Với soạn bài Ôn tập Học kì 2 phần II. Luyện tập và vận dụng trang 125, 126, 127 Ngữ văn 10 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 10 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 10.
Soạn bài Ôn tập học kì 2 trang 125, 126, 127 (Luyện tập và vận dụng) - Kết nối tri thức
1. Đọc
Quảng cáo
Câu 1 (trang 126 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):
Hai văn bản trên nhắc bạn nhớ tới những văn bản trong bài 9: Hành trang cuộc sống như: Về chính chúng ta, Con đường không chọn, Một đời như kẻ tìm đường,… Bởi những văn bản này đều là những gợi mở về thế giới tương lai cho bản thân, con người và xã hội.
- Hai văn bản này gợi nhớ đến các văn bản thông tin và nghị luận đã học như Về chính chúng ta, Con đường không chọn, Một đời như kẻ tìm đường,…
- Điểm chung là đều cung cấp tri thức khoa học hoặc suy ngẫm về con người, tương lai và vai trò của con người trong thế giới.
- Sự liên hệ dựa trên nội dung và phương thức biểu đạt.
Câu 2 (trang 126 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):
Yếu tố tự sự, biểu cảm thể hiện đậm nét trong văn bản 80 năm nhìn lại… thể hiện ở các chi tiết khi tác giả kể về quá trình lớn lên và tiếp xúc với những người bạn ở khắp nơi trên thế giới (tự sự) và kết hợp với những biện pháp tu từ, từ ngữ có tác dụng biểu cảm. Việc xuất hiện các yếu tố tự sự, biểu cảm ở văn bản này giúp khơi gợi cảm xúc cho người đọc, giúp người đọc hiểu được nội dung quan trọng mà tác giả muốn truyền tải, đặt người đọc vào câu chuyện, sống cùng những cảm xúc đó.
- Yếu tố tự sự, biểu cảm thể hiện đậm nét hơn ở văn bản “80 năm nhìn lại…”.
- Lí do: vì đây là hồi kí, tác giả kể lại những trải nghiệm cá nhân trong cuộc đời.
- Ý nghĩa:
+ Giúp câu chuyện trở nên chân thực, sinh động.
+ Thể hiện cảm xúc, suy nghĩ sâu sắc của tác giả về cuộc đời và trách nhiệm với đất nước.
+ Tăng sức truyền cảm và tạo sự đồng cảm cho người đọc.
Câu 3 (trang 126 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):
Quảng cáo
Câu văn sử dụng biện pháp chêm xen:Đây là những chất rắn có tính chất – như màu sắc, hình dạng hoặc từ tính - có thể thay đổi một cách độc lập để thích ứng với các kích thích như ánh sáng, nhiệt độ, áp lực hoặc độ ẩm.
- Ví dụ: “Đây là những chất rắn có tính chất – như màu sắc, hình dạng hoặc từ tính – có thể thay đổi…”
→ Phần “như màu sắc, hình dạng hoặc từ tính” là thành phần chêm xen.
- Ví dụ: “…không phải nhờ rô-bốt hay điện tử, mà nhờ việc được chế tạo từ ‘vật liệu thông minh’.”
→ Phần giải thích “vật liệu thông minh” mang tính bổ sung.
Câu 4 (trang 126 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):
Tác giả gợi lên một tương lai với những vật liệu thông minh, đây là một chủ đề rất rộng, bởi chúng có thể áp dụng trong hầu hết các ngành nghề, trong cuộc sống và hỗ trợ cho con người. Nhiều sản phẩm được tạo ra với những vật liệu có thể biến đổi khi sử dụng để đem lại hiệu quả cho con người phải kể đến như: Những túi sưởi dùng một lần có thể tự nóng lên/ tự làm lạnh, những bóng đèn cảm ứng tự bật sáng theo bước chân trong bóng tối, những chiếc kính mắt đổi màu khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hay những đôi giày có thể biến đổi màu một cách thời trang… Tất cả những sáng tạo từ vật liệu thông minh đã và đang tiếp tục phát triển và mở rộng áp dụng trong cuộc sống mà không có một giới hạn nhất định nào, khoa học sẽ không ngừng phát triển để phục vụ cho cuộc sống con người.
- Chủ đề vật liệu thông minh không chỉ giới hạn trong khoa học mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực như:
+ Y học (vật liệu tự phục hồi, thiết bị cấy ghép thông minh).
+ Xây dựng (vật liệu thay đổi theo nhiệt độ, tiết kiệm năng lượng).
+ Công nghệ (thiết bị thông minh, robot).
+ Trong tương lai, vật liệu thông minh có thể làm thay đổi cách con người sống, làm việc và tương tác với môi trường.
Câu 5 (trang 126 sgk Ngữ văn 10 Tập 2):
Em đồng tình với ý kiến trên, vì trong hai văn bản, tác giả lần lượt nhắc đến những cải tiến mới về vật liệu thông minh đã và đang xuất hiện giúp ích cho cuộc sống con người… cùng với những mối liên kết giữa người với người trên khắp thế giới, những mối quan hệ tương trợ nhau của những bè bạn nước ngoài, những nội dung trên cũng chính là những gợi ý bổ ích về bước đường tương lai của chính chúng ta.
- Tôi đồng ý với ý kiến này vì cả hai văn bản đều hướng con người đến tương lai theo những cách khác nhau.
- Văn bản Vật liệu thông minh mở ra tương lai phát triển khoa học, công nghệ hiện đại.
- Văn bản 80 năm nhìn lại… gợi nhắc con người về trách nhiệm cá nhân, tinh thần cống hiến và giá trị của tri thức.
- Từ đó, mỗi người có thể vừa phát triển bản thân, vừa đóng góp cho xã hội, xây dựng tương lai tốt đẹp hơn.
Quảng cáo
2. Viết
Đề 1. Viết một bài văn nghị luận thể hiện những điều bạn cảm nhận được qua tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của danh nhân Nguyễn Trãi.
Bài tham khảo
Nguyễn Trãi người anh hùng đại tài không chỉ thể hiện tài năng quân sự mà còn yêu nước hết lòng tận trung ái quốc, yêu mến quê hương đất nước. Ông thể hiện trình độ trong quân sự, đồn thời còn là bậc anh hùng. Nguyễn Trãi con người văn võ song toàn của dân tộc song ông trải qua nhiều bất hạnh oan uổng và trở thành thảm kịch trong lịch sử nước ta.
Nguyễn Trãi (1380-1442) với hiệu là Ức Trai, quê gốc nằm ở tỉnh Hải Dương. Ông trưởng thành trong gia đình mà cha và mẹ đều nổi tiếng.
Nguyễn Trãi khi còn nhỏ chịu nhiều đau thương như 5 tuổi mất mẹ, 10 tuổi mất ông ngoại. Năm 1400, khi nhà Hồ tổ chức kỳ thi, ông đỗ Thái học sinh, cha với con đều cùng nhau làm quan nhà Hồ.
Quảng cáo
Năm 1407, giặc Minh tấn công xâm lược đất nước, nhà Hồ thất thủ, trong khi đó cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi uất ức nhưng không thể làm gì khác đành tham gia nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến chống giặc Minh.
Vào thời gian năm 1428, khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh thành công, Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo”.
Sau một thời gian làm quan, vào năm 1439, triều đình có nhiều biến chuyển khi gian thần lộng hành khắp nơi. Chán nản Nguyễn Trãi xin vua quay về ở ẩn.
Năm 1440, Lê Thái Tông kêu gọi nhân tài nên mời ông ra làm quan và giúp việc nước. Ông nghe lời vua bèn ra sức cứu dân độ thế. Năm 1442, Nguyễn Trãi và vợ của mình dính vào oan án Lệ Chi Viên hãm hại vua, bị kết tội bi thảm: tru di tam tộc.
Ông và gia đình 3 đời bị xử trảm. Lệ Chi Viên vụ án thảm khốc nhất trong lịch sử nước nhà. Mãi đến năm 1464, Lê Thánh Tông chính thức minh oan cho Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi được công nhận danh nhân văn hóa thế giới vào năm 1980.
Nguyễn Trãi có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà. Ông sáng tác nhiều tác phẩm chữ Nôm và chữ Hán, văn chính luận, thơ trữ tình. Các tác phẩm xuất sắc như “Quân trung từ mệnh tập”, “Bình Ngô đại cáo” và nhiều chiếu, biểu, có giá trị khác. Các tác phẩm ông có tư tưởng chính đó là sự nhân nghĩa, yêu nước thương dân. Hai tập thơ “Ức Trai thi tập” (chữ Hán) và “Quốc âm thi tập” (chữ Nôm) nằm trong số các tác phẩm vô cùng giá trị.
Thơ trữ tình của ông giản dị, giàu hình ảnh có tính ước lệ. Nguyễn Trãi thiên tài văn học nổi tiếng có sự kết tinh của tinh thần Văn học Lí – Trần. Nội dung, thơ Nguyễn Trãi có sự kết hợp giữa lòng yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc.
Nguyễn Trãi nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử Việt Nam. Ông thiên tài quân sự và giàu lòng yêu nước, thương dân. Đúng như vua Lê Thánh Tông truy tặng “Ức Trai tâm thượng quang Khuê Tảo”. Tên tuổi ông sẽ mãi mãi sáng như ánh sao khuê, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Trãi là một trong những danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, một con người hội tụ đầy đủ tài năng, trí tuệ và nhân cách lớn. Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ông, tôi không chỉ cảm phục một trí tuệ lỗi lạc mà còn xúc động trước một tâm hồn lớn, luôn đau đáu vì dân vì nước.
Cuộc đời Nguyễn Trãi là một hành trình nhiều biến động. Sinh ra trong thời loạn lạc, ông sớm chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Chính hoàn cảnh ấy đã hun đúc trong ông lòng yêu nước sâu sắc và ý chí cứu dân cứu nước. Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, trở thành quân sư tài ba của Lê Lợi, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh. Đặc biệt, “Bình Ngô đại cáo” không chỉ là bản tuyên ngôn độc lập mà còn thể hiện tầm vóc tư tưởng lớn lao của Nguyễn Trãi, khẳng định chân lí độc lập dân tộc và tinh thần nhân nghĩa.
Tuy nhiên, cuộc đời ông cũng đầy bi kịch. Sau khi đất nước hòa bình, ông không được trọng dụng đúng mức, thậm chí còn bị nghi oan trong vụ án Lệ Chi Viên. Bi kịch ấy không chỉ là nỗi đau cá nhân mà còn là mất mát lớn của dân tộc. Nhưng chính trong nghịch cảnh, nhân cách và tâm hồn Nguyễn Trãi càng tỏa sáng.
Thơ văn Nguyễn Trãi là sự kết tinh của tư tưởng lớn và cảm xúc sâu sắc. Ông không chỉ viết về chính trị mà còn viết về thiên nhiên, con người và cuộc sống. Trong thơ, ta bắt gặp một Nguyễn Trãi yêu thiên nhiên tha thiết, sống hòa mình với cỏ cây, sông núi. Thiên nhiên trong thơ ông không chỉ là cảnh vật mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn, là chốn nương náu của một trái tim từng trải.
Đặc biệt, tư tưởng “nhân nghĩa” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự nghiệp của Nguyễn Trãi. Với ông, nhân nghĩa không chỉ là đạo lí mà còn là hành động cụ thể: “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Ông luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, coi dân là gốc của quốc gia. Chính điều đó làm nên tầm vóc lớn của ông trong lịch sử.
Bên cạnh đó, thơ văn Nguyễn Trãi còn thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc. Ông không ngại bộc lộ nỗi cô đơn, những trăn trở về cuộc đời. Điều đó khiến thơ ông vừa mang tầm vóc lớn lao, vừa gần gũi, chân thực.
Tìm hiểu về Nguyễn Trãi, tôi nhận ra rằng một con người vĩ đại không chỉ ở tài năng mà còn ở tấm lòng. Dù trải qua bao biến cố, ông vẫn giữ trọn khí tiết và lý tưởng sống. Điều đó để lại cho thế hệ sau bài học sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và nhân cách sống.
Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, một nhà quân sự, mà còn là một nhà văn hóa lớn. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng cho sức mạnh của trí tuệ và nhân cách. Và dù thời gian trôi qua, giá trị ấy vẫn còn nguyên vẹn, tiếp tục soi sáng con đường cho các thế hệ mai sau.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Nguyễn Trãi là một nhân vật kiệt xuất hội tụ vẻ đẹp của trí tuệ, nhân cách và tâm hồn nghệ sĩ lớn. Cuộc đời ông trải qua nhiều biến động, nhiều oan khuất nhưng vẫn luôn tỏa sáng bởi lòng yêu nước thương dân sâu sắc. Tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi, em càng thêm cảm phục một con người “anh hùng dân tộc” và “danh nhân văn hóa thế giới” với những đóng góp to lớn cho đất nước và nền văn học dân tộc.
Nguyễn Trãi sinh năm 1380 trong một gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học. Cha ông là Nguyễn Phi Khanh – một nhà nho nổi tiếng, mẹ là Trần Thị Thái, con gái quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã sớm bộc lộ tài năng và chí lớn. Cuộc đời ông gắn liền với những biến động dữ dội của lịch sử dân tộc khi giặc Minh xâm lược nước ta. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, nhân dân lầm than, Nguyễn Trãi đã nung nấu ý chí cứu nước cứu dân.
Sau này, ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo và trở thành quân sư tài ba, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh. Ông không chỉ dùng tài thao lược mà còn dùng ngòi bút sắc bén để cổ vũ tinh thần chiến đấu và khẳng định chân lí độc lập dân tộc. Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” của ông được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc Việt Nam. Qua tác phẩm ấy, em cảm nhận rõ tấm lòng yêu nước mãnh liệt, niềm tự hào dân tộc sâu sắc và tư tưởng nhân nghĩa tiến bộ của Nguyễn Trãi. Ông khẳng định: việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, chiến đấu là để nhân dân được sống trong hòa bình, hạnh phúc. Đó là tư tưởng vượt trước thời đại và vô cùng cao đẹp.
Không chỉ là một nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc, Nguyễn Trãi còn là một nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ văn của ông vừa chan chứa tình yêu thiên nhiên, vừa thấm đượm tình yêu con người và nỗi lo cho dân cho nước. Đọc những bài thơ trong Quốc âm thi tập, em cảm nhận được một tâm hồn thanh cao, gần gũi với thiên nhiên nhưng luôn đau đáu nỗi niềm với cuộc đời. Dù sống trong cảnh ẩn dật, Nguyễn Trãi vẫn không nguôi lo cho vận mệnh đất nước. Thiên nhiên trong thơ ông hiện lên giản dị mà giàu sức sống: tiếng suối, bóng trăng, cây cỏ, ao sen… tất cả đều gắn với một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống.
Điều khiến em cảm phục nhất ở Nguyễn Trãi là nhân cách cao đẹp của ông. Dù bị nghi oan trong vụ án Lệ Chi Viên và phải chịu kết cục bi thảm, ông vẫn mãi là biểu tượng của lòng trung nghĩa và tinh thần vì dân vì nước. Cuộc đời Nguyễn Trãi cho thấy số phận của những con người tài năng nhiều khi phải chịu bất công, nhưng chân lí và giá trị của họ cuối cùng vẫn được lịch sử ghi nhận. Sau hơn hai mươi năm bị oan, Nguyễn Trãi đã được minh oan, tên tuổi ông sống mãi cùng dân tộc.
Năm 1980, UNESCO đã vinh danh Nguyễn Trãi là Danh nhân văn hóa thế giới. Điều đó cho thấy tầm vóc lớn lao của ông không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại. Những giá trị mà Nguyễn Trãi để lại đến hôm nay vẫn còn nguyên ý nghĩa: lòng yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, ý thức trách nhiệm với nhân dân và khát vọng sống đẹp.
Qua việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi, em càng thêm tự hào về truyền thống văn hóa và lịch sử dân tộc. Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà thơ, một anh hùng dân tộc mà còn là tấm gương sáng về nhân cách và trí tuệ để thế hệ trẻ hôm nay học tập, noi theo. Cuộc đời ông giúp em hiểu rằng: sống có lí tưởng, có trách nhiệm với đất nước và con người chính là cách để tạo nên giá trị đích thực cho cuộc sống.
Đề 2. Tinh thế lựa chọn khó khăn nhưng đầy ý nghĩa mà bạn đã trải qua trong hành trình rèn luyện – trưởng thành của mình. Hãy viết về chủ đề trên.
Bài tham khảo
Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta phải đứng trước những lựa chọn, quyết định chọn một trong số chúng hoàn toàn không phải một điều dễ dàng, nhất là khi lựa chọn đó có thể đem lại nỗi buồn và nước mắt. Tôi sẽ kể cho các bạn về lựa chọn đó của những người xung quanh và tôi, đây là một tình thế lựa chọn khó khăn nhưng có lẽ nó vô cùng ý nghĩa mà tôi sẽ phải trải qua trong hành trình trưởng thành của mình.
Lên lớp 8, vì một lí do phức tạp nào đó mà gia đình tôi chuyển về một vùng quê xa để sinh sống một thời gian ngắn. Khi đó, một cô bé đã quen với nhịp sống với những tấp nập thành thị như tôi nhất thời chưa thể làm quen được, vì thế mà tôi cảm thấy rất buồn chán và cô đơn. Tôi cùng bố mẹ chuyển về một ngôi nhà mới xây, trước mặt là một dòng sông nhỏ chảy thẳng ra biển với hàng phi lao rì rào trong gió như đang xôn xao trò chuyện. Chính vì không khí quá trong lành, quá êm ả, nên tôi lại càng cảm thấy buồn.
Giữa lúc đó, trên cành cây si gần nhà có một tổ chim chào mào nhỏ, những quả trứng dường như sắp nở, bố tôi bảo như vậy vì gần đây thường xuyên thấy chim mẹ bay về, nhưng bố cũng rất lo, bởi có cơn bão sắp tới, không biết chiếc tổ nhỏ bé có đủ vững chãi hay không. Sáng hôm đó, tôi thấy tiếng chim non đã rõ dần trên cành cây, chim non đã nở, nhưng cũng là lúc cơn bão sắp về. Tôi nhớ lúc đi học về đến nhà sau một trận mưa, bố tôi mang vào lồng một chú chim chào mào con bé xíu, chưa mọc đủ lông và còn bị thương ở cánh, có lẽ chú chim non đã bị rơi xuống do cơn bão, chiếc tổ cũng không còn ở đó, chỉ còn chú chim nhỏ được bố tôi nhặt vào với mong muốn sẽ cứu được nó.
Thật may, phép màu đã xảy ra, chú chim non có thể ăn những hạt cám nhỏ do tôi từng ngày đút vào mỏ cho ăn, lớn lên từng ngày và cũng gần gũi với tất cả thành viên trong nhà tôi, chỉ có điều đôi cánh bị thương tật khiến nó mãi mãi không thể bay cao được nữa, chỉ có thể cất cánh chưa đầy một phút, chỉ nhảy theo từng bước chân của tôi trong nhà như một thành viên nhỏ đáng yêu. Từ ngày có chú chim chào mào nhỏ bầu bạn, tôi cũng cảm thấy vui vẻ và yêu ngôi nhà mới hơn rất nhiều.
Khi chú chim chào mào nhỏ đã trở thành một thành viên nhỏ thân thiết với tất cả mọi người trong gia đình tôi thì chuyện buồn lại tới. Mùa đông một năm sau rất lạnh, chú chim non bị bệnh, vết thương ở cánh đau hơn khiến cánh bị xệ, chú chim đau đớn đến phát sốt. Do khi đó nơi tôi sinh sống không phát triển về thú y, nên tôi phải đứng trước lựa chọn mang chú chim nhỏ đi gần trăm cây số để tìm thú y, hay chỉ có thể ở gần, sưởi ấm và thêm thức ăn ngon và lặng lẽ chuẩn bị tinh thần cho tình huống xấu nhất. Bố tôi đã hỏi bác sĩ thú y qua điện thoại, trường hợp của chim nhỏ rất khó cứu, nên tôi chỉ có thể lựa chọn việc chấp nhận rằng chú chim nhỏ sẽ ra đi mãi mãi.
Việc này đã khiến tôi buồn và khóc rất nhiều. chú chim nhỏ ốm được khoảng hơn hai tuần thì ra đi mãi mãi. Khi đó tôi đã hiểu được rằng, trong cuộc sống, không có gì tồn tại mãi mãi, đặc biệt những gì mà mình yêu thương, vì thế chúng ta cần yêu thương thật nhiều khi còn có thể, chú chim nhỏ có lẽ sẽ được sống một cuộc sống hạnh phúc hơn ở một nơi nào đó.
Trên đây là câu chuyện về chú chim nhỏ của tôi, lựa chọn để chú chim ra đi không hề dễ dàng đối với tôi nhưng tôi đã chấp nhận và trải qua nó, từ đó học được nhiều điều, rút ra nhiều kinh nghiệm cho bản thân và dần trưởng thành hơn sau này. Câu chuyện về ngôi nhà nhỏ với chú chim chào mào sẽ là một kỉ niệm đẹp trong tôi mà không thể nào quên.
Cuộc đời mỗi con người là một hành trình dài với vô vàn ngã rẽ. Mỗi lựa chọn đều mang theo những cơ hội và thử thách riêng. Trong hành trình trưởng thành của mình, tôi đã từng đứng trước một lựa chọn khó khăn nhưng đầy ý nghĩa – lựa chọn bước ra khỏi vùng an toàn để theo đuổi điều mình thực sự mong muốn.
Đó là thời điểm tôi phải định hướng cho con đường học tập của mình. Xung quanh tôi, nhiều bạn lựa chọn những môn học “an toàn”, dễ đạt điểm cao và phù hợp với xu hướng chung. Những lời khuyên từ người lớn cũng thường hướng tôi đến sự ổn định. Ban đầu, tôi cũng bị cuốn theo suy nghĩ ấy. Tôi sợ thất bại, sợ mình không đủ khả năng để theo đuổi điều mình yêu thích.
Nhưng càng suy nghĩ, tôi càng nhận ra rằng nếu cứ đi theo con đường người khác vạch sẵn, tôi sẽ không thực sự hạnh phúc. Tôi tự hỏi bản thân: mình thực sự muốn gì? Điều gì khiến mình sẵn sàng cố gắng dù gặp khó khăn? Và cuối cùng, tôi quyết định chọn con đường khó hơn – con đường phù hợp với sở thích và đam mê của mình.
Những ngày đầu, tôi gặp không ít trở ngại. Có lúc tôi cảm thấy mệt mỏi, thậm chí hoài nghi về lựa chọn của mình. Nhưng chính niềm yêu thích đã giúp tôi vượt qua tất cả. Tôi dần học được cách kiên trì, cách chấp nhận thất bại và không ngừng hoàn thiện bản thân.
Lựa chọn ấy đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều. Tôi không chỉ hiểu rõ bản thân mà còn học được cách chịu trách nhiệm với quyết định của mình. Tôi nhận ra rằng giá trị của lựa chọn không nằm ở sự dễ dàng, mà ở những gì ta học được từ hành trình đó.
Trong hành trình trưởng thành của mỗi người, có những lựa chọn tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại khiến ta phải suy nghĩ rất nhiều. Với em, quyết định từ bỏ thói quen sống phụ thuộc để tự giác học tập và rèn luyện chính là một lựa chọn khó khăn nhưng đầy ý nghĩa. Nhờ lựa chọn ấy, em hiểu hơn về giá trị của sự tự lập và trách nhiệm đối với bản thân mình.
Trước đây, em là người khá thụ động trong học tập. Mỗi ngày đến lớp, em học vì sợ bị nhắc nhở hơn là vì muốn hiểu bài. Bài tập thường phải chờ cha mẹ hoặc thầy cô thúc giục mới làm. Em dành khá nhiều thời gian cho điện thoại, mạng xã hội và những thú vui giải trí. Em từng nghĩ rằng chỉ cần học đủ điểm là được, chưa thật sự xác định mục tiêu cho bản thân. Chính vì thế, kết quả học tập của em có lúc giảm sút, tinh thần cũng trở nên mệt mỏi và thiếu động lực.
Bước vào lớp 10, môi trường học tập mới khiến em nhận ra mình không thể tiếp tục sống như trước nữa. Khối lượng kiến thức nhiều hơn, nhịp học nhanh hơn, nếu không tự giác thì rất dễ bị tụt lại phía sau. Em đã đứng trước một lựa chọn: hoặc tiếp tục sống thoải mái, học tập qua loa như cũ; hoặc thay đổi bản thân để trưởng thành hơn. Đó là một quyết định không hề dễ dàng, bởi thay đổi thói quen của chính mình luôn khó hơn em nghĩ.
Em bắt đầu bằng việc tự lập thời gian biểu mỗi ngày, hạn chế dùng điện thoại và tập trung hơn vào việc học. Ban đầu, em cảm thấy rất áp lực. Có những lúc em muốn bỏ cuộc vì thấy mệt, thấy nhớ những khoảng thời gian được thoải mái chơi game hay lướt mạng hàng giờ liền. Nhưng rồi em hiểu rằng nếu chỉ chạy theo sự dễ chịu trước mắt, em sẽ khó có được kết quả tốt trong tương lai.
Dần dần, em cảm nhận được sự thay đổi tích cực của bản thân. Em biết chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chủ động hỏi thầy cô khi chưa hiểu bài và tự giác hoàn thành công việc mà không cần ai nhắc nhở. Kết quả học tập tiến bộ hơn khiến em có thêm niềm tin vào chính mình. Quan trọng hơn, em học được cách chịu trách nhiệm với cuộc sống của bản thân thay vì luôn dựa dẫm vào người khác.
Lựa chọn thay đổi để sống tự giác hơn tuy khó khăn nhưng lại mang ý nghĩa rất lớn đối với em. Nó giúp em hiểu rằng trưởng thành không phải là điều gì quá xa vời, mà bắt đầu từ việc dám thay đổi những điều chưa tốt của chính mình. Con người chỉ thực sự lớn lên khi biết vượt qua sự lười biếng, biết sống có mục tiêu và nỗ lực vì tương lai.
Nhìn lại chặng đường đã qua, em thấy biết ơn vì mình đã đủ can đảm để lựa chọn thay đổi. Có thể em vẫn chưa hoàn hảo, vẫn còn nhiều điều cần cố gắng, nhưng em tin rằng mỗi bước tiến nhỏ hôm nay sẽ giúp em trưởng thành hơn trong tương lai. Và em hiểu rằng, những lựa chọn khó khăn nhưng đúng đắn luôn mang lại cho con người những bài học quý giá nhất.
Đề 3. Trong số những tác phẩm văn học mà bạn đã tìm đọc được theo gợi ý ở các bài học trong Ngữ văn 10, tập hai, tác phẩm nào đã để lại cho bạn nhiều ấn tượng và suy nghĩ nhất? Hãy viết một bài văn nghị luận bàn về tác phẩm đó theo các vấn đề nội dung và nghệ thuật tự chọn.
Bài tham khảo
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là minh chứng hào hùng cho chiến thắng chống giặc Minh của nhân dân ta. Xuyên suốt tác phẩm là tư tưởng nhân nghĩa, chủ nghĩa yêu nước được tác giả khai thác, đào sâu. Triết lý nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là quan niệm tiến bộ có giá trị và ý nghĩa trong mọi thời đại. Đã hơn 6 thế kỷ trôi qua, tư tưởng nhân nghĩa của người anh hùng ấy vẫn sống mãi trong lòng dân tộc làm nên chiến công lừng lẫy.
“Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân thay cường bạo”.
Cuộc đời ông là tấm gương về khí tiết thanh cao và lòng yêu nước thương dân nồng nàn mà khởi nguồn từ tư tưởng nhân nghĩa, lấy dân làm gốc. Xuyên suốt Bình ngô đại cáo là tư tưởng nhân nghĩa, từ khi người anh hùng Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa đến khi chiến thắng, biển trời thanh bình:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Nhân và nghĩa là đạo lí ở đời, đạo lý giữa con người với con người và giữa con người với cuộc đời, là tôn chỉ trong xã hội mọi thời đại. Trong Bình Ngô đại cáo nhân thể hiện bằng hành động thực tế chăm lo cuộc sống nhân dân, nhân ở đâu thật sâu rộng, tích cực; còn nghĩa là việc trừ bạo ngược để nhân dân xã tắc được bình yên.
Ta có thể hiểu rằng, xuất phát từ tư tưởng nhân đạo để yên dân thì phải trừ bạo. Do đó, tư tưởng nhân nghĩa cốt nhằm mục đích là đem lại hạnh phúc cho người dân. Vì thương nhân dân mà cần dựng cờ khởi nghĩa để trừ hung bạo. Tư tưởng nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo quy cho cùng tất cả là vì dân, vì hạnh phúc ấm no của nhân dân… xuyên suốt tác phẩm.
Tư tưởng ấy không mơ hồ, mà được tác giả nâng lên thành tư tưởng xã hội, gắn chặt với chủ nghĩa yêu nước. Vì nhân nghĩa nên ông xem những hành động mang tính tội ác của giặc Minh nhứ thiêu lửa đốt, đào hố chôn sống nhân dân vô tội là những việc vô nhân đạo. Hành động nhân nghĩa không trừ tượng mà là những việc làm cụ thể: chống quân xâm lăng, tiêu diệt thế lực thù địch.
Triết lý nhân nghĩa xuất phát từ nền tảng của lòng yêu nước thương dân, đó là nền tảng của bản anh hùng ca Bình Ngô đại cáo. Tác phẩm là quan điểm về quyền dân tộc, từ đó ông định nghĩa về đất nước thật trang trọng, tự hào:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”
Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng nhân nghĩa là sức mạnh để chiến thắng, đây là nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo của dân tộc Việt Nam bao đời để tạo dựng nền văn hiến mang truyền thống của con người Việt Nam. Tư tưởng ấy là nội dung cốt lõi trong toàn bộ hệ thống tư tưởng triết học, chính trị của ông, vượt ra khỏi phạm vi chính trị thông thường trở thành nền tảng, là nguyên tắc trong quản lý, lãnh đạo đất nước.
Trong tác phẩm, Nguyễn Trãi đề cao nhân dân, coi trọng sự hòa hảo giữa các dân tộc, nhưng không vì sự tàn ác của giặc mà trả thù bằng thủ đoạn tàn nhẫn, man rợ. Đó chính là tấm lòng, là trí tuệ Việt Nam sau chiến tranh.
Bình Ngô đại cáo là áng thiên cổ hùng văn của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, là văn bản tổng kết cuộc kháng chiến gian lao nhưng đầy tự hào, anh hùng của dân tộc ta hơn một thập kỷ. Toát lên tác phẩm là tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng chủ đạo cho chính trị, ngoại giao cho xã tắc muôn đời.
Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà chính trị, quân sự kiệt xuất mà còn là một thi nhân lớn của dân tộc. Thơ ông mang đậm dấu ấn của một tâm hồn từng trải, gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và cuộc sống nhân dân. Trong đó, bài thơ Bảo kính cảnh giới (bài 43) là một bức tranh mùa hè rực rỡ, sống động, đồng thời thể hiện rõ vẻ đẹp tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Trãi.
Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên mùa hè tràn đầy sức sống:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường,
Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.”
Câu thơ đầu gợi ra một trạng thái thư thái, ung dung của con người khi hòa mình vào thiên nhiên. “Ngày trường” – ngày dài của mùa hè – gợi cảm giác thời gian chậm rãi, kéo dài, tạo điều kiện để con người tận hưởng cuộc sống. Động từ “hóng mát” không chỉ đơn thuần là hành động mà còn thể hiện một tâm thế an nhàn, thanh thản. Đó là sự bình yên hiếm hoi của Nguyễn Trãi sau những sóng gió cuộc đời.
Bức tranh thiên nhiên tiếp tục được mở rộng với hình ảnh cây hòe:
“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương.”
Từ láy “đùn đùn” gợi tả sức sống mãnh liệt của cây cối. Màu xanh “lục” của cây hòe như lan tỏa khắp không gian, tạo nên cảm giác tươi mát, tràn đầy sinh khí. Cảnh vật không tĩnh lặng mà đang vận động, sinh sôi, phát triển. Đó là một thiên nhiên đầy sức sống, phản ánh một tâm hồn yêu đời, gắn bó với thiên nhiên của tác giả.
Không dừng lại ở đó, bức tranh mùa hè còn được tô điểm bằng những sắc màu rực rỡ:
“Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ,
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương.”
Hình ảnh “thạch lựu” với sắc đỏ như “phun” ra tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về màu sắc. Động từ “phun” làm cho cảnh vật trở nên sống động, như đang trào dâng sức sống. Bên cạnh đó, “hồng liên” – hoa sen – không chỉ mang vẻ đẹp thanh cao mà còn tỏa hương thơm dịu nhẹ. Như vậy, thiên nhiên được cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác (màu sắc), khứu giác (hương thơm), tạo nên một bức tranh đa chiều, sinh động.
Không chỉ có thiên nhiên, bức tranh còn có sự xuất hiện của con người và cuộc sống:
“Lao xao chợ cá làng ngư phủ,
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
Âm thanh “lao xao” của chợ cá và “dắng dỏi” của tiếng ve đã làm cho bức tranh trở nên có hồn. Đó là những âm thanh quen thuộc của làng quê Việt Nam vào mùa hè. Âm thanh chợ cá gợi sự nhộn nhịp, đông vui của cuộc sống lao động. Tiếng ve râm ran lại gợi cảm giác đặc trưng của mùa hè. Hai âm thanh ấy hòa quyện với nhau, tạo nên một không gian sống động, đầy sức sống.
Đặc biệt, bức tranh không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật mà còn thể hiện tấm lòng của tác giả:
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Hai câu thơ cuối chính là điểm nhấn tư tưởng của bài thơ. “Ngu cầm” là điển tích về cây đàn của vua Thuấn – người trị vì đất nước thái bình, nhân dân no đủ. Nguyễn Trãi mong muốn được gảy lên tiếng đàn ấy để mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Điều đó cho thấy dù sống trong cảnh nhàn, ông vẫn luôn hướng về dân, lo cho dân.
Như vậy, bức tranh ngày hè trong bài thơ không chỉ đẹp về cảnh sắc mà còn sâu sắc về ý nghĩa. Thiên nhiên hiện lên rực rỡ, tràn đầy sức sống, phản ánh một tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên của Nguyễn Trãi. Đồng thời, qua đó, ta thấy được tấm lòng “ưu dân” sâu sắc của ông – một con người luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều từ láy giàu sức gợi như “đùn đùn”, “lao xao”, “dắng dỏi”, kết hợp với các động từ mạnh như “phun” đã làm cho bức tranh trở nên sống động. Ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, thể hiện phong cách thơ độc đáo của Nguyễn Trãi.
Tóm lại, Bảo kính cảnh giới (bài 43) không chỉ là một bức tranh thiên nhiên mùa hè tươi đẹp mà còn là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình, giữa thiên nhiên và con người. Qua đó, ta càng thêm trân trọng tài năng và nhân cách lớn của Nguyễn Trãi – một thi nhân, một con người luôn sống vì dân, vì nước.
Trong hành trình khám phá văn học ở chương trình Ngữ văn 10, em đã được tiếp cận nhiều tác phẩm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Mỗi tác phẩm đều để lại những dấu ấn riêng trong lòng người đọc. Tuy nhiên, tác phẩm khiến em ấn tượng và suy nghĩ nhiều nhất là truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Đây không chỉ là câu chuyện về cái đẹp và tài năng mà còn là bản ca ngợi thiên lương, nhân cách con người trong bóng tối của nhà tù phong kiến.
“Chữ người tử tù” kể về cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Huấn Cao – một tử tù nổi tiếng viết chữ đẹp – với viên quản ngục, người có niềm say mê cái đẹp và luôn ngưỡng mộ tài năng của ông Huấn. Trong hoàn cảnh éo le của chốn lao tù, giữa người tử tù và người cai ngục lại hình thành một mối tri âm tri kỉ đầy cảm động. Qua đó, Nguyễn Tuân đã khẳng định sức mạnh bất diệt của cái đẹp và thiên lương.
Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất với em chính là hình tượng nhân vật Huấn Cao. Ông là người có tài viết chữ nổi tiếng, khí phách hiên ngang và nhân cách cao đẹp. Dù đang chờ ngày ra pháp trường, Huấn Cao vẫn giữ thái độ ung dung, coi thường cường quyền. Trước sự đe dọa của ngục tù, ông không hề run sợ mà vẫn giữ cốt cách của một bậc anh hùng. Nhưng vẻ đẹp lớn nhất của Huấn Cao không chỉ nằm ở tài năng hay khí phách mà còn ở tấm lòng biết quý trọng những con người có “thiên lương”. Ban đầu, ông tỏ thái độ lạnh lùng với quản ngục vì tưởng đó chỉ là kẻ đại diện cho quyền lực tàn bạo. Khi hiểu được tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục, Huấn Cao đã cảm động và cho chữ trong đêm cuối đời. Qua nhân vật này, Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm: cái đẹp chân chính luôn gắn liền với cái thiện và nhân cách cao quý.
Bên cạnh Huấn Cao, nhân vật quản ngục cũng để lại trong em nhiều xúc động. Ông sống giữa chốn ngục tù đầy tàn nhẫn nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sạch và lòng yêu quý cái đẹp. Quản ngục giống như “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Điều đáng quý ở nhân vật này là sự dũng cảm bảo vệ cái đẹp, dám vượt qua vị trí và hoàn cảnh của mình để trân trọng người tài. Hình ảnh viên quản ngục cúi đầu trước Huấn Cao ở cuối truyện không phải sự hèn yếu mà là cái cúi đầu trước cái đẹp và thiên lương.
Một trong những chi tiết đặc sắc nhất của truyện là cảnh cho chữ – “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Thông thường, người cho chữ là người tự do, còn kẻ xin chữ là người kính cẩn ngưỡng mộ. Nhưng ở đây, người cho chữ lại là tử tù mang gông xiềng, còn người xin chữ là viên quản ngục đại diện cho pháp luật. Giữa không gian nhà tù tối tăm, ánh sáng của bó đuốc và tấm lụa trắng hiện lên như biểu tượng cho chiến thắng của cái đẹp trước bóng tối và cái ác. Cảnh cho chữ không chỉ giàu giá trị thẩm mĩ mà còn chứa đựng ý nghĩa nhân văn sâu sắc: trong bất cứ hoàn cảnh nào, thiên lương và cái đẹp vẫn có khả năng cảm hóa con người.
Không chỉ hấp dẫn ở nội dung, tác phẩm còn đặc sắc về nghệ thuật. Nguyễn Tuân đã xây dựng tình huống truyện độc đáo, tạo nên cuộc gặp gỡ đầy nghịch lí nhưng giàu ý nghĩa. Ngôn ngữ truyện trang trọng, giàu chất tạo hình và mang phong vị cổ kính. Bút pháp tương phản đối lập được sử dụng thành công để làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật và tư tưởng của tác phẩm. Đặc biệt, phong cách tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân đã khiến câu chuyện trở nên giàu sức hấp dẫn và đậm chất nghệ thuật.
Đọc “Chữ người tử tù”, em không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của văn chương mà còn học được nhiều bài học ý nghĩa. Tác phẩm giúp em hiểu rằng con người cần biết trân trọng cái đẹp, giữ gìn nhân cách và sống có thiên lương. Dù trong hoàn cảnh khó khăn đến đâu, ánh sáng của điều tốt đẹp vẫn luôn có sức mạnh cảm hóa con người.
Có thể nói, “Chữ người tử tù” là một tác phẩm giàu giá trị tư tưởng và nghệ thuật, để lại trong em nhiều suy ngẫm sâu sắc. Qua truyện ngắn này, em càng thêm yêu quý văn học dân tộc và cảm phục tài năng của Nguyễn Tuân – một nhà văn luôn đi tìm và tôn vinh vẻ đẹp của con người Việt Nam.
Đề 4. Theo quan sát và trải nghiệm của bạn, ở không gian sinh hoạt cộng đồng nào còn thiếu những quy định, hướng dẫn về hành vi ứng xử cần có cho mọi người? Trong vai người được một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền uỷ nhiệm, bạn hãy hoàn thành một bản nội quy hay hướng dẫn nơi công cộng góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, có văn hoá.
Trả lời:
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG A
NỘI QUY, QUY ĐỊNH CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT A
Thư viện trường THPT A yêu cầu các cán bộ, nhân viên, học sinh trong trường khi đến thư viện cần thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định sau:
I. Nội quy chung
1. Yêu cầu bắt buộc
- Xuất trình Thẻ Cán bộ/Học sinh và check in qua đầu đọc mã vạch tại cửa ra vào.
- Tuân thủ các nội quy, quy định của Thư viện về tra tìm tài liệu, đọc, mượn, truy cập tài liệu, giữ gìn cơ sở vật chất, trang thiết bị.
- Phải giữ gìn tài liệu, trang thiết bị, tài sản, thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá trong ăn mặc, giao tiếp tại Thư viện.
- Không được dùng Thẻ của người khác và không cho người khác sử dụng Thẻ của mình.
- Không được làm hư hại, xáo trộn tài liệu, tài sản; không tự ý thay đổi các chương trình liên quan đến phần mềm trên máy tính.
- Không tự ý sao chụp tài liệu dưới mọi hình thức.
- Không được truy cập thông tin có nội dung không lành mạnh, sử dụng, khai thác, chuyển tải các nguồn tin bất hợp pháp, gây hại cho lợi ích Quốc gia.
- Trước khi chuyển công tác (đối với cán bộ, nhân viên) hoặc trước khi ra trường (đối với HS), cần phải trả các tài liệu, sau đó được cấp Giấy xác nhận “Đã trả hết sách Thư viện”.
- Học sinh phải học chương trình “Hướng dẫn sử dụng thư viện” mới được sử dụng tài liệu tại các phòng của Thư viện.
2. Trường hợp bị mất Thẻ
- Đối với học sinh cần phải làm đơn xin cấp lại Thẻ, có xác nhận của GVCN, sau đó xin xác nhận tại Thư viện để được cấp lại thẻ.
- Đối với cán bộ, nhân viên cần làm đơn xin cấp lại Thẻ, có xác nhận của Hiệu trưởng, sau đó xin xác nhận tại Thư viện để được cấp lại thẻ.
3. Các hình thức xử lý vi pham nội qui
3.1. Trường hợp vi phạm nội qui thông thường
- Tự ý mang sách của phòng Đọc về nhà: Thu Thẻ, tước quyền sử dụng Thư viện trong thời gian 06 tháng.
- Quá hạn: sách giáo khoa 500đ/ ngày; sách tham khảo 1.000đ/ngày; sách khác 1.500đ/ngày.
- Rách sách: thu kinh phí đóng sách.
- Cắt xén tài liệu: tước quyền sử dụng Thư viện thời hạn 01 năm, nộp phạt gấp 3-10 lần tùy mức độ nghiêm trọng.
- Viết, vẽ bẩn vào sách: Thu Thẻ
- Mất nhãn mã số mã vạch: 5.000 đ/nhãn.
- Làm mất sách: mua mới (nếu có)+10.000đ (xử lý nghiệp vụ)
- Phô tô (nếu không có) + 20.000đ (xử lý nghiệp vụ+bản gốc)
- Các trường hợp khác gặp Quản lý thư viện
3.2. Trường hợp vi phạm nội qui nghiêm trọng
- Giả mạo chữ ký, sử dụng thẻ của người khác (cho người khác mượn thẻ), lấy sách của Thư viện: thu Thẻ từ 06 tháng trở lên. Tùy theo mức độ nghiêm trọng Trung tâm sẽ thông báo trường hợp đó cho Lớp và Trường xem xét xử lý.
II. Thời gian phục vụ:
- Thư viện phục vụ các ngày trong tuần (từ thứ 2 đến thứ 7).
- Thời gian cụ thể:
+ Sáng: Từ 7h đến 11h30
+ Chiều: Từ 13h đến 17h
Thư viện trường THPT A
UBND PHƯỜNG …………
NỘI QUY SỬ DỤNG CÔNG VIÊN CÔNG CỘNG
Nhằm xây dựng môi trường sinh hoạt văn minh, an toàn và lành mạnh, tạo điều kiện cho mọi người thư giãn, rèn luyện sức khỏe và giao lưu cộng đồng, đề nghị tất cả cá nhân khi đến công viên nghiêm túc thực hiện các quy định sau:
1. Quy định chung:
- Giữ gìn trật tự, không gây ồn ào ảnh hưởng đến người khác.
- Có thái độ lịch sự, tôn trọng không gian chung.
2. Bảo vệ môi trường:
- Không xả rác bừa bãi, bỏ rác đúng nơi quy định.
- Không bẻ cành, hái hoa, phá hoại cây xanh.
3. Đảm bảo an toàn:
- Không thực hiện các hành vi nguy hiểm.
- Trông coi trẻ em cẩn thận.
4. Sử dụng thiết bị công cộng:
- Không tự ý tháo dỡ, phá hoại thiết bị.
- Sử dụng đúng mục đích.
5. Xử lí vi phạm:
- Người vi phạm sẽ bị nhắc nhở hoặc xử lí theo quy định pháp luật.
NỘI QUY KHU SINH HOẠT CHUNG TẠI CÔNG VIÊN CỘNG ĐỒNG
(Ban hành bởi Ban Quản lí Công viên Thanh Thiếu niên thành phố)
Nhằm xây dựng môi trường sinh hoạt công cộng văn minh, an toàn và thân thiện, Ban Quản lí công viên đề nghị mọi người dân và khách tham quan thực hiện nghiêm túc các quy định sau:
I. QUY ĐỊNH CHUNG
1. Giữ gìn vệ sinh chung, bỏ rác đúng nơi quy định, không xả rác xuống hồ nước, bồn hoa hoặc lối đi công cộng.
2. Có ý thức bảo vệ cây xanh, ghế đá, dụng cụ thể thao và các công trình công cộng trong khuôn viên công viên.
3. Không viết, vẽ bậy hoặc có hành vi làm hư hỏng tài sản chung.
4. Ăn mặc lịch sự, cư xử văn minh, tôn trọng mọi người xung quanh.
5. Không gây ồn ào quá mức, mở loa công suất lớn hoặc tụ tập gây mất trật tự nơi công cộng.
II. ĐỐI VỚI NGƯỜI THAM GIA HOẠT ĐỘNG THỂ THAO, GIẢI TRÍ
1. Sử dụng đúng mục đích các khu vực vui chơi, luyện tập thể thao.
2. Xếp hàng và nhường nhịn khi sử dụng các thiết bị công cộng.
3. Trẻ em dưới 10 tuổi cần có người lớn đi cùng để bảo đảm an toàn.
4. Không mang các vật sắc nhọn, chất dễ cháy nổ hoặc các vật nguy hiểm vào khu sinh hoạt chung.
III. NHỮNG HÀNH VI BỊ NGHIÊM CẤM
1. Hút thuốc lá tại khu vực vui chơi trẻ em và nơi đông người.
2. Đánh nhau, xúc phạm người khác hoặc có hành vi thiếu văn hóa.
3. Mang vật nuôi vào công viên mà không có dây dắt hoặc không vệ sinh sau vật nuôi.
4. Tự ý buôn bán, quảng cáo hoặc tổ chức hoạt động khi chưa được sự cho phép của Ban Quản lí.
5. Sử dụng đồ uống có cồn, chất kích thích gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự.
IV. TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN
1. Mọi cá nhân khi tham gia sinh hoạt tại công viên đều có trách nhiệm chấp hành nội quy.
2. Người vi phạm sẽ bị nhắc nhở hoặc xử lí theo quy định của cơ quan chức năng.
3. Mỗi người dân hãy cùng góp phần xây dựng không gian sinh hoạt cộng đồng xanh – sạch – đẹp – văn minh.
Rất mong nhận được sự hợp tác của quý người dân và du khách!
Ban Quản lí Công viên Thanh Thiếu niên thành phố
3. Nói và nghe
Chọn thực hiện theo nhóm học tập các nội dung nói và nghe sau:
Nội dung 1.
Thảo luận về vấn đề: Cần xử lý như thế nào mối quan hệ giữa việc tuân phục ý chí của người khác và việc thuận theo mách bảo của nội tâm trên vấn đề chọn đường đi trong cuộc sống?
Trả lời:
Có thể thảo luận một số vấn đề từ câu chuyện “Đẽo cày giữa đường”
- Cần phải cân bằng giữa ý chí người khác và mách bảo nội tâm
- Suy xét thật kĩ để phân biệt ý chí người khác hay những mách bảo nội tâm đâu mới là điều mà bản thân mong muốn và thật sự có khả năng đạt được
- Đặt vào việc những kì vọng của cha mẹ đối với tương lai của con cái, mỗi chúng ta cần thật sự biết bản thân cần gì, trong trường hợp cha mẹ đang định hướng đúng thì bản thân không nên vì những mách bảo nội tâm nhất thời mà mắc sai lầm, đi sai đường. Tuy nhiên nếu bản thân thật sự quyết tâm với một lựa chọn khác thì đừng nhất định buộc mình phải tuân theo ý chí của người khác mà bỏ qua những mách bảo từ nội tâm mình.
Trong cuộc sống, mỗi con người đều phải đối diện với những lựa chọn quan trọng, đặc biệt là lựa chọn con đường đi cho riêng mình. Khi đứng trước những ngã rẽ ấy, ta thường bị giằng co giữa hai lực kéo: một bên là việc tuân theo ý kiến, kỳ vọng của người khác; bên kia là tiếng nói nội tâm – điều mà bản thân thực sự mong muốn. Vậy cần ứng xử như thế nào để dung hòa hai yếu tố này một cách hợp lí? Đây không chỉ là câu hỏi mang tính cá nhân mà còn là vấn đề có ý nghĩa sâu sắc đối với hành trình trưởng thành của mỗi người.
Trước hết, không thể phủ nhận rằng ý kiến của người khác, đặc biệt là những người đi trước, có vai trò rất quan trọng. Gia đình, thầy cô hay những người có kinh nghiệm thường đưa ra lời khuyên dựa trên sự từng trải và hiểu biết của họ. Những lời khuyên ấy có thể giúp chúng ta tránh được những sai lầm không đáng có, nhìn nhận vấn đề một cách khách quan hơn. Trong nhiều trường hợp, việc biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người khác chính là biểu hiện của sự trưởng thành và khiêm tốn. Nếu quá đề cao cái tôi cá nhân mà bỏ qua mọi góp ý, con người dễ rơi vào chủ quan, bồng bột, dẫn đến những quyết định thiếu chín chắn.
Tuy nhiên, nếu chỉ sống theo ý kiến của người khác mà bỏ qua tiếng nói nội tâm, con người rất dễ đánh mất chính mình. Mỗi cá nhân là một thực thể độc lập với những sở thích, năng lực và ước mơ riêng. Không ai hiểu bản thân ta bằng chính ta. Nếu luôn lựa chọn theo kỳ vọng của người khác, ta có thể đạt được sự “đúng đắn” theo tiêu chuẩn chung, nhưng lại không tìm thấy niềm vui hay ý nghĩa trong cuộc sống. Nhiều người đã từng rơi vào trạng thái chán nản, mất phương hướng chỉ vì họ sống một cuộc đời không phải do mình lựa chọn. Vì vậy, việc lắng nghe nội tâm là điều vô cùng cần thiết, giúp ta nhận diện bản thân và định hướng con đường phù hợp.
Vấn đề đặt ra là không nên tuyệt đối hóa một phía nào, mà cần có sự cân bằng. Trước mỗi lựa chọn, con người cần biết tiếp nhận ý kiến từ người khác một cách có chọn lọc. Không phải mọi lời khuyên đều đúng trong mọi hoàn cảnh. Điều quan trọng là phải biết phân tích, đánh giá để xem lời khuyên đó có phù hợp với bản thân hay không. Đồng thời, ta cũng cần lắng nghe chính mình một cách tỉnh táo, tránh nhầm lẫn giữa mong muốn nhất thời và mục tiêu lâu dài. Khi kết hợp được giữa lí trí và cảm xúc, giữa kinh nghiệm bên ngoài và tiếng nói bên trong, con người sẽ có những quyết định sáng suốt hơn.
Bên cạnh đó, cần có dũng khí để chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Dù quyết định theo ý kiến người khác hay theo nội tâm, thì cuối cùng, người phải đối diện với kết quả vẫn là chính ta. Vì vậy, việc đổ lỗi hay hối tiếc sẽ không giúp ích gì. Quan trọng hơn là thái độ đối diện và học hỏi từ những lựa chọn đó. Mỗi quyết định, dù đúng hay sai, đều là một bước trưởng thành, giúp ta hiểu mình hơn và vững vàng hơn trong tương lai.
Trong thực tế, có rất nhiều tấm gương cho thấy sự thành công đến từ việc biết lắng nghe chính mình nhưng không bỏ qua những lời khuyên hữu ích. Họ không đi theo số đông một cách mù quáng, nhưng cũng không cố chấp với suy nghĩ cá nhân. Chính sự linh hoạt trong tư duy và bản lĩnh trong lựa chọn đã giúp họ tìm được con đường phù hợp nhất.
Tóm lại, giữa việc tuân theo ý kiến của người khác và lắng nghe tiếng nói nội tâm, con người cần có sự cân nhắc và dung hòa. Lắng nghe để học hỏi, nhưng lựa chọn phải dựa trên sự hiểu biết về bản thân. Chỉ khi đó, ta mới có thể đi trên con đường của riêng mình một cách tự tin và ý nghĩa. Cuộc đời không có con đường nào hoàn toàn đúng, nhưng một lựa chọn phù hợp với chính mình sẽ luôn là lựa chọn đáng giá nhất.
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay, em xin trình bày ý kiến của mình về vấn đề: “Cần xử lí như thế nào mối quan hệ giữa việc tuân phục ý chí của người khác và việc thuận theo mách bảo của nội tâm trong việc chọn đường đi của cuộc sống?” Đây là một vấn đề rất gần gũi với tuổi trẻ, bởi trong hành trình trưởng thành, ai cũng từng đứng trước những lựa chọn khó khăn giữa điều mình muốn và điều người khác mong đợi.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng “tuân phục ý chí của người khác” là việc lắng nghe, làm theo định hướng, mong muốn của cha mẹ, thầy cô hay những người đi trước. Còn “thuận theo mách bảo của nội tâm” là sống đúng với đam mê, năng lực và khát vọng thật sự của bản thân. Hai yếu tố này đôi khi thống nhất với nhau, nhưng cũng có lúc mâu thuẫn khiến con người rơi vào băn khoăn, áp lực.
Theo em, trong việc lựa chọn con đường cuộc sống, chúng ta không nên tuyệt đối hóa bất kì phía nào. Nếu chỉ sống theo ý người khác mà bỏ quên tiếng nói bên trong mình, con người dễ trở nên thụ động, sống một cuộc đời không thuộc về mình. Thực tế có nhiều bạn trẻ chọn ngành học chỉ vì mong muốn của gia đình, để rồi cảm thấy mệt mỏi, mất phương hướng vì không có hứng thú thật sự. Khi đó, thành công nếu có cũng khó mang lại hạnh phúc lâu dài.
Tuy nhiên, nếu chỉ làm theo cảm xúc cá nhân mà bỏ qua lời khuyên của người thân, con người cũng dễ rơi vào nông nổi và sai lầm. Những người đi trước thường có nhiều trải nghiệm hơn, họ nhìn thấy những khó khăn mà người trẻ chưa nhận ra. Vì vậy, sự định hướng của gia đình và xã hội vẫn rất cần thiết, nhất là khi chúng ta còn thiếu kinh nghiệm sống.
Theo em, cách xử lí đúng đắn nhất là biết dung hòa giữa lí trí và cảm xúc, giữa tiếng nói nội tâm và sự góp ý của người khác. Chúng ta cần lắng nghe lời khuyên bằng thái độ tôn trọng, nhưng đồng thời cũng phải hiểu rõ năng lực, sở thích và ước mơ của bản thân để đưa ra lựa chọn phù hợp. Một quyết định đúng không phải là quyết định làm hài lòng tất cả mọi người, mà là quyết định khiến bản thân có trách nhiệm và sẵn sàng nỗ lực đến cùng.
Em rất tâm đắc với câu nói của Steve Jobs: “Đừng để tiếng ồn từ quan điểm của người khác lấn át tiếng nói bên trong bạn.” Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là phủ nhận mọi lời khuyên. Điều quan trọng là phải biết chọn lọc, suy nghĩ chín chắn để biến lời góp ý thành động lực giúp mình trưởng thành hơn.
Là học sinh, chúng ta cần rèn luyện khả năng tự nhận thức bản thân, xác định mục tiêu sống rõ ràng và học cách chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình. Khi có đủ hiểu biết và bản lĩnh, chúng ta sẽ vừa biết lắng nghe người khác, vừa không đánh mất chính mình.
Trên đây là ý kiến của em về vấn đề thảo luận hôm nay. Em rất mong nhận được sự chia sẻ và trao đổi thêm từ thầy cô và các bạn. Em xin cảm ơn!
Nội dung 2.
Cái hay của tác phẩm nằm ở đâu? Hãy cùng thảo luận vấn đề này trong một tác phẩm văn học được nhóm chọn đọc chung.
Trả lời:
Có thể thảo luận một số vấn đề:
- Cái hay của tác phẩm có thể nằm ở nội dung, nghệ thuật mà tác giả sử dụng
- Cụ thể hơn, chỉ một câu hỏi tu từ, một dấu câu đặt ở vị trí đặc biệt, một từ ngữ được lặp lại nhiều lần có dụng ý đều có thể làm nên cái hay của tác phẩm.
- Chẳng hạn, khi đọc bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy, cái hay của bài thơ có thể nằm ở ngay câu hỏi đầu bài: “Tre xanh xanh tự bao giờ?”
+ Tác giả đặt ra câu hỏi đó, không phải để có câu trả lời, không phải để cho mọi người suy luận, mà đây là câu hỏi của tấm lòng khâm phục, của tấm lòng ngạc nhiên trước màu xanh bền bỉ, thân thuộc lâu đời của cây tre Việt Nam.
+ Đến cuối bài thơ, tác giả khẳng định một điều chắc chắn, là mai sau: Đất xanh mãi mãi xanh màu tre xanh
+ Bài thơ của Nguyễn Duy đã miêu tả được biểu tượng tự nhiên của Việt Nam: cây tre. Bài thơ bình dị, nhưng gây xúc động, vì đã đi được vào lòng người. Tất nhiên con người đọc thơ cũng phải có tầm của bài thơ…
Cái hay của một tác phẩm văn học là vấn đề không dễ trả lời bằng một tiêu chí duy nhất, bởi văn học vốn là lĩnh vực của cảm xúc và sự cảm nhận cá nhân. Tuy nhiên, khi bàn về giá trị của một tác phẩm, ta có thể thấy rằng cái hay thường được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung tư tưởng, nghệ thuật biểu đạt và khả năng tác động sâu sắc đến người đọc.
Trước hết, cái hay của tác phẩm nằm ở nội dung tư tưởng và ý nghĩa mà nó truyền tải. Một tác phẩm văn học thực sự có giá trị không chỉ dừng lại ở việc kể một câu chuyện hay miêu tả một cảnh tượng, mà còn phải gợi ra những suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc sống. Đó có thể là những vấn đề quen thuộc như tình yêu thương, lòng nhân ái, khát vọng sống, hay những câu hỏi lớn về lựa chọn, số phận và ý nghĩa tồn tại. Chính những tầng ý nghĩa ấy khiến tác phẩm vượt lên khỏi giới hạn của một câu chuyện thông thường, trở thành tiếng nói chung của con người ở nhiều thời đại. Khi đọc một tác phẩm hay, người đọc không chỉ hiểu nội dung mà còn nhận ra những giá trị nhân văn sâu sắc, từ đó có thể soi chiếu lại chính bản thân mình.
Bên cạnh nội dung, cái hay của tác phẩm còn thể hiện rõ ở phương diện nghệ thuật. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, vì vậy cách sử dụng ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một tác phẩm hay thường có ngôn ngữ giàu hình ảnh, tinh tế và giàu sức gợi. Tác giả có thể sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ,… để làm nổi bật ý tưởng và tạo ấn tượng sâu sắc. Không chỉ vậy, cách xây dựng hình tượng nhân vật, tổ chức cốt truyện hay tạo dựng không gian, thời gian nghệ thuật cũng góp phần làm nên giá trị của tác phẩm. Một nhân vật được khắc họa chân thực, có chiều sâu tâm lí sẽ dễ dàng chạm đến trái tim người đọc. Một chi tiết nghệ thuật đắt giá có thể làm sáng bừng toàn bộ ý nghĩa của tác phẩm. Chính sự sáng tạo trong nghệ thuật đã tạo nên phong cách riêng của mỗi nhà văn và khiến tác phẩm trở nên độc đáo, không thể trộn lẫn.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng làm nên cái hay của tác phẩm chính là khả năng khơi gợi cảm xúc và suy nghĩ nơi người đọc. Văn học không chỉ là sự truyền đạt thông tin mà còn là sự giao cảm giữa người viết và người đọc. Một tác phẩm hay có thể khiến người đọc rung động, vui buồn cùng nhân vật, hoặc trăn trở trước những vấn đề được đặt ra. Sau khi đọc, người ta có thể nhớ mãi một hình ảnh, một câu nói hay một cảm xúc nào đó. Thậm chí, có những tác phẩm còn làm thay đổi cách nhìn nhận của người đọc về cuộc sống. Đây chính là sức sống lâu bền của văn học – khi tác phẩm không chỉ tồn tại trên trang giấy mà còn tiếp tục sống trong tâm trí người đọc.
Tuy nhiên, cái hay của một tác phẩm không hoàn toàn cố định mà còn phụ thuộc vào sự tiếp nhận của mỗi người. Mỗi độc giả có hoàn cảnh, trải nghiệm và cảm xúc khác nhau, vì vậy cách cảm nhận tác phẩm cũng không giống nhau. Có người tìm thấy trong tác phẩm những giá trị lớn lao, nhưng cũng có người chỉ cảm nhận được ở mức độ nhất định. Điều này không làm giảm giá trị của tác phẩm, mà ngược lại, còn chứng tỏ sức sống đa dạng của văn học. Một tác phẩm hay là tác phẩm có thể mở ra nhiều cách hiểu, nhiều tầng nghĩa, để mỗi người đọc đều có thể tìm thấy điều gì đó phù hợp với mình.
Tóm lại, cái hay của một tác phẩm văn học không nằm ở một yếu tố riêng lẻ mà là sự hòa quyện giữa nội dung sâu sắc, nghệ thuật tinh tế và khả năng tác động mạnh mẽ đến người đọc. Chính sự kết hợp ấy đã làm nên giá trị bền vững của văn học, giúp tác phẩm vượt qua giới hạn của thời gian và không gian để chạm đến trái tim con người. Và cũng chính vì thế, mỗi khi đọc một tác phẩm hay, ta không chỉ thưởng thức văn chương mà còn được sống thêm một cuộc đời khác, sâu sắc và ý nghĩa hơn.
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay, em xin tham gia thảo luận về vấn đề: “Cái hay của tác phẩm nằm ở đâu?” thông qua truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân. Theo em, cái hay của tác phẩm không chỉ nằm ở nội dung sâu sắc mà còn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và cách thể hiện độc đáo của nhà văn.
Trước hết, cái hay của “Chữ người tử tù” nằm ở tư tưởng nhân văn sâu sắc. Tác phẩm đã ca ngợi vẻ đẹp của cái tài, cái đẹp và thiên lương của con người. Trong không gian ngục tù tối tăm, Nguyễn Tuân vẫn làm nổi bật ánh sáng của nhân cách cao đẹp. Nhân vật Huấn Cao hiện lên vừa tài hoa vừa khí phách, còn viên quản ngục lại là người biết trân trọng cái đẹp dù sống giữa môi trường đầy tội ác và sự tàn nhẫn. Qua đó, tác giả khẳng định rằng cái đẹp chân chính có sức cảm hóa mạnh mẽ, có thể chiến thắng bóng tối và sự thấp hèn.
Theo em, cảnh cho chữ chính là điểm đặc sắc nhất tạo nên giá trị của tác phẩm. Đây được gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Một người tử tù mang gông xiềng lại trở thành người ban phát cái đẹp, còn viên quản ngục – đại diện cho quyền lực nhà tù – lại cúi đầu kính cẩn trước người tù. Sự đối lập ấy làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng của truyện: cái đẹp và thiên lương luôn cao quý hơn quyền lực và cường quyền.
Ngoài nội dung, nghệ thuật của tác phẩm cũng góp phần tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt. Nguyễn Tuân đã xây dựng tình huống truyện độc đáo, tạo nên cuộc gặp gỡ éo le nhưng đầy ý nghĩa giữa Huấn Cao và quản ngục. Ngôn ngữ truyện giàu chất tạo hình, trang trọng và cổ kính, giúp câu chuyện mang vẻ đẹp rất riêng. Bút pháp tương phản đối lập được sử dụng hiệu quả để làm nổi bật ánh sáng – bóng tối, cao cả – thấp hèn, tự do tinh thần – sự giam cầm thể xác.
Tuy nhiên, em cũng thấy có ý kiến cho rằng tác phẩm thiên về lí tưởng hóa nhân vật, khiến hình tượng Huấn Cao trở nên quá hoàn hảo. Theo em, điều này phù hợp với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Nhà văn không chỉ kể một câu chuyện đời thường mà còn muốn xây dựng biểu tượng cho cái đẹp và khí phách của con người Việt Nam. Vì vậy, sự lí tưởng hóa ấy lại góp phần tạo nên giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm.
Từ góc nhìn của em, cái hay của một tác phẩm văn học không chỉ nằm ở cốt truyện hấp dẫn mà còn ở khả năng khiến người đọc suy nghĩ, rung động và nhìn cuộc sống sâu sắc hơn. “Chữ người tử tù” đã làm được điều đó khi giúp chúng ta hiểu rằng con người cần biết sống có thiên lương, biết trân trọng cái đẹp và giữ gìn nhân cách trong mọi hoàn cảnh.
Trên đây là phần trình bày của em. Em rất mong được lắng nghe thêm ý kiến trao đổi từ thầy cô và các bạn để hiểu sâu sắc hơn về giá trị của tác phẩm. Em xin cảm ơn!
Nội dung 3.
Tự hiểu mình có dễ không và làm thế nào để hiểu? Hãy thực hiện bài thuyết trình về vấn đề trên.
Bài tham khảo
Bạn có hiểu gì về bản thân mình không? Nếu không, bạn khó có thể thành công! Tầm quan trọng của việc thấu hiểu chính bản thân mình lớn hơn những gì bạn vẫn tưởng.
Đã bao giờ giữa dòng đời, bạn chợt dừng lại và tự hỏi: "Tại sao mình thấy mệt mỏi đến vậy?". "Tại sao những việc này luôn lặp lại với mình"? Bạn cảm thấy bế tắc, thấy cuộc sống giống như một vòng tuần hoàn không lối thoát, và bạn chẳng thể làm gì ngoài việc bị động giơ đầu ra hứng chịu. Ấy là vì, bạn không hiểu được bản thân mình.
Thales, nhà triết học vĩ đại của Hy Lạp cổ từng được đặt câu hỏi: "Khó khăn là gì?". Đây là câu trả lời của ông: "Là tự thấu hiểu bản thân mình!".
Vậy thế nào là hiểu được về bản thân? Đó là khả năng nghĩ về bản thân - điểm mạnh và điểm yếu - và các mối quan hệ xung quanh bạn. Nó rất quan trọng, vì khi mọi vật có cùng một xuất phát điểm, thì chúng ta chịu ảnh hưởng bởi những vấn đề do hành vi gây ra. Mà hành vi phản chiếu những gì ta nghĩ. Có điều, rất ít người chịu dừng bước và tự vấn về những gì họ nghĩ, cách họ nghĩ và vì sao họ phải nghĩ về những điều như vậy.
Hiện nay, các công ty đều sử dụng những bài trắc nghiệm tính cách là một phần của quá trình tuyển dụng, nhằm xác định ứng viên có phù hợp với môi trường hay không. Những bài trắc nghiệm này không đơn giản, mà được rất nhiều nghiên cứu về tâm lý học tổng hợp lại, nhằm tìm ra điểm mạnh, điểm yếu trong tính cách của từng ứng viên. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một phần của câu chuyện. Điểm mạnh và điểm yếu không quan trọng bằng tư duy của bạn. Tư duy thay đổi, bạn mới thấu hiểu được bản thân.
Thales đã nói, thấu hiểu bản thân không phải là một nhiệm vụ đơn giản, vì chúng ta luôn chối bỏ chính bản thân mình. Khả năng thấu hiểu nội tâm không đến một cách tự nhiên như những gì chúng ta vẫn làm với thế giới quan bên ngoài. Nhưng chúng ta có thể học được nó.
Vấn đề nằm ở chỗ, chúng ta có xu hướng tự dối lòng, tự che lấp đi sự thật. Nói cách khác, chúng ta chẳng thể tin vào chính mình, vì bản chất tư duy của chúng ta không muốn nhìn vào sự thật trần trụi, nhất là khi nó mang tính tiêu cực. Ta thường chôn chặt chúng trong lòng, lảng tránh chúng trong vô thức.
Tự dối lòng và thói quen "đổ lỗi" chính là 2 nguyên nhân lớn nhất dẫn việc ta không thể thấu hiểu ta. Bộ đôi này như một thế lực ngầm, khiến cho bản chất thật của chúng ta bị chôn giấu. Vì xét cho cùng, khi thấu hiểu được bản thân, bạn có thể chẳng thích cái người mà bạn vừa thấu hiểu nữa.
Sự thật thường mất lòng - thế nên đa số không muốn đối mặt với nó. Với một sự thật trần trụi, chúng ta thường chối bỏ, hoặc tìm lấy một lý do để đổ lỗi hòng giảm bớt đi cảm giác "sai trái" đó. Giáo sư kinh tế Richard S. Tedlow từng nói: "Cảm giác tạo ra một thông điệp sai sự thật để chống chế cho một sự thật trần trụi thực sự rất mãnh liệt".
Nhưng bằng cách nào để từ bỏ thói quen này. Có điều nói thì dễ, để làm được lại cần đến một phẩm chất mà không phải ai cũng có: sự khiêm tốn. Sự khiêm tốn ở đây sẽ giống như một bước đệm, một chất bôi trơn xóa nhòa khoảng cách từ thứ ta muốn nhìn thấy đến sự thật trần trụi. Nó sẽ giúp ta chấp nhận sự thật rằng bản thân có thể không như những gì mình vẫn nghĩ, và chấp nhận học hỏi để thay đổi.
Nhưng thứ gì cũng phải có hai mặt. Việc làm quá mọi lỗi lầm và điểm yếu của bản thân mặt khác lại khiến bạn tự co mình lại, ngăn chính bản thân mình phát triển, để rồi vòng xoay lặp lại: bạn sẽ tiếp tục chối bỏ và đổ lỗi.Thấu hiểu bản thân cũng có nghĩa bạn cần nhận ra đâu là điểm mạnh của mình, nhận ra cơ hội từ những lần vấp ngã. Đó sẽ là niềm động lực để bạn không lặp lại những sai lầm, đồng thời phát triển những điểm mạnh vốn có của bản thân.
Sẽ chẳng có gì thay đổi cho đến khi bạn phải tự thay đổi. Nghe dễ thế thôi, nhưng đây là một sự thật khó chấp nhận với đa số, vì rõ ràng sẽ dễ dàng hơn nếu như chỉ đợi và hy vọng người khác thay đổi. Tốt thôi, nếu thực sự họ có thay đổi! Tuy nhiên, cách tiếp cận này chẳng giúp bạn thoát khỏi nỗi mệt mỏi kiệt quệ ngày qua ngày, vì bạn làm sao thay đổi được người khác? Thứ duy nhất bạn có thể thay đổi, đấy là bản thân mình.
Khi ta thấy mọi chuyện không đúng ý, ta sẽ đứng trước 2 lựa chọn: hoặc chấp nhận sai để tìm hướng giải quyết mới, hoặc ngồi im và đợi người khác sửa hộ mình. Nhưng nghiên cứu của giáo sư Howard Gardner - chuyên gia trong ngành giáo dục - có một câu như thế này: "Ai cũng thất bại, kể cả những cá nhân kiệt xuất. Nhưng thay vì bỏ cuộc, họ chấp nhận học hỏi và trở thành kẻ chiến thắng ngay khi có cơ hội".
Vậy là bạn hiểu mình nên làm gì đúng không? Thất bại chỉ là một cơ hội để bạn nhìn nhận lại bản thân, để rồi trở lại mạnh mẽ hơn. Thấu hiểu bản thân mặt khác còn giúp chúng ta thấu hiểu những người xung quanh. Bạn sẽ nắm rất rõ cách người ta nhìn vào điểm mạnh và điểm yếu của bạn, cũng như cho phép bạn có những đánh giá rõ ràng hơn về điểm tương tự của họ.
Tức là, ta cần thấu hiểu bản thân, để rồi có thể nhìn thế giới một cách rõ ràng với một tâm thế và niềm đam mê hoàn toàn khác biệt.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Trong cuộc sống, chúng ta thường dành rất nhiều thời gian để tìm hiểu thế giới xung quanh, nhưng lại ít khi tự hỏi: “Mình là ai?”, “Mình thực sự muốn gì?”. Chính vì vậy, vấn đề “tự hiểu mình có dễ không và làm thế nào để hiểu bản thân” trở thành một câu hỏi quan trọng, đặc biệt đối với những người trẻ đang trong hành trình trưởng thành.
Trước hết, cần khẳng định rằng tự hiểu mình không hề dễ. Con người là một thực thể phức tạp, luôn thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh và trải nghiệm. Có những lúc ta nghĩ mình thích một điều gì đó, nhưng sau một thời gian lại nhận ra đó chỉ là cảm xúc nhất thời. Có khi ta tưởng mình mạnh mẽ, nhưng lại dễ dàng gục ngã trước một thử thách nhỏ. Chính sự đa dạng và biến động ấy khiến việc hiểu rõ bản thân trở nên khó khăn.
Bên cạnh đó, con người còn dễ bị chi phối bởi ý kiến của người khác. Gia đình, bạn bè, xã hội thường đặt ra những kỳ vọng, những tiêu chuẩn khiến ta vô tình sống theo khuôn mẫu mà quên mất tiếng nói nội tâm. Nhiều người lựa chọn nghề nghiệp, lối sống không phải vì mình thực sự muốn, mà vì muốn làm hài lòng người khác. Điều đó càng khiến việc hiểu bản thân trở nên mờ nhạt.
Tuy nhiên, dù không dễ, việc tự hiểu mình là vô cùng cần thiết. Khi hiểu bản thân, ta sẽ biết mình có điểm mạnh, điểm yếu gì, phù hợp với điều gì và cần cố gắng ra sao. Điều đó giúp ta đưa ra những lựa chọn đúng đắn hơn trong học tập, công việc và cuộc sống. Ngược lại, nếu không hiểu mình, con người rất dễ rơi vào trạng thái mơ hồ, thiếu định hướng và dễ bị cuốn theo người khác.
Vậy làm thế nào để hiểu bản thân? Trước hết, mỗi người cần dành thời gian lắng nghe chính mình. Đó có thể là những lúc suy nghĩ về những điều khiến mình vui, buồn, hứng thú hay chán nản. Việc tự đặt câu hỏi cho bản thân như “Mình thực sự thích gì?”, “Mình muốn trở thành người như thế nào?” sẽ giúp ta dần nhận diện bản thân rõ hơn.
Bên cạnh đó, con người cần trải nghiệm và thử thách bản thân. Chỉ khi dám thử những điều mới, ta mới biết mình có khả năng gì, phù hợp với điều gì. Thất bại cũng là một cách giúp ta hiểu mình hơn, vì qua đó ta nhận ra giới hạn và điểm yếu của bản thân để cải thiện.
Ngoài ra, việc lắng nghe ý kiến từ người khác một cách chọn lọc cũng rất quan trọng. Người xung quanh có thể nhìn thấy những điểm mà ta chưa nhận ra. Tuy nhiên, không nên phụ thuộc hoàn toàn vào họ, mà cần biết chọn lọc và đối chiếu với cảm nhận của bản thân.
Một yếu tố không thể thiếu là sự trung thực với chính mình. Nhiều người ngại đối diện với điểm yếu, luôn tự bao biện hoặc so sánh bản thân với người khác. Điều này khiến việc hiểu mình trở nên sai lệch. Chỉ khi dám nhìn nhận đúng bản thân, cả ưu điểm lẫn hạn chế, ta mới thực sự hiểu mình.
Cuối cùng, cần hiểu rằng tự hiểu mình là một quá trình lâu dài, không phải là việc có thể hoàn thành trong một sớm một chiều. Con người luôn thay đổi, vì vậy việc hiểu bản thân cũng cần được cập nhật theo thời gian. Điều quan trọng là luôn giữ tinh thần học hỏi và khám phá chính mình.
Kết lại, tự hiểu mình không phải là điều dễ dàng, nhưng đó là hành trình cần thiết để mỗi người trưởng thành. Khi hiểu rõ bản thân, chúng ta sẽ tự tin hơn, vững vàng hơn và sống một cuộc đời ý nghĩa hơn. Vì vậy, hãy bắt đầu từ những điều nhỏ nhất: lắng nghe chính mình, trải nghiệm và không ngừng hoàn thiện bản thân.
Xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay, em xin trình bày bài thuyết trình với chủ đề: “Tự hiểu mình có dễ không và làm thế nào để hiểu mình?” Đây là một vấn đề rất gần gũi nhưng cũng vô cùng sâu sắc đối với mỗi con người, đặc biệt là tuổi trẻ – lứa tuổi đang trên hành trình khám phá và hoàn thiện bản thân.
Theo em, tự hiểu mình không hề dễ. Có nhiều người dành cả cuộc đời vẫn chưa thực sự hiểu mình muốn gì, cần gì hay phù hợp với điều gì. Chúng ta thường dễ nhìn thấy lỗi sai của người khác nhưng lại khó nhận ra điểm mạnh, điểm yếu của chính mình. Đôi khi, con người còn bị ảnh hưởng bởi lời đánh giá từ xung quanh nên dần sống theo mong muốn của người khác mà quên mất bản thân thật sự ra sao.
Việc tự hiểu mình trở nên khó khăn bởi con người luôn thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh và trải nghiệm sống. Có lúc ta nghĩ mình mạnh mẽ nhưng chỉ một thất bại nhỏ cũng khiến ta mất niềm tin. Có lúc ta tưởng mình thích một điều gì đó, nhưng sau khi trải nghiệm lại nhận ra bản thân không phù hợp. Vì vậy, hiểu mình là một quá trình lâu dài chứ không phải điều có thể hoàn thành trong ngày một ngày hai.
Tuy nhiên, dù khó, việc tự hiểu mình lại vô cùng quan trọng. Khi hiểu bản thân, chúng ta sẽ biết mình có năng lực gì, cần cố gắng ở đâu và nên lựa chọn con đường như thế nào. Người hiểu mình sẽ sống tự tin hơn, ít bị dao động trước ý kiến của người khác và biết đặt ra mục tiêu phù hợp cho tương lai. Ngược lại, nếu không hiểu bản thân, con người rất dễ sống mơ hồ, mất phương hướng hoặc chạy theo những điều không thuộc về mình.
Vậy làm thế nào để hiểu bản thân? Theo em, trước hết chúng ta cần biết lắng nghe chính mình. Hãy dành thời gian suy nghĩ về điều khiến mình hạnh phúc, điều mình yêu thích và những việc mình thực sự có khả năng làm tốt. Đôi khi chỉ cần vài phút yên tĩnh mỗi ngày để nhìn lại cảm xúc và hành động của bản thân cũng giúp ta hiểu mình hơn.
Bên cạnh đó, chúng ta cần dám trải nghiệm. Chỉ khi thử sức ở nhiều hoạt động khác nhau, con người mới khám phá được khả năng và giới hạn của bản thân. Có những bạn chỉ sau khi tham gia hoạt động tập thể mới nhận ra mình có khả năng lãnh đạo; có người nhờ những lần thất bại mới hiểu mình cần kiên trì hơn.
Ngoài ra, việc lắng nghe góp ý từ gia đình, thầy cô và bạn bè cũng rất cần thiết. Người khác có thể nhìn thấy những điều mà bản thân ta chưa nhận ra. Tuy nhiên, chúng ta cần biết chọn lọc ý kiến để không đánh mất chính mình.
Theo em, hiểu bản thân không có nghĩa là chỉ nhìn thấy ưu điểm mà còn phải đủ dũng cảm để đối diện với khuyết điểm. Khi biết mình còn yếu ở đâu, ta mới có thể thay đổi và trưởng thành hơn từng ngày.
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hành trình hiểu bản thân có thể dài và không dễ dàng, nhưng đó là hành trình cần thiết để mỗi người sống ý nghĩa hơn. Em tin rằng khi biết lắng nghe nội tâm, dám trải nghiệm và không ngừng hoàn thiện mình, chúng ta sẽ ngày càng hiểu rõ bản thân hơn để lựa chọn đúng con đường cho tương lai.
Phần trình bày của em đến đây là hết. Em rất mong nhận được những chia sẻ và ý kiến trao đổi từ thầy cô và các bạn. Em xin cảm ơn!
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 10 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: