10+ Nghị luận phân tích Cố hương (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận phân tích Cố hương (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương

a) Mở bài:

- Giới thiệu vài nét về tác giả Lỗ Tấn: Một nhà văn tài năng với mong muốn dùng văn chương làm vũ khí tinh thần chống lại sự ngu dốt lạc hậu

- Vài nét cơ bản về tác phẩm Cố hương: Một tác phẩm chứa đựng những trăn trở của nhà văn thông qua hành trình trở về quê của nhân vật “tôi”

b) Thân bài:

a. Diễn biến tâm trạng nhân vật “tôi”

- Trên đường về quê

+ Hoàn cảnh: Trời giá lạnh, đang độ giữa đông, nhân vật “tôi” về quê sau hơn 20 năm xa cách

+ Mục đích: Ý định là để từ giã lần cuối cùng, đem gia đình đến đất khách tôi đang làm ăn sinh sống.

+ Không gian làng quê: Trời u ám, thôn xóm tiêu điều, hoang vắng nằm im lìm dưới trời vàng úa… ⇒ Lòng tôi se lại vì “trong ký ức làng cũ đẹp hơn kia”, thất vọng, hụt hẫng vì làng xóm tiêu điều, hoang vắng quá khác xưa.

Quảng cáo

⇒ Bức tranh làng quê ảm đạm, héo hon, làm rõ tình cảnh sa sút của XHTQ đầu thế kỉ XX

b. Những ngày “tôi” ở quê

Nhân vật “tôi” cảm nhận mọi thứ trên quê hương mình:

- Khung cảnh:

+ Sáng tinh mơ, trên mái ngói, mấy cọng rơm khô phất phơ

+ Các gia đình đã dọn đi nhiều, càng hiu quạnh.

⇒ không gian hoang vắng, hiu quạnh, gợi cảm giác buồn

- Con người

+ Mẹ: “mừng rỡ, nét mặt ẩn một nỗi buồn”: nỗi buồn của người sắp phải từ giã nơi mình sinh ra và lớn lên mà chưa hẹn ngày gặp lại.

⇒ Tâm trạng lưu luyến, buồn của một người sắp xa quê.

+ Cháu Hoằng: nhìn “tôi” chòng chọc vì nó chưa gặp “tôi” lần nào, thấy tôi khác xa những người ở quê mà hằng ngày nó được gần gũi tiếp xúc.

⇒ nhấn mạnh sự đổi thay của quê hương, của bên trong con người, khiến Hoằng lạ lẫm với tôi so với nhữn người, nếp sống, suy nghĩ quen thuộc ở quê.

Quảng cáo

+ Chị Hai Dương: 20 năm trước là một người phụ nữ duyên dáng, được mọi người yêu mến, sau 20 năm trở thành người phụ nữ xấu cả bề ngoài lẫn tính tình

+ Nhuận Thổ: Lúc nhỏ còn là cậu bé nông dân khoẻ mạnh, lanh lợi tháo vát, hiểu biết nhiều, hiện tại là người nông dân già nua, nghèo khổ đần độn, mụ mẫm, cam chịu số phận.

⇒ Nguyên nhân: sự thay đổi này do cách sống lạc hậu của người nông dân từ hiện thực đen tối, xã hội phong kiến đang suy tàn.

+ Nhân vật Thủy Sinh: Giống hệt bố ở tính nhút nhát, chỉ núp sau lưng bố, so với Nhuận Thổ 20 năm về trước “gầy còm, vàng vọt cổ không đeo vòng bạc”

⇒ Nghèo khổ, lam lũ hơn, không đẹp đẽ như tuổi thơ Nhuận Thổ xưa. Tác giả cũng ngầm lo lắng về tương lai thế sau như Thủy Sinh liệu có như Nhuận Thổ bây giờ.

⇒ Nhà văn đang nhìn thẳng vào hiện thực xã hội tha hóa con người và dùng văn chương, phơi bày hiện thực để thức tỉnh con người “chữa bệnh tinh thần cho dân tộc”

c. Trên đường rời xa quê

- Hoàn cảnh: Chiều hoàng hôn ⇒ dụng ý nghệ thuật bố cục đầu cuối tương ứng, mặt khác thời gian hoàng hôn còn gợi buồn, suy tư

Quảng cáo

- Tâm trạng: lòng không chút lưu luyến, cảm thấy vô cùng lẻ loi, ngột ngạt.

- Mơ về một cuộc sống khác: tươi đẹp, hạnh phúc hơn lúc này.

+ Mong ước: Chúng nó (bọn trẻ) không giống chúng tôi không bao giờ phải áp bức nhau ...

+ “Chúng nó cần phải sống một cuộc đời mới” sống giữa làng quê tươi đẹp, con người tử tế thân thiện.

d. Hình ảnh con đường

- Con đường sông, đường thủy (nghĩa đen): đi mãi cũng thành đường thôi. Đó là con đường mà tôi và cả gia đình đang đi.

- Con đường cho cả dân tộc Trung Hoa xây dựng, đổi mới, đó là niềm hy vọng của các nhà văn về một ngày mai tươi sáng đối với cả dân tộc (nghĩa bóng).

⇒ Vấn đề đặt ra: Xây dựng những cuộc đời mới, những con đường mới tốt đẹp hơn cho tương lai. Hi vọng vào thế hệ trẻ làm thay đổi quê hương, đem đến tự do hạnh phúc cho con người

c) Kết bài:

- Khái quát lại những giá trị nghệ thuật tiêu biểu làm nên thành công của tác phẩm

- Liên hệ tới con đường đất nước, con đường bản thân

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 1

Trong nền văn học thế giới, nhiều tác phẩm đã phản ánh sâu sắc những biến đổi của xã hội và số phận con người. Truyện ngắn Cố hương của nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn là một tác phẩm tiêu biểu như vậy. Thông qua chuyến trở về quê sau nhiều năm xa cách của nhân vật “tôi”, tác phẩm đã khắc họa sự thay đổi của quê hương, sự biến dạng trong các mối quan hệ con người và gửi gắm niềm suy tư sâu sắc về tương lai của xã hội.

Trước hết, truyện đã khắc họa hình ảnh quê hương với nhiều đổi thay buồn bã. Khi trở lại quê cũ, nhân vật “tôi” không còn thấy hình ảnh quê hương tươi đẹp như trong ký ức tuổi thơ. Trước mắt anh là một khung cảnh tiêu điều, hoang vắng và nghèo khó. Những con người nơi đây sống trong cảnh cơ cực, cuộc sống thiếu thốn khiến họ trở nên mệt mỏi và khắc khổ. Sự đối lập giữa ký ức đẹp đẽ trong quá khứ và thực tại buồn bã của hiện tại đã tạo nên nỗi thất vọng và tiếc nuối sâu sắc. Qua đó, Lỗ Tấn đã phản ánh tình trạng sa sút của nông thôn Trung Quốc trong xã hội cũ.

Bên cạnh đó, hình tượng nhân vật Nhuận Thổ là điểm nhấn quan trọng của tác phẩm. Khi còn nhỏ, Nhuận Thổ là một cậu bé khỏe mạnh, hồn nhiên và đầy sức sống. Hình ảnh cậu bé bắt chim, canh dưa hay kể chuyện về biển cả đã để lại ấn tượng sâu sắc trong ký ức của nhân vật “tôi”. Tuy nhiên, khi gặp lại sau nhiều năm, Nhuận Thổ đã trở thành một người nông dân nghèo khổ, lam lũ, gương mặt khắc khổ và thái độ rụt rè. Anh gọi “tôi” là “ông”, thể hiện khoảng cách xã hội giữa hai người. Sự thay đổi ấy khiến nhân vật “tôi” đau lòng nhận ra rằng những rào cản giai cấp và hoàn cảnh xã hội đã làm biến dạng tình bạn trong sáng thuở nhỏ.

Không chỉ phản ánh hiện thực xã hội, truyện còn thể hiện nỗi trăn trở của Lỗ Tấn về tương lai của con người. Cuối tác phẩm, hình ảnh con đường trở thành biểu tượng giàu ý nghĩa. Nhân vật “tôi” suy nghĩ rằng trên mặt đất vốn không có sẵn đường đi; con người đi mãi thì sẽ thành đường. Hình ảnh ấy thể hiện niềm hy vọng về một tương lai mới, nơi con người có thể vượt qua những rào cản và bất công của xã hội cũ. Qua đó, Lỗ Tấn gửi gắm niềm tin rằng nếu con người dám thay đổi và tìm kiếm con đường mới thì xã hội sẽ dần trở nên tốt đẹp hơn.

Ngoài nội dung sâu sắc, nghệ thuật của truyện cũng rất đặc sắc. Tác phẩm được kể theo ngôi thứ nhất, giúp người đọc cảm nhận rõ những suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật “tôi”. Nghệ thuật đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại được sử dụng hiệu quả, làm nổi bật sự thay đổi của quê hương và con người. Bên cạnh đó, việc xây dựng hình tượng Nhuận Thổ với hai hình ảnh đối lập – một cậu bé hồn nhiên trong quá khứ và một người nông dân khổ cực trong hiện tại – đã tạo nên sức ám ảnh sâu sắc cho câu chuyện.

Tóm lại, “Cố hương” là một truyện ngắn giàu giá trị hiện thực và nhân văn. Thông qua hình ảnh quê hương và nhân vật Nhuận Thổ, Lỗ Tấn đã phản ánh tình trạng sa sút của xã hội cũ và bày tỏ nỗi trăn trở về số phận con người. Đồng thời, tác phẩm cũng gửi gắm niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn. Với nội dung sâu sắc và nghệ thuật tinh tế, Cố hương đã trở thành một trong những truyện ngắn tiêu biểu của văn học thế giới.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 2

Lỗ Tấn được mệnh danh là "linh hồn dân tộc" của văn học Trung Quốc hiện đại, người đã dùng ngòi bút như một phương thuốc để chữa trị căn bệnh tinh thần cho quốc dân. Trong số những tác phẩm của ông, "Cố hương" hiện lên như một bài ca buồn về sự lụi tàn của những giá trị cũ và sự rạn nứt trong mối quan hệ giữa người với người. Tác phẩm không chỉ là tiếng lòng của một người con xa xứ mà còn là bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội phong kiến ngột ngạt, nơi đã biến những tâm hồn trong trẻo thành những "máy đá" vô cảm.

Mở đầu truyện là hình ảnh cố hương trong thực tại – một bức tranh ảm đạm, xơ xác dưới tiết trời đông frời mây mù xám xịt. Hình ảnh quê hương hiện lên không chút thơ mộng: "thấp thoáng mấy cái làng xơ xác, tiêu điều". Sự thay đổi của cảnh vật chính là khúc nhạc dạo cho sự thay đổi kinh hoàng hơn: sự thay đổi của con người. Đối lập với thực tại đó là một cố hương trong ký ức, nơi có bầu trời xanh thẳm, vầng trăng tròn vàng thắm và hình ảnh chú bé Nhuận Thổ khỏe mạnh, lanh lợi đang đâm con tra giữa cánh đồng dưa hấu. Sự đối lập gay gắt giữa quá khứ rực rỡ và thực tại xám xịt đã gieo vào lòng nhân vật "tôi" và độc giả một nỗi buồn man mác, báo hiệu một sự đổ vỡ không thể cứu vãn.

Nhân vật trung tâm của sự thay đổi ấy chính là Nhuận Thổ. Từ một người bạn thời thơ ấu đầy sức sống, am hiểu mọi điều thú vị của thiên nhiên, Nhuận Thổ sau ba mươi năm trở thành một người nông dân già nua, tiều tụy, "mặt sạm lại, có thêm những nếp nhăn sâu hoắm". Nhưng đau đớn hơn cả sự tàn phá của ngoại hình là sự chai sạn của tâm hồn. Khoảnh khắc Nhuận Thổ cất tiếng gọi "Bẩm ông!", một bức tường ngăn cách vô hình nhưng kiên cố của lễ giáo và giai cấp đã dựng lên giữa hai người bạn cũ. Tiếng gọi ấy biến tình bạn thuần khiết trở thành mối quan hệ chủ - tớ, biến niềm vui hội ngộ thành nỗi xót xa tê tái. Nhuận Thổ giờ đây chỉ còn là một người nông dân "mê muội", khốn khổ vì đông con, thuế nặng và những hủ tục phong kiến.

Bên cạnh Nhuận Thổ, hình ảnh "Tây Thi đậu phụ" Dương nhị tẩu cũng là một nét vẽ trần trụi về sự biến đổi. Từ một người phụ nữ duyên dáng, bà trở thành một kẻ tham lam, ích kỷ và điêu ngoa. Sự khắc nghiệt của cuộc sống nghèo nàn đã bóp nghẹt lòng tự trọng, biến con người thành những kẻ soi mói và vụ lợi. Những con người ấy, người thì nhẫn nhục như tượng đá, người thì trơn trượt như con thoi, tất cả đều là nạn nhân của một xã hội đang mục nát.

Ở phần kết của tác phẩm, nhân vật "tôi" rời xa cố hương với một tâm trạng nặng nề. Hình ảnh hai đứa trẻ Thủy Sinh và Hoàng (thế hệ sau của Nhuận Thổ và "tôi") lại nhen nhóm một hy vọng mong manh nhưng quyết liệt. Nhân vật "tôi" khao khát chúng sẽ có một cuộc đời mới, "một cuộc đời mà chúng tôi chưa từng được sống". Triết lý về con người và con đường ở cuối truyện đã nâng tầm tác phẩm từ một truyện ngắn hồi ức thành một tiểu luận triết học về nhân sinh: "Kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi". Con đường ấy chính là sự khai phá, là nỗ lực của con người để thoát khỏi những xiềng xích của quá khứ, hướng tới một xã hội công bằng và nhân văn hơn.

Về nghệ thuật, Lỗ Tấn đã thể hiện một bút pháp điêu luyện trong việc sử dụng các cặp hình ảnh đối lập, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật qua ngoại hình và ngôn ngữ. Ngôn ngữ truyện vừa giản dị, vừa giàu tính biểu tượng, tạo nên sức ám ảnh sâu sắc. Cách dẫn chuyện tự nhiên, hòa quyện giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm đã làm cho tiếng nói của tác giả trở nên gần gũi nhưng lại có sức nặng ngàn cân.

Tóm lại, "Cố hương" là một kiệt tác của Lỗ Tấn về đề tài nông dân và nông thôn. Tác phẩm không chỉ phản ánh nỗi đau trước sự xuống cấp của xã hội mà còn là lời kêu gọi con người hãy dũng cảm bước đi để tạo dựng những con đường mới. Những trăn trở của Lỗ Tấn về khoảng cách giữa con người với con người vẫn còn vẹn nguyên giá trị cho đến ngày nay, nhắc nhở chúng ta về việc giữ gìn sự kết nối tâm hồn trong một thế giới đầy biến động.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 3

Lỗ Tấn là ngọn cờ đầu của văn học cách mạng Trung Quốc, người đã dùng ngòi bút như một thứ vũ khí sắc bén để phẫu thuật những căn bệnh tinh thần của quốc dân. Trong số những tác phẩm của ông, truyện ngắn "Cố hương" hiện lên như một dòng hồi ức đau đớn, một bản nhạc buồn về sự đổi thay của con người và cảnh vật dưới ách thống trị của xã hội phong kiến suy tàn. Qua cuộc hành trình trở về quê cũ sau hai mươi năm xa cách của nhân vật "tôi", tác phẩm không chỉ là tiếng thở dài trước sự hoang tàn của làng quê mà còn là nỗi trăn trở khôn nguôi về những rào cản vô hình đang ngăn cách con người, từ đó thắp lên khát vọng về một con đường mới cho tương lai.

Ngay từ những dòng đầu tiên, không gian của "cố hương" hiện ra không phải với vẻ lung linh của kỷ niệm mà là một sự ảm đạm, xơ xác đến nao lòng. Dưới bầu trời xám xịt, ngôi làng cũ hiện lên với những lũy tre viền màu vàng úa, thấp thoáng mấy ngôi nhà lụp xụp. Sự thay đổi của cảnh vật chính là đòn bẩy tâm lý khiến nhân vật "tôi" cảm thấy hụt hẫng, bởi trong tâm trí anh, quê hương vốn tươi đẹp và sinh động hơn thế nhiều. Tuy nhiên, sự biến đổi về diện mạo làng quê vẫn chưa xót xa bằng sự tha hóa về nhân cách và sự ngăn cách giữa những con người từng một thời gắn bó. Hình ảnh "Nàng Tây Thi đậu phụ" từng lừng lẫy một thời giờ đây trở thành một người đàn bà tham lam, nanh nọc và đầy toan tính là một nét vẽ trần trụi về tác động nghiệt ngã của cái nghèo và sự băng hoại đạo đức đối với con người.

Tâm điểm của tác phẩm và cũng là biểu tượng cho bi kịch của người nông dân Trung Quốc chính là nhân vật Nhuận Thổ. Qua dòng hồi ức, Nhuận Thổ hiện lên là một cậu bé khỏe mạnh, lanh lợi với khuôn mặt tròn trịa và chiếc vòng bạc lấp lánh nơi cổ, một đứa trẻ am hiểu về thế giới tự nhiên và tràn đầy sức sống. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm đã dập tắt mọi ảo tưởng đẹp đẽ. Trước mắt nhân vật "tôi" bây giờ là một người đàn ông trung niên tiều tụy, thô kệch, khuôn mặt sạm đi vì sương gió và đôi mắt đỏ húp lên vì vất vả. Đáng buồn hơn cả sự tàn phai về ngoại hình là sự thay đổi về thái độ: hai chữ "Bẩm ông" thốt ra từ miệng Nhuận Thổ như một nhát dao chém đứt sợi dây liên kết của tình bạn thời thơ ấu. Bức tường giai cấp và những định kiến tâm linh, lễ giáo đã biến một người bạn tâm giao thành một kẻ nô lệ phục tùng, khiến nhân vật "tôi" cảm thấy giữa họ đã ngăn cách bởi một "bức tường thành dày đặc" và đau đớn vô ngần.

Nỗi buồn trong "Cố hương" không dừng lại ở sự thương xót cho một cá nhân mà mang tầm khái quát về cả một xã hội đang thối rữa. Lỗ Tấn đã chỉ ra rằng, chính cái nghèo đói cùng cực, tô thuế nặng nề và sự mê muội về đầu óc đã biến những con người thuần hậu thành những thực thể vô hồn, cam chịu. Tuy nhiên, tác phẩm không kết thúc trong sự bế tắc tuyệt vọng. Hình ảnh hai đứa trẻ Thủy Sinh và Hoàng – thế hệ kế cận – gợi lên một niềm hy vọng về sự nối kết mới. Khi nhân vật "tôi" rời xa quê hương, ông đã suy nghĩ về ý nghĩa của niềm hy vọng và con đường. Những câu văn cuối cùng của tác phẩm đã trở thành những triết lý kinh điển: "Hy vọng vốn không thể nói là có, cũng không thể nói là không. Nó giống như con đường trên mặt đất; kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường đó thôi".

Tóm lại, "Cố hương" là một tác phẩm chứa đựng những tầng nghĩa sâu sắc về sự thay đổi của thời đại và thân phận con người. Bằng lối viết hiện thực nghiêm ngặt kết hợp với những đoạn trữ tình ngoại đề đầy suy tư, Lỗ Tấn đã phơi bày một thực tại tàn nhẫn để từ đó kêu gọi mọi người hãy can đảm bước đi để tạo ra những con đường mới. Tác phẩm vẫn luôn vẹn nguyên giá trị nhân văn, nhắc nhở chúng ta rằng quê hương không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi lưu giữ những giá trị nhân bản cần được bảo vệ trước sự tàn phá của thời gian và những định kiến xã hội. Sự trăn trở của nhân vật "tôi" bên mạn thuyền năm ấy vẫn mãi là lời thúc giục thế hệ mai sau hướng về một cuộc sống tự do, bình đẳng và thấu hiểu hơn.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 4

Lỗ Tấn (1881 – 1936) là nhà tư tưởng lớn, nhà văn hiện thực nổi tiếng của Trung Quốc vào thời kì đầu thế kỉ XX. Sự nghiệp sáng tác mà ông để lại cho đời rất đồ sộ và đa dạng, trong đó có 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc là Gào thét (1923) và Bàng hoàng (1926). Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của tập Gào thét là truyện ngắn Cố hương.

Thông qua việc kể lại chuyến về quê lần cuối cùng và những suy ngẫm, rung cảm của bản thân trước sự thay đổi của cảnh vật và con người ở quê hương, tác giả đã kín đáo phê phán chế độ phong kiến hủ bại, đồng thời đề cập đến con đường giải phóng nông dân ra khỏi những ràng buộc vô hình nhưng nghiệt ngã của xã hội đương thời.

Sau hai mươi năm sống xa nhà, tác giả về thăm quê cũ giữa mùa đông lạnh giá. Ngồi trên thuyền, thấy khung cảnh ven sông tiêu điều, lòng ông dâng lên cảm xúc buồn thương khó tả. Đây là lần ông về quê để cùng người thân giải quyết chuyện bán nhà, đưa gia đình đến nơi khác làm ăn.

Về đến nơi, ông được mẹ già chạy ra đón. Mọi người đang bận rộn thu dọn đồ đạc. Nghe mẹ nhắc tới Nhuận Thổ, tác giả lập tức nhớ lại những kỉ niệm thần tiên của thời thơ ấu. Nhuận Thổ là con trai người làm mướn cho gia đình tác giả cách đây hơn hai chục năm. Lúc ấy, Nhuận Thổ mới lên mười. Mỗi lần theo cha đến nhà cụ chủ, Nhuận Thổ thường kể cho “cậu ấm” nghe cách bẫy chim sẻ, cách bắt con tra hay ăn trộm dưa và nhiều chuyện khác, khiến cho “cậu ấm” say mê, thán phục.

Tác giả gặp lại mấy người hàng xóm cũ, trong đó có Nhuận Thổ. Cuộc sống vất vả lam lũ đã khiến Nhuận Thổ thành một người hoàn toàn khác. Hình dáng tiều tụy, thảm hại, mặt mũi ngơ ngác, đần độn. Không còn chút dấu vết nào của Nhuận Thổ khi xưa. Mấy ngày sau, cả gia đình tác giả rời quê. Khi con thuyền đã xa làng, tác giả vẫn trĩu nặng nỗi suy tư về cảnh vật và con người ở Cố hương. Ông cố gắng tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi đáng buồn ấy và cầu mong cho con cháu của Nhuận Thổ sau này sẽ tìm ra cách sống mới để không còn phải khổ cực như ông cha nữa. Cốt truyện có thể chia làm ba phần”:

Phần một: Từ đầu đến… đang làm ăn sinh sống: Tác giả trên đường về quê. Phần hai: Từ Tinh mơ sáng hôm sau… đến… mang đi sạch trơn như quét: Những ngày tác giả ở quê. Phần còn lại: Tác giả cùng gia đình trên đường rời quê. Truyện được kể ở ngôi thứ nhất. Nhân vật chính xưng là tôi. Quá khứ và hiện tại đan xen vào nhau. Nghệ thuật miêu tả vừa hiện thực vừa trữ tình.

Chất trữ tình đậm đà của tác phẩm thể hiện ở diễn biến tâm trạng của nhân vật. Từ phảng phất buồn đến đau xót (trên đường về quê). Từ đau xót đến bi quan (những ngày ở quê). Cuối cùng, lại nhen nhóm hi vọng (trên đường rời quê). Tuy vậy, dù buồn bã, đau xót hay hi vọng cũng đều là biểu hiện của tình cảm yêu mến quê hương sâu nặng. Cái hay của tác phẩm là thể hiện diễn biến tâm trạng ấy một cách sinh động, chân thật và hợp lí.

Mở đầu bài văn, tác giả bộc bạch tâm trạng của mình trong chuyến trở về cố hương: Tôi không quản trời lạnh giá, về thăm làng cũ, xa những hai ngàn dặm mà tôi đã từ biệt hơn hai mươi năm nay. Chuyến đi này có tầm quan trọng và ý nghĩa rất lớn nên tác giả không thể không về, dẫu phải đi qua hai ngàn dặm đường, trong thời tiết mùa đông giá lạnh.

Cố hương là quê cũ, là những gì gắn bó tha thiết, thiêng liêng đối với mỗi người. Sau hai mươi năm phiêu bạt nơi đất khách, nay tác giả mới về quê nhà, mà về lần này là để đón cả gia đình đến nơi mình đang làm ăn sinh sống. Trở về không phải để sum họp mà là để biệt li, có thể là biệt li mãi mãi, bỏ lại tất cả mồ mả tổ tiên, ông bà, bỏ lại mảnh đất cắt rốn chôn nhau,.. Cho nên tâm trạng tác giả trĩu nặng một nỗi buồn và nỗi buồn ấy lan sang cả cảnh vật:

Đang độ giữa đông. Gần về đến làng, trời lại càng u ám. Gió lạnh lùa vào khoang thuyền. Nhìn qua các khe hở mui thuyền, thấy xa gần thấp thoáng mấy thôn xóm tiêu điều, hoang vắng, nằm im lìm dưới vòm trời màu vàng úa. Không nén được, lòng tôi se lại.

Trải qua thời gian dài đằng đẵng, biết bao vật đổi sao dời. Nhà văn bâng khuâng tự hỏi lòng: A, đây thật có phải là làng cũ mà hai mươi năm trời nay tôi hằng ghi lấy hình ảnh trong kí ức không? Cảnh quê vốn tiêu điều, hoang vắng, nay hiện lên trước mắt người xa xứ đã lâu, lại càng nhuốm sắc thê lương, ảm đạm. Tác giả không tin vào kí ức của mình và cho rằng vì tâm trạng mình đang buồn nên nhìn cảnh mới ra như thế:

Hình ảnh làng cũ trong kí ức tôi không giống hẳn như thế này. Làng cũ tôi đẹp hơn kia. Nhưng nếu phải nhớ rõ đẹp như thế nào, nói rõ đẹp ở chỗ nào thì thật không có hình ảnh ngôn ngữ nào diễn tả ra cho được. Phảng phất thì cũng có hơi giống đấy. Tôi nghĩ bụng: Hẳn làng cũ mình vốn chỉ như thế kia thôi, tuy chưa tiến bộ hơn xưa, nhưng cũng vì tắt đèn nên thê lương như mình tưởng. Chẳng qua là tâm tình mình đã đổi khác, bởi vì về thăm chuyển này, lòng mình đang không vui. Về thăm quê chuyến này, ý định là để từ giã nó lần cuối cùng.

Ngôi nhà cũ nơi cả đại gia đình chúng tôi đời đời ở chung với nhau, mà chúng tôi đã phải đồng tình bán cho người ta rồi, nội năm nay, phải giao cho họ. Vì thế, tôi cần phải về trước Tết, vĩnh biệt ngôi nhà yêu dấu và từ giã làng cũ thân yêu, đem gia đình đến nơi đất khách tôi đang làm ăn, sinh sống.

Đoạn văn phản ánh sự thay đổi theo chiều hướng đáng buồn của cố hương và những cảm xúc bâng khuâng khó tả trong tâm trạng nhân vật. Đặt chân lên bờ, tác giả thấy quang cảnh trong làng cũng giống như quang cảnh Ven sông: Tinh mơ sáng hôm sau, tôi về tới cổng nhà. Trên mái ngói, mấy cọng tranh khô phất phơ trước gió, đủ rõ nhà không đổi chủ không được. Những gia đình khác có lẽ đã dọn đi rồi, cho nên cảnh tượng càng hiu quạnh.

Về đến nhà, bàn chuyện dọn nhà xong xuôi, bà mẹ kể rằng có anh Nhuận Thổ lần nào đến chơi cũng nhắc đến con và rất mong có ngày được gặp con. Mẹ đã nhắn tin cho anh ấy biết chừng ngày nào con về. Có lẽ anh ấy cũng sắp đến thôi. Nghe mẹ nói, bất chợt trong kí ức nhà văn, hình ảnh làng quê với những cảnh vật và con người năm xưa- hiện lên rõ ràng từng chi tiết:

Lúc bấy giờ, trong kí ức tôi bỗng hiện ra một cảnh tượng thần tiên, kì dị: Một vầng trăng tròn vàng thắm treo lửng lơ trên nền trời xanh đậm, dưới là một bãi cát bên bờ biển, trồng toàn dưa hấu, bát ngát một màu xanh rờn. Giữa ruộng dưa, một đứa bé trạc mười một, mười hai tuổi, cổ đeo vòng bạc, tay lăm lăm cầm chiếc đinh ba, đang cố sức đâm theo một con tra. Con vật bỗng quay lại, luồn qua háng đứa bé, chạy mất.

Tác giả nhớ như in hình ảnh của người bạn nhỏ cách đây hai chục năm. Bắt đầu là cảnh Nhuận Thồ xuất hiện vào ngày giỗ lớn của gia đình tác giả. Đó là cậu bé xinh xắn, khỏe mạnh, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng,., Tiếp sau đó là những kỉ niệm về người bạn đáng yêu thuở thiếu thời.

Nhuận Thổ hay kể chuyện bẫy chim: Làng em toàn đất cát, hễ tuyết xuống là em quét lấy một khoảng đất trống, dùng một cây que ngắn chống một cái nong lớn, rắc ít lúa lép, thấy chim tước xuống ăn, đứng đằng xa giật mạnh sợi dây buộc vào cái que, thế là chim bị chụp vào nong hết. Thứ nào cũng có: sẻ đồng, chào mào, “bột cô”, sẻ xanh lưng. Hết chuyện bẫy chim đến chuyện rủ “cậu ấm” đi chơi bờ biển: Đến mùa hè, anh xuống nhà em chơi. Ban ngày, chúng mình ra biển nhặt vỏ sò, màu đỏ có, màu xanh có, đủ cả. Có cả sò “mặt quỷ”, sò “tay phật”.

Rồi chuyện về con tra kì lạ như trong cổ tích : Ở làng em, người đi qua đường khát nước hái một quả dưa ăn, không kề là lấy trộm. Canh là canh lợn rừng, nhím, tra. Này nhé ! Sáng trăng. Có tiếng sột soạt. Tra đang ngốn dưa đấy Ị Thế là cầm đinh ba khe khẽ tiến lên…

Thời ấy, trước con mắt của “cậu ấm” con chủ nhà thì Nhuận Thổ là tiểu anh hùng, là người từng trải : Trời ! Nhuận Thổ hẳn biết nhiều chuyện lạ lùng lắm, kể không xiết! Những chuyện đó, bạn bè tôi từ trước đến nay, không ai biết cả. Chúng nó không biết là vì trong khi Nhuận Thổ sống bên bờ biển thì chúng nó, cũng như tôi, chỉ nhìn một mảnh trời vuông trên bốn bức tường cao bao bọc lấy cái sân mà thôi!

Tình bạn tuổi thơ giữa tác giả và Nhuận Thổ thật trong sáng và đằm thắm. Nhưng tiếc thay, đã hết tháng giêng. Nhuận Thổ phải về quê hắn. Lòng tôi xốn xang, tôi khóc to lên. Hắn lẩn trong bếp, cũng khóc mà không chịu về. Nhưng rồi bố hắn cũng lôi hắn đi. Sau đó, hắn có nhờ bố hắn mang lên cho tôi một bọc vỏ sò và mấy thứ lông chim rất đẹp. Tôi căng cổ vài lần gửi cho hắn ít quà. Nhưng từ đấy chúng tôi không hề gặp mặt nhau nữa.

Tác giả đã lấy hình ảnh tươi đẹp trong quá khứ đối chiếu với hình ảnh Nhuận Thổ trong hiện tại để nêu bật chủ đề tác phẩm. Sau hai mươi năm cách biệt, nay hai người mới gặp lại nhau: Người đi vào là Nhuận Thổ. Tuy tôi nhận ra ngay là Nhuận Thổ, nhưng lại không phải là Nhuận Thổ trong kí ức tôi. Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đã đổi thành sạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm.

Cặp mắt giống hệt cặp mái anh ngày trước, mi mắt viền đỏ húp mọng lên. Tôi không lấy làm lạ, ở miền biển, gió thổi suốt ngày, đại để ai cũng thế cả. Anh đội một cái mũ lông chiên rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm, tay cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài. Bàn tay này cũng không phải là bàn tay tôi còn nhớ, hồng hào, lanh lẹ, mập mạp, cứng rắn, mà vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông…

Nhuận Thổ đứng dừng lại, nét mặt vừa hớn hở vừa thê lương, môi mấp máy, nhưng cũng nói không ra tiếng. Rồi bỗng anh lấy một dáng điệu cung kính, chào rất rành mạch: Bẩm ông! Sau đó, anh ta rón rén đưa ra một gói giấy và ấp úng: – Ngày đông tháng giá chẳng có gì, chỉ có ít đậu xanh của nhà phơi khô, xin ông…

Nghệ thuật tả thực của tác giả thật sắc sảo. Ông đã khắc họa sinh động chân dung một nông dân lam lũ, nghèo khó và đầy mặc cảm tự ti. Qua đó, ta có thể hình dung ra cảnh sống cơ cực, điêu đứng của Nhuận Thổ nói riêng và nông dân nói chung lúc bấy giờ. Người bạn nhỏ khỏe mạnh, đáng yêu thuở nào giờ đây là một nông xơ xác, da mặt vàng xám vì nghèo đói. Ngày xưa, Nhuận Thổ là một cậu bé có khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên, cổ đeo vòng bạc sáng loáng, được bố cưng chiều.

Về hình thức, Nhuận Thổ giờ đây đã hoàn toàn thay đổi, nhưng tận đáy lòng, Nhuận Thổ vẫn giữ nguyên tình bạn sâu nặng với “cậu chủ” ngày xưa. Nghe nói “cậu chủ” đã về nên Nhuận Thổ đến ngay và dù rất nghèo nhưng cũng không quên mang chút quà “cây nhà lá vườn” đến tặng “cậu chủ”. Chính điều đó làm cho những thay đổi trong quan hệ giữa hai người giờ đây trở nên phi lí.

Hai biện pháp nghệ thuật chính được tác giả sử dụng trong truyện là hồi ức và đối chiếu được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, khéo léo để làm nổi bật sự thay đổi của con người và cảnh vật. Đồng thời, tác giả đặt ra cho người đọc câu hỏi tại sao lại có sự thay đổi ghê gớm vậy?

Qua truyện, tác giả muốn nói đến tình cảnh đói nghèo của nông dân du nạn áp bức, tham nhũng nặng nề ở nông thôn, song điều ông quan tâm hơn cả là sự thay đổi tinh thần theo chiều hướng xấu của họ, thể hiện qua tính cách của thím Hai Dương, của những người khách mượn cớ đưa tiễn để lấy đồ đạc, đặc biệt là qua tính cách của Nhuận Thổ. Trong mọi thay đổi, điều làm cho tác giả ngạc nhiên, đau xót đến “điếng người đi” chính là mối quan hệ giữa Nhuận Thổ và mình.

Bằng thủ pháp đối chiếu và tương phản, tác giả đã phản ánh tình cảnh suy thoái về mọi mặt của xã hội phong kiến Trung Quốc đầu thế kỉ XX. Ông phân tích nguyên nhân và lên án các thế lực hủ bại đã đẩy xã hội vào thực trạng đáng buồn. Bên cạnh đó, Lỗ Tấn cũng chỉ ra những mặt tiêu cực nằm ngay trong tâm hồn, tính cách của người lao động.

Những nông dân như Nhuận Thổ không chỉ khổ vì con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thăng hào mà còn khổ sở đau đớn hơn nhiều bởi những quan niệm cũ kĩ về đẳng cấp, bởi sự đè nén, áp bức của giai cấp thống trị, bởi mê tín dị đoan… Nhuận Thổ xin bằng được đồ thờ của gia đình chủ cũ chắc là để mong cho đời mình đỡ khổ: Khi Nhuận Thổ xin chiếc lư hương và đôi đèn nến, tôi cười thầm, cho rằng anh ta lúc nào cũng không quên sùng bái tượng gỗ.

Để làm nổi bật sự thay đổi ghê gớm đó, tác giả không chỉ đối chiếu tính cách của từng nhân vật trong quá khứ với hiện tại mà còn đối chiếu nhân vật này với nhân vật kia, đặc biệt là đối chiếu giữa Nhuận Thổ ngày xưa với Thủy Sinh, con trai anh ta bây giờ. Cậu bé Nhuận Thổ cách đây hơn hai mươi năm hồng hào, khỏe mạnh, cổ đeo vòng bạc. Còn Thủy Sinh bây giờ ốm yếu vàng vọt, cổ không đeo vòng bạc…

Hình ảnh cố hương trong tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa là nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là bức tranh thu nhỏ của xã hội. Những thay đổi mà Lỗ Tấn đã miêu tả trong Cố hương là những thay đổi có tính điển hình của xã hội Trung Quốc thời cận đại. Bởi vậy, qua việc miêu tả sự thay đổi cụ thể của một làng quê, Lỗ Tấn đã đặt ra vấn đề vô cùng bức thiết là phải xây dựng một cuộc đời mới tốt đẹp:

Tôi đang mơ màng thì trước mắt tôi hiện ra cảnh đồng cát, màu xanh biếc, cạnh bờ biển, trên vòm trời xanh đậm lơ lửng một vầng trăng tròn vàng thắm. Tôi nghĩ bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.

Trên mặt đất vốn dĩ không có đường. Đường là do con người giẫm nát cỏ ở chỗ chưa có đường mà tạo ra, là khai phá chỗ gai góc mà có… Trong cuộc sống, bất kể là gặp bao nhiêu gian nan trắc trở, chúng ta cần kiên định, bền gan vững chí để mở đường đi tới tương lai tươi sáng. Đó là thông điệp tâm huyết mà nhà văn Lỗ Tấn muốn gửi đến tất cả chúng ta.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 5

Nhà văn Lỗ Tấn được biết đến là một nhà văn cách mạng lừng danh của Trung Quốc. Nhắc đến ông không thể không nhắc đến truyện ngắn “Cố hương” được. Tác phẩm Cố hương là một thành công của ông nó mang đến cho người đọc một thứ tình cảm vô cùng dịu nhẹ và thấm đẫm cảm xúc tình yêu quê hương. Tác phẩm giống như một thức phim đã ghi lại cho chúng ta những hồi ức vô cùng dịu ngọt của những con người ở quê hương với những nỗi buồn, sự hi vọng.

Truyện ngắn “Cố Hương” có những nhân vật như tôi, mẹ tôi, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hải Dương. Họ chính là những con người của quê hương và cũng chính họ đã gợi ra biết bao nhiêu những kỷ niệm buồn vui và sâu nặng với quê hương – nơi cho họ biết bao nhiêu kỷ niệm cũng như những ký ức đẹp đẽ.

Trong khoảng thời gian 20 năm xa cách thì nhân vật “tôi” lúc này về thăm quê hương, nhân vật phải trải qua 2000 dặm với cái lạnh đến thấu xương khiến cho lòng của nhân vật tôi như bồi hồi khôn xiết. Những cơn gió lạnh như thật vi vu và đã thổi về khiến cho bao nhiêu ký ức dội về trong lòng nhân vật. Chuyến về quê lần này dường như cũng thật đặc biệt vì công việc về để bán cũng như giao lại cho chủ mới. Về để nói lời tạm biệt ngôi nhà vô cùng thân yêu và gắn bó với ký ức tuổi thơ của nhân vật sau 20 năm xa cách.

Thực sự cứ mỗi lần nói đến quê hương là thường nói đến tổ tiên ông bà, quê hương cũng chính là một nơi để thể hiện sự tôn kính phụ dưỡng đối với ông bà cha mẹ. Thế nhưng trong tác phẩm ta không thấy nói đến. Ở đây, tác giả Lỗ Tấn dường như cũng chỉ xúc động nói đến ký ức tuổi thơ của mình trong khoảng ba mươi năm về trước.

Ta như nhận thấy được ở đó có một tình bạn đẹp với Nhuận Thổ con của một gia đình làm thuê cho nhà của nhân vật “tôi”. Cũng chính vì nhờ nhân vật Nhuận Thổ mà nhân vật tôi biết được nhiều chuyện kỳ lạ. Bởi cũng vì nhờ Nhuận Thổ mà tôi dường như lại còn cảm nhận được vẻ đẹp quê hương, với bao cảnh tượng thần tiên thật đẹp nơi nhân gian.

Có thể nói rằng quê hương cũ với bao kỷ niệm thời thơ bé, thế rồi cũng chính cái ngày mà thầy của “tôi” cũng cứ vẫn còn cảnh nhà sung túc sang trọng. Đặc biệt hơn vào ngày giỗ tổ các đồ ăn thức uống được bày sang trọng. Hình ảnh của quê hương trong ký ức mỗi người bao giờ cũng đẹp và thật thân thương biết bao nhiêu. Khi nhà văn Lỗ Tấn nói đến quê hương hiện tại và quê hương trong quá khứ trong lúc ông trở về gặp bạn cũ người xưa. Tất cả dường như đều có những niềm vui và nỗi buồn, tất cả như cứ ùa về và khiến cho tác giả không thể nào có thể quên được.

Người mẹ của tác giả cũng đã già và tác giả giờ đây cũng đã lại trưởng thành., đi làm ăn xa lưu lạc 20 năm trời nay thì mới về thăm quê thăm mẹ. Khi gặp lại thì mẹ như mừng lắm, nét mặt như lại ẩn chứa biết bao nhiêu vẻ buồn. Chắc hẳn là mẹ cũng buồn vì cảnh nhà như sa sút và phải theo người con trai đến miền đất mới, rời xa quê hương yêu dấu đã gắn bó biết bao nhiêu năm. Khi tác giả nhắc đến Nhuận Thổ thì người mẹ dường như cũng đã lại thở than cho cảnh nhà anh ta. Khi mẹ cũng cứ bàn với tác giả dọn nhà cái gì mang được đi thì mang đi còn không thì cho Nhuận Thổ hết.

Nhân vật Nhuận Thổ chính là tình bạn tuổi thơ. Ta có thể nhận thấy được hình ảnh thuở lên 10 của Thổ với khuôn mặt tròn trĩnh, cùng với đó là nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tý tẹo và trên của cổ đeo vòng bạc sáng loáng. Quan trọng hơn hết là Nhuận Thổ cũng lại dạy cho tôi nhiều trò lạ và tình yêu quê hương trong lòng tôi.

Thực sự cũng không có tuổi thơ thì không có quê hương, ta như nhận thấy được tình bạn tuổi thơ đã làm cho tình yêu quê hương cũng cứ mãi mãi tươi thắm. Có thể khẳng định tuổi ấu thơ là hình ảnh quê hương đó chính là một vành trăng non trên bầu trời xanh miền thơ ấu.

Xây dựng lên hình ảnh nhân vật Nhuận Thổ trong hiện tại là nỗi đau, lại là nỗi buồn về quê hương. Nhất là sau 30 năm xa cách nay gặp lại Nhuận Thổ dường như cũng đã có bao thay đổi. Nước Nhuận Thổ vàng sạm, những nếp nhăn trên mặt sâu hóm. Đôi mắt thì đỏ mọng lên, trên đầu thì đội cái mũ lông chiên rách tơi, thế rồi Nhuận Thổ như mặc chiếc áo bông mỏng dính giữa trời rét dữ. Khi gặp lại bạn cũ Nhuận Thổ lúc này cũng lại vừa hấn hở vừa thê lương, mấp máy đôi môi không ra tiếng sau mới thể hiện được sự cung kính.

Nhuận Thổ hiện tại được xây dựng lên chính là hình ảnh một xứ sở, một miền quê xơ xác tiêu điều và đây cũng chính là một người nông dân bị bần cùng hóa bị áp bức đến tận xương tủy. Chỉ với việc thông qua hình ảnh Nhuận Thổ tác giả Lỗ Tấn dường như cũng đã lên án những tội ác của chế độ phong kiến đối với nhân dân từ đó đặt ra quyền sống cũng như quyền hạnh phúc của nhân dân trên đường đi tới.

Nói đến quê hương trong cố hương thực sự không thể không nhắc đến hình ảnh chị Hai Dương, hay còn đó là nhân vật chị Tây Thi đậu phụ ngày xưa son phấn nổi danh tài sắc bây giờ đã trở thành một vỏ bỉ trơ tráo.

Tác phẩm “Cố hương” của nhà văn Lỗ Tấn chứa được hình ảnh quê hương tươi đẹp trong tuổi thơ của tôi bỗng ùa về. Và quê hương đó ngày càng một phát triển cũng như để sánh vai với các cường quốc năm châu. Mai sau này cho dù có đi xa trên khắp nẻo đường thì hình ảnh quê hương sẽ mãi hiện hữu và làm đắm say níu giữ bước chân ta tìm về.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 6

Hình ảnh quê hương đã in dấu lại trong sáng tác của rất nhiều những nghệ sĩ trong đó có Lỗ Tấn. Nhắc đến ông là nhắc đến một nhà văn nổi tiếng, có nhiều đóng góp cho kho tàng văn chương Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung. Các tác phẩm tiêu biểu của Lỗ Tấn phải kể đến: “AQ chính truyện”, “Thuốc”, “Nhật kí của một người điên”,… và sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc đến truyện ngắn “Cố hương”.

Truyện ngắn này được Lỗ Tấn sáng tác vào năm 1923, nằm trong tập “Gào thét”. Nhan đề “Cố hương” có nghĩa là quê cũ, nơi mình đã sinh ra và lớn lên nhưng hiện tại mình không ở đó nữa. Truyện kể về việc nhân vật “tôi” trở về quê hương sau hơn hai mươi năm xa quê. Cảnh vật làng quê trở nên tiêu điều, hoang vắng chứ không còn là một làng quê tươi đẹp đến nỗi không có hình ảnh ngôn ngữ nào có thể diễn tả được như trong trí nhớ của nhân vật. “Tôi” về quê lần này với mục đích nhằm đưa gia đình đến nơi đất khách để làm ăn, sinh sống. Mang trong mình nỗi buồn thương, xót xa, nhân vật “tôi” ra đi với mong ước cuộc sống của làng quê mình sẽ tốt đẹp hơn.

Mở đầu tác phẩm là hình ảnh cố hương hiện ra với sự u ám, thôn xóm, cảnh vật hoang tàn và thê lương “nằm im lìm dưới bầu trời màu vàng úa”. Chứng kiến khung cảnh đó, nhân vật “tôi” không nén được cảm xúc, “lòng se lại”. Trong trí nhớ của nhân vật, làng cũ vốn đẹp hơn và cũng không xơ xác, ảm đạm như thực tại. Quê hương trong kí ức của nhân vật “tôi” là những ngày “thầy tôi hãy còn, cảnh nhà còn sung túc, tôi đàng hoàng là một cậu ấm” và cả những kỉ niệm của tuổi thơ thật đáng nhớ.

Hình ảnh con người ở làng quê dần được hiện lên qua sự khắc họa tài tình của tác giả. Người mẹ thấy con về đã “chạy ra đón” bằng vẻ mặt rất mừng rỡ nhưng “vẫn ẩn một nỗi buồn thầm kín”. Người mẹ ấy đã gắn bó với quê hương bao nhiêu năm, nay phải rời xa nó nên trong lòng cũng lưu luyến, thương nhớ. Những ngày ở quê, nhân vật tôi còn gặp một số người khác như Nhuận Thổ, chị Hai Dương, cháu Hoàng,…

Nghe tin nhân vật “tôi” về quê, Nhuận Thổ đã đến chơi. Trong kí ức của “tôi”, Nhuận Thổ là một đứa bé chạc mười tuổi, “khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật, đầu đội mũ lông chiên bé tí tẹo, cổ đeo vòng bạc sáng loáng”. Hắn ta là một cậu bé khỏe mạnh, lanh lợi, biết nhiều chuyện lạ lùng không thể kể xiết. Nhân vật “tôi” và Nhuận Thổ có mối quan hệ chủ tớ do trước đây bố con Nhuận Thổ đi ở tháng cho nhà “tôi”. Hai người thân nhau và trở thành bạn bè. Đây là mối quan hệ bình đẳng, gắn bó với nhau.

Nhưng trong quá khứ Nhuận Thổ khôi ngô, lanh lợi bao nhiêu thì con người anh ta ở hiện tại lại hoàn toàn trái ngược bấy nhiêu. Nhuận Thổ “cao gấp hai trước, nước da màu vàng sạm, lại có thêm những nếp nhăn sâu hoắm”, “mi mắt viền đỏ húp mọng lên”. Anh ta đội “cái mũ lông rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro cúm rúm, tay cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài”. Bàn tay “hồng hào, lanh lẹ, mập mạp, cứng rắn” trước đây không còn nữa mà thay vào đó là đôi bàn tay “vừa thô kệch vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông”.

Cuộc sống khốn khó, vất vả đã khiến Nhuận Thổ trở nên như vậy. Khi trông thấy người bạn tuổi thơ năm xưa của mình, Nhuận Thổ “vừa hớn hở, vừa thê lương, môi mấp máy nhưng cũng nói không ra tiếng” rồi anh lấy một dáng điệu “cung kính” chào. Điệu bộ, cử chỉ ấy phần nào bộc lộ mặc cảm về thân phận hèn kém của mình. Hoàn cảnh “con đông, mùa mất, thuế nặng, lính tráng, trộm cướp, quan lại, thân hào đày đọa thân anh khiến anh trở thành đần độn, mụ mẫm đi”.

Sự thay đổi ở con người Nhuận Thổ khiến nhân vật “tôi” rất buồn và xót xa. Nhuận Thổ biến đổi như vậy cũng là vì sự sa sút kinh tế, những hà khắc của xã hội phong kiến Trung Quốc và do lối sống lạc hậu của những người nông dân không biết đứng lên đấu tranh cho chính mình.

Làng quê ấy không chỉ có Nhuận Thổ mà còn có chị Hai Dương được mệnh danh là “nàng Tây Thi đậu phụ”. Ngày xưa chị đẹp người, đẹp nết, trẻ trung còn bây giờ chị đã là một người đàn bà trên dưới 50 tuổi, “lưỡng quyền nhô ra, môi mỏng dính, hai tay chống nạnh, không buộc thắt lưng, chân đứng chạng ra, giống hệt cái com-pa trong bộ đồ vẽ, có hai chân bé tí”. Những lời nói ngoa ngoắt của chị đã bộc lộ một tính cách chua ngoa, đanh đá.

Bằng biện pháp so sánh tương phản, Lỗ Tấn đã khắc họa rõ nét sự thay đổi về ngoại hình lẫn tính cách của hai nhân vật này. Qua đó, ông cũng tái hiện lại sự sa sút về các mặt của đời sống xã hội, sự suy thoái, những thay đổi tiêu cực trong lối sống của con người lao động.

Quê hương đẹp đẽ của nhân vật “tôi” chỉ còn đọng lại trong kí ức nên khi rời đi, nhân vật này “không chút lưu luyến”. Nhân vật “tôi” chỉ cảm thấy xung quanh là “bốn bức tường vô hình, nhưng rất cao, làm cho tôi vô cùng lẻ loi, ngột ngạt”. Ngột ngạt bởi cảnh vật làng quê hiu hắt, tiêu điều và sự thay đổi tiêu cực của con người. Họ trở nên tàn tạ, nghèo khổ, đần độn, ngoa ngoắt và vụ lợi. Có người đến để đưa chân, nhưng cũng có người đến để lấy đồ đạc.

Họ lấy tất cả những đồ đạc trong ngôi nhà cũ, “hư hỏng, to nhỏ, xấu tốt đều mang đi sạch trơn như tuyết”. Nằm nghe nước vỗ vào mạn thuyền, nhân vật “tôi” mong ước cho Thủy Sinh và Hoàng không bị cách bức nhau như mình và Nhuận Thổ. Đồng thời “tôi cũng không muốn chúng nó vì thân thiết nhau mà phải vất vả, chạy vạy như tôi, cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ mà đần độn như Nhuận Thổ, cũng không muốn chúng nó phải khốn khổ mà tàn nhẫn như bao nhiêu người khác”. Bọn trẻ phải sống một cuộc đời mới tốt đẹp hơn.

Tác giả đã khép lại “Cố hương” bằng hình ảnh con đường giàu ý nghĩa biểu tượng. Đây không chỉ là con đường đi thường ngày mà còn là con đường hướng con người đến cuộc sống tươi sáng, hạnh phúc hơn ở tương lai. Nhân vật “tôi” đã khẳng định: “kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi”. Con đường không có sẵn trong tự nhiên mà do chính con người tạo nên.

“Tôi” luôn có niềm tin vào con đường mới sẽ giúp con người có một cuộc sống tự do, no ấm, đầy đủ hơn. Tình yêu quê hương mãnh liệt của nhân vật “tôi” được thể hiện qua niềm tin vào sự đổi thay của làng quê và con người theo hướng tích cực. Đó cũng là tư tưởng nhân đạo mà Lỗ Tấn kí thác trong tác phẩm của mình.

Truyện đã sử dụng linh hoạt những thủ pháp nghệ thuật như hiện tại, hồi ức, đối chiếu và xen kẽ nhau tạo nên một mạch truyện liên kết chặt chẽ. Bằng nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, nhà văn đã khắc họa được những nhân vật một cách rõ nét, sinh động và chân thực. Việc sử dụng hình ảnh biểu tượng và các phương thức biểu đạt tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự thành công của tác phẩm.

Qua truyện ngắn này, bạn đọc có thể thấy được tiếng nói tố cáo, phê phán xã hội phong kiến cũ đồng thời ông cũng đặt ra vấn đề con đường đi của người nông dân lao động và toàn thể xã hội. Ông đã dùng thứ vũ khí lợi hại là ngôn từ để “biến đổi tinh thần” nhân dân đang trong tình trạng “ngu muội” và hèn nhát”.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 7

Hình ảnh quê hương đã để lại dấu ấn sâu sắc trong sự sáng tác của nhiều nghệ sĩ, trong đó có nhà văn nổi tiếng Lỗ Tấn. Ông không chỉ là một tác giả nổi tiếng của Trung Quốc mà còn là người có đóng góp lớn cho văn chương thế giới. Các tác phẩm nổi bật của ông như "AQ chính truyện", "Thuốc", "Nhật kí của một người điên",... đều là những kiệt tác văn chương. Trong số đó, truyện ngắn "Cố hương" là một tác phẩm đặc biệt không thể không nhắc đến.

"Cố hương" là một trong những tác phẩm xuất sắc của Lỗ Tấn, sáng tác vào năm 1923, thuộc tập "Gào thét". Nhan đề của truyện, "Cố hương", là biểu tượng cho quê cũ, nơi mà nhân vật "tôi" đã sinh ra và lớn lên, nhưng hiện tại không còn ở lại nữa. Truyện kể về việc nhân vật trở về quê hương sau hơn hai mươi năm xa quê, và cảnh quê nhà đã thay đổi nhanh chóng, trở nên tiêu điều và hoang vắng. "Tôi" về quê với mục đích đưa gia đình đến một nơi mới để làm ăn và sinh sống, mang theo nỗi buồn thương và hy vọng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh u ám, thôn xóm hiu quạnh, làng quê trở nên vô cùng tiêu điều và thê lương. Nhân vật "tôi" không khỏi nén lệ khi chứng kiến cảnh vật quê nhà đã mất đi vẻ đẹp ngày xưa, khiến "lòng se lại". Quê hương trong ký ức của nhân vật là những ngày thơ ấu sung túc và đẹp đẽ. Con người ở làng quê hiện lên qua tảng bức tranh tinh tế của tác giả, từ người mẹ đón chào mừng với vẻ mặt mừng rỡ nhưng đầy lưu luyến, đến những người khác như Nhuận Thổ, chị Hai Dương, cháu Hoàng...

Tác giả khéo léo sử dụng so sánh để tạo ra sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại của nhân vật Nhuận Thổ. Những biến đổi về ngoại hình và tâm hồn của anh ta là hậu quả của cuộc sống khó khăn, đầy thách thức và những thay đổi tiêu cực trong lối sống của người nông dân. Chị Hai Dương, người được mệnh danh là "nàng Tây Thi đậu phụ", cũng trở thành biểu tượng cho sự thay đổi của con người và xã hội. Sự xuống cấp không chỉ ở về ngoại hình mà còn ẩn chứa trong tính cách của những người này.

Lỗ Tấn thêm vào đó một lớp ý nghĩa sâu sắc về con đường của cuộc sống. Nhân vật "tôi" không giữ lại lưu luyến cho quê hương vì thấy xung quanh chỉ là "bốn bức tường vô hình", làng quê đã trở nên hẹp hòi và ngột ngạt. Ông mô tả một con đường không chỉ là nơi đi lại hàng ngày mà còn là biểu tượng của hướng dẫn con người đến một tương lai tươi sáng hơn. "Tôi" tin rằng con đường mới sẽ giúp con người có cuộc sống tự do, no ấm và đầy đủ hơn. Điều này thể hiện niềm tin mạnh mẽ của nhân vật vào sự thay đổi tích cực của quê hương và con người.

Tác phẩm kết thúc bằng hình ảnh của một con đường có ý nghĩa biểu tượng, là một lối đi dẫn con người đến cuộc sống hạnh phúc hơn trong tương lai. Tác giả đã tạo nên một mạch truyện chặt chẽ thông qua việc sử dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật như hiện tại, hồi ức và đối chiếu. Bằng cách này, ông đã thành công trong việc khắc họa những nhân vật sống động, chân thực và sinh động, cũng như truyền đạt những ý nghĩa sâu sắc về cuộc sống và xã hội.

Tác phẩm của Lỗ Tấn không chỉ là một câu chuyện về quê hương mà còn là một bức tranh tư duy về sự phát triển và thay đổi của con người và xã hội. Ông đã sử dụng ngôn từ mạnh mẽ để đánh thức tinh thần của những người đang sống trong "ngu muội" và hèn nhát. "Cố hương" không chỉ là một tác phẩm văn chương, mà còn là một bản tuyên ngôn về sự đổi mới, sự hy sinh và hy vọng cho tương lai.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 8

Nhà văn Lỗ Tấn, một người nổi tiếng trong làng văn cách mạng Trung Quốc, đã để lại một tác phẩm đặc sắc không thể không nhắc đến - truyện ngắn "Cố hương". Tác phẩm này không chỉ là một biểu tượng của sự thành công của ông mà còn là một tác phẩm đầy tình cảm, thấm đẫm cảm xúc về tình yêu quê hương.

"Cố hương" như một bức tranh tuyệt vời, mở ra những hồi ức dịu dàng của những con người ở quê hương, với những nỗi buồn, hy vọng, và những kỷ niệm đẹp đẽ. Trong câu chuyện, các nhân vật như "tôi", mẹ tôi, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hải Dương, tất cả đều là những người con của quê hương, và từ họ, chúng ta được chứng kiến những hình ảnh đậm chất ký ức và tình yêu với quê nhà.

Nhân vật "tôi" trở về quê hương sau hơn hai mươi năm xa cách, trải qua những dặm đường, cảm nhận cái lạnh cắt da cùng với hồi hộp trong lòng. Điều đặc biệt là chuyến trở về này không chỉ là về việc bán nhà, mà còn là lời chia tay với ngôi nhà đầy ký ức của tuổi thơ sau một thời gian dài xa cách.

Lỗ Tấn khéo léo vẽ lên bức tranh của quê hương với những hình ảnh sinh động, từ những buổi giỗ tổ hùng vĩ, bữa ăn trang trí lịch sự, đến những khoảnh khắc thân thương với mẹ già. Quê hương không chỉ là nơi kết nối với tổ tiên mà còn là biểu tượng của sự tôn kính và tình cảm với gia đình.

Một phần quan trọng trong tác phẩm là nhân vật Nhuận Thổ, người bạn thân của nhân vật "tôi". Qua Nhuận Thổ, tác giả không chỉ truyền đạt những câu chuyện kỳ lạ mà còn là sự hiểu biết và tình yêu với quê hương. Hình ảnh của Nhuận Thổ hiện tại là một lời buồn thương, một biểu tượng cho sự chuyển biến và khủng hoảng mà nông dân phải đối mặt.

Tác giả Lỗ Tấn không chỉ kể về quê hương trong quá khứ mà còn đề cập đến hiện tại, qua đó đặt ra nhiều suy ngẫm về sự thay đổi, tình bạn, và ý nghĩa của cuộc sống. Mỗi chi tiết trong tác phẩm đều làm nổi bật hơn hình ảnh quê hương, từ cảm nhận về những con đường đưa đến tương lai tươi sáng đến những niềm vui và nỗi buồn khi gặp lại người quen.

Cuối cùng, "Cố hương" không chỉ là một câu chuyện về quê hương mà còn là một tác phẩm nghệ thuật tinh tế, đầy ý nghĩa và tình cảm. Lỗ Tấn đã truyền đạt thành công những thông điệp sâu sắc về sự phát triển, hy sinh, và hy vọng cho tương lai thông qua bức tranh sống động về quê hương.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 9

Lỗ Tấn (1881 - 1936) là một danh nhân văn hóa và nhà văn lớn của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của thế kỉ XX. Di sản văn hóa mà ông để lại là một tài sản vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó nổi bật là 17 tập tạp văn và hai tập truyện ngắn xuất sắc mang tên "Gào thét" (1923) và "Bàng hoàng" (1926). Trong số đó, "Gào thét" đặc biệt nổi bật với truyện ngắn "Cố hương".

Trong tác phẩm này, Lỗ Tấn tận dụng chuyến viếng thăm quê nhà cuối cùng để thể hiện những suy ngẫm sâu sắc về sự biến đổi của quê hương, cảnh vật và con người trong bối cảnh xã hội Trung Quốc thời kỳ đó. Tác giả tế nhị chỉ trích chế độ phong kiến cũ kỹ, đồng thời nói về hành trình giải phóng nông dân khỏi những ràng buộc vô hình nhưng đau thương của xã hội.

Sau hai thập kỷ xa cách, khi trở về quê nhà vào mùa đông lạnh giá, tác giả không giấu được cảm xúc buồn thương trước bức tranh quê hương thay đổi. Chuyến về là để giải quyết việc bán nhà, chuyển gia đình đến một nơi mới để làm ăn. Gặp mẹ già chạy ra đón, những kí ức về Nhuận Thổ, con trai người làm mướn từ hai chục năm trước, trỗi dậy trong tâm hồn tác giả.

Những ngày sau, khi gặp lại Nhuận Thổ và những người hàng xóm cũ, tác giả phải đối mặt với sự thay đổi đau lòng của Nhuận Thổ. Cuộc sống khó khăn đã biến anh chàng trẻ xưa thành một người hoàn toàn khác. Hình dạng già nua, thảm hại, mất đi vẻ trẻ trung và hứng thú ngày nào. Điều này gây cho tác giả nhiều nỗi đau đớn và tưởng tượng về tương lai khó khăn của con cháu Nhuận Thổ.

Tác phẩm được chia thành ba phần, mỗi phần mô tả một giai đoạn quan trọng trong chuyến viếng thăm quê nhà. Sử dụng ngôn ngữ ngọt ngào và trữ tình, tác giả vừa mô tả hiện thực, vừa kể lại kí ức, tạo nên một bức tranh hình sắc nét và đa chiều về cảnh quê hương và con người.

Chất trữ tình của tác phẩm thể hiện qua biến động tâm lý của nhân vật chính. Từ cảm xúc buồn khi trở về quê, đau đớn khi thấy sự thay đổi của nơi cũ và những người quen, đến sự bi quan trong những ngày ở quê, và cuối cùng là hy vọng khi rời đi. Mỗi cảm xúc đều phản ánh tình yêu sâu đậm đối với quê hương, và điều này làm cho tác phẩm trở nên sống động và chân thực.

Bằng cách diễn đạt một cách sinh động, chân thật và hợp lí, tác giả đã truyền đạt thông điệp về sự thay đổi, khó khăn và hy vọng trong cuộc sống, đồng thời làm cho độc giả suy ngẫm về ý nghĩa sâu sắc của quê hương và tình cảm con người. Điều này làm cho "Có Hương" không chỉ là một tác phẩm văn học nổi bật mà còn là một bức tranh chân thực về xã hội và cuộc sống ở Trung Quốc thời kỳ đầu thế kỷ XX.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (truyện): Cố hương - mẫu 10

Lỗ Tấn (1881-1936), danh nhân văn hóa và nhà văn cách mạng của Trung Quốc, để lại một di sản vô cùng phong phú và đa dạng trong văn hóa Trung Quốc thế kỷ XX. Trong số tác phẩm nổi tiếng của ông, truyện ngắn "Cố hương" độc đáo và xúc động nổi bật, nói về tình yêu quê hương sâu sắc. Tác phẩm này không chỉ là một bức tranh chân thực về quê hương mà còn là hồi ức đẹp đẽ về thời thơ ấu.

Câu chuyện giới thiệu những nhân vật quen thuộc như tôi, mẹ, cháu Hoàng, Nhuận Thổ, Thủy Sinh, chị Hải Dương, tất cả đều là những người của quê hương, mang đến cho độc giả những cảm xúc về nơi chôn rau, cắt rốn, và tình cảm đậm đà. Chuyến viếng thăm quê nhà sau hai thập kỷ xa cách là một hành trình buồn bã trước sự biến đổi của nơi cũ.

Lòng tôi đầy xúc động khi quay trở lại quê hương vào mùa đông lạnh giá, bước chân vượt qua hàng ngàn dặm. Điều này đặt ra nhiều câu hỏi, liệu làng cũ thân yêu của tôi trong kí ức có còn nguyên vẹn hay đã thay đổi? Bản thân tôi buồn bã với ý nghĩ về việc bán nhà và từ giã ngôi nhà đầy kỷ niệm của cả gia đình.

Tác phẩm không chỉ dừng lại ở việc nói về quê hương trong quá khứ, mà còn nhấn mạnh đến tình bạn đẹp giữa tôi và Nhuận Thổ, con của một gia đình làm thuê cho gia đình tôi. Nhờ Nhuận Thổ mà tôi hiểu được nhiều điều kỳ lạ và cảm nhận vẻ đẹp của quê hương.

Quê hương trong tác phẩm không chỉ đẹp qua kí ức tuổi thơ, mà còn qua những thay đổi đau lòng của những người quen thân, như Nhuận Thổ. Hình ảnh anh ta sau 30 năm xa cách làm cho tôi đau lòng với sự già nua và suy tàn, đồng thời làm phản ánh rõ ràng về thực tế khó khăn của người nông dân trong xã hội.

Chính vì vậy, "Cố hương" không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một bức tranh sống động về cuộc sống và xã hội Trung Quốc thời kỳ đầu thế kỷ XX. Bằng cách diễn đạt chân thực và sinh động, tác giả đã chạm đến tâm hồn độc giả, để lại những suy ngẫm sâu sắc về ý nghĩa của quê hương và con người trong cuộc sống.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 sách mới các môn học