh liệt đến mức Tú Uyên cảm thấy như người con gái trong bức tranh đang thực sự đứng trước mắt mình. Niềm tương tư được thể hiện thông qua các hành động cụ thể. Sự kết hợp của cặp số từ "một" - "hai" cùng với các từ "chung," "thêm" cho thấy thái độ trân trọng và lòng nâng niu của Tú Uyên đối với bức chân dung của Giáng Kiều.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa
Có khi hình ảnh cũng là phát phu
Tài nguyên Ngôn ngữ
Êm trời vừa tiết trăng thu
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng
Chiều thu như gợi tấm thương
Lòng người trông xuống sông Tương mơ hình
Dưới bức tranh tinh xảo, Tú Uyên đắm chìm trong một thế giới mơ mộng, nơi những nỗi nhớ trào dâng đến mức bứt rứt, làm rung động cõi lòng của chàng. Bức tranh giống như là một cánh cửa mở ra vùng đất xa xôi, nơi mà giữa Tú Uyên và người con gái trong tranh tồn tại một khoảng cách vô hình, một khoảng trống không lấp đầy được bởi bức tranh đẹp đẽ.
Khoảnh khắc dịu dàng của trăng thu, ánh sáng trăng long lanh trải qua lớp sương mỏng manh, làm cho mỗi hạt sương như những viên ngọc trải đều khắp nẻo đường. Lá khô rơi từng chiếc nhẹ nhàng, như là những cánh cửa nơi thiên nhiên mở lòng, chào đón niềm nhớ nhung của Tú Uyên. Trong bóng tối của buổi chiều, mọi vật trở nên mềm mại, êm đềm, hòa quyện vào cảm xúc sâu lắng của chàng trai trẻ.
Những cảm nhận về chiều thu trong "Bích Câu kì ngộ" không chỉ là một hình ảnh đẹp mắt mà còn là một trạng thái tinh tế của tâm hồn. Dưới bóng trăng mờ ảo, những khắc sâu hình ảnh thiên nhiên yên bình, thanh khiết đã chạm vào trái tim Tú Uyên, tạo nên một bức tranh huyền bí của tình yêu và nhớ nhung, nơi mà lòng người hòa mình vào với vẻ đẹp thiên nhiên, cùng chia sẻ niềm đau và niềm vui của cuộc sống. Trong lời ca dao ngọt ngào và nhẹ nhàng, buổi chiều trở thành khoảnh khắc đáng nhớ, nơi mà niềm nhớ mãi mãi lưu giữ, là nguồn cảm hứng không ngừng cho những tâm hồn đam mê văn chương.
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Với Tú Uyên, ngay cả chiều thu cũng đủ sức gợi lên niềm thương và nỗi nhớ. Chàng thư sinh đã đặt trái tim mình lướt trên dòng nước mượt mà của sông Tương, chìm đắm trong thế giới mộng mơ vì lòng say mê bóng dáng của người thiếu nữ. Hình ảnh sông Tương trong bài thơ gắn với một điển tích quan trọng: sau cái chết của Vua Thuần, hai người vợ, Nga Hoàn và Nữ Anh, đã đổ đầy sông Tương bằng nước mắt trong một biểu cảm thảm thiết của sự thương tiếc. Từ đó, dòng sông này đã trở thành biểu tượng của nỗi nhớ không tận:
Sông Tương ai gọi rằng sâu
Chẳng bằng phân nửa mạch sầu của ta
Sông Tương sâu hãy còn có đáy
Bệnh tương tư không bãi không bờ
Dưới vòm trời bao la, Tú Uyên nhớ về Giáng Kiều đến mức tưởng như anh đang sống trong một thế giới riêng, xa lạ với thế gian bên ngoài. Trong tâm hồn mê đắm, chàng khao khát những giây phút hạnh phúc bên nàng đến nỗi sẵn lòng trao đổi nghìn vàng lấp lánh chỉ để nhìn thấy nụ cười diệu kỳ của nàng. Dòng từ “nghìn vàng” không chỉ là sự mô tả cho nỗi lòng đầy sâu đậm, mà còn là sự bày tỏ sự tôn kính và trân trọng với giá trị không thể đo lường của tình yêu. Trong lòng Tú Uyên, Giáng Kiều không chỉ là một hình ảnh mơ mộng, mà còn là một linh hồn thần tiên, một nguồn cảm hứng vô tận.
Chưa dừng lại ở đó, Tú Uyên còn muốn mở khóa cung trăng, vượt qua mọi giới hạn của không gian và thời gian, chỉ để được nhìn ngắm dung mạo tinh khôi của nàng. Trong trí tưởng tượng của chàng, trăng thu không chỉ là nguồn cảm xúc mà còn là chứng nhân cho sự hiện hình của tình yêu giữa họ. Trăng, với ánh sáng mềm mại và vẻ đẹp huyền bí, trở thành nhân chứng đáng tin cậy cho những giọt nước mắt hạnh phúc của Tú Uyên, những giọt nước mắt chứa đựng những kỷ niệm đẹp đẽ và không bao giờ phai nhạt. Dưới bóng trăng thu tĩnh lặng, giữa hương sen thoang thoảng, Tú Uyên và Giáng Kiều hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh tĩnh lặng, đẹp đẽ, và đầy ý nghĩa. Trong vũ trụ lớn, họ chỉ là những hạt bụi nhỏ bé, nhưng tình yêu của họ lại to lớn và sâu đậm, không gì có thể ngăn cách được. Bằng những từ ngữ uốn khúc, tác giả đã tạo nên một không gian thần thoại, nơi mà tình yêu và hạnh phúc không có ranh giới, không bị gò bó bởi thế giới xô bồ bên ngoài
Kề bên năn nỉ bày tình
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa
Từ phen giáp mặt đến giờ
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn
Ấy ai điểm phấn tô son
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Động từ "năn nỉ" thể hiện sự cồn cào, khao khát được thổ lộ tình cảm mãnh liệt của Tú Uyên. Chàng trai trải lòng về hoàn cảnh của mình và về tình yêu của mình. Cặp từ đối lập "ngày" - "đêm" đi cùng với hai từ "tưởng", "mơ" thể hiện nỗi nhớ không nguôi, không bao giờ nghỉ ngơi, luôn cuộn xoáy trong tâm trí của anh. "Đã chồn" biểu thị mức độ mệt mỏi, Tú Uyên đã trở thành một "bệnh tương tư" do nỗi nhớ. Lời thơ dường như là một lời than phiền, một trách móc nhẹ nhàng. Tú Uyên trách móc thiếu nữ vì sao lại "điểm phấn tô son" để khiến cho người đàn ông đích thực "ruột héo gan mòn". Tiếng "ai" được lặp lại hai lần, vừa chỉ đối phương, vừa chỉ bản thân, đồng thời kết nối hai con người và thể hiện nỗi nhớ chưa bao giờ dứt.
Tình yêu luôn chứa đựng một sức mạnh diệu kỳ, có thể khiến con người sẵn sàng đánh đổi tất cả để đạt được. Tú Uyên không là ngoại lệ, anh đã sử dụng "nghìn vàng" và "cung trăng" để thể hiện tình yêu của mình:
Buồng đào nửa bước chẳng rời
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Tú Uyên nhớ về Giáng Kiều đến mức anh ta đã tách mình ra khỏi thế giới bên ngoài, không còn quan tâm đến mọi thứ xung quanh, chỉ tập trung vào nỗi nhớ da diết về Giáng Kiều. Anh ấy sẵn sàng đổi cả ngàn vàng để chỉ để có thể thấy nụ cười của nàng. Từ "nghìn" tôn vinh sự đắm say, và câu hỏi tu từ thể hiện tâm hồn đắm đuối của Tú Uyên, khi anh ấy muốn mở khóa cung trăng để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Giáng Kiều, vượt qua mọi giới hạn của thời gian và không gian.
Đoạn thơ sử dụng điển tích và hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, cùng với các cặp từ đối lập và câu hỏi tu từ, đã thể hiện rõ rệt nỗi nhớ da diết và tình yêu mãnh liệt mà Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Tình yêu ấy trở thành một biểu tượng cho khát khao hạnh phúc và mong muốn thoát khỏi thực tại buồn bã của cuộc sống con người.
Tiếp theo, chúng ta tiếp tục với các câu thơ miêu tả sự việc khi Tú Uyên và Giáng Kiều gặp nhau:
So xem phong vị khác thường
Tài nguyên Ngôn ngữ
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Bỗng đâu thấy sự lạ đời
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhân nhân mày liễu mặt hoa
Này người khi trước đâu mà đến đây?
Một ngày, sau khi Tú Uyên đi học, anh trở về nhà và phát hiện bữa cơm đã sẵn sàng trên bàn. Bữa cơm ấy có "phong vị khác thường," tỏa hương thơm ngọt ngào như hương của hoa. Tú Uyên cảm thấy lạ và lòng anh nảy sinh mối nghi ngờ. Sáng hôm sau, anh vờ ra ngoài và bất ngờ khi quay trở lại, anh bắt gặp một người con gái vô cùng xinh đẹp từ trong bức tranh bước ra. Trước sự kiện đặc biệt này, Tú Uyên tràn đầy hạnh phúc khi gặp được người trong mộng, và anh ấy "vội vàng đánh tiếng ra chào." Chi tiết "Bên mừng bên lệ" thể hiện cảm xúc rối rít và hạnh phúc đến mức nước mắt không thể kìm lại.
Trong cuộc gặp gỡ này, Giáng Kiều đáp lại lời chào hỏi của Tú Uyên và giới thiệu về chính bản thân mình. Sự hiện diện của Giáng Kiều đem lại hình ảnh những nàng tiên, cô Tấm từ những câu chuyện dân gian Việt Nam, với đặc điểm hiền thục và tấm lòng trong sáng. Giáng Kiều thể hiện sự dịu dàng và đoan trang trong lời nói của mình:
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường
Vì mang má phấn nên vương tơ điều
Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu
Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên
Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân
Cũng là nhờ đức tiên quân
Đoá hoa biết mặt chúa xuân từ rày”
Giáng Kiều tự nhận mình như một người phụ nữ mỏng manh, giống như "bồ liễu," có thể chỉ tồn tại trong thế giới thần tiên, và cô tự xưng là "khách thanh tiêu" trên trời, được gọi là Tiên Thù, tên gọi là Giáng Kiều. Điều này ám chỉ rằng mối "tơ điều" của họ đã gắn kết hai linh hồn của họ, và "Ba sinh đã nặng vì duyên," tức là tình yêu của họ đã kéo dài qua nhiều kiếp. Lời nói của Giáng Kiều thể hiện mối tình Uyên - Kiều như một sự thiêng liêng và thiên duyên, có được sự đồng thuận của trời đất.
Nghe lời nói của Giáng Kiều, Tú Uyên đã bày tỏ những tâm tư đã chồng chất trong lòng anh: "Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi?" Câu hỏi này thể hiện tâm hồn buồn bã của Tú Uyên và sự mong mỏi trong lòng anh, khi anh tự hỏi liệu nỗi nhớ và tình yêu của anh có bao giờ kết thúc.
Ngoài vẻ đẹp ngoại hình, lời nói ngọt ngào, Giáng Kiều còn là một người phụ nữ có tấm lòng thủy chung và đạo đức cao, đặc biệt về danh dự của bản thân.
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh
Dám đâu học thói yến oanh
Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương
Gieo thoi trước đã dở dang
Sao nên nát đá phai vàng như chơi
Mái Tây còn để tiếng đời
Treo gương kim cổ cho người soi chung
Lạ gì hoa với gió đông
Tiếc hương vả cũng nể lòng chim xanh
Một mai mưa gió bất tình
Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ
Nghĩ trong thân phận yếu thơ
Làm chi để tiếng sờ sờ lại sau!
Tác giả đã sử dụng một điển tích rất thú vị, đó là điển tích kén rể của vua Hán Vũ Đế, trong đó công chúa ngồi trên lầu cao ném quả cầu xuống, và người nào bắt được quả cầu sẽ được chọn làm rể. Tác giả tận dụng điển tích này để thể hiện tấm lòng mà Giáng Kiều dành cho Tú Uyên. Giáng Kiều quyết thề trở thành vợ của Tú Uyên, và hai từ "quyết" và "thề" được đặt gần nhau trong thơ, thể hiện sự nghiêm túc và cam kết trong tình yêu của cô. Cô khẳng định rằng tấm lòng trong sạch và tinh túy của mình hoàn toàn khác biệt với "thói yến oanh" của những người ham vui và tình yêu ngắn ngủi.
Cặp từ đối lập như "mặn" và "nhạt," "trăng gió" (hời hợt) và "lửa hương" (mặn nồng) trong cùng một câu thơ thể hiện vẻ đẹp và phẩm chất của Giáng Kiều, cũng như tấm lòng chung thủy của cô trong tình yêu. Bằng cách sử dụng những điển tích điển cố như "Gieo thoi" và "Mái Tây," tác giả làm nổi bật ý thức của Giáng kiều trongviệc bảo vệ và duy trì tình yêu của họ.
Thưa rằng: “Túc trái tiền nhân
Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi
Song còn mấy bạn tương tri
Bấy lâu chưa có chút gì là đâu
Trước xin từ biệt cùng nhau
Chữ duyên này trở về sau còn dài”
Giáng Kiều đã đánh dấu sự xuất hiện của Tú Uyên trong cuộc đời của mình là một "duyên nợ từ kiếp trước." Cô đã coi Tú Uyên như một "bạn tương tri" đích thực và tin tưởng vào mối quan hệ tri âm, tri kỉ xưa kia sẽ không bao giờ phai nhạt, nhất định "chữ duyên này trở về sau còn dài." Nét đẹp của Giáng Kiều không chỉ nằm ở vẻ ngoại hình, mà còn ẩn chứa sự thông minh, khéo léo, tế nhị và tấm lòng trước sau như một.
Sau cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Tú Uyên và Giáng Kiều, chúng ta được đưa vào khung cảnh hạnh phúc của đôi uyên ương. Giáng Kiều sử dụng phép tiên để thay đổi khung cảnh xung quanh, biến lều cỏ thành lâu đài rực rỡ, tạo ra một không gian tuyệt vời cho họ.
Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài
Tường quang sáng một góc trời
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh tạo
Lãng mạn
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai
Lả lơi bên nói bên cười
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang
Đong đưa khoe thắm đua vàng
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha
Trong một phút chốc, lều cỏ đã biến thành một lâu đài lộng lẫy. Vầng dương quang chiếu sáng rực rỡ, phủ kín bầu trời. Mọi người trong lâu đài tấp nập diễu hành, mỗi người đều thanh tao, lịch lãm. Từ các từ láy như "Nhởn nhơ," "Lả lơi," "Đong đưa" cùng với động từ "nói, cười," "đua," "khoe" đã phản ánh tâm trạng vui tươi, say mê, và sự phấn khích của cả quan khách và chủ nhà.
Đoạn trích này không chỉ thể hiện nỗi nhớ đối với Giáng Kiều của Tú Uyên, mà còn tập trung vào cuộc gặp gỡ hạnh phúc của đôi tình nhân, là biểu hiện của khát khao hạnh phúc và niềm hy vọng trong tình yêu mãnh liệt. Thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc, hệ thống từ láy đa dạng, các điển tích và hình ảnh thiên nhiên ước lệ tượng trưng đều đã góp phần làm cho đoạn trích trở nên rất thành công trong việc truyền đạt cảm xúc và tạo hình cho tác phẩm.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 8
Bích Câu kì ngộ của tác giả Vũ Quốc Trân là một tác phẩm văn học Nôm quý báu của văn học Việt Nam. Trong đó, đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” là một phần quan trọng của câu chuyện và chứa nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, mà qua đó, chúng ta cảm nhận được sự tương tư, chung thủy và những điều kỳ diệu của tình yêu.
Trong thế giới văn học Việt Nam, tác phẩm “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” là một trong những truyện ngắn nổi tiếng và được yêu thích. Tác phẩm này đã để lại ấn tượng mạnh mẽ về tình yêu và sự kỳ diệu của định mệnh. Được viết bởi tác giả tài năng Vũ Quốc Trân, câu chuyện này đem lại cho độc giả một trải nghiệm đầy cảm xúc và suy tư.
Câu chuyện bắt đầu với việc Tú Uyên, một chàng trai trẻ, sống trong một cuộc sống bình dị và đầy tương tư. Từ khi gặp người con gái trong mộng ở Ngọc Hồ, tình cảm của Tú Uyên dành cho cô đã trở nên ngày càng da diết và mãnh liệt. Mọi ngày, anh ôm ấp mộng tương tư và khao khát gặp lại người con gái đó.
Một ngày, điều bất thường xảy ra khi Tú Uyên quyết định rình xem người trong tranh. Anh thấy cơm canh đã được bày sẵn và cuộc sống của anh bắt đầu trở nên thay đổi từ đó. Từ một bức tranh, một thiếu nữ bước ra, và cuộc đối thoại giữa Tú Uyên và Giáng Kiều đã diễn ra. Đây chính là sự gặp gỡ của hai linh hồn đã định sẵn cho nhau, và mối nhân duyên trời định đã thực hiện
Tú Uyên và Giáng Kiều sau khi đoàn tụ đã tạo nên một cuộc sống hạnh phúc viên mãn. Mọi thứ trong cuộc sống của họ trở nên khác biệt, từ ngôi nhà biến thành lâu đài nguy nga, quần áo và bữa cơm luôn được bày sẵn. Cuộc sống của họ đánh thức niềm tin vào tình yêu và những điều kỳ diệu của định mệnh.
Tác phẩm “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” không chỉ là một câu chuyện tình yêu đầy cảm xúc mà còn là một tác phẩm nghệ thuật đầy giá trị. Đây là một minh chứng cho sự hiệu quả của việc thể hiện nội dung qua ngôn ngữ và từng chi tiết nhỏ trong văn bản. Tác giả Vũ Trọng Phụng đã thành công trong việc kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình để tạo ra một câu chuyện đầy ấn tượng và lôi cuốn.
Cuối cùng, câu chuyện này khẳng định rằng tình yêu có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta và mang lại hạnh phúc thật sự. Nó là một lời nhắc nhở cho chúng ta rằng đôi khi, những điều kỳ diệu xảy ra khi chúng ta ít ngờ nhất, và tình yêu luôn có thể thắng trước mọi khó khăn.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 9
Khi nói về truyện thơ Nôm “Bích Câu kì ngộ,” nhiều người cho rằng tác phẩm vẫn có sức hấp dẫn với nhân dân Việt Nam qua nhiều thế hệ, bởi đó là một truyện thơ Nôm hoàn toàn thuần Việt. Từ các địa danh đến tên của nhân vật, đều rất gắn liền với bản sắc văn hóa Việt Nam. trong bối cảnh của kinh thành cổ đại Thăng Long, tác giả đã diễn đạt một câu chuyện tình yêu tươi đẹp giữa Tú Uyên và Giáng Kiều. Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” kể về nỗi lòng tương tư của chàng thư sinh và cuộc gặp gỡ bất ngờ của Tú Uyên với người mà anh đã thấy trong giấc mơ.
“Bích Câu kì ngộ” dịch là “Cuộc gặp gỡ kì diệu tại Bích Câu.” Tên “Bích Câu” trong tiêu đề đề cập đến một địa điểm văn hóa nổi tiếng ở kinh thành Thăng Long xưa. Đó là nơi thường xuyên được các vua và quý tộc thăm viếng, cũng là trung tâm hội tụ của các danh nhân và học giả. Tú Uyên, một người thư sinh nghèo, cũng đến Thăng Long để học tập. Một lần, khi anh đang tham quan chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên tình cờ gặp Giáng Kiều và ngay lập tức bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của cô, nhưng trước khi anh kịp làm quen, cô gái tuyệt đẹp này đã biến mất. Sau đó, Tú Uyên tình cờ thấy một người bán tranh tranh tố nữ, và trên một bức tranh, anh nhận ra hình ảnh giống hệt người con gái mà anh đã gặp trước đó. Từ đó, Tú Uyên bị cuốn hút bởi ký ức về Giáng Kiều và dành nhiều thời gian để ngắm nhìn bức tranh đó.
Mưa hoa khép cánh song hồ
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
Mở đầu đoạn trích, chúng ta được đưa vào không gian tĩnh lặng của “song hồ,” nơi chàng học trò nghèo Tú Uyên đọc và tưởng tượng về người mình yêu. Cụm từ “Sớm khuya” thể hiện sự tuần hoàn không ngừng của thời gian, nhấn mạnh sự liên tục. Từ khi gặp Giáng Kiều, Tú Uyên không ngừng nhớ về cô và không thể quên. Anh đã quên hết mọi thứ xung quanh, chỉ tập trung vào việc ngắm nhìn bức tranh cả ngày lẫn đêm. Nỗi nhớ của anh đối với Giáng Kiều mạnh mẽ đến mức anh cảm thấy như cô gái trong bức tranh thật sự hiện diện trước mắt. Sự tương tư này được thể hiện qua các hành động cụ thể của Tú Uyên. Cặp số “một” và “hai” cùng với các từ “chung” và “thêm” thể hiện sự quý trọng và yêu quý của Tú Uyên đối với bức tranh của Giáng Kiều. Thậm chí, khi ăn, anh cũng ngồi trước bức tranh và tưởng tượng rằng người trong mộng đang đứng trước mặt anh, thế nên anh viết thơ và mời rượu để kỷ niệm.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa
Có khi hình ảnh cũng là phát phu
Êm trời vừa tiết trăng thu
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng
Chiều thu như gợi tấm thương
Lòng người trông xuống sông Tương mờ hình
Cặp từ đối lập “gần” và “xa,” cùng với hai động từ “tưởng” và “nghĩ,” thể hiện sự thấu hiểu và niềm nhớ thương dâng trào trong trái tim của Tú Uyên. Anh thú vui trong việc tiếp xúc với bức tranh nhưng mỗi lần anh nhìn vào nó, niềm nhớ về Giáng Kiều lại càng sâu sắc. Bức tranh đẹp đến mức khiến anh cảm nhận như cô gái đang ở rất gần, nhưng thực tế, khoảng cách vẫn còn rất xa. Các hình ảnh thiên nhiên như “trăng thu,” “Ngàn sương,” và “lá khô” tạo ra bức tranh hùng vĩ về thiên nhiên, tràn đầy sự thơ mộng. Dưới ánh trăng mùa thu dịu dàng, màn sương mỏng mơ lan tỏa khắp nơi như đang rải đàn bạc xuống thế gian, tạo nên một tấm thảm đầy lá vàng bao phủ cả khoảnh sân. Sự hòa quyện giữa thiên nhiên và tâm trạng của con người được tạo nên. Trong văn học, buổi chiều thường liên quan đến nỗi nhớ, và những dòng thơ này thể hiện tình cảm niềm nhớ một cách ngọt ngào và đầy ý nghĩa.
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai
Với Tú Uyên, chiều thu mang đến cảm giác thương và nhớ về tình yêu. Chàng thư sinh đã đánh mất mình trong dòng nước sông Tương, mê mải tưởng tượng về hình ảnh của nàng thiếu nữ đẹp đẽ. Hình tượng sông Tương liên quan đến một truyền thuyết nổi tiếng, khi Vua Thuần mất đi và hai người vợ của ông, Nga Hoàn và Nữ Anh, đã khóc thảm trên bờ sông Tương. Từ đó, sông Tương trở thành biểu tượng của sự nhớ nhung:
Sông Tương ai gọi rằng sâu
Chẳng bằng phân nửa mạch sầu của ta
Sông Tương sâu hãy còn có đáy
Bệnh tương tư không bảy không bờ
Hướng về thiên nhiên, thiên nhiên càng khắc sâu sự thương nhớ, trông mong nên Tú Uyên lại quay về giãi bày với chính mình và tâm sự với bức tranh:
Kề bên năn nỉ bày tình
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa
Từ phen giáp mặt đến giờ
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn
Ấy ai điểm phấn tô son
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Động từ “năn nỉ” thể hiện sự cảm thấy quyết tâm và khao khát của Tú Uyên khi muốn thể hiện tình cảm sâu sắc của mình. Tú Uyên trải lòng về tình yêu của mình và hoàn cảnh cá nhân. Sự đối lập giữa “ngày” và “đêm” liên quan đến việc suy tưởng và ảo mộng về tình yêu, thể hiện nỗi nhớ không ngừng nghỉ và luôn hiện hữu trong tâm trí của anh. Từ “đã chồn” thể hiện sự mệt mỏi và nỗi nhớ của Tú Uyên đã biến anh trở thành “người bệnh tương tư”. Lời thơ gần như là một cuộc trách móc và than vãn mà anh dành cho Giáng Kiều. Tú Uyên tỏ ra quyết tâm trách móc cô gái vì tại sao cô “điểm phấn tô son” khiến người quân tử “ruột héo gan mòn”. Từ “ai” được lặp lại hai lần, chỉ rõ sự đồng nhất giữa hai con người và nỗi nhớ không dứt.
Buồng đào nửa bước chẳng rời
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Tú Uyên nhớ Giáng Kiều đến mức anh tách mình hoàn toàn khỏi thế giới bên ngoài, không bước ra khỏi căn phòng nửa bước. Anh sẵn sàng đổi cả nghìn vàng chỉ để thấy nụ cười của cô. Từ “nghìn” ở đây thể hiện nỗi nhớ sâu sắc và không thể so sánh được với bất kỳ điều gì khác. Câu thơ đặt ra một câu hỏi tu từ, nhấn mạnh tình cảm mãnh liệt của Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Tú Uyên còn muốn mở cung trăng để được ngắm nhìn dung mạo của cô, vượt qua giới hạn của thời gian và không gian.
Thông qua những biểu tượng và hình ảnh của thiên nhiên, sự đối lập của từ và câu hỏi tu từ, đoạn thơ đã thể hiện sự da diết của nỗi nhớ và tình yêu mạnh mẽ mà Tú Uyên dành cho Giáng Kiều. Tình yêu đó cũng là biểu tượng cho khát vọng của con người, mong muốn tìm kiếm hạnh phúc và thoát ra khỏi hiện thực buồn tẻ.
So xem phong vị khác thường
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Bỗng đâu thấy sự lạ đời
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhân nhân mày liễu mặt hoa
Này người khi trước đâu mà đến đây?
Một ngày, khi Tú Uyên trở về nhà sau giờ học, anh phát hiện một bữa cơm sẵn sàng trên bàn. Bữa ăn ấy mang một “hương vị khác thường,” phát ra một mùi thơm ngọt ngào như hoa. Tú Uyên cảm thấy lạ và bắt đầu nảy sinh nghi ngờ. Sáng hôm sau, anh quyết định giả vờ rời nhà và khi quay lại đột ngột, anh bắt gặp một người con gái vô cùng xinh đẹp bước ra từ bức tranh. Trước tình huống này, Tú Uyên vô cùng hạnh phúc khi gặp được người trong mơ, và anh nhanh chóng “vội vàng đánh tiếng ra chào.” Chi tiết “Bên mừng bên lệ” cho thấy sự rối bời của cảm xúc và niềm hạnh phúc đến mức nước mắt trào ra.
Khi Tú Uyên chào đón Giáng Kiều và được cô giới thiệu về bản thân, sự xuất hiện của Giáng Kiều gợi lên hình ảnh của những nàng tiên, như cô Tấm trong truyện cổ dân gian Việt Nam, với phẩm hạnh thanh khiết và tấm lòng thơm thảo. Giáng Kiều cũng là một cô gái đầy đoan trang và dịu dàng trong lời nói của mình.
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường\
Vì mang má phấn nên vương tơ điều
Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu
Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên
Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân
Cũng là nhờ đức tiên quân
Đoá hoa biết mặt chúa xuân từ rày”
Giáng Kiều tự giới thiệu mình là một phụ nữ mong manh như “bồ liễu” và như “khách thanh tiêu” ở trên trời, được biết với danh hiệu Tiên Thù và tên gọi Giáng Kiều. Mối “tơ điều” đã nối kết cô và Tú Uyên, và họ đã “Ba sinh đã nặng vì duyên.” Từ lời nói của Giáng Kiều, có thể cảm nhận được rằng tình yêu giữa Uyên và Kiều là một sự kết nối trước định, được thế lực trời đất phê duyệt.
Khi lắng nghe Giáng Kiều nói, Tú Uyên cũng thể hiện những suy tư đã nắm chặt trong lòng từ lâu: “Nhắp sầu gối muộn có ngày nào nguôi?” Không chỉ sở hữu vẻ đẹp ngoại hình, lời nói êm đềm và phẩm cách lịch lãm, Giáng Kiều còn là một phụ nữ trung thành, kiên định trong tình yêu và có lòng tự trọng cao đối với danh dự của bản thân.
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh
Dám đâu học thói yến oanh
Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương
Gieo thoi trước đã dở dang
Sao nên nát đá phai vàng như chơi
Mái Tây còn để tiếng đời
Treo gương kim cổ cho người soi chung
Lạ gì hoa với gió đông
Tiếc hương vả cũng nể lòng chim xanh
Một mai mưa gió bất tình
Vóc tàn nên để yến oanh hững hờ
Nghĩ trong thân phận yếu thơ
Làm chi để tiếng sờ sờ lại sau!
Tác giả đã sử dụng điển tích kén rể của vua Hán Vũ Đế, trong đó công chúa ngồi trên lầu cao ném quả cầu xuống, và người nào bắt được quả cầu sẽ trở thành người kén rể, để thể hiện tấm lòng chân thành của Giáng Kiều đối với Tú Uyên. Việc sử dụng hai từ “quyết” và “thề” trong hai dòng thơ liền nhau làm tôn thêm tính nghiêm trọng và chân thành của Giáng Kiều khi nói về hôn nhân và hạnh phúc. Cô khẳng định tình cảm trong sáng của mình hoàn toàn khác biệt với “thói yến oanh” thoảng qua và tạp nham. Cặp từ đối lập như “mặn” và “nhạt”, “trăng gió” (nhẹ nhàng) và “lửa hương” (đam mê mãnh liệt) trong cùng một câu thơ làm nổi bật vẻ đẹp của tâm hồn và lòng chung thủy trong tình yêu của cô gái. Các điển tích truyền thống như “Gieo thoi” và “Mái Tây” thể hiện ý thức của Giáng Kiều trong việc bảo vệ tình yêu của mình.
Thưa rằng: “Túc trái tiền nhân
Không dưng dễ xuống cõi trần làm chi
Song còn mấy bạn tương tri
Bấy lâu chưa có chút gì là đâu
Trước xin từ biệt cùng nhau
Chữ duyên này trở về sau còn dài”
Giáng Kiều đã đến gặp “tiền nhân” – những duyên nợ từ kiếp trước để giải thích về việc nàng xuống trần. Từ đáy lòng, Giáng Kiều thực sự coi Tú Uyên là “bạn tri kỉ”. Mối quan hệ tri âm, tri kỷ này không bao giờ bị phai nhạt bởi khoảng cách, vì vậy nàng đã hứa “Chữ duyên này trở về sau còn dài”. Nét đẹp của Giáng Kiều nằm ở sự thông minh, khéo léo, tế nhị và tấm lòng trung thành.
Sau cuộc gặp gỡ và cuộc trò chuyện giữa Tú Uyên và Giáng Kiều, họ bước vào hạnh phúc của tình yêu đôi, nơi mà Giáng Kiều đã sử dụng phép tiên để thay đổi khung cảnh xung quanh:
Thảo am thoắt đã đổi ra lâu đài
Tường quang sáng một góc trời
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh tạo
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai
Lả lơi bên nói bên cười
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang
Đong đưa khoe thắm đua vàng
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha
Trong một khoảnh khắc, lều cỏ biến thành một lâu đài huyền bí. Ánh dương ban mai lan tỏa rọi rực, chiếu sáng toàn bộ không gian. Những người tham gia vui vẻ, sôi nổi, trong trang phục lịch lãm và tươi tắn. Từ các từ như “Nhởn nhơ,” “Lả lơi,” “Đong đưa,” cùng với những động từ như “nói, cười,” “đua,” “khoe,” tạo ra một bầu không khí phấn khích, hạnh phúc do rượu và tình bạn đem lại, cả quan khách và chủ nhà đều tràn đầy niềm vui.
Do đó, đoạn văn này thể hiện nỗi nhớ của Tú Uyên về Giáng Kiều và cuộc gặp gỡ của họ, cũng như biểu tượng cho khát khao hạnh phúc của đôi tình nhân và niềm hy vọng vào tình yêu mãnh liệt. Sử dụng hình thức thơ lục bát truyền thống của dân tộc, việc sử dụng các từ láy giàu biểu đạt và các điển tích điển cố, cùng với hình ảnh thiên nhiên tượng trưng đã giúp tạo nên thành công cho tác phẩm.
Nghị luận về tác phẩm Tú Uyên gặp Giáng Kiều - mẫu 10
“Bích Câu kì ngộ” của Vũ Quốc Trân là truyện Nôm xuất sắc của nền văn học Việt Nam. Câu chuyện kể về một chàng thư sinh tên là Trần tú Quyên gặp nàng Giáng Kiều ở đất Bích Câu và cùng nhau se sợi tơ duyên hạnh phúc. Đoạn trích “Tú Uyên gặp dáng kiều” nói về hoàn cảnh khiến chàng và nàng gặp nhau rồi kết duyên đôi lứa.
Câu thơ đầu đã cho người đọc cảm nhận được gia cảnh nghèo khó của chàng thư sinh Trần Tú Uyên.
Mưa hoa khép cánh song hồ
Cuộc đời thật nghiệt ngã với chàng khi cha mẹ chàng mất sớm, chàng một mình lủi thủi với căn nhà giữa hồ Bích Cầu, ngày đêm miệt mài đèn sách. Trong dịp dạo chơi xuân, tình cờ chàng trông thấy một người con gái xinh đẹp như tiên nữ giáng trần, chàng luôn dõi theo sau được một quãng thì nàng biến mất không rõ tung tích. Từ đó, chàng ôm tương tư mà ngày đêm nhung nhớ.
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi
Mâm chung một, đũa thêm hai
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa
...
Cho hay tình cũng là chung
Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!
Tác giả miêu tả nỗi nhớ của chàng như “sông Tương mơ hình”, sông Tương là nơi hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đã khóc thương chồng, nay đó là nơi trĩu nặng tương tư của nhân vật. Rồi một ngày, Tú Uyên mua được một bức tranh nàng thiếu nữ với nét đẹp tựa như người chàng đang thương nhớ, chàng mua về treo trong nhà để “sớm khuya” ôm mộng. Chàng nghĩ về người thiếu nữ ấy đến nỗi ngỡ người trong tranh “phát phu”, tưởng tượng người thiếu nữ trong tranh là người thật. Chàng ôm nhung nhớ đến “chồn” cả người, chồn ở đây có nghĩa là ốm yếu, không còn cử động được, chàng nhớ nàng đến mất ăn mất ngủ. Đến nỗi chàng còn ao ước “bẻ khóa cung trăng” để thấy được “chị Hằng” mà chàng ngày êm mộng mị. Có thể thấy nỗi niềm tương tư, tình cảm của chàng thật sâu nặng giống như xuân Diệu đã từng viết bài thơ “Vấn vương”:
Anh chả hiểu vì sao vấn vương
Năm năm, như mấy chục năm trường
Vẫn là mắt mấy, làn môi ấy
Anh hãy còn thương, chẳng hết thương.
Một quãng thời gian sau, một hôm Tú Uyên bận công việc ở trường trở về nhà trời đã muộn thì thấy cơm nước được dọn sẵn. Không khỏi thắc mắc, chàng quyết định rình xem người bấy lâu nay chăm sóc, phục vụ bữa cơm miếng nước cho chàng là ai:
Một khi ra việc trường văn
Trở về đã thấy bát trân sẵn sàng
So xem phong vị khác thường
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngọt ngào
Bếp trời sẵn đó hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi!
Cơm canh tiếp đón không chỉ là cơm canh bình thường mà đầy đủ, sung túc như “bát trân”. Bát trên là mâm cơm với 6 món ăn quý giá, chàng không tin vào mắt mình, chắc hẳn chỉ có “bếp trời” mới làm được như vậy. Chàng quyết định rình một phen thì thấy một nàng thiếu nữ từ trong tranh bước ra:
Trống & Nhạc gõ
Sáng mai cứ buổi ra đi
Liệu chừng thoắt trở lại về thử coi
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
...
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường
Vì mang má phấn nên vương tơ điều
Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu
Tiên Thù là hiệu, Giáng Kiều là tên
Thỏa nỗi nhớ mong khi gặp được người trong mộng, mắt chàng rưng rưng “bên mừng bên lệ” thổ lộ tình cảm bấy lâu nay với thiếu nữ. Người tiên nữ e thẹn, ngại ngùng tự xưng là tiên nữ Giáng Kiều, vốn là người cõi tiên, vì có tiền duyên với chàng nên hạ phàm xuống đất:
Ba sinh đã nặng vì duyên
Đem thân liễu yếu kết nguyền đào thơ
Nhân duyên đã định từ xưa
Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân
...
Đã rằng: tác hợp duyên trời
Làm chi cho bận lòng người lắm nao!
“Ba sinh” ở đây chính là mối nhân duyên tiền kiếp của chàng và nàng. Mối nhân duyên vợ chồng đến bây giờ mới được “tơ trăng” nhờ ân đức của “tiên quân”, nên nàng ngỏ ý nguyện một lòng “tấm son” cùng chàng se mối nhân duyên này:
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu”
Tấm son thề với trên đầu xanh xanh
Từ đó hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, thấu hiểu nhau. Chim yến oanh bay theo từng đàn chúc phúc cho đôi trai tài gái sắc, trăng thanh, hoa nở mừng cho mối lương duyên này. Nàng hoa phép ra lâu đài nguy nga, lộng lẫy có đầy đủ kẻ hầu người hạ. Thiên thời địa lợi nhân hòa chung vui với đôi vợ chồng, “Vũ y”, Nghê thường” hay chính là quần áo, xiêm y lả lướt, thiết tha.
Đong đưa khoe thắm đua vàng
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha.
Đoạn trích “Tú Uyên gặp Giáng Kiều” mang âm hưởng dân tộc rõ nét, bút pháp nghệ thuật tài tình trong xây dựng hình tượng nhân vật khi kết hợp tả cảnh với tả tình. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán mang nét mộng tưởng hoang đường về tình yêu. Ẩn chứa trong đó là tâm nguyện của tác giả về một vấn đề len lỏi trong xã hội. Đó là cái nhìn phê phán của tác giả về một xã hội loạn lạc, khó khăn, khiến con người ta muốn thoát ly khỏi thế giới thực tại. Mặt khác, tác phẩm cũng hướng cho con người giải tỏa, cải cách tâm hồn thoát khỏi Nho giáo, tiến đến Phật giáo và Đạo giáo.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Người ngồi đợi trước hiên nhà
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Thị Kính nuôi con cho Thị Màu
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Sống hay không sống - đó là vấn đề
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Romeo và Juliet
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Lời má năm xưa
- Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm: Ét-va Mun-chơ và Tiếng thét
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 11 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 11 Friends Global
- Lớp 11 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 11 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 11 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 11 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 11 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 11 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - KNTT
- Giải sgk Tin học 11 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 11 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 11 - KNTT
- Lớp 11 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 11 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 11 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 11 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 11 - CTST
- Giải sgk Hóa học 11 - CTST
- Giải sgk Sinh học 11 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 11 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 11 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 11 - CTST
- Lớp 11 - Cánh diều
- Soạn văn 11 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 11 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 11 - Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 11 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 11 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 11 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 11 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 11 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 11 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 11 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

