10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (điểm cao)
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thương vợ (Tú Xương) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (các mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ
a. Mở đoạn:
Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi. Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.
b. Thân đoạn:
- Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”.
Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác.
Địa điểm “mom sông”: phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.
⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định.
- Lí do:
“nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
“đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.
⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang.
Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.
⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.
- Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):
“Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tính khái quát.
“khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu.
⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ.
- “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc
Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cảnh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu.
- Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.
⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú: Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.
- “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, Tú Xương cũng tự ý thức được mình là “nợ” mà bà Tú phải gánh chịu.
- “nắng mưa”: chỉ vất vả
- “năm”, “mười”: số từ phiếm chỉ số nhiều
- “dám quản công”: Đức hi sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.
⇒ Câu thơ vận dụng sáng tạo thành ngữ, sử dụng từ phiếm chỉ vừa nói lên sự vất vả gian lao vừa nói lên đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.
- Bất mãn trước hiện thực, Tú Xương đã vì vợ mà lên tiếng chửi: “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”: tố cáo hiện thực, xã hội quá bất công với người phụ nữ, quá bó buộc họ để những người phụ nữ phải chịu nhiều cay đắng vất vả.
- Tự ý thức: “Có chồng hờ hững”: Tú Xương ý thức sự hờ hững của mình cũng là một biểu hiện của thói đời.
- Nhận mình có khiếm khuyết, phải ăn bám vợ, để vợ phải nuôi con và chồng.
→ Từ tấm lòng thương vợ đến thái độ đối với xã hội, Tú Xương cũng chửi cả thói đời đen bạc.
c. Kết đoạn:
Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của tác phẩm. Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xã hội hôm nay.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 1
Tú Xương là một nhà thơ trào phúng hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Bên cạnh mảng thơ trào phúng sắc sảo, ông còn có những vần thơ trữ tình đằm thắm, chan chứa yêu thương. "Thương vợ" là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất cho mảng thơ này, thể hiện tấm lòng của ông Tú đối với người bạn đời của mình. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người chồng mà còn là bức tranh chân thực về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương đã giới thiệu về hoàn cảnh làm ăn của vợ mình bằng lời thơ tự nhiên, giản dị như một câu nói thường ngày:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Hai câu thơ đầu là lời kể về công việc lam lũ của bà Tú. "Quanh năm" chỉ thời gian liên tục, không ngừng nghỉ, còn "mom sông" là một mảnh đất nhô ra, chênh vênh, nguy hiểm, cho thấy địa điểm làm ăn chông chênh. Công việc buôn bán nhỏ, vất vả quanh năm là để "nuôi đủ năm con với một chồng". Cách nói "nuôi đủ" cho thấy sự đảm đang, tảo tần, vừa đủ để che chở cho cả một gia đình. Đặc biệt, cách kể "năm con với một chồng" thể hiện một sự hóm hỉnh, chua xót khi ông Tú tự coi mình như một "đứa con" đặc biệt của vợ. Cụm từ "với một chồng" vang lên như một lời tự trào, tự nhận mình là gánh nặng, là sự vất vả thêm của vợ.
Nỗi vất vả, gian lao của bà Tú được khắc họa rõ nét hơn qua những câu thơ tiếp theo:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Bút pháp tả thực kết hợp với hình ảnh ẩn dụ đã đạt đến độ điêu luyện. Hình ảnh "thân cò" trong ca dao vốn là biểu tượng cho người nông dân, người phụ nữ lam lũ, vất vả:
“Con cò lặn lội bờ sông,
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.”
Tú Xương đã sử dụng sáng tạo hình ảnh này. Nếu ca dao nói "con cò lặn lội" thì Tú Xương nói "lặn lội thân cò". Cách đảo ngữ đã nhấn mạnh sự chịu thương chịu khó, dãi dầu mưa nắng của bà Tú. Từ láy "lặn lội" kết hợp với "khi quãng vắng" gợi lên không gian heo hút, vắng vẻ, đầy lo âu và nguy hiểm. Câu thơ thứ tư: "Eo sèo mặt nước buổi đò đông" lại gợi lên cảnh chen chúc, giành giật, những thị phi, xô bồ của cuộc mưu sinh nơi bến nước. Hai câu thơ đối nhau hoàn chỉnh: "lặn lội" đối với "eo sèo", "thân cò" đối với "mặt nước", "khi quãng vắng" đối với "buổi đò đông". Sự đối lập giữa không gian vắng lặng và chốn đông người càng tô đậm mọi nỗi niềm, mọi gian truân mà bà Tú phải trải qua.
Đến hai câu luận, Tú Xương trực tiếp bộc lộ phẩm chất cao đẹp của vợ và cũng là lời than thân của chính mình:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Thành ngữ "một duyên hai nợ" được tác giả sử dụng thật sáng tạo. Chữ "duyên" thì ít, chữ "nợ" thì nhiều, đó là sự thiệt thòi của bà Tú khi phải lấy ông Tú. Bà không chỉ chu toàn bổn phận của người phụ nữ (một duyên) mà còn phải gánh vác thêm phần trách nhiệm của người chồng (hai nợ). Cụm từ "âu đành phận" vừa thể hiện sự cam chịu, hi sinh thầm lặng của người vợ, vừa thể hiện sự xót xa, áy náy của tác giả. Câu thơ "Năm nắng mười mưa dám quản công" cũng vậy, từ "dám" là một lời khẳng định đầy trân trọng về đức hi sinh, lòng tận tụy của bà Tú. Nắng mưa dãi dầu là vậy, tất cả cũng chỉ vì chồng vì con. Cách nói "năm nắng mười mưa" đối lập với "dám quản công" đã xây dựng hình tượng người vợ đảm đang, giàu đức hi sinh.
Tám câu thơ trên là hình ảnh bà Tú với bao nỗi vất vả, gian lao và phẩm chất cao đẹp. Đến hai câu cuối, nhà thơ bỗng cất lên tiếng chửi:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Có nhiều cách hiểu về đối tượng của tiếng chửi này. Có thể ông Tú chửi xã hội, chửi thói đời đen bạc đã đẩy người phụ nữ vào cảnh túng quẫn. Nhưng xót xa hơn, sâu sắc hơn, đó là tiếng chửi của ông Tú tự chửi chính mình. Ông tự nhận mình là kẻ "hờ hững", là người chồng vô dụng, không giúp gì được cho vợ, trở thành gánh nặng cho vợ. "Có chồng hờ hững cũng như không" vừa là lời tự trách cay đắng, vừa là tiếng lòng day dứt khôn nguôi của một con người giàu tình thương, giàu lòng tự trọng. Nhờ tiếng chửi ấy, tình thương yêu của tác giả dành cho vợ càng trở nên sâu sắc, chân thật hơn.
Tóm lại, "Thương vợ" là một bài thơ đặc sắc, kết tinh vẻ đẹp của tình cảm gia đình và tài năng nghệ thuật của Tú Xương. Bài thơ sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ giản dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày; vận dụng sáng tạo hình ảnh, thành ngữ của văn học dân gian; kết hợp hài hòa giữa trữ tình và trào phúng. Tất cả đã tạo nên một bài thơ hay, lay động triệu triệu trái tim người đọc, thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà thơ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 2
Nhắc đến Tú Xương, người ta không thể không nhắc đến những vần thơ đầy xót thương, trân trọng mà ông dành cho người vợ tần tảo của mình. Bài thơ "Thương vợ" là một bức chân dung tuyệt đẹp về người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ cũ: lam lũ, vất vả nhưng giàu đức hi sinh và tình yêu thương. Hình tượng bà Tú hiện lên sinh động qua từng câu chữ đầy ám ảnh của Tú Xương.
Trước hết, bà Tú hiện lên với công việc mưu sinh đầy nhọc nhằn. Hai câu thơ đề từ đã giới thiệu khái quát về cuộc sống lao động của bà:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Thời gian "quanh năm" cho thấy sự liên tục, không ngơi nghỉ. Không gian "mom sông" - một dải đất nhỏ nhô ra giữa dòng nước, chênh vênh, bấp bênh, ám chỉ sự bất trắc, nguy hiểm của nghề buôn bán nhỏ. Thành quả của sự "buôn bán" vất vả ấy là "nuôi đủ năm con với một chồng". Chữ "đủ" gợi lên sự đảm đang, tháo vát. Bà không chỉ nuôi con mà còn phải nuôi chồng, một người chồng "hờ hững" nay đây mai đó chỉ biết thi cử, làm thơ. Cách liệt kê "năm con với một chồng" vừa hóm hỉnh vừa chua chát, khẳng định vai trò trụ cột kinh tế của bà Tú.
Sự vất vả, gian truân còn được cụ thể hóa qua những câu thơ đầy ám ảnh:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Bà Tú được so sánh với hình ảnh "thân cò" trong ca dao. Tú Xương đã rất tài tình khi sử dụng sáng tạo hình ảnh này. Nếu như ca dao là "con cò lặn lội" thì ở đây là "lặn lội thân cò". Việc đảo từ "lặn lội" lên trước và sử dụng từ "thân" đã làm tăng thêm sự gợi cảm, nhấn mạnh sự đơn chiếc, nhỏ bé, đáng thương của bà Tú trên hành trình mưu sinh. "Khi quãng vắng" gợi lên nỗi sợ hãi, cô đơn trên những con đường vắng vẻ, heo hút. Ở chiều ngược lại, "buổi đò đông" lại là sự chen chúc, giành giật, những thị phi nơi bến nước. Hai câu thơ đăng đối, vẽ nên toàn cảnh cuộc đời bà Tú với muôn vàn khó khăn, vất vả từ không gian vắng lặng đến chốn đông người.
Không chỉ tái hiện nỗi vất vả, Tú Xương còn ca ngợi những phẩm chất cao quý của người vợ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Nhà thơ đã sử dụng sáng tạo các thành ngữ dân gian. "Một duyên hai nợ" là cách nói về sự thiệt thòi. Bà Tú đến với ông Tú bằng một chữ "duyên" nhưng lại phải gánh thêm hai chữ "nợ". Đó là món nợ với chồng, với con, với gia đình. Chữ "duyên" ít, chữ "nợ" nhiều, đó là sự bất công của tạo hóa dành cho người phụ nữ. Thế nhưng bà vẫn "âu đành phận", cam chịu, nhẫn nhịn, chấp nhận số phận như một lẽ tự nhiên. "Năm nắng mười mưa" là một ẩn dụ cho những gian khổ, vất vả mà bà đã trải qua. Bà đã làm tất cả mà không hề than thở, không hề tính toán công lao ("dám quản công"). Chữ "dám" là một sự khẳng định mạnh mẽ về tấm lòng, về đức hi sinh thầm lặng cao cả của bà Tú. Bà là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam với đầy đủ phẩm chất: công, dung, ngôn, hạnh; đảm đang, tháo vát, giàu lòng vị tha.
Qua hình tượng bà Tú, Tú Xương đã gián tiếp bộc lộ tình cảm của mình. Ông thương vợ vì những nhọc nhằn, lam lũ. Ông trân trọng, ngợi ca những đức tính cao đẹp của vợ. Và ông tự dằn vặt mình khi thấy mình là gánh nặng của vợ:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Chính cái kết đầy trăn trở, tự trách ấy đã tô đậm thêm vẻ đẹp của bà Tú. Một người vợ như vậy, đáng ra phải được yêu thương, chở che, nhưng thực tế lại phải một mình gồng gánh cả gia đình. Hình ảnh bà Tú trong bài thơ "Thương vợ" là một hình tượng đẹp, cảm động, góp phần làm nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho thơ Tú Xương.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 3
Nếu như trong văn học trung đại, hiếm có người đàn ông nào dám cất lên tiếng nói yêu thương, trân trọng dành cho vợ một cách công khai và chân thành như Tú Xương. "Thương vợ" không chỉ là bài thơ viết về người vợ tảo tần, mà trên hết, nó là tiếng lòng của nhà thơ - một người chồng đầy trách nhiệm nhưng bất lực, một nhà nho tài tử nhưng nợ nần với gia đình. Phân tích nỗi lòng của Tú Xương trong bài thơ chính là chìa khóa để mở ra giá trị nhân văn sâu sắc nhất của tác phẩm.
Nỗi lòng ấy trước hết là sự thương cảm, xót xa cho những nhọc nhằn của vợ. Mở đầu bài thơ, bằng một giọng điệu tự nhiên như lời kể, Tú Xương đã vẽ nên bức tranh lao động của bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Câu chữ có vẻ khách quan nhưng chất chứa biết bao tình cảm. Nhà thơ hiểu rất rõ công việc của vợ: đó là công việc "quanh năm" vất vả, không Tết nhất, không ngày nghỉ. Nơi làm việc là "mom sông" chênh vênh, hiểm trở. Đối tượng bà phải "nuôi" là "năm con với một chồng". Cách nói "với một chồng" cho thấy sự tự ý thức của tác giả về vai trò của mình: ông cũng là một gánh nặng, là một "đứa con" đặc biệt của vợ. Đó là một nỗi niềm vừa thương vợ, vừa tủi thân cho chính mình.
Nỗi thương vợ càng trở nên day dứt hơn khi tác giả hình dung ra những cảnh đời cụ thể, gian khổ của vợ:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Ông Tú như đang đứng từ xa mà nhìn thấy hình ảnh vợ mình lầm lũi trên những nẻo đường vắng, chen chúc nơi bến đò đông để kiếm vài đồng tiền lời. Cách nói "thân cò" vừa gợi sự nhỏ bé, đáng thương, vừa gợi sự nhẫn nại, chịu thương chịu khó. Từ láy "lặn lội", "eo sèo" kết hợp với các từ tượng hình "quãng vắng", "đò đông" đã diễn tả một cách sinh động và ám ảnh những vất vả của bà Tú. Nhà thơ thương vợ đến từng chi tiết nhỏ như vậy đó, một nỗi thương rất thực, rất người.
Tiếp theo, nỗi lòng của Tú Xương còn là sự trân trọng, biết ơn sâu sắc trước những hi sinh thầm lặng của vợ. Ông thấu hiểu phẩm chất cao đẹp nơi bà:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Nhà thơ thấm thía cái "duyên" và cái "nợ" ở đời. Bà Tú đến với ông bằng một chữ duyên, nhưng vì cái duyên đó mà bà phải gánh thêm biết bao nhiêu là nợ. Bà âm thầm chịu đựng số phận thiệt thòi của mình ("âu đành phận"). Bà dãi dầu mưa nắng mà không một lời oán trách, không hề tính toán công lao ("dám quản công"). Câu thơ thể hiện sự cảm kích sâu sắc của nhà thơ trước tấm lòng của vợ. Chính nhà thơ là người hiểu rõ nhất điều đó, và ông biết mình là người mắc nợ vợ cả một đời.
Đỉnh điểm của nỗi lòng được bộc lộ ở hai câu kết. Đó là sự tự trách, tự giận mình vì sự vô dụng, bất lực:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Tiếng chửi vang lên. Nó có thể là chửi xã hội, nhưng trên hết là chửi chính mình. Tú Xương tự nhận mình là người chồng "hờ hững", vô tích sự, không giúp được gì cho vỹ, thậm chí còn làm vợ thêm vất vả. Câu thơ cuối "Có chồng hờ hững cũng như không" là lời tự nhận xét đau đớn nhất. Nhà thơ tự coi sự tồn tại của mình là vô nghĩa đối với vợ. Đây không phải là sự phủ nhận bản thân một cách tiêu cực, mà chính là thái độ dám nhìn thẳng vào sự thật, dám tự phê phán mình, xuất phát từ một tình yêu thương vợ chân thành và sâu sắc. Nỗi đau của ông là nỗi đau của một người đàn ông bất lực trước cảnh nghèo, không thể gánh vác nổi gia đình.
Như vậy, qua bài thơ "Thương vợ", Tú Xương không chỉ vẽ nên chân dung người vợ tảo tần, mà còn bộc lộ cả một thế giới nội tâm phong phú: từ thương cảm, xót xa, trân trọng, biết ơn đến tự trách, dằn vặt. Tất cả hòa quyện làm nên một tiếng thơ vừa chân thực, vừa cảm động, khẳng định tấm lòng nhân đạo cao cả và nhân cách đẹp đẽ của nhà thơ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 4
Văn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX chứng kiến sự lên ngôi của dòng văn học hiện thực phê phán và những tác phẩm giàu giá trị nhân đạo. "Thương vợ" của Tú Xương là một trong những bài thơ tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo sâu sắc đó. Giá trị nhân đạo của tác phẩm không chỉ thể hiện ở tình thương yêu, sự cảm thông với những vất vả, hi sinh của người vợ, mà còn ở tiếng nói trân trọng ngợi ca phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, và hơn thế, là sự tự ý thức về lẽ sống, về trách nhiệm của bản thân trước gia đình.
Trước hết, giá trị nhân đạo của bài thơ thể hiện ở tấm lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc của nhà thơ đối với người vợ của mình. Tú Xương đã thấu hiểu và xót xa trước những nhọc nhằn, gian lao của bà Tú trong cuộc mưu sinh:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Hai câu thơ như một lời kể, nhưng ẩn sâu trong đó là nỗi lòng của người chồng. Ông thấm thía nỗi vất vả "quanh năm", hiểu được sự chênh vênh, nguy hiểm của nơi "mom sông". Ông xót xa khi thấy vợ mình phải một mình gánh vác cả gia đình, nuôi năm con và nuôi cả chồng. Cách nói "với một chồng" vừa hóm hỉnh, vừa chua chát, bộc lộ sự thương vợ và sự tự trách của chính mình. Nỗi thương cảm ấy còn được đẩy lên cao độ qua những câu thơ đầy ám ảnh về nỗi đơn chiếc, vất vả của vợ:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Hình ảnh "thân cò" gợi lên sự nhỏ bé, lam lũ. Cảnh "khi quãng vắng" gợi nỗi cô đơn, lo âu. Cảnh "buổi đò đông" gợi sự chen chúc, thị phi. Tất cả đều được nhà thơ cảm nhận bằng tất cả sự thấu hiểu và tình thương yêu chân thành. Ông thương vợ đến từng bước chân lặn lội, từng tiếng thở dài eo sèo nơi bến nước.
Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở thái độ trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Tú Xương đã nhìn thấy và khẳng định những đức tính cao quý của bà Tú: sự đảm đang, tháo vát, lòng hi sinh thầm lặng:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Nhà thơ hiểu rằng cuộc đời bà Tú là một chuỗi những thiệt thòi. Đến với ông bằng một chữ "duyên" nhưng lại phải gánh hai chữ "nợ". Dù vậy, bà vẫn một mực "âu đành phận", cam chịu, nhẫn nại. Bà trải qua "năm nắng mười mưa" mà "dám quản công". Tấm lòng của bà Tú thật cao cả. Tú Xương đã dùng những câu thơ của mình để khắc tạc nên bức tượng đài về người phụ nữ Việt Nam vĩnh hằng trong lòng người đọc. Điều này vô cùng tiến bộ trong xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công, trọng nam khinh nữ.
Cuối, cùnggiá trị nhân đạo của bài thơ còn nằm ở sự tự thức tỉnh, tự phê phán của nhà thơ. Đó là tiếng nói của lương tâm, của trách nhiệm trước gia đình:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Đây có thể coi là một cuộc "cách mạng" trong tư tưởng của một nhà nho. Tú Xương đã dám tự nhận mình là kẻ "ăn ở bạc" với vợ, là người chồng "hờ hững", vô dụng. Tiếng chửi ấy là tiếng chửi xã hội bạc bẽo, nhưng trên hết là tự chửi mình. Nó thể hiện một nhân cách lớn: dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận lỗi về mình, xuất phát từ lòng yêu thương vợ và khát khao được sống có trách nhiệm.
Tóm lại, "Thương vợ" là một bài thơ giàu giá trị nhân đạo. Giá trị ấy không chỉ dừng lại ở tình thương yêu, sự cảm thông, lòng trân trọng của nhà thơ đối với vợ, mà còn vang lên như một tiếng nói tự vấn lương tâm, một khát vọng hướng tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống gia đình. Bài thơ xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 5
Tú Xương là một bậc thầy về ngôn ngữ thơ ca. Ông có biệt tài sử dụng ngôn từ giản dị, đời thường nhưng lại đạt đến độ tinh luyện và giàu sức biểu cảm. "Thương vợ" là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng đó. Bài thơ thành công không chỉ nhờ nội dung cảm động mà còn nhờ những đóng góp độc đáo về mặt nghệ thuật, từ việc sử dụng sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, đến nghệ thuật đối, đảo ngữ, và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng.
Trước hết, Tú Xương đã rất thành công trong việc vận dụng sáng tạo hình ảnh và ngôn ngữ của văn học dân gian. Hình ảnh "con cò" trong ca dao vốn đã trở nên quen thuộc:
“Con cò lặn lội bờ sông”
Tú Xương đã tiếp thu và biến hóa nó thành một hình ảnh đầy ám ảnh:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”
Chỉ bằng một thao tác đảo ngữ, đưa từ "lặn lội" lên đầu câu và thay "con cò" bằng "thân cò", Tú Xương đã làm tăng lên gấp bội giá trị biểu cảm. "Lặn lội" được nhấn mạnh, gợi lên sự vất vả, nhọc nhằn triền miên. Từ "thân" (thân cò) gợi lên sự đơn chiếc, nhỏ bé, đáng thương của một kiếp người. Câu thơ vừa mang âm hưởng dân gian, vừa mang dấu ấn sáng tạo riêng của Tú Xương.
Bên cạnh đó, nhà thơ còn sử dụng rất tài tình các thành ngữ dân gian. "Một duyên hai nợ" và "năm nắng mười mưa" là hai thành ngữ quen thuộc, nhưng khi đặt trong câu thơ của Tú Xương, chúng vụt sáng lên những ý nghĩa mới mẻ
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
"Âu đành phận" và "dám quản công" là những bổ ngữ được tác giả thêm vào, đã biến những câu thơ từ chỗ chỉ là lời kể về sự việc trở thành lời đánh giá, lời ngợi ca đầy xúc động về phẩm chất hi sinh, cam chịu của người vợ. Thành ngữ vì thế mà không còn khô cứng, mà trở nên linh hoạt, uyển chuyển, thấm đẫm cảm xúc.
Nghệ thuật đối được sử dụng một cách điêu luyện trong bài thơ. Hai câu thực đối nhau hoàn chỉnh
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
"Lặn lội" đối với "eo sèo" (động từ, trạng thái), "thân cò" đối với "mặt nước" (danh từ, không gian), "khi quãng vắng" đối với "buổi đò đông" (thời gian, trạng thái đối lập: vắng vẻ >< đông đúc). Sự đối lập này không chỉ làm cho câu thơ cân xứng, nhịp nhàng mà còn khắc họa toàn diện những gian nan của bà Tú trong mọi hoàn cảnh, mọi không gian. Sự đối lập còn thể hiện ở hai câu luận:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Số từ tăng tiến "một" >< "năm", "hai" >< "mười" cho thấy sự đối lập giữa duyên phận hẩm hiu và công lao, sự hi sinh to lớn của bà Tú.
Đặc biệt, hai câu kết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Giọng thơ đột ngột chuyển từ tâm tình, thương cảm sang tiếng chửi. Tiếng chửi ấy mang yếu tố trào phúng nhưng đằng sau nó là nỗi đau đớn, xót xa đến tột cùng. Chửi để tự trách mình, để bày tỏ nỗi bất lực và tình thương vợ sâu sắc. Sự kết hợp này tạo nên một giọng điệu riêng, rất Tú Xương, không thể trộn lẫn.
Ngôn ngữ trong bài thơ chủ yếu là ngôn ngữ đời thường, mộc mạc, giản dị: "quanh năm", "buôn bán", "mom sông", "nuôi đủ", "năm con", "một chồng", "lặn lội", "eo sèo"... Tất cả đều là những từ ngữ quen thuộc trong lời ăn tiếng nói hàng ngày. Thế nhưng, nhờ tài năng sắp đặt, kết hợp của Tú Xương, chúng đã trở nên lung linh, giàu sức gợi, chạm đến trái tim người đọc.
Tóm lại, nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong "Thương vợ" là một bản tổng phối tuyệt vời giữa chất liệu dân gian và tài năng bác học của Tú Xương. Sự kết hợp hài hòa giữa các thủ pháp nghệ thuật đã tạo nên một bài thơ vừa chân thực, vừa hàm súc, vừa thấm đẫm cảm xúc, khẳng định vị trí hàng đầu của Tú Xương trong nền thơ ca dân tộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 6
Nếu như hai câu kết của bài thơ "Thương vợ" là nơi tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc tự trách, dằn vặt của mình, thì tám câu thơ đầu (từ câu 1 đến câu 8) là bức tranh hiện thực sinh động và cảm động về người vợ tảo tần. Đây là phần "thân" bài, nơi Tú Xương tập trung khắc họa hình ảnh bà Tú với tất cả những nhọc nhằn, gian lao và phẩm chất cao đẹp, từ đó bộc lộ tình thương yêu sâu sắc của mình.
Mở đầu bằng hai câu đề, tác giả giới thiệu khái quát về công việc và hoàn cảnh gia đình:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Câu thơ giản dị như một lời nói thường, không hoa mỹ, không bóng bẩy. "Quanh năm" là thời gian liên tục, không ngơi nghỉ, không Tết nhất. "Mom sông" là một địa danh gợi lên sự chông chênh, bấp bênh, nguy hiểm, không phải nơi buôn bán thuận lợi. Cả hai chi tiết đều cho thấy sự vất vả, lam lũ của công việc buôn bán nhỏ. Câu thơ thứ hai là hệ quả của sự vất vả đó: "Nuôi đủ năm con với một chồng". Chữ "đủ" rất đắt. Nó cho thấy bà Tú là trụ cột kinh tế, xoay xở, tảo tần để đáp ứng nhu cầu của cả gia đình. Cách liệt kê "năm con với một chồng" vừa hóm hỉnh vừa chua xót. Ông Tú tự coi mình như một đứa con đặc biệt, một gánh nặng mà bà Tú phải cưu mang. Hai câu thơ đã mở ra cuộc đời bà Tú với trọng trách lớn lao trên đôi vai gầy.
Đến hai câu thực, nỗi vất vả ấy được cụ thể hóa bằng những hình ảnh đầy ám ảnh
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Tú Xương đã sử dụng hình ảnh ẩn dụ "thân cò" để nói về vợ mình. "Lặn lội thân cò" là một sự sáng tạo độc đáo từ hình ảnh "con cò lặn lội" trong ca dao. Cách đảo ngữ đã nhấn mạnh sự nhọc nhằn, vất vả. Từ "thân" gợi lên sự đơn chiếc, đáng thương. Bà Tú hiện lên với dáng vẻ lam lũ, nhỏ nhoi trên con đường vắng vẻ, heo hút ("khi quãng vắng"). Không chỉ vậy, bà còn phải đối mặt với cảnh chen chúc, xô bồ, giành giật từng đồng lời nơi bến nước đông đúc ("buổi đò đông"). Hai câu thơ đăng đối đã vẽ nên hai bức tranh đối lập nhưng đều phản ánh một sự thật: ở đâu, lúc nào, người phụ nữ ấy cũng phải một mình chiến đấu với cuộc mưu sinh đầy bất trắc.
Hai câu luận là những câu thơ hay nhất về phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Tác giả sử dụng thành ngữ một cách điêu luyện. "Một duyên hai nợ" vừa nói về hoàn cảnh éo le (lấy chồng mà phải gánh nợ), vừa nói về phẩm chất cam chịu, nhẫn nhịn ("âu đành phận") của bà Tú. Chữ "duyên" ít, chữ "nợ" nhiều, bà Tú chấp nhận tất cả như một lẽ đương nhiên của phận làm vợ, làm mẹ. "Năm nắng mười mưa" là một ẩn dụ cho những gian khổ triền miên, nhưng bà vẫn không hề than thở, không hề tính toán công lao ("dám quản công"). Chữ "dám" là một sự khẳng định, một sự trân trọng của nhà thơ dành cho vợ. Bà Tú là hiện thân của sự hi sinh thầm lặng và cao cả.
Tám câu thơ đầu với kết cấu chặt chẽ, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, hình ảnh quen thuộc mà mới lạ, đã khắc họa thành công chân dung bà Tú. Đó là người phụ nữ lam lũ, vất vả trong cuộc mưu sinh nhưng lại sở hữu những phẩm chất vô cùng cao đẹp. Qua đó, ta thấy được tấm lòng yêu thương, quý trọng vô bờ bến của Tú Xương dành cho người bạn đời của mình.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 7
Nếu xem bài thơ "Thương vợ" là một bức tranh toàn cảnh về thân phận và phẩm chất người phụ nữ trong xã hội cũ, thì hai câu kết chính là điểm sáng soi rọi toàn bộ tư tưởng của tác phẩm. Nó không chỉ là lời kết cho một nỗi niềm, mà còn là tiếng lòng day dứt nhất, đau đớn nhất của nhà thơ Tú Xương. Hai câu thơ kết có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện chủ đề và giá trị nhân đạo của bài thơ.
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không.”
Đây là một tiếng chửi. Trong văn học trung đại, ít ai dám chửi một cách công khai và thẳng thắn như vậy. Tiếng chửi này mang nhiều tầng ý nghĩa. Trước hết, đó có thể là lời chửi xã hội, chửi "thói đời" đen bạc, bất công. Xã hội phong kiến đương thời đầy rẫy những hủ tục và sự thối nát đã đẩy những người phụ nữ đảm đang, hiền thục như bà Tú vào cảnh vất vả, lam lũ. Thói đời bạc bẽo ấy đã khi cho một người vợ hiền lành phải một mình gồng gánh cả gia đình. Tiếng chửi này mang ý nghĩa phê phán xã hội sâu sắc.
Tuy nhiên, tầng ý nghĩa sâu xa và cảm động hơn cả, đó là tiếng chửi tự trào, tự chửi chính mình. Tú Xương tự nhận mình là kẻ "ăn ở bạc" với vợ. Cái "bạc" ở đây không phải là bạc tình, bạc nghĩa, mà là cái "bạc" của một người chồng bất lực, không lo nổi cho vợ con, phải để vợ lam lũ kiếm tiền nuôi cả mình. Ông là người chồng "hờ hững". "Hờ hững" là thờ ơ, lạnh nhạt, không quan tâm. Nhưng đặt trong hoàn cảnh này, "hờ hững" được hiểu theo nghĩa là vô tích sự, là không làm được gì, là mắc nợ vợ mà không thể trả. Câu thơ cuối cùng là một sự phủ định đau đớn về vai trò của mình trong gia đình: "Có chồng hờ hững cũng như không". Nghĩa là, có chồng mà cũng như không có, chồng chỉ là một gánh nặng thêm trên vai người vợ.
Lời tự chửi ấy nghe xót xa biết chừng nào. Nó bộc lộ một nhân cách cao đẹp. Để có thể tự nhận mình như vậy, người đó phải rất yêu thương vợ, rất thấu hiểu nỗi vất vả của vợ, và rất đau đớn khi nhận ra sự vô dụng của bản thân. Tú Xương không hề đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho xã hội, mà dũng cảm nhận lỗi về mình. Đây là một hành động tự vấn lương tâm rất đáng trân trọng. Nó thể hiện sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, của trách nhiệm làm chồng trong một xã hội mà người đàn ông thường được coi là trụ cột.
So sánh với những người chồng khác trong văn học, ta càng thấy rõ hơn điều này. Người chồng trong "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương là một ẩn số mơ hồ, là nguyên nhân của sự bấp bênh. Người chồng trong "Tự tình II" cũng mờ nhạt. Duy chỉ có Tú Xương, ông dám bước ra ánh sáng, dám nhận mình là kẻ "hờ hững", là "kẻ bạc tình" với vợ. Chính vì sự tự ý thức và dũng cảm ấy mà hình tượng nhà thơ trong bài thơ trở nên cao đẹp, và bài thơ "Thương vợ" trở nên sâu sắc, cảm động hơn rất nhiều.
Hai câu kết còn tạo nên một sự bất ngờ, một bước ngoặt về cảm xúc. Từ những câu thơ tả thực, ngợi ca, mạch thơ chuyển hẳn sang một tiếng thở dài đầy chua xót, một lời tuyên bố đầy đau đớn. Sự kết hợp giữa trữ tình và trào phúng (tự trào) ở hai câu này đã đạt đến đỉnh cao, tạo nên một dư âm ám ảnh khó phai trong lòng người đọc. Nó khiến cho nỗi thương vợ của Tú Xương không còn là sự thương hại từ trên xuống, mà là sự đồng cảm, sẻ chia từ một người bạn đời, một người cùng nợ, cùng khổ.
Tóm lại, hai câu kết bài "Thương vợ" là một sáng tạo độc đáo của Tú Xương. Nó vừa là tiếng chửi đời, vừa là tiếng tự trách, tự vấn lương tâm đầy xúc động. Hai câu thơ ấy đã nâng tầm giá trị nhân đạo của tác phẩm, khẳng định tấm lòng và nhân cách cao đẹp của một nhà thơ suốt đời yêu thương, trân trọng vợ con.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 8
Tú Xương là một nhân cách văn học phức tạp: vừa trào phúng sắc sảo, vừa trữ tình thiết tha. Trong số những sáng tác của ông, mảng thơ về bà Tú chiếm một vị trí đặc biệt. "Thương vợ" không chỉ là lời tri ân của người chồng dành cho người vợ tần tảo, mà còn là bức tranh chân thực về số phận người phụ nữ trong xã hội giao thời đầy biến động.
Mở đầu bài thơ, Tú Xương giới thiệu về công việc của vợ mình bằng một không gian và thời gian đầy áp lực:
"Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng."
Thời gian "quanh năm": Một vòng tuần hoàn khép kín, không có ngày nghỉ, gợi lên sự bền bỉ nhưng cũng đầy mệt mỏi.
Không gian "mom sông": Một địa điểm cheo leo, nguy hiểm, đầy rủi ro của nghề buôn thúng bán mẹt. Phép đếm "Năm con với một chồng": Cách diễn đạt đầy hóm hỉnh nhưng xót xa. Bà Tú không chỉ nuôi con mà còn phải nuôi cả "ông chồng" – một nhà nho "dài lưng tốn vải". Chữ "đủ" cho thấy sự đảm đang tuyệt vời của bà Tú trong hoàn cảnh thiếu thốn.
Tú Xương sử dụng những hình ảnh dân gian nhưng được làm mới bằng sự quan sát tinh tế:
"Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông."
Hình ảnh "thân cò": Gợi nhắc đến ca dao, nhưng nếu con cò trong ca dao thường lẻ loi, thì "thân cò" của bà Tú lại gắn với từ "lặn lội", gợi sự vất vả, lam lũ đến cực độ.
"Quãng vắng" đối với "đò đông": Hai thái cực không gian đều chứa đựng hiểm họa. "Quãng vắng" thì rình rập sự đơn độc, "đò đông" thì đầy rẫy sự tranh giành, va chạm ("eo sèo").
Đến đây, nhà thơ đi sâu vào nội tâm và thái độ sống của vợ:
"Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công."
Sử dụng các thành ngữ và số từ tăng tiến (một, hai, năm, mười), Tú Xương nhấn mạnh gánh nặng ngày càng chồng chất. Bà Tú coi những vất vả ấy là "duyên nợ", là "phận" nên không một lời kêu ca. Chữ "dám quản công" thể hiện đức hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam truyền thống: sống vì chồng, vì con mà quên đi bản thân mình.
Kết thúc bài thơ, Tú Xương đột ngột thay đổi giọng điệu, từ trữ tình sang trào phúng, tự trách:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không."
"Thói đời": Tú Xương chửi cái xã hội thực dân nửa phong kiến đẩy gia đình ông vào cảnh túng quẫn, khiến người vợ phải vất vả. Lời tự trách: Ông tự nhận mình là người chồng "hờ hững", "có cũng như không". Đây là một sự thú nhận đầy trung thực và dũng cảm của một nhà nho. Trong khi xã hội trọng nam khinh nữ, Tú Xương lại tự hạ thấp mình để tôn vinh vợ, cho thấy một tâm hồn đầy nhân văn.
"Thương vợ" là một bài thơ thất ngôn bát cú mẫu mực nhưng lại rất bình dân, gần gũi nhờ việc sử dụng ngôn ngữ đời thường và hình ảnh dân gian. Tác phẩm không chỉ là bức tượng đài bằng thơ về người vợ, người phụ nữ Việt Nam tần tảo, giàu đức hy sinh mà còn thể hiện một nhân cách Tú Xương cao đẹp: một người chồng biết yêu thương, biết trân trọng và biết xấu hổ trước những hy sinh của vợ. Bài thơ vì thế mà sống mãi trong lòng độc giả qua nhiều thế hệ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 9
Nhắc đến Tú Xương, người ta thường nhớ đến một nhà thơ trào phúng sắc sảo, một cây bút hiện thực phê phán tài ba. Tuy nhiên, ở mảng thơ trữ tình, đặc biệt là bài "Thương vợ", giá trị hiện thực vẫn hiện lên rất rõ nét, góp phần làm nên chiều sâu cho tác phẩm. Giá trị hiện thực của bài thơ không chỉ dừng lại ở việc phản ánh chân thực cuộc sống lam lũ, vất vả của người lao động, mà còn cho thấy sự bất công, những gánh nặng mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội cũ.
Trước hết, bài thơ phản ánh chân thực công việc mưu sinh đầy nhọc nhằn của tầng lớp tiểu thương, lao động nghèo trong xã hội đương thời. Bà Tú làm nghề gì? Đó là nghề "buôn bán", một nghề nhỏ, lấy công làm lãi. Địa điểm buôn bán không phải là một cửa hiệu khang trang, mà là "mom sông" – một dải đất nhỏ ven sông, chênh vênh, bấp bênh, phụ thuộc vào con nước. Công việc diễn ra "quanh năm" suốt tháng, không có ngày nghỉ. Tú Xương đã chọn lọc những chi tiết rất thực để nói về nghề nghiệp của vợ mình, qua đó phản ánh một hiện thực: đó là cuộc sống mưu sinh của những con người nhỏ bé, bấp bênh, một nắng hai sương để kiếm sống qua ngày.
Nỗi vất vả ấy còn được cụ thể hóa qua hai câu thơ tả thực đến nao lòng:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Hiện thực cuộc sống hiện lên với hai thái cực đối lập. Một bên là sự heo hút, vắng vẻ ("khi quãng vắng"), nơi mà người phụ nữ phải một mình "lặn lội" trên con đường dài, đối mặt với bao nỗi lo sợ, nguy hiểm. Một bên là sự xô bồ, chen chúc, giành giật ("buổi đò đông"), nơi mà "mặt nước" trở thành chiến trường mưu sinh với những tiếng "eo sèo" kéo dài. Tú Xương đã tái hiện một cách chân thực đến từng chi tiết cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của vợ mình. Đó không phải là một bức tranh lãng mạn, mà là một thước phim hiện thực về cuộc đời của những người phụ nữ nghèo nơi bến nước.
Không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống mưu sinh, bài thơ còn phản ánh hiện thực về những gánh nặng gia đình, những bất công thầm lặng mà người phụ nữ phải gánh chịu. Trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, người đàn ông được coi là trụ cột. Thế nhưng ở gia đình ông Tú, mọi thứ dường như đảo lộn. Người trụ cột thực sự lại là bà Tú. Bà không chỉ "nuôi đủ năm con" mà còn phải "nuôi... một chồng". Cách nói "với một chồng" như một gạch đầu dòng, cho thấy người chồng cũng là một đối tượng cần được nuôi, một gánh nặng. Đây là một hiện thực trớ trêu, nhưng cũng rất phổ biến trong xã hội đương thời, khi những nhà nho nghèo chỉ biết ôm mộng công danh mà lực bất tòng tâm, đẩy gánh nặng gia đình lên vai vợ.
Tú Xương còn cho thấy hiện thực về sự cam chịu, nhẫn nhịn của người phụ nữ:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Bà Tú chấp nhận sự thiệt thòi của mình một cách tự nhiên như một lẽ đương nhiên của phận làm vợ, làm mẹ. "Âu đành phận" và "dám quản công" là hiện thực về tâm lý, về cách ứng xử của bao thế hệ phụ nữ Việt Nam: chịu thương, chịu khó, cam chịu, hi sinh tất cả vì chồng vì con mà không một lời than thở. Đó là một hiện thực vừa đẹp đẽ, vừa đáng thương, đáng trân trọng.
Cuối cùng, bài thơ còn phản ánh hiện thực về sự bất lực của người trí thức nghèo. Hình ảnh ông Tú "hờ hững" và tiếng chửi "Cha mẹ thói đời ăn ở bạc" chính là hiện thực về tâm trạng của một lớp người trong xã hội cũ. Họ là những nhà nho tài tử, có học thức, có hoài bão nhưng không thể mưu sinh, không thể gánh vác gia đình. Họ bất lực trước cảnh nghèo và chỉ biết day dứt, tự trách mình. Đây là một hiện thực đáng buồn nhưng rất chân thực của xã hội Việt Nam buổi giao thời.
Tóm lại, giá trị hiện thực trong "Thương vợ" rất sâu sắc. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của một người chồng thương vợ, mà còn là một bức tranh chân thực, cảm động về cuộc sống lam lũ, vất vả và những phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ, đồng thời phơi bày những bất công và nghịch cảnh của xã hội đương thời.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thương vợ - mẫu 10
Trong nền văn học trung đại Việt Nam, đề tài tình cảm gia đình thường gắn với đạo lý, luân thường. Tuy nhiên, bài thơ "Thương vợ" của Tú Xương đã vượt lên trên những khuôn sáo đạo đức để trở thành một khúc ca chan chứa yêu thương, một minh chứng cảm động về tình nghĩa vợ chồng sâu nặng. Qua từng câu chữ, ta thấy được một Tú Xương với tấm lòng đong đầy yêu thương, lo lắng và giàu trách nhiệm với người bạn đời của mình.
Tình cảm gia đình trước hết được thể hiện qua sự thấu hiểu và cảm thông của nhà thơ với những vất vả, gian lao của vợ. Mở đầu bài thơ, ông Tú như đang kể về vợ với tất cả sự thấu hiểu:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Chỉ với hai câu thơ, ông Tú đã cho thấy ông hiểu rất rõ công việc của vợ: nó diễn ra "quanh năm" không ngơi nghỉ, nó diễn ra ở nơi "mom sông" chông chênh, hiểm trở. Ông cũng hiểu rõ thành quả lao động của vợ là để "nuôi đủ" một gia đình sáu miệng ăn, trong đó có cả ông. Cách nói "với một chồng" vừa là lời tự trào, nhưng sâu xa hơn, nó thể hiện sự thương cảm: thương vợ vì phải nuôi thêm một người chồng "vô tích sự" như mình. Sự thấu hiểu ấy đến từ một tình yêu thương gắn bó sâu sắc.
Tình cảm ấy còn thể hiện qua sự ám ảnh của nhà thơ trước từng bước chân, từng cảnh đời của vợ:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Ông Tú không chỉ biết vợ vất vả, ông còn hình dung ra một cách cụ thể những nỗi vất vả ấy. Ông như thấy được dáng vẻ "lặn lội" của vợ trên những con đường vắng lúc đêm khuya, với hình ảnh "thân cò" gầy guộc, đơn độc. Ông như nghe thấy tiếng "eo sèo" giành giật từng đồng lời nơi bến nước đông đúc, thấy được sự nhọc nhằn trên khuôn mặt vợ. Đó là tình thương đến độ nhập tâm, nhập thần, thương vợ đến từng hơi thở, từng bước đi.
Không chỉ thấu hiểu và cảm thông, Tú Xương còn dành cho vợ một sự trân trọng, biết ơn vô bờ bến. Ông nhìn thấy và ngợi ca những phẩm chất cao đẹp của vợ như một cách để bày tỏ tấm lòng mình:
“Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.”
Đối với ông, vợ không chỉ là người phụ nữ tảo tần mà còn là người anh hùng thầm lặng của gia đình. Bà cam chịu số phận, bà dãi dầu nắng mưa mà không một lời oán trách. Ông Tú biết ơn vợ vì điều đó. Tình cảm vợ chồng ở đây không chỉ là yêu, mà còn là quý, là trọng, là biết ơn. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng được xây dựng trên sự hi sinh và lòng vị tha.
Cao độ của tình cảm gia đình được bộc lộ ở hai câu kết. Đó là sự dằn vặt, tự trách mình một cách đau đớn nhất. Ông Tú tự nhận mình là người "ăn ở bạc", là người chồng "hờ hững". Câu nói "Có chồng hờ hững cũng như không" là một lời tự sát về danh dự của một người đàn ông. Nhưng chính vì đau đớn đến thế, tự trách mình đến thế mới thấy tình yêu thương của ông dành cho vợ lớn lao đến nhường nào. Nó không phải là thứ tình cảm hời hợt, sáo rỗng, mà là thứ tình cảm sâu sắc, xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm. Ông thương vợ đến nỗi căm ghét chính sự bất lực của bản thân mình.
"Thương vợ" không phải là bài thơ ông Tú viết để tặng vợ theo kiểu xã giao. Nó là tiếng lòng của một người chồng thức đến canh khuya, nhìn vợ ngủ sau một ngày lam lũ, mà trào dâng nỗi thương cảm, xót xa và tự trách. Đó là thứ tình cảm gia đình thiêng liêng, giản dị mà vô cùng sâu nặng. Qua bài thơ, ta thấy Tú Xương không chỉ là một nhà thơ tài hoa, một nhà nho bất đắc chí, mà trên hết, ông là một người chồng, một người cha giàu lòng yêu thương và trách nhiệm với gia đình. Chính tình cảm ấy đã làm nên giá trị nhân văn bất hủ của bài thơ, để nó còn mãi với thời gian.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thiên Trường vãn vọng
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Câu cá mùa thu
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Tự tình
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Đề đền Sầm Nghi Đống
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Lai Tân
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:
- Mục lục Văn phân tích, phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận
- Mục lục Văn biểu cảm
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn nghị luận
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8 và Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 8 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Friends plus
- Lớp 8 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) KNTT
- Giải sgk Toán 8 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 8 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 8 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - KNTT
- Giải sgk Tin học 8 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 8 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 8 - KNTT
- Lớp 8 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 8 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 8 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 8 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - CTST
- Giải sgk Tin học 8 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 8 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 8 - CTST
- Lớp 8 - Cánh diều
- Soạn văn 8 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 8 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 8 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 8 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 8 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 8 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 8 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

