10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (điểm cao)
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (Trần Quang Khải) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh (điểm cao)
Dàn ý Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh
a) Mở bài:
Trần Quang Khải đã viết nên những vần thơ thép, hùng hồn, xúc động trong "Phò giá về kinh" gây ấn tượng mạnh trong lòng người đọc.
b) Thân bài:
- Hai câu đầu: Những chiến công hào hùng của quân đội nhà Trần:
+ Địa danh: Chương Dương, Hàm Tử: Nơi diễn ra những cuộc chiến ác liệt và dân ta giành thắng lợi.
+ Hành động: Cướp giáo, bắt: sự chủ động đầy dũng mãnh, oai phong
+ Nghệ thuật: Đảo ngữ: nhấn mạnh ý
+ Không khí sục sôi, dũng mãnh, tạo khí thế hào hùng
- Hai câu cuối: Khát vọng đất nước thái bình
+ Nhiệm vụ: Xây dựng đất nước, luyện trí và lực
+ Mong ước: Giang sơn muôn đời yên ấm
=> Lời dặn dò gửi gắm con cháu đời sau
c) Kết bài:
Đọc bài thơ em thấy mình thật may mắn khi được sống trong hoà bình hôm nay, những mong ước, nhắn nhủ của người anh hùng Trần Quang Khải đang ngày được thế hệ sau tiếp thu, nêu cao tinh thần quyết tâm thực hiện.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 1
Lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII là những trang vàng chói lọi được viết bằng máu và lòng quả cảm, nơi "Hào khí Đông A" trở thành nhịp đập chung của cả một dân tộc. Trong những giây phút huy hoàng khi quân dân nhà Trần quét sạch bóng thù, Thượng tướng Trần Quang Khải đã cô đọng toàn bộ niềm tự hào và khát vọng thái bình vào bài thơ "Phò giá về kinh". Tác phẩm không chỉ là khúc khải hoàn ca chiến thắng mà còn là một bản tuyên ngôn về ý thức xây dựng đất nước bền vững muôn đời.
Bài thơ “Phò giá về kinh” (Tụng giá hoàn kinh sư) được sáng tác trong hoàn cảnh thượng tướng cùng đoàn tùy tùng đi đón hai vua Trần (vua cha Trần Thánh Tông và vua con Trần Nhân Tông) về Thăng Long sau khi kinh đô được giải phóng. Hình thức bài thơ tuy ngắn gọn, cô đúc nhưng đã thể hiện được hào khí chiến thắng và khát vọng lớn lao của dân tộc ta ở thời đại nhà Trần. Tác giả đã ghi lại hai chiến công vang dội của quân và dân Đại Việt vào xuân - hè năm Ất Dậu 1285.
“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan”
(Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù)
Chương Dương là bến sông nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng, thuộc huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (cũ), nay là Hà Nội. Chiến thắng Chương Dương diễn ra vào tháng 6 năm Ất Dậu (1285) do Trần Quang Khải trực tiếp chỉ huy. Hàm Tử là địa danh ở tả ngạn sông Hồng, thuộc huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Chiến thắng Hàm Tử vào tháng 4 cùng năm do tướng Trần Nhật Duật lãnh đạo cùng với sự hỗ trợ đắc lực của Trần Quang Khải.
Đây là những trận thủy chiến dữ dội nổ ra trên chiến tuyến sông Hồng. Trận Hàm Tử diễn ra vào tháng 4, tướng Trần Nhật Duật chém được Toa Đô. Hai tháng sau, Trần Quang Khải đại thắng giặc Nguyên - Mông tại Chương Dương. Hàng vạn tên lính xâm lược bị tiêu diệt, hoặc bị bắt làm tù binh. Quân ta chiếm được nhiều chiến thuyền, vũ khí và lương thảo của giặc.
Hai từ “Đoạt sáo” (cướp giáo) và “Cầm Hồ” (bắt giặc) được đặt ở đầu mỗi câu thơ giống như những nốt nhấn trong khúc ca đại thắng. Giọng thơ sảng khoái, hào hùng, phản ánh khí thế bừng bừng của dân tộc ta thời ấy. Từ vua quan, tướng sĩ đến dân chúng ai cũng hả hê, sung sướng, tự hào.
Hai câu thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp thơ nhanh, gấp và các động từ biểu thị động tác mạnh mẽ, dứt khoát (đoạt: cướp lấy; cầm: bắt) thể hiện nhịp độ dồn dập, sôi động, quyết liệt của chiến trận. Tác giả không nói nhiều về những chiến công và cũng không tỏ ra say sưa với chiến thắng nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được niềm phấn khởi, kiêu hãnh vô bờ toát lên từ âm hưởng của bài thơ.
Mùa hè năm Ất Dậu là một mốc son trọng đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Hiện thực sôi động đã truyền cảm hứng vào những vần thơ hùng tráng khiến bài thơ mang đậm phong vị anh hùng ca. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp liệt kê và phép đối để làm nổi bật hai sự kiện lịch sử mang tầm chiến lược. Chiến thắng Chương Dương diễn ra sau nhưng lại được nói đến trước là do nhà thơ đang sống trong không khí hào hùng của chiến thắng Chương Dương vừa diễn ra. Kế đó, nhà thơ làm sống lại không khí sôi động của chiến thắng Hàm Tử trước đó chưa lâu.
Hai chiến công Chương Dương độ và Hàm Tử quan đã làm thay đổi cục diện thế trận của quân ta. Từ chỗ rút lui theo chiến lược, quân ta đã tiến lên phản công như vũ bão. Mới ngày nào, 50 vạn quân Nguyên do tướng Thoát Hoan cầm đầu ồ ạt sang cướp phá nước ta. Kinh thành Thăng Long chìm trong khói lửa ngút trời. Hai mũi tấn công của giặc từ Nam Quan đánh xuống, từ Chiêm Thành đánh ra, kẹp lại như hai gọng kìm sắt. Vận nước lúc đó như "chỉ mành treo chuông" nhưng với tài thao lược của các vị danh tướng, quân ta đã lấy đoản binh chế trường trận, lấy yếu đánh mạnh. Với chiến thắng Chương Dương và Hàm Tử, quân ta đã giáng sấm sét xuống đầu lũ giặc phương Bắc hung hăng, ngạo mạn. Kinh thành Thăng Long được giải phóng. Quân xâm lược đã bị quét sạch ra khỏi bờ cõi nước ta.
Trần Quang Khải là nhà thơ đầu tiên đã đưa địa danh sông núi Đại Việt thân yêu vào thơ ca. Cái tên Chương Dương và Hàm Tử đã in đậm vào lịch sử chống ngoại xâm, vào lịch sử văn chương như một dấu son chói lọi. Phải là người trong cuộc, tha thiết yêu non sông gấm vóc của đất nước mình, Trần Quang Khải mới viết được những câu thơ hào hùng đến thế! Hai câu thơ sau:
“Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu)
Đây là lời vị thượng tướng động viên dân chúng hãy bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình và tin tưởng sắt đá vào sự bền vững muôn đời của Tổ quốc. Danh tướng Trần Quang Khải vừa từ chiến trường trở về, áo bào còn vương khói súng, chưa kịp nghỉ ngơi đã lo ngay đến nhiệm vụ trước mắt cũng như kế sách lâu dài cho quốc gia, dân tộc. Ông nhấn mạnh: Trong thời bình, mọi người cần phải dốc hết sức lực để xây dựng non sông. Nước mạnh, dân giàu thì mới đánh tan được tham vọng ngông cuồng của giặc ngoại xâm, đồng thời chủ quyền độc lập mới được giữ gìn lâu dài. Điều đó chứng tỏ Trần quang Khải vừa là một chiến tướng, vừa là một vị đại thần có tài kinh bang tế thế, luôn đặt trách nhiệm với dân, với nước lên hàng đầu.
Ngôn ngữ bài thơ Phò giá về kinh rất giản dị nhưng ý tưởng chứa đựng bên trong thật lớn lao. Khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng thì vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức (Trần Quốc Tuấn). Trong hòa bình, từ vua quan đến tướng sĩ, từ vương hầu đến chúng dân, ai ai cũng phải tu trí lực để đất nước Đại Việt được trường tồn. Câu thơ hàm chứa một tư tưởng vĩ đại, cho thấy tầm nhìn xa rộng và sáng suốt của Trần Quang Khải.
Tuy bài thơ ra đời cách đây gần tám trăm năm nhưng cho đến nay ý nghĩa của nó vẫn còn nguyên vẹn. Bài học rút ra từ bài thơ là nếu chúng ta không chăm lo xây dựng đất nước hùng mạnh, dân trí mở mang thì làm sao chống lại được ý đồ xâm lược, đồng hóa của các thế lực phản động nước ngoài đang rình rập, nhòm ngó đất nước ta?!
Tương tự bài Sông núi nước Nam, bài thơ Phò giá về kinh cũng thể hiện lòng yêu nước theo kiểu mộc mạc, tự nhiên nhưng mạnh mẽ, hào hùng. Hai bài thơ đều phản ánh bản lĩnh vững vàng, khí phách hiên ngang của dân tộc ta. Một bài nêu cao chủ quyền độc lập thiêng liêng, khẳng định nước Nam là của vua Nam, không kẻ nào được phép xâm phạm, nếu cố tình xâm phạm tất sẽ chuốc lấy bại vong. Một bài thể hiện khí thế hào hùng và bày tỏ khát vọng xây dựng, phát triển đất nước trong hòa bình với niềm tin đất nước sẽ bền vững nghìn thu.
Bài Phò giá về kinh của Trần Quang Khải là một kiệt tác trong thơ văn cổ. Ý thơ hàm súc, cô đọng; ngôn ngữ thơ giản dị, gợi cảm. Bài thơ thể hiện niềm tự hào to lớn về sức mạnh chiến thắng của dân tộc ta và làm sống lại những năm tháng hào hùng đánh đuổi quân xâm lược Nguyên - Mông. Đồng thời nó nhắc nhở mỗi người Việt Nam phải biết nâng cao ý thức trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước thanh bình, giàu đẹp, bền vững muôn đời.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 2
Nếu "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ nhất khẳng định chủ quyền toàn vẹn của lãnh thổ, thì "Phò giá về kinh" của Trần Quang Khải chính là lời khẳng định bản lĩnh của một dân tộc đã tôi luyện qua lửa đạn. Cùng mang âm hưởng hào hùng, nhưng "Phò giá về kinh" còn chứa đựng cái điềm tĩnh, sâu sắc của một vị tướng vừa rời yên ngựa đã lo việc trị quốc.
Bài thơ làm ngay sau khi quân ta giành chiến thắng, lúc đó Trần Quang Khải đi đón và hộ giá Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông trở về kinh thành Thăng Long. Bởi vậy bài thơ ra đời trong âm vang chiến thắng hào hùng của chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử do đích thân Trần Quang Khải chỉ huy chiến đấu.
Hai câu thơ đầu là cảm hứng tự hào trước những chiến công của thời đại, mang tính thời sự nóng hổi:
“Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù”
Câu thơ ngắn gọn, chỉ có năm chữ mà chắc nịch ý tứ và niềm vui. Câu thơ như dồn nén sức mạnh và sự thần tốc, chớp nhoáng của các chiến công. Các động từ mạnh mẽ, dứt khoát: đoạt, cầm mang phong cách của một vị tướng. Đồng thời còn diễn tả được không khí sục sôi của những sự kiện lịch sử có ý nghĩa xoay chuyển cục diện chiến trường. Chương Dương là trận đấu mở màn nhưng lại có ý nghĩa quyết định đến chiến thắng của cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai. Câu thơ vang lên thật hào sảng, hân hoan niềm vui. Đầu mỗi câu thơ gắn với hai địa danh: Chương Dương, Hàm Tử đây là những địa danh chói lọi gắn liền với những chiến công lịch sử của dân tộc, nó cũng trở thành biểu tượng cho thắng lợi huy hoàng. Nhắc lại hai địa danh đó càng làm niềm vui, niềm tự hào được nhân lên hơn nữa. Ngoài ra tác giả còn sử dụng từ ngữ mang sắc thái biểu cảm: chữ Hồ thường được người phương Bắc dùng để gọi các dân tộc thiểu số phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc. Bởi vậy khi dùng chữ này với quân xâm lược Mông – Nguyên tác giả thể hiện sự khinh bỉ.
Vui với niềm vui chiến thắng, nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy một Trần Quang Khải có tầm nhìn xa trông rộng, hết sức quan tâm đến vận mệnh đất nước. Hai câu thơ trên lướt nhanh qua những dòng sự kiện để rồi đọng lại những suy tư, chiêm nghiệm sâu sắc:
“Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu”
Hai câu thơ cho thấy cho thấy suy nghĩ, tầm nhìn của một vị thủ lĩnh, trong niềm vui chung của đất nước, ông không bị cuốn đi, không an lạc trong chiến thắng mà vẫn nêu lên nhiệm vụ sau khi giành được độc lập. Ông nêu lên trách nhiệm dẫu thái bình vẫn phải dốc hết sức lực để xây dựng, phát triển đất nước, có như vậy sông núi nước Nam mới bền vững muôn thuở. Hai câu thơ cuối vừa là chân lí vừa là kinh nghiệm được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu lâu dài của dân tộc. Cũng chính bởi lời dặn dò ấy, mà nhân dân ta đã tiếp tục đánh thắng sự xâm lược của quân Mông - Nguyên lần tiếp theo, cũng bởi thế mà vận mệnh đất nước lâu bền, thịnh trị, nhân dân được sống trong cảnh yên ấm, hạnh phúc. Câu thơ đã thể hiện tầm nhìn của một con người có hiểu biết sâu rộng, cái nhìn sáng suốt, chiến lược trong tương lai.
Bài thơ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với số câu chữ ít ỏi, nhưng vô cùng hàm súc. Số câu chữ ít ỏi nhưng đã khái quát đầy đủ sự kiện lớn của dân tộc và nêu lên chân lí lớn của thời đại. Kết cấu thơ chặt chẽ, ngôn từ chọn lọc, nhịp thơ ngắn gọn, kết hợp giữa biểu ý và biểu cảm. Vừa đưa ra những sự kiện lịch sử chính vừa thể hiện niềm vui, sự hân hoan trước chiến thắng và những suy tư, chiêm nghiệm sau khi đất nước đánh bại quân xâm lược.
Bài thơ với ngôn ngữ chọn lọc, cô đọng giàu sức biểu cảm đã cho thấy hào khí chiến thắng và khát vọng thái bình thịnh trịnh của nhân dân đời Trần. Đồng thời khẳng định chân lí vừa mang ý nghĩa thời sự vừa mang ý nghĩa lịch sử:
“Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu”
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 3
Trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên xâm lược đời Trần, Thượng tướng Trần Quang Khải đã lập được nhiều chiến công to lớn. Sau chiến thắng Hàm Tử, rồi chiến thắng Chương Dương năm 1285, trong ngày vui đất nước được giải phóng, Trần Quang Khải vinh dự đón nhà vua về kinh đô. Trên đường đi, ông đã hứng khởi sáng tác bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư. Bài thư nguyên văn bằng chữ Hán, theo thể Đường luật ngũ ngôn tứ tuyệt, toàn bài bốn câu, mỗi câu năm tiếng tuyệt hay. Tuy tác phẩm thuộc loại biểu ý là chính, nhưng đằng sau những ý tưởng lớn lao vẫn dạt dào biết bao cảm xúc sâu lắng. Đây là khúc khải hoàn đầu tiên của dân tộc ta trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm.
Trước thời đại nhà Trần, dân tộc ta từng đã nhiều lần đánh tan bọn giặc ngoại xâm. Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa được đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng - thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán:
“Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim :
“Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu”
Bố cục tác phẩm gồm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu:
“Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù”
Tìm hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chí nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định để giành thắng lợi cuối cùng?
Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cá triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phấn khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285).
Tại sao tác giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước - Hàm Tử - người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chi tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được "phò giá" dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn.
Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dùng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,... Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi chiến thắng, thể hiện bằng hai từ : "đoạt sáo" (cướp giáo), "cầm Hồ" (bắt quân Hồ).
Cần chú ý câu thơ nguyên tác "đoạt sáo". "Đoạt" nghĩa gốc là "lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác". Như vậy, dùng từ "đoạt sáo", nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ "cướp giáo" làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hòa, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ không nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động "đoạt sáo", "cầm Hồ".
Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 4
Giữa không khí náo nức của ngày khải hoàn, khi cả kinh thành Thăng Long rực rỡ cờ hoa, vị Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải không chỉ say sưa trong men say chiến thắng. Với tầm nhìn của một nhà chính trị lỗi lạc, ông đã viết nên "Phò giá về kinh" để nhắc nhở về trách nhiệm với non sông. Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm hứng chiến thắng dạt dào và những suy ngẫm sâu xa về quy luật hưng vong của một quốc gia.
Nhưng sau những chiến công ấy, chúng ta chưa dược đọc, được nghe một tác phẩm văn chương nào viết về chiến thắng, hoan ca khúc khải hoàn. Do đó, bài thơ Phò giá về kinh của vị thượng tướng - thi sĩ không những có tính lịch sử mà còn có giá trị văn chương. Chúng ta hãy đọc nguyên tác bài thơ phiên âm chữ Hán:
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
Và đọc bản dịch thơ của Trần Trọng Kim :
Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Bố cục tác phẩm gổm hai phần khá mạch lạc. Hào khí chiến thắng được thể hiện ở hai câu đầu:
Chương Dương cướp giảo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Tìm hiểu lịch sử, biết rằng trong công cuộc kháng chiến chống giặc Mông - Nguyên đời Trần, quân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng Trần Quang Khải chí nói tới hai chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử. Tại sao? Phải chăng đây là hai chiến dịch tiêu biểu, có tính quyết định dể giành thắng lợi cuối cùng?
Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, xa giá nhà vua và cá triều đình sau thời gian sơ tán, tạm lánh về nông thôn, được trở về kinh đô, vui lắm, phân khởi lắm, đáng làm thơ, đáng ca hát lắm? Trong thực tế, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước (tháng 4 năm 1285), chiến thắng Chương Dương sau (tháng 6 năm 1285).
Tại sao tạc giả nêu Chương Dương trước, sau đó là Hàm Tử? Đây cũng là câu hỏi thú vị. Tìm hiểu lịch sử, ta biết rằng, ở chiến thắng trước - Hàm Tử - người chỉ huy là tướng Trần Nhật Duật, còn Trần Quang Khải chi tham gia hỗ trợ. Còn tại Chương Dương, Thượng tướng Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó đón nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền niềm vui được "phò giá" dồn dập nối tiếp nhau lay động trí tuệ và tâm hồn.
Có lẽ vì thế trong phút ngẫu hứng, vị thượng tướng đã nhắc ngay tới Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch Chương Dương và Hàm Tử, quân dân ta đã chiến đấu vô cùng dùng cảm, khí thế trận mạc vô cùng sôi động, thành tích chiến đấu vô cùng phong phú,... Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngấn gọn, mười âm tiết. Ở mỗi chiến thắng, cũng dúc lại bằng hai từ : "đoạt sáo" (cướp giáo), "cầm Hồ" (bắt quân Hồ).
Cần chú ý câu thơ nguyên tác "đoạt sáo". "Đoạt" nghĩa gốc là "lấy hẳn được về cho mình qua đấu tranh với người khác". Như vậy, dùng từ "đoạt sáo", nhà thơ vừa ghi chiến công vừa ngợi ca hành động chính nghĩa và dũng cảm của quân dân ta. Bản dịch dùng từ "cướp giáo" làm giảm phần nào vẻ đẹp của chiến thắng. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí quân giặc. Còn ở Hàm Tử, ta bắt được quân tướng của chúng. Mỗi chiến dịch một thành tích khác nhau, bổ sung cho nhau, thật hài hoà, toàn diện. Trong chiến trận, chắc có thương vong, quân giặc chắc bị ta tiêu diệt, giết chết, đuổi chạy khá nhiều. Nhưng lời thơ khống nói tới cảnh máu chảy, đầu rơi, mà chỉ nhắc hai hành động "đoạt sáo", "cầm Hồ".
Cách nói ấy nhẹ mà sâu, biểu hiện rõ mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là chém giết mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải quy thuận, trả lại non sông, đất nước cho ta. Câu thơ dồn nén, biểu ý rắn khoẻ. Nhưng nhịp thơ, âm điệu vẫn toát ra niềm vui, niềm tự hào phơi phới. Đọc thơ, ta có cảm giác vị thượng tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vừa đi giữa đoàn quân chiến thắng vừa sang sảng cất tiếng ngâm thơ. Tiếng ngâm lan truyền và được ba quân nối tiếp, trở thành khúc ca hào hùng vang động núi sông. Đúng là khúc khải hoàn ca.
Xuống hai câu dưới, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ suy nghĩ về tương lai đất nước:
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.
Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về ngày mai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng, của một người đã trở thành ý nghĩ, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao trách nhiệm, cố gắng "tu trí lực", tức là rèn luyện, tu dưỡng tài nâng, sức lực. Đồng thời ông động viên quân dân "gắng sức, đồng lòng" phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình bền vững dài lâu. Câu thơ kết "Vạn cổ thử giang san" vừa chỉ ra cái đích đi tới của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ biểu cảm. Lời răn dạy hài hoà với niềm tin, niềm hi vọng.
Ba năm sau khi bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư ra đời, vào tháng 4 năm 1288, trong buổi tế thần tại Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông), đức vua Trần Nhân Tông đã ngẫu hứng đọc hai câu thơ:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
Phải chăng hai câu thơ trên của nhà vua đã đồng vọng với bài thơ Tụng giá hoàn kinh sư của Thượng tướng Trần Quang Khải ? Và phải chăng đấy cũng chính là hào khí của cả dân tộc ta thời đại nhà Trần, mà sau này người đời gọi là Hào khí Đông A ? Hào khí Đông A nghĩa là thế nào ? Đông A là chiết tự tên họ Trần, gồm hai chữ : chữ Đông ghép với chữ A trong Hán tự. Hào khí Đông A là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, là khí thế, quyết tâm lớn lao của quân dân đời Trần trong sự nghiệp chống ngoại xâm và xây dựng đất nước thanh bình, bền vững. Hào khí Đông A không chỉ là tư tướng, tâm hồn của con người mà còn là nội dung tư tưởng, là âm hưởng bao trùm trong rất nhiều tác phẩm thơ văn Việt Nam thời nhà Trần, thế kỉ XII, XIII.
Tầm vóc của "Phò giá về kinh" nằm ở sự chuyển mình từ cái "động" của chiến trận sang cái "tĩnh" của tư duy kiến thiết. Lời nhắc nhở "Thái bình tu trí lực" của Trần Quang Khải sau hơn bảy thế kỷ vẫn còn nguyên giá trị thời đại, nhắc nhở mỗi thế hệ về ý thức bảo vệ nền độc lập dân tộc bằng sức mạnh trí tuệ và sự bền bỉ.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 5
Trong thi pháp trung đại, "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lời) luôn là đỉnh cao của sự sáng tạo. Chỉ với 20 chữ trong thể ngũ ngôn tứ tuyệt, "Phò giá về kinh" của Trần Quang Khải đã dồn nén được cả một không gian chiến trận rộng lớn và một thời gian lịch sử dài lâu. Tác phẩm như một viên kim cương đa diện, phản chiếu cả ánh lửa chiến tranh lẫn ánh sáng của nền thái bình thịnh trị.
Hai câu đầu của bài thơ thể hiện chiến thắng hào hùng vang dội của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông xâm lược.
Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
(Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.)
Như chúng ta đã biết, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông thời vua Trần, nhân dân ta đã giành nhiều chiến thắng trong nhiều chiến dịch, nổi tiếng nhất là chiến thắng trên sông Bạch Đằng. Nhưng tại sao Trần Quang Khải chỉ nói đến chiến thắng ở Chương Dương và Hàm Tử mà không hề nhắc đến trận Bạch Đằng? Phải chăng đây là hai chiến thắng tiêu biểu, có tính quyết định dứt khoát để giành thắng lợi cuối cùng? Phải chăng nhờ hai chiến thắng này, nhà vua và cả triều đình sau thời gian sơ tán, được trở về kinh đô, trở về nhà trong niềm vui sướng? Trong thực tế lịch sử, chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước, chiến thắng Chương Dương sau. Tại sao tác giả lại nói ngược lại, nêu Chương dương trước, sau đó là Hàm Tử? Tìm hiểu lịch sử, ta thấy rằng, người chỉ huy trận Hàm Tử là tướng Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ tham gia hỗ trợ. Còn ở trận Chương Dương, Trần Quang Khải thống lĩnh ba quân, trực tiếp chỉ huy và giành thắng lợi giòn giã, để rồi ngay sau đó được cử hộ giá nhà vua về kinh. Niềm vui chiến thắng, đi liền với niềm vui được “phò giá” dồn dập nối tiếp cộng hưởng cho nhau. Có lẽ vì thế mà trong phút ngẫu hứng, vị tướng đã nhắc ngay đến chiến thắng Chương Dương, rồi mới hồi tưởng Hàm Tử. Trong cả hai chiến dịch, quân ta đã chiến đấu rất dũng cảm, khí thế, quyết đoán. Song, tác giả chỉ đúc lại trong hai câu thơ ngắn gọn với hai động từ mạnh đó là “đoạt” và “cầm”. “Đoạt” nghĩa là “lấy hẳn đượcvề cho mình qua đấu tranh với người khác”. Như vậy, dùng từ “đoạt sáo”, nhà thơ vừa ghi nhận chiến công vùa ngợi ca hành động chính nghĩa, dũng cảm của quân ta. Ở Chương Dương, ta giành được gươm giáo, vũ khí của giặc thì ở Hàm Tử, ta bắt sống được tướng giặc ngay tại trận. Trong chiến trận chắc chắn có thương vong, tổn hại lực lượng của cả bên ta lẫn bên địch. Nhưng lời thơ không đề cập đến, vì mục đích chiến đấu của dân tộc ta không phải là giết kẻ thù mà là giành lại nền độc lập, bắt kẻ thù phải trả lại đất nước cho ta. Giọng thơ khỏe khoắn, hùng tráng, âm điệu tươi vui, rộn ràng làm ta có cảm giác vị tướng ấy đang ngẩng cao đầu, vùa đi vừa cất tiếng ngâm thơ.
Có thể nói, hai câu thơ trên đã tái hiện không khí chiến thắng oanh liệt, tình cảm phấn chấn, tự hào của nhà thơ trên đường hộ tống nhà vua về kinh.
Dời xuống hai câu sau, âm điệu thơ như lắng lại. Nhà thơ dường như đang suy nghĩ về tương lai đất nước:
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.
(Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy ngàn thu.)
Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng về tương lai của đất nước, cũng là lời nhắn nhủ toàn thể quân dân ta bấy giờ. Tiếng nói, khát vọng của một người đã trở thành động lực, quyết tâm của toàn dân tộc. Trần Quang Khải tự nhắc mình nêu cao tinh thần trách nhiệm, cố gắng “tu trí lực”, bởi tu dưỡng trí tuệ, rèn luyện sức lực là hai yếu tố tiên quyết của một con người và một dân tộc nếu muốn làm nên chiến thắng, muốn xây dựng hòa bình. Đồng thời, ông động viên quân dân gắng sức, đồng lòng phát huy thành quả chiến thắng để xây dựng đất nước thanh bình, bền vững dài lâu chứ không được ngủ quên trên chiến thắng. Câu thơ cuối vừa chỉ ra cái chặng đường đi tiếp của đất nước vừa bày tỏ lòng mong muốn, niềm khát khao mãnh liệt về một tương lai tươi sáng muôn đời của dân tộc. Nghĩa của thơ biểu ý, nhưng nhạc của thơ lại mang tính biểu cảm. Lời răn dạy hài hòa với niềm tin, niềm hy vọng của quân dân ta.
Hai câu thơ sau là khát vọng hòa bình sau khi giành được chiến thắng vang dội và sự mong muốn xây dựng nền hòa bình cho đất nước lâu dài. Đây là lời tự nhủ của vị thượng tướng, đồng thời cũng là lời nhắn nhủ với quân dân: chúng ta không được phép ngủ quên trên chiến thắng. Điều đó thể hiện trí tuệ, biết lường trước được mọi việc, tầm nhìn xa trông rộng của một vị lãnh đạo tài ba biết lo cho dân cho nước. Để cho non nước được nghìn thu, hòa bình bền vững, thì khát vọng hòa bình không chỉ là khát vọng của riêng của người lãnh đạo mà còn là khát vọng chung của cả dân tộc.
Bằng cách nói chân thành, với câu chữ giản dị, mộc mạc, “Tụng giá hoàn kinh sư” đã thể hiện hào khí chiến thắng vang dội và khát vọng thái bình thịnh trị của dân tộc ta trong thời đại nhà Trần.
Trần Quang Khải (1241-1294) vừa là một võ tướng kiệt xuất của nhà Trần, ông là người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, đặc biệt trong hai trận chiến lớn ở Hàm Tử và Chương Dương. Không chỉ vậy ông còn là một thi sĩ nổi tiếng với rất nhiều những tác phẩm có giá trị trong đó không thể không kể tới bài thơ “Phò giá về kinh”. Đây là tác phẩm tiếp nối mạch nguồn cảm hứng yêu nước của thời đại nhà Trần, thể hiện hào khí chiến thắng và khát vọng về một đất nước thái bình thịnh trị của dân tộc.
Sau chiến thắng Chương Dương và Hàm Tử, kinh đô Thăng Long được giải phóng, Trần Quang Khải đích thân đi đón Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông hồi kinh, bài thơ “phò giá về kinh” được viết trong hoàn cảnh ấy. Trong không khí chiến thắng hào hùng ấy, bài thơ cất lên như một bản anh hùng ca của đất nước. Hai câu thơ đầu, tác giả gợi lại hai trận chiến oanh liệt hào hùng của dân tộc ta với âm vang tự hào:
“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan”
Chương Dương và Hàm Tử là hai địa danh nổi tiếng gắn với hai trận đánh lịch sử của dân tộc được tác giả trực tiếp nhắc tới trong câu thơ. Đối với quân dân nhà Trần, chỉ cần nhắc tới hai chiến công vang dội có tính chất quyết định thành bại ấy cũng đủ để cất lên âm điệu tự hào, ngợi ca. Tác giả không miêu tả diễn biến trận chiến, cũng không diễn tả cảnh binh đao trận lửa mà chỉ kể lại bằng cách liệt kê nhưng như thế cũng đủ để ta hình dung được không khí trận mạc cùng tính chất gay go, căng thẳng của cuộc chiến. Đặc biệt để nói về chiến thắng, nhà thơ chỉ sử dụng hai cụm động từ “đoạt sáo, cầm hồ” với sức gợi mạnh mẽ, khẳng định quân ta luôn trong thế chủ động, tự tin, lấn át và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược cho dù chúng là ai. Trong phần dịch nghĩa, tác giả sử dụng từ dùng từ “cướp” để dịch thoát nghĩa cho từ “đoạt” trong phiên âm, tuy nhiên nó đã làm mất đi sắc thái ý nghĩa của hành động. “Cướp” thiên về sự phi nghĩa, trái với đạo lí, dùng sức mạnh để chiếm đoạt của người khác, nó đã làm mất đi sự hào hùng vốn có của hành động “đoạt” là tư thế chủ động, tự tin của phe chính nghĩa tước đoạt dã tâm xâm lược của kẻ thù. Với giọng điệu hào hùng, sôi nổi kể lại những chiến công oanh liệt, hào hùng cùng của dân tộc cùng hào khí chiến đấu, chiến thắng vẻ vang của quân và dân nhà Trần, hai câu thơ đầu đã cho thấy niềm vui sướng, hạnh phúc và đầy tự hào của nhà thơ, đồng thời đó cũng là sự biểu hiện cụ thể của tình yêu đất nước.
Không ngủ quên trong chiến thắng, càng sung sướng, tự hào về chiến công bao nhiêu thì quân và dân nhà Trần càng quyết tâm để giữ gìn sự hòa bình, thịnh trị của dân tộc bấy nhiêu. Với giọng điệu dứt khoát, đầy tự tin Trần Quang Khải đã lên tiếng để nói về khát vọng ấy.
“Thái bình tu chí lực
Vạn cổ thử giang san”
Đến hai câu thơ này, giọng điệu trở nên trầm lắng, niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc dường như tạm lắng lại, thay vào đó là phút suy tư sâu lắng về vận nước. Triều đại vừa trải qua cơn phong ba bởi nạn giặc xâm lược, đất nước còn bao điều bộn bề lo toan, thân làm chủ tướng, Trần Quang Khải làm sao không suy nghĩ, lắng lo cho được. Trong câu thơ, tác giả đã nhấn mạnh có thái bình rồi nên phải gắng sức dựng xây thì non nước mới được thịnh trị muôn đời. Câu thơ cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của một vị chủ tướng tài ba. Đó vừa là lời hứa quyết tâm cùng chung tay góp sức xây dựng đất nước, cũng vừa là lời nhắc nhở con cháu đời sau về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với đất nước, dân tộc. Hai câu thơ khiến ta trân trọng, kính phục và cảm động biết bao trước tấm tấm lòng yêu nước thương dân và tài năng thao lược tài ba của người con tài giỏi nhà Trần.
Với thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt ngắn gọn mà dồn nén cảm xúc, “phò giá về kinh” của Trần Quốc Tuấn vừa ngợi ca chiến thắng hào hùng của dân tộc, vừa thể hiện niềm tin sắt đá vào sự bền vững muôn đời của đất nước. Bài thơ được xem là bản hùng ca hòa trong dàn đồng ca yêu nước của dân tộc cùng với các tác phẩm như Nam Quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình ngô đại cáo,...Những khúc ca ấy đã khơi gợi trong mỗi chúng ta tình yêu đất nước và ý thức bảo vệ, xây dưng, giữ gìn đất nước trong mỗi người.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 6
Trong dòng chảy của văn học trung đại Việt Nam, thời đại nhà Trần rực rỡ với "hào khí Đông A" ngút trời – một sự kết hợp độc đáo giữa tinh thần tự cường dân tộc và sức mạnh đoàn kết toàn dân. Có nhiều vần thơ đã tạc bệ phóng cho tinh thần ấy, nhưng cô đọng, súc tích và mang tầm vóc lịch sử hơn cả chính là bài "Phò giá về kinh" của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Tác phẩm không chỉ là một khúc ca khải hoàn mà còn là một bản tuyên ngôn về định hướng xây dựng đất nước muôn đời bền vững.
Bài thơ ra đời trong một bối cảnh lịch sử vô cùng đặc biệt: Sau chiến thắng oanh liệt năm 1285, quân dân nhà Trần quét sạch giặc Nguyên - Mông lần thứ hai, Trần Quang Khải đi đón hai vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) về lại kinh đô Thăng Long. Giữa không khí chiến thắng bộn bề, những vần thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hiện ra vừa rắn rỏi như thép, vừa sâu sắc như một lời sấm truyền.
Mở đầu bài thơ, Trần Quang Khải không dùng những mỹ từ hoa mỹ mà đi thẳng vào những địa danh lịch sử cụ thể:
"Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan."
(Dịch thơ: Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù)
Hai câu thơ đầu được cấu trúc theo phép đối chỉnh đáng kinh ngạc. "Chương Dương" đối với "Hàm Tử", "đoạt sáo" (cướp giáo) đối với "cầm hồ" (bắt giặc). Nhịp thơ 2/3 ngắt nhanh, dứt khoát như những nhát kiếm vung lên trên chiến trường. Việc đưa các địa danh vào thơ không chỉ để xác nhận thực tế lịch sử mà còn là cách tác giả tạc vào thời gian những chiến công bất tử. Nếu như ở trận Hàm Tử, quân ta phá tan quân giặc thì ở bến Chương Dương, chiến thắng ấy đã mang tính quyết định để giải phóng kinh thành.
Các động từ mạnh "đoạt" (cướp) và "cầm" (bắt) đặt ở đầu câu thơ nguyên tác chữ Hán cho thấy thế chủ động hoàn toàn của quân dân ta. Hình ảnh kẻ thù – những chiến binh Mông Cổ từng làm rung chuyển cả Á - Âu – giờ đây hiện lên thật thảm hại dưới sức mạnh vũ bão của nhà Trần. Qua đó, ta thấy được cái tầm của một vị chủ tướng: bình thản trước chiến thắng, lấy chiến công làm điểm tựa để khẳng định sức mạnh dân tộc.
Tuy nhiên, giá trị của "Phò giá về kinh" không chỉ nằm ở hào khí chiến trận. Nếu hai câu đầu là cái nhìn về quá khứ vinh quang, thì hai câu sau là cái nhìn hướng tới tương lai bền vững:
"Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang sơn."
(Dịch thơ: Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu)
Đây chính là điểm cốt lõi làm nên tầm vóc tư tưởng của Trần Quang Khải. Trong tâm thế của người chiến thắng, ông không chìm đắm trong men say của niềm vui, không chủ quan trước hào quang. Ông hiểu rằng giữ nước khó hơn dựng nước. "Thái bình" là thành quả, nhưng để giữ được thành quả ấy thì phải "tu trí lực". "Trí lực" ở đây không chỉ là sức mạnh quân sự, mà còn là trí tuệ, là sức dân, là việc tu bổ nội lực của quốc gia.
Lời nhắc nhở "tu trí lực" cho thấy một tư duy chính trị sắc bén: Muốn hòa bình lâu dài thì dân tộc phải luôn trong tư thế sẵn sàng và không ngừng lớn mạnh. Khát vọng "Vạn cổ thử giang sơn" (Non sông này bền vững muôn đời) không phải là một mong ước viển vông, mà là niềm tin sắt đá dựa trên bản lĩnh của một dân tộc đã kinh qua lửa đạn. Câu thơ kết thúc như một lời khẳng định đanh thép về chủ quyền và sự trường tồn dân tộc.
Về nghệ thuật, bài thơ là mẫu mực của phong cách thơ thời Trần: hàm súc, kiệm lời nhưng ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời). Thể thơ ngũ ngôn ngắn gọn phù hợp để diễn đạt những tư tưởng lớn, tạo nên một giọng điệu vừa hào hùng, vừa trầm lắng, uy nghiêm.
Tóm lại, "Phò giá về kinh" là viên ngọc quý trong kho tàng văn học yêu nước Việt Nam. Tác phẩm đã đúc kết được trọn vẹn hào khí Đông A – hào khí của một thời đại huy hoàng. Qua hơn bảy thế kỉ, lời nhắn nhủ của Trần Quang Khải về việc "tu trí lực" để giữ gìn "vạn cổ giang sơn" vẫn còn nguyên giá trị thời đại, nhắc nhở mỗi thế hệ hôm nay về trách nhiệm đối với nền hòa bình và sự thịnh vượng của Tổ quốc.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 7
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, thời đại nhà Trần được xem là mốc son chói lọi nhất với ba lần đại thắng quân Nguyên Mông – đế quốc hùng mạnh nhất bấy giờ. Tinh thần của thời đại ấy đã kết tinh thành "Hào khí Đông A" đầy kiêu hãnh. Và có lẽ, không có tác phẩm nào cô đọng cái khí thế ngút trời ấy hơn bài thơ "Phò giá về kinh" (Tụng giá hoàn kinh sư) của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải. Bài thơ như một bức tượng đài bằng ngôn ngữ, vừa tạc ghi chiến công, vừa gửi gắm một khát vọng hòa bình muôn thuở.
Mở đầu tác phẩm, người đọc như bị cuốn vào vòng xoáy của những trận đánh ác liệt qua cách liệt kê trực diện:
"Đoạt sáo Chương Dương độ,
"Cầm hồ Hàm Tử quan."
Câu thơ vang lên như những tiếng reo hò chiến thắng. Tác giả lựa chọn hai địa danh Chương Dương và Hàm Tử – những nơi diễn ra các trận đánh then chốt, mang tính quyết định đến cục diện chiến trường. Điều đặc biệt là Trần Quang Khải đã đặt các động từ mạnh "đoạt" (cướp lấy) và "cầm" (bắt sống) lên đầu câu thơ. Trong nguyên tác chữ Hán, cấu trúc này tạo nên một nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ như thác đổ, thể hiện tư thế chủ động và sức mạnh áp đảo của quân dân nhà Trần.
Hình ảnh "giáo giặc" và "quân thù" bị khuất phục dưới tay quân ta không chỉ đơn thuần là sự mô tả chiến thắng quân sự, mà còn là sự khẳng định bản lĩnh của một dân tộc không bao giờ chịu cúi đầu. Ở đây, giữa vị thế của một vị tổng chỉ huy, Trần Quang Khải đã viết nên những vần thơ bằng chính máu và lửa của chiến trường, biến những địa danh trở thành những chứng nhân lịch sử bất tử.
Nếu hai câu đầu là cái nhìn ngoái lại lịch sử đầy tự hào, thì hai câu sau lại là cái nhìn xuyên thấu tương lai của một nhà chính trị lỗi lạc:
"Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang sơn."
Chữ "Thái bình" xuất hiện như một nốt lặng đầy ý nghĩa sau những âm hưởng dồn dập của chiến tranh. Tuy nhiên, điều làm nên tầm vóc của bài thơ không phải là sự hưởng thụ vinh quang, mà là lời cảnh tỉnh: "tu trí lực". Trần Quang Khải ý thức sâu sắc rằng: giành độc lập đã khó, giữ vững độc lập còn khó hơn. "Trí" là trí tuệ, là tầm nhìn; "lực" là sức mạnh, là nội tại quốc gia. Việc nhắc nhở chăm lo xây dựng đất nước ngay trong thời bình cho thấy một tư duy chiến lược thiên tài.
Câu kết "Vạn cổ thử giang sơn" như một lời thề, một lời khẳng định đanh thép về sự trường tồn. Chữ "Vạn cổ" (muôn đời) gợi lên cái mênh mông của thời gian, cái vững bền của không gian. Non sông này sẽ mãi là của người dân đất Việt, vững chắc như bàn thạch, nếu chúng ta biết đồng lòng "tu trí lực". Đó không còn là cảm xúc cá nhân của một thi sĩ, mà là ý chí của cả một dân tộc.
Về phương diện nghệ thuật, bài thơ là sự mẫu mực của thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt: ít chữ mà nhiều ý, lời lẽ giản dị mà ý tứ sâu xa. Giọng điệu bài thơ biến chuyển linh hoạt: từ hào hùng, sảng khoái ở hai câu đầu sang trầm lắng, suy tư và đầy quyết tâm ở hai câu cuối. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái "tài" của người cầm quân và cái "tâm" của người yêu nước đã tạo nên một kiệt tác bất hủ.
Tóm lại, "Phò giá về kinh" không chỉ là bài ca chiến thắng đơn thuần. Nó là sự đúc kết giữa sức mạnh hành động và chiều sâu tư tưởng. Qua bản tuyên ngôn ngắn gọn này, Trần Quang Khải đã truyền lại cho hậu thế một bài học vô giá: niềm tự hào về quá khứ phải đi đôi với trách nhiệm xây dựng tương lai. Hào khí ấy, khát vọng ấy vẫn mãi là ngọn đuốc soi sáng tâm hồn mỗi người Việt Nam hôm nay.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 8
Văn học thời Trần luôn mang trong mình một dòng máu nóng hổi của tinh thần tự lập tự cường, mà người ta vẫn thường gọi là "Hào khí Đông A". Trong những vần thơ rực lửa ấy, "Phò giá về kinh" (Tụng giá hoàn kinh sư) của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải nổi lên như một bản tuyên ngôn độc lập thứ hai, vừa mang sức mạnh của gươm đao chiến trận, vừa mang tầm vóc của một trí tuệ cầm quyền sắc sảo.
Mở đầu bài thơ, tác giả không dẫn dắt rườm rà mà tạc ngay vào không gian hai bức tranh chiến thắng huy hoàng:
"Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan."
Hai địa danh "Chương Dương" và "Hàm Tử" vang lên đầy kiêu hãnh. Nếu ở "Nam quốc sơn hà" thời Lý, niềm tự hào nằm ở "thiên thư" (sách trời), thì ở đây, niềm tự hào lại nằm ở những chiến công thực tế của con người. Các động từ mạnh "đoạt" (cướp) và "cầm" (bắt) được đặt ở vị trí đầu câu trong nguyên tác chữ Hán, tạo nên một nhịp thơ dồn dập, khỏe khoắn. Hình ảnh quân giặc Mông - Nguyên từng "đạp nát nước Á, nước Âu" giờ đây hiện lên thật thảm bại, bị tước vũ khí, bị bắt sống bởi sức mạnh của quân dân Đại Việt.
Cái hay của Trần Quang Khải là sự tiết chế. Ông kể về chiến thắng bằng một giọng văn bình thản nhưng uy nghiêm, thể hiện phong thái của một vị tướng lĩnh đã dày dạn sương gió, coi việc thắng giặc là điều tất yếu khi lòng dân đã thuận và sức quân đã bền.
Tuy nhiên, giá trị trường tồn của bài thơ lại nằm ở nửa sau tác phẩm, khi ông chuyển mình từ một chiến tướng sang một nhà chính trị có tầm nhìn thiên niên kỷ:
"Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang sơn."
Sau tiếng reo hò chiến thắng là một khoảng lặng đầy suy ngẫm về chữ "Thái bình". Tác giả nhắc nhở: khi gươm đao đã gác lại, đất nước cần một cuộc chiến khác – cuộc chiến xây dựng nội lực. "Tu trí lực" không chỉ là rèn luyện binh khí, mà là bồi dưỡng sức dân, khai phóng trí tuệ và củng cố nền tảng quốc gia. Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ: hòa bình không phải là sự nghỉ ngơi mà là thời điểm để chuẩn bị cho sự trường tồn.
Lời khẳng định "Vạn cổ thử giang sơn" (Non sông này muôn thuở vững bền) không phải là một lời hứa suông, mà là kết quả tất yếu của quá trình "tu trí lực". Nó cho thấy niềm tin sắt đá của nhà Trần vào vận mệnh dân tộc. Sự kết hợp giữa hào khí chiến đấu và ý thức xây dựng đã biến bài thơ thành một bài học lịch sử đắt giá cho mọi thời đại.
Về nghệ thuật, tác phẩm đạt đến độ chín muồi của sự tối giản. Không dùng điển tích xa lạ, không dùng ngôn từ hoa mỹ, Trần Quang Khải dùng chính sự thật lịch sử và niềm tin nội tại để thuyết phục lòng người. Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt với nhịp điệu chắc khỏe như bước chân của những đoàn quân thắng trận đã tạo nên sức truyền cảm mạnh mẽ.
Tóm lại, "Phò giá về kinh" là sự kết tinh đẹp đẽ giữa thanh gươm và cây bút, giữa con người hành động và con người tư tưởng. Bài thơ không chỉ nhắc nhở chúng ta về một quá khứ oanh liệt, mà còn định hướng cho mỗi thế hệ về cách giữ gìn nền độc lập bền vững: phải luôn tự cường và không ngừng lớn mạnh từ bên trong.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 9
Trong lịch sử văn học Việt Nam, thời đại nhà Trần (thế kỷ XIII - XIV) luôn được nhớ đến với "Hào khí Đông A" – một tinh thần kết hợp giữa lòng tự tôn dân tộc sâu sắc và sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nếu "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn là tiếng kèn xung trận đầy phẫn uất, thì "Phò giá về kinh" (Tụng giá hoàn kinh sư) của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải lại là khúc ca khải hoàn và bản tuyên ngôn về một nền thái bình bền vững. Bài thơ tuy chỉ có 20 chữ Hán ngắn gọn nhưng đã chứa đựng cả một tầm vóc lịch sử và tư duy chiến lược của một dân tộc anh hùng.
Mở đầu bài thơ, Trần Quang Khải không dùng những hình ảnh ước lệ thường thấy trong thơ trung đại mà đưa người đọc trở về ngay giữa không khí sục sôi của chiến trường:
"Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm hồ Hàm Tử quan."
(Chương Dương cướp giáo giặc/ Hàm Tử bắt quân thù)
Hai câu thơ đầu được xây dựng trên một cấu trúc đối xứng hoàn hảo. "Chương Dương" đối với "Hàm Tử", "đoạt sáo" đối với "cầm hồ". Cách liệt kê các địa danh gắn liền với những chiến công lẫy lừng năm 1285 không chỉ có giá trị xác thực lịch sử mà còn tạo nên một "bản đồ chiến thắng" hào hùng. Đáng chú ý là sự xuất hiện của các động từ mạnh "đoạt" (cướp lấy) và "cầm" (bắt sống). Trong nguyên tác, những động từ này được đặt ở vị trí khởi đầu câu thơ, tạo nên một nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ như thác đổ, thể hiện tư thế chủ động và sức mạnh áp đảo của quân dân nhà Trần trước kẻ thù Mông - Nguyên vốn khét tiếng hung bạo.
Cái hay của hai câu thơ này còn nằm ở sự tiết chế ngôn từ. Là một vị tổng chỉ huy trực tiếp tham gia điều binh khiển tướng, Trần Quang Khải viết về chiến thắng bằng một thái độ điềm tĩnh, tự tin. Ông không ca ngợi cá nhân mà ca ngợi sức mạnh tập thể. Hình ảnh quân giặc bị tước giáo, bị bắt sống hiện lên thật thảm hại, đối lập hoàn toàn với khí thế hiên ngang của người chiến thắng. Đó là vẻ đẹp của một dân tộc dùng chính nghĩa để thắng hung tàn.
Tuy nhiên, giá trị "chuyên sâu" nhất của bài thơ nằm ở sự chuyển dịch từ hào khí chiến trận sang tư duy dựng nước ở hai câu cuối:
"Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang sơn."
(Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu)
Sau tiếng reo hò của ngày khải hoàn, Trần Quang Khải lập tức hướng tâm trí về vận mệnh tương lai. Chữ "Thái bình" không chỉ là kết quả của chiến tranh, mà là khởi đầu cho một hành trình mới: "tu trí lực". Đây là một tư tưởng vượt thời đại. "Tu trí lực" không đơn thuần là rèn luyện quân sự, mà là sự tổng hòa của việc bồi dưỡng sức dân, phát triển trí tuệ và củng cố nội lực quốc gia. Tác giả ý thức được rằng: giành lại độc lập đã khó, nhưng giữ vững nền độc lập ấy trong sự thịnh vượng còn khó hơn gấp bội.
Câu kết "Vạn cổ thử giang sơn" vang lên như một lời thề độc lập, một niềm tin sắt đá vào sự trường tồn. "Vạn cổ" (muôn đời) đối diện với cái hữu hạn của đời người nhưng khẳng định cái vô hạn của đất nước. Lời thơ của vị Thái sư không chỉ là lời của một nhà thơ, mà là lời sấm truyền của một nhà chính trị lỗi lạc: Non sông này sẽ bền vững mãi mãi nếu chúng ta biết dùng thời kỳ thái bình để chuẩn bị sức mạnh cho dân tộc.
Về phương diện nghệ thuật, "Phò giá về kinh" là đỉnh cao của sự hàm súc. Thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt được sử dụng vô cùng đắc địa: cô đọng như một lời hịch, dứt khoát như một mệnh lệnh. Sự kết hợp giữa các động từ mạnh ở hai câu đầu và các danh từ chỉ thời gian vĩnh cửu ở hai câu sau tạo nên một sự cân bằng tuyệt đối giữa hành động và tư tưởng, giữa quá khứ hào hùng và tương lai bền vững.
Tóm lại, bài thơ "Phò giá về kinh" là viên ngọc quý của văn học yêu nước thời Trần. Tác phẩm đã đúc kết trọn vẹn bản sắc dân tộc Đại Việt: anh dũng trong chiến đấu và sáng suốt trong hòa bình. Hơn bảy thế kỷ đã trôi qua, nhưng thông điệp về việc "tu trí lực" để giữ gìn "vạn cổ giang sơn" vẫn luôn là bài học mang tính thời đại đối với mỗi người dân Việt Nam hôm nay.
Phân tích một tác phẩm thơ: Phò giá về kinh - mẫu 10
Trong dòng chảy văn học trung đại Việt Nam, thơ ca yêu nước thời Trần luôn mang một âm hưởng hào sảng, mạnh mẽ như tiếng trống trận vang lên giữa non sông. Nếu “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn khơi dậy ý chí quyết chiến quyết thắng, thì bài thơ “Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải lại là khúc khải hoàn ngắn gọn mà hào hùng sau chiến thắng chống quân Nguyên Mông lần thứ hai. Chỉ với bốn câu thơ thất ngôn tứ tuyệt nhưng tác phẩm đã kết tinh khí phách Đông A rực rỡ, thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng giữ nước sâu sắc của thời đại nhà Trần.
Bài thơ nguyên tác:
“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan.
Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
Dịch thơ:
“Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy nghìn thu.”
Ngay từ hai câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện khí thế chiến thắng oanh liệt của quân dân Đại Việt:
“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan.”
Hai địa danh “Chương Dương” và “Hàm Tử” gợi nhắc những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông năm 1285. Đây không chỉ là những địa danh lịch sử mà còn là biểu tượng của sức mạnh dân tộc. Chỉ bằng vài nét chấm phá cô đọng, Trần Quang Khải đã dựng lên cả một không gian chiến trận dữ dội, nơi quân dân Đại Việt tung hoành giữa khói lửa.
Đặc biệt, các động từ mạnh “đoạt” và “cầm” mang sắc thái quyết liệt, dứt khoát. “Đoạt sáo” là cướp giáo giặc, thể hiện tư thế chủ động tiến công; “cầm Hồ” là bắt quân thù, cho thấy sức mạnh áp đảo của quân dân nhà Trần. Tác giả không miêu tả dài dòng cảnh giao tranh mà chỉ chọn những động từ có sức gợi lớn để làm bật lên khí thế hào hùng của dân tộc. Thơ ngắn mà sức nén cảm xúc vô cùng mạnh mẽ.
Đáng chú ý, thứ tự nhắc đến chiến thắng trong thơ khác với trình tự lịch sử. Chiến thắng Hàm Tử diễn ra trước nhưng tác giả lại nhắc Chương Dương trước. Điều đó cho thấy dụng ý nghệ thuật của nhà thơ. Trận Chương Dương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo bước ngoặt lớn, quét sạch quân Nguyên ra khỏi Thăng Long. Vì thế, tác giả đặt chiến công ấy lên đầu như một điểm nhấn của niềm tự hào dân tộc.
Hai câu thơ đầu mang âm hưởng mạnh mẽ, dồn dập như khúc quân hành chiến thắng. Chỉ bốn chữ một nhịp thơ mà hiện lên hào khí Đông A ngút trời. Ta cảm nhận được tinh thần dân tộc đang bừng cháy mãnh liệt trong từng câu chữ. Đó là niềm kiêu hãnh của một dân tộc nhỏ bé nhưng ba lần đánh bại đế quốc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.
Nếu hai câu đầu là bản anh hùng ca chiến thắng thì hai câu cuối lại thể hiện chiều sâu tư tưởng của tác giả:
“Thái bình tu trí lực,
Vạn cổ thử giang san.”
Sau chiến tranh, điều mà tác giả nghĩ đến không phải hưởng thụ chiến công mà là trách nhiệm dựng xây đất nước. “Thái bình” là hòa bình, yên ổn; “tu trí lực” nghĩa là phải dốc sức bồi dưỡng, phát triển thực lực quốc gia. Câu thơ như một lời nhắc nhở sâu sắc: chiến thắng đã khó nhưng giữ gìn nền thái bình còn khó hơn.
Tư tưởng ấy cho thấy tầm nhìn xa rộng của một vị tướng tài ba đồng thời là một nhà chính trị lớn. Trần Quang Khải hiểu rằng vận mệnh dân tộc không chỉ được quyết định trên chiến trường mà còn ở công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Chính điều đó làm nên chiều sâu triết lí cho bài thơ.
Câu kết:
“Vạn cổ thử giang san.”
mang âm hưởng thiêng liêng, trang trọng. “Vạn cổ” nghĩa là muôn đời, ngàn đời; “giang san” là non sông đất nước. Câu thơ khẳng định niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn vĩnh cửu của Đại Việt. Đó không chỉ là niềm tự hào mà còn là ý thức sâu sắc về chủ quyền dân tộc. Non sông này là của dân tộc Đại Việt, sẽ tồn tại bền vững qua muôn đời lịch sử.
Có thể nói, bài thơ đã kết tinh vẻ đẹp của hào khí Đông A – hào khí đặc trưng của thời Trần. Hào khí ấy là sự hòa quyện giữa tinh thần yêu nước, ý chí quật cường và khát vọng dựng xây đất nước. Đọc “Phò giá về kinh”, ta dễ liên tưởng đến âm hưởng hào sảng trong “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
Nếu bài thơ thần khẳng định chủ quyền dân tộc bằng giọng điệu đanh thép thì “Phò giá về kinh” lại là khúc ca chiến thắng đầy tự hào sau khi chủ quyền ấy được bảo vệ bằng máu và ý chí dân tộc.
Không chỉ vậy, tư tưởng “thái bình tu trí lực” còn gặp gỡ với truyền thống “lo trước thiên hạ” của nhiều bậc hiền tài trong lịch sử. Sau này, Nguyễn Trãi cũng từng khẳng định:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.”
Mục đích cuối cùng của chiến tranh vệ quốc không phải để phô trương sức mạnh mà là đem lại cuộc sống thái bình cho nhân dân. Từ thời Trần đến thời Lê, tư tưởng lấy dân làm gốc vẫn luôn là cội nguồn sức mạnh dân tộc.
Về nghệ thuật, bài thơ mang đậm đặc trưng thơ ca trung đại: ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, ít lời mà nhiều ý. Chỉ với bốn câu thơ, tác giả đã khái quát cả chiến thắng lịch sử và gửi gắm tư tưởng chính trị sâu sắc. Giọng thơ vừa hào hùng vừa trang trọng, nhịp thơ khỏe khoắn như âm vang chiến trận. Các động từ mạnh cùng cách sử dụng địa danh lịch sử đã tạo nên sắc thái sử thi rõ nét cho tác phẩm.
Đặc biệt, vẻ đẹp của bài thơ còn nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa cảm hứng yêu nước và tinh thần trách nhiệm. Đây không chỉ là bài ca chiến thắng mà còn là lời nhắc nhở muôn đời về nhiệm vụ dựng xây và bảo vệ đất nước. Vì thế, dù đã ra đời cách đây hàng thế kỉ, “Phò giá về kinh” vẫn mang giá trị thời đại sâu sắc.
Ngày nay, đọc lại bài thơ, ta càng thêm tự hào về truyền thống chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc Việt Nam. Từ thời Trần đến hiện đại, lòng yêu nước vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc. Tinh thần “thái bình tu trí lực” vẫn còn nguyên ý nghĩa: muốn đất nước hùng cường, mỗi thế hệ cần không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến.
“Phò giá về kinh” không chỉ là khúc khải hoàn của một thời đại mà còn là tiếng nói bất tử của lòng yêu nước Việt Nam. Qua bài thơ, Trần Quang Khải đã để lại cho hậu thế một áng thơ ngắn gọn mà hào sảng, kết tinh vẻ đẹp của hào khí Đông A và khát vọng trường tồn của non sông Đại Việt muôn đời.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Phân tích một tác phẩm thơ: Đoàn thuyền đánh cá
- Phân tích một tác phẩm thơ: Tự tình
- Phân tích một tác phẩm thơ: Mưa xuân
- Phân tích một tác phẩm thơ: Miền quê
- Phân tích một tác phẩm thơ: Quê hương
- Phân tích một tác phẩm thơ: Nhớ rừng
Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn tự sự
- Mục lục Văn nghị luận xã hội
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 1
- Mục lục Văn nghị luận văn học Tập 2
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9 và Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 9 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 9 Friends plus
- Lớp 9 Kết nối tri thức
- Soạn văn 9 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 9 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 9 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 9 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - KNTT
- Giải sgk Tin học 9 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 9 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 9 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - KNTT
- Lớp 9 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 9 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 9 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 9 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 9 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 9 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - CTST
- Giải sgk Tin học 9 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 9 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 9 - CTST
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - CTST
- Lớp 9 Cánh diều
- Soạn văn 9 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 9 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 9 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 9 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 9 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 9 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 9 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 9 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 9 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 9 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 9 - Cánh diều
- Giải sgk Mĩ thuật 9 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

