Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (15 mẫu)
Tổng hợp các bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (Thánh Gióng, An Dương Vương,...) lớp 4 hay nhất giúp bạn có thêm đoạn văn, bài văn mẫu tham khảo để học tốt môn Tiếng Việt lớp 4.
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 1)
- Dàn ý Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 2)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 3)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 4)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 5)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 6)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 7)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 8)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (mẫu 9)
- Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (các mẫu khác)
Kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm (15 mẫu)
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 1
Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nổi tiếng là chăm chỉ, hiền lành và phúc đức. Hai ông bà đã lớn tuổi mà vẫn chưa có con. Một lần, bà ra đồng thì trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân lên ướm thử xem thua kém bao nhiêu. Đến khi về nhà, bà lại thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Kì lạ là, đứa trẻ lên ba tuổi vẫn chưa biết nói, biết cười, ai đặt đâu thì ngồi đấy.
Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Thế giặc mạnh khiến nhà vua lo sợ. Vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng sứ giả bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, cậu liền bảo: “Ông về tâu với nhà vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, liền vội vàng về tâu với nhà vua.
Kể từ sau hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no. Hai vợ chồng làm ra không đủ để nuôi con, phải nhờ cậy bà con hàng xóm. Ai cũng vui vẻ giúp đỡ vì đều mong cậu bé có thể đánh tan lũ giặc.
Lúc bấy giờ, giặc đã đến chân núi Trâu. Thế nước lúc này rất nguy. Vừa lúc đó, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến. Bỗng, chú bé vùng dậy, vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc. Giặc bị tiêu diệt hết lớp này đến lớp khác. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Đám tàn quân giẫm lên nhau chạy trốn.
Tráng sĩ một mình một ngựa, lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời. Nhà vua nhớ công ơn phong là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ ở quê nhà. Hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Người ta còn kể rằng những bụi tre ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng, còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Người ta còn kể rằng ngựa thét ra lửa, lửa đã thiêu cháy một làng, cho nên làng đó về sau gọi là làng Cháy.
Dàn ý Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm
a) Mở bài:
- Giới thiệu câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống giặc ngoại xâm mà em muốn kể.
- Giới thiệu tên người anh hùng và hoàn cảnh câu chuyện.
- Nêu ấn tượng, tình cảm của em đối với người anh hùng.
b) Thân bài:
1. Giới thiệu hoàn cảnh câu chuyện và người anh hùng
- Nêu thời gian, địa điểm hoặc hoàn cảnh đất nước khi câu chuyện xảy ra.
- Giới thiệu người anh hùng: quê quán, hoàn cảnh xuất thân và những nét nổi bật.
- Nêu tình hình đất nước khi giặc ngoại xâm xuất hiện.
- Nêu nguyên nhân dẫn đến việc người anh hùng đứng lên chống giặc.
2. Thuật lại diễn biến câu chuyện
- Sự việc 1: Kể sự xuất hiện hoặc hành động đầu tiên của người anh hùng khi đất nước gặp nguy nan.
• Nêu những lời nói, hành động thể hiện lòng yêu nước và ý chí đánh giặc.
• Kể những việc người anh hùng làm để chuẩn bị chống giặc.
- Sự việc 2: Kể quá trình người anh hùng chiến đấu chống giặc ngoại xâm.
• Nêu những chiến công hoặc việc làm nổi bật của người anh hùng.
• Kể sự mưu trí, dũng cảm và sức mạnh của người anh hùng.
• Nêu phản ứng của quân giặc và nhân dân trước những chiến công ấy.
- Sự việc 3: Kể kết quả của cuộc chiến đấu.
• Nêu kết quả cuối cùng của cuộc chiến.
• Nêu niềm vui, sự biết ơn và kính phục của nhân dân đối với người anh hùng.
- Sự việc 4: Kể phần kết thúc câu chuyện theo nội dung dân gian.
• Nêu những chi tiết đặc biệt, kì ảo nếu câu chuyện có.
• Nêu cách nhân dân ghi nhớ, ca ngợi hoặc lưu truyền công lao của người anh hùng.
3. Nêu ý nghĩa của câu chuyện
- Nêu phẩm chất nổi bật của người anh hùng: yêu nước, dũng cảm, kiên cường, mưu trí,...
- Nêu bài học em rút ra từ câu chuyện.
- Bày tỏ lòng tự hào, biết ơn đối với những người đã góp sức bảo vệ đất nước.
c) Kết bài:
- Nêu cảm nghĩ của em về câu chuyện và người anh hùng.
- Khẳng định vẻ đẹp của lòng yêu nước và tinh thần chống giặc ngoại xâm được thể hiện trong câu chuyện.
- Nêu mong muốn học tập những phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng và biết trân trọng, gìn giữ truyền thống yêu nước của dân tộc.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 2
Sau khi nhận được ngôi báu từ 18 đời vua Hùng, An Dương Vương Thục Phán đã lành đạo nhân dân đánh tan hàng vạn quân xâm lược nhà Tần. Lập tức đổi tên nước thành Âu Lạc và rời thủ đô từ Nghĩa Lĩnh Phong Châu xuống Phong Khê nay là Đông Anh Hà Nội.
An Dương Vương bắt đầu tiến hành xây thành để bảo vệ kiên cố cho nhân dân nhưng chỉ có điều cứ xây chắc chắn vào buổi sáng thì đến đêm thành lại đổ xuống vì thế nên việc xây thành cứ kéo dài mãi mà không xong. Điều đó khiến An Dương Vương vô cùng lo lắng ngài liền sai các quan quân lập đàn cầu xin bách thần phù trợ. Ngày mồng bảy tháng ba năm ấy từ phía đông xuất hiện một cụ già râu tóc bạc phơi chống gậy trúc đi đến trước cổng thành mà than rằng : “Xây thành thế này biết bao giờ cho xong được!”. An Dương Vương mừng rỡ liền rước cụ già vào điện ân cần hỏi han : “Ta đắp thành này tốn bao nhiêu công sức mà không được là cớ vì sao?”. Cụ già thong thả đáp : “ Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà vua xây thành thì mới thành công”. Nói rồi cụ già cáo lui.
Đúng như lời cụ già nói sáng hôm sau có một con rùa lớn nổi lên trên mặt nước tự xưng là sứ Thanh Giang và nói với An Dương Vương rằng nếu muốn xây thành thành công thì phải dẹp hết bè lũ yêu quái hay quấy nhiều. Quả nhiên sau khi Rùa Vàng giúp nhà vua diệt yêu quái thì thành xây nhanh thoăn thoắt chỉ trong vòng nửa tháng đã xong cả. Thành hình trôn ốc, rộng hơn ngàn trượng nên còn được gọi là Loa Thành. Rùa Vàng chỉ ở lại 3 năm thì ra đi. Lúc chia tay An Dương Vương có hòi rằng : “Nhờ ơn thần mà thành xây xong. Nếu sau này có giặc thì lấy gì mà chống?”. Rùa Vàng bèn tháo một chiếc vuốt đưa cho nhà vua và dặn hãy lấy làm lẫy nỏ phòng khi quân giặc kéo đến chỉ cần lấy nỏ ra mà bắn thì không ai dám đến gần. Dứt lời Rùa Vàng quay trở về biển Đông. Nhà vua bèn sai một vị tướng quân tên Cao Lỗ ngày đêm chế chiếc vuốt Rùa vàng làm lẫy. Đặt tên là nỏ thần Kim Quy.
Ít lâu sau Triệu Đà bèn đem quân sang xâm lược Âu Lạc. An Dương Vương lấy nỏ thần bắn một phát chết hàng vạn tên giặc. Triệu Đà hoảng sợ liền rút quân về nước. Dân chúng Âu Lạc vô cùng hân hoan trước chiến công lẫy lừng của vị Vua tài giỏi.
Biết không thể đánh bại được Âu Lạc, Triệu Đà bèn nghĩ ra một âm mưu hết sức ngoan độc. Hắn mang con trai Trọng Thủy ra kết thân với Mị Châu, con gái yêu của An Dương Vương. Chẳng chút hoài nghi nhà vua gả Mị Châu cho Trọng Thủy và cho ở rể tại Loa Thành.
Nghe lời cha Trọng thủy bèn dò la khắp nơi nhằm tìm kiếm ra bí mật của nỏ thần do An Dương Vương cất giữ. Mị Châu vì tin chồng nên đã dẫn hắn đến nơi cất giấu nỏ thần. Trọng thủy liền chế ra được một chiếc lẫy nỏ y hệt với chiếc nỏ thần Kim Quy kia. Xong việc, Trọng Thủy liền nghĩ cách chuồn về nước. Trước khi đi hắn có hỏi vợ : “ Tình vợ chồng không thể lãng quên, nghĩa cha mẹ không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha nếu đến lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam cách biệt ta trở lại tìm nàng thì lấy gì làm dấu?” Mị Châu ngây thơ đáp : “ thiếp có chiếc áo lông ngỗng hay mặc, khi gặp biến đi đến đâu thiếp sẽ rắc lông ngỗng đến ngã ba đường làm dấu mà tìm nhau”.
Trọng Thủy mang nỏ thần về đến nhà, Triệu Đà liền đem quân tấn công Âu Lạc. Trong lúc ấy mặc cho cả hàng chục vạn quân giặc đang tiến gần cửa thành nhà vua vẫn ung dung đánh cờ mà nói rằng : “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Đến khi quân giặc tiến sát cửa thành nhà vua mới sai quân lính mang nỏ thần đến bắn thế nhưng lúc ấy đã không còn linh nghiệm nữa.
An Dương Vương bèn cưỡi ngựa mang theo con gái yêu chạy về phía Nam. Nhưng ngặt nỗi đi đến đâu quân giặc cũng đuổi theo đến đó. Tới sát biển An Dương Vương cùng đường mà kêu lớn : “ Sứ Thanh Giang ở đâu mau đến cứu ta”. Lúc bấy giờ Rùa Vàng mới từ mặt nước hiện lên mà nói rằng : “kẻ thù ở ngay đằng sau người kia”. An Dương Vương tức giận liền tuốt gươm chém chết Mị Châu rồi nhảy xuống biển theo Rùa Vàng. Cùng lúc đó Triệu Thủy cũng chạy đến nơi nhìn thấy xác vợ nằm trên vũng máu Trọng thủy khóc lên đau đớn rồi cầm đao tự kết liễu đời mình.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 3
Đinh Bộ Lĩnh là một vị vua nổi tiếng của nước ta. Nhờ có ông mà nước ta thoát khỏi nạn cát cứ, thống nhất lại bờ cõi.
Từ khi còn nhỏ, Đinh Bộ Lĩnh đã bộc lộ trí thông minh và bản lĩnh hơn người. Trong các trò chơi đanh trận giả, ông luôn là người nắm vai trò lãnh đạo và giúp đội của mình dành chiến thắng. Mỗi khi thắng trận, Đinh Bộ Lĩnh sẽ được đám trẻ làm kiệu rước đi, trên tay cầm bông lau phấp phới. Vì vậy mà sau này, khi ông lên ngôi vua, đã được gọi là Ông vua cờ lau.
Lớn lên trong buổi đất nước bị chia cắt thành mười hai cát cứ, Đinh Bộ Lĩnh nuôi chí thống nhất giang sơn. Ông tham gia đạo binh thuộc sứ quân của Trần Lâm. Chỉ sau một thời gian ngắn thì ông được thăng chức làm Bộ Lĩnh bởi sự thông minh là tài trí của mình. Sau khi chủ lĩnh qua đời, Đinh Bộ Lĩnh quyết định thống lĩnh sứ quân dời về Hoa Lư để rèn luyện binh lực, chuẩn bị thực hiện chí lớn của mình.
Sau nhiều năm rèn luyện, lực lượng của sứ quân đã lớn mạnh, thời cơ cũng đã chín muồi, Đinh Bộ Lĩnh liền lãnh đạo quân đội của mình tiến ra các vùng lân cận dể dẹp loạn mười hai sứ quân. Chỉ trong vòng một năm, quân đội của ông đã thành công thống nhất đất nước. Nhân dân vô cùng kính phục tài năng của ông, tôn làm Vạn Thắng Vương. Hai năm sau, Đinh Bộ Lĩnh chính thức lên ngôi vua, dưa ra nhiều chính sách tiến bộ, giúp cuộc sống của nhân dân thêm ấm no.
Cuộc đời của Đinh Bộ Lĩnh là những trang sử hào hùng và chói lọi. Nhờ có ông mà đất nước lại được dung hòa làm một, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no. Em rất yêu quý và tự hào về vị vua này.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 4
Đất nước ta đã trải qua hai nghìn năm dựng nước và giữ nước. Những trang sử ấy có rất nhiều những người anh hùng dũng mãnh, chiến đấu vì tổ quốc. Với tấm lòng kính ngưỡng và biết ơn những người anh hùng chống giặc ngoại xâm, nhân dân ta đã sáng tác và lưu truyền rất nhiều những truyền thuyết về họ. Trong đó nổi bật nhất chính là truyền thuyết Thánh Gióng.
Truyền thuyết kể về cuộc đời của người anh hùng Thánh Gióng với nhiều chi tiết kì bí và huyền ảo. Mẹ của Tháng Gióng vì ướm thử chân mình lên một vết chân khổng lồ ở ngoài đồng mà mang thai. Sau đó sinh ra Thánh Gióng. Suốt ba năm đầu đời, chàng như một con rối gỗ, không nói cũng chẳng cười, mẹ đặt đâu thì nằm đấy. Chỉ khi nghe thấy tiếng sứ giả loan tin cần tìm người tài cứu nước, chống giặc Ân xâm lược, thì Gióng mới thay đổi. Cậu bé bỗng nhiên cất tiếng nói đầu đời, nhờ mẹ gọi sứ giả vào gặp mặt. Thấy một cậu bé mới ba tuổi đã nói năng rành mạch, dặn dò chuẩn bị giáp sắt và ngựa sắt, gậy sắt để đánh giặc, sứ giả nhận ra ngay cậu chính là người tài mà ông trời gửi xuống giúp nước ta. Vì vậy ông kính cẩn lắng nghe, rồi gấp gáp phi ngựa về kinh để tâu lên nhà vua.
Phần Thánh Gióng, sau khi phân phó sứ giả chuẩn bị đồ đạc, thì cậu như thay đổi thành một con người khác. Gióng ăn nhiều lắm, mẹ thổi gạo không kịp cho cậu ăn no. Người cậu cũng lớn nhanh như thổi, áo vừa mặc vào người đã sứt chỉ. Bà con làng xóm thấy vậy, liền sang góp gao thổi cơm nuôi Gióng lớn. Khi giặc đến sát chân núi, sứ giả cũng kịp thời mang giáp sắt, ngựa sắt đến cho Thánh Gióng. Chỉ thấy cậu bước ra giữa sân, vươn vai một cái là trở thành một tráng sĩ cao lớn, vạm vỡ. Cậu mặc áo giáp sắt lên người, một tay cầm gậy sắt, một tay vỗ mạnh vào ngựa sắt. Cứ thế con ngựa bỗng sống dậy, thở ra từng hơi lửa nóng hừng hực. Sau khi nhảy lên lưng ngựa, Thánh Gióng chào mẹ và dân làng, rồi lao nhanh về phía quân giặc.
Sự xuất hiện của Thánh Gióng dũng mãnh đã làm thay đổi hoàn toàn thế trận. Một mình cậu cưỡi ngựa đánh thẳng vào kẻ địch, dùng gậy sắt quét ngang cả hàng quân. Vó ngựa của Thánh Gióng chạy đến đâu, quân giặc ngã như ngả rạ, bỏ chạy rối rít. Giữa đường gậy sắt bị gãy đôi, Gióng liền nhổ bụi tre ngà ven đường làm vũ khí, quyết đuổi sạch quân giặc ra khỏi biên giới nước ta. Chờ khi đất nước hoàn toàn sạch bóng quân thù, Thánh Gióng mới cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi giáp sắt ra để lại, rồi từ từ bay về trời.
Hình ảnh người anh hùng Thánh Gióng dũng mãnh, oai hùng như hiện thân của một vị thần bảo vệ đất nước ta. Em rất yêu quý và biết ơn, tự hào người anh hùng ấy. Thật tự hào xiết bao khi đất nước ta có người anh hùng chống giặc ngoại xâm vĩ đại như Thánh Gióng.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 5
An Dương Vương là một trong những người anh hùng chống giặc ngoại xâm đầu tiên của dân tộc ta. Rất nhiều những câu chuyện dân gian đã được kể và lưu truyền về ông. Và Sự tích thành Cổ Loa là một trong số đó.
Theo truyện kể, An Dương Vương chính là người đã lập nên nhà nước Âu Lạc. Ông đã lãnh đạo nhân dân ta đoàn kết chống lại cuộc xâm lược của nhà Tần. Sau khi dành chiến thắng, nhận thấy được mối nguy hại từ lũ giặc phương Bắc, An Dương Vương đã quyết định xây thành để phòng giặc. Tuy nhiên, việc xây thành đã gặp phải một vấn đề rất lớn: Hễ xây lên cao thì tường thành sẽ đổ sập xuống. Dù thử nhiều cách nhưng lần nào không thành công nên An Dương Vương rất lo lắng và buồn bã. Cuối cùng, ông quyết định lập đàn cầu trời phù hộ cho nước Âu Lạc ta thành công đắp thành. Từ một làn khói trắng bay ra từ đàn cầu trời, một ông già râu tóc bạc phơ hiện ra, nói với vua rằng: “Sáng mai, nhà vua ra đón ở bờ sông, sẽ có Thần Kim Quy đến giúp.”. Quả thật vậy, sáng hôm sau, trời vừa tờ mờ sáng, vua An Dương Vương đã ra bờ sông chờ và thật sự gặp được một con rùa vàng khổng lồ. Rùa tự xưng là thần Kim Quy - sứ giả của Vua Thủy Tề. Thần Kim Quy dùng phép thần thông, tìm ra được con yêu quái vẫn luôn ẩn nấp phá hoại thành của nước ta và tiêu diệt nó. Từ hôm đó, việc xây thành diễn ra vô cùng thuận lợi, chảng bao lâu đã đắp xong thành Cổ Loa. Trước lúc ra về, Thần Kim Quy còn đưa cho An Dương Vương một chiếc móng của mình, dặn dò vua đem ra làm lẫy nỏ để giết giặc, bảo vệ đất nước.
Câu chuyện trên đã kể về sự kiện xây thành của vua An Dương Vương với màu sắc hư ảo đặc trưng của các chuyện kể dân gian. Từ câu chuyện, em cảm nhận được một vị vua vừa dũng mãnh, thông minh lại luôn hết lòng lo lắng cho đất nước, muôn dân. Thật tự hào khi những trang sử của nước Việt ta có ghi lại cuộc đời của một người anh hùng như thế.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 6
Từ thuở bé thơ, ta đã được nghe bao câu chuyện kể của bà, của mẹ về lịch sử hào hùng, về những truyền thuyết ly kỳ. Và có lẽ ai khi ấy cũng mang trong mình niềm tự hào, ngưỡng mộ những vị anh hùng dũng cảm, sẵn sàng đứng lên chống lại giặc ngoại xâm, bảo vệ bình yên cho quê hương, đất nước. Thánh Gióng là một vị anh hùng oai hùng như thế.
Truyện dân gian kể rằng vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng, có hai vợ chồng nông dân, vừa chăm chỉ làm ăn lại có tiếng phúc đức nhưng đến lúc sắp về già mà vẫn chứa có lấy một mụn con. Một ngày kia, bà vợ ra đồng, thấy một vết chân to, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Về nhà bà liền mang thai, nhưng mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô, đặt tên là Gióng. Điều kỳ lạ nữa là Gióng lên ba tuổi vẫn chẳng biết nói, chẳng biết cười, đặt đâu nằm đó, hai vợ chồng vừa buồn vừa lo lắng.
Thuở ấy, giặc Ân đem quân sang xâm lược bờ cõi nước ta, gây nên bao nhiêu tội ác, dân chúng vô cùng lầm than, khổ sở. Xét thấy thế giặc mạnh, nhà vua bèn sai người đi khắp cả nước tìm người hiền tài cứu nước. Sứ giả đi đến mọi nơi, đi qua cả làng của Gióng. Nghe tiếng rao “Ai có tài, có sức xin hãy ra giúp vua cứu nước”, Gióng đang nằm trên giường bỗng cất tiếng nói đầu tiên:
- Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.
Thấy vậy, bà mẹ rất bất ngờ vui mừng, vội đi ra mời sứ giả vào nhà. Gióng yêu cầu sứ giả về tâu với vua, chuẩn bị đầy đủ ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt để cậu đi đánh giặc.
Kỳ lạ hơn, sau khi sứ giả trở về, Gióng ăn rất khỏe và lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc xong đã sứt chỉ. Mẹ cậu nuôi không đủ đành nhờ đến hàng xóm láng giềng. Bà con biết chuyện nên cũng rất phấn khởi, ngày đêm tấp nập nấu cơm, đội cà, may vá cho cậu rất chu đáo. Ai cũng hy vọng Gióng sớm ngày ra giết giặc giúp nước, trừ họa cho dân.
Ngày ấy, giặc vừa đến sát chân núi Trâu thì sứ giả cũng kịp mang vũ khí tới. Gióng bèn vươn vai đứng dậy, lập tức trở thành một tráng sĩ, khoác áo giáp, cầm roi sắt, chào mẹ và dân làng rồi nhảy lên ngựa. Cả người cả ngựa lao vun vút ra trận.
Trên chiến trường, Gióng tung hoành ngang dọc, tả đột hữu xung, giặc chết dưới tay như ngả rạ. Bỗng gậy sắt gãy, Gióng nhanh như chớp nhổ tre bên đường làm vũ khí mới. Giặc sợ hãi chạy trốn, dẫm đạp lên nhau mà chết. Khi trời đất đã sạch bóng giặc, Gióng phi ngựa bay về núi Sóc, cởi bỏ áo giáp sắt, vái tạ mẹ rồi bay về trời.
Vua phong hiệu cho cậu là Thánh Gióng, nhân dân lập đền thờ phụng, ghi nhớ công ơn. Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa sắt thét ra lửa, lửa đã thiêu trụi một làng. Đến nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa in xuống ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau, là di tích minh chứng cho chiến công oanh liệt của Thánh Gióng.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 7
Sau chiến công vĩ đại đánh thắng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, Thục Dương Vương quyết định xây thành Cổ Loa. Cùng tôi ngược dòng thời gian, lật giở những trang sử vào hồi thế kỷ III TCN, để tìm hiểu câu chuyện dân gian An Dương Vương xây thành Cổ Loa nhé!
Truyện kể rằng thành Cổ Loa cứ xây xong lại đổ. Vua An Dương Vương đến xem rất lấy làm tức giận. Ngài hỏi dò dân chúng gần đó, họ kể lại:
Ban đêm họ nghe thấy những bước chân rầm rập ở các khắp ngã kéo đến với những tiếng xì xào có thể là ma quỉ. Người đâu mà lại đông đến thế ! Họ sợ quá nên không dám nhìn ra. Rồi họ lại nghe những tiếng đổ ầm ầm như sấm dậy.
An Dương Vương sai các tướng lãnh đốc thúc đắp lại thành cho kỳ được. Ðám người hăng hái đắp lại không ngừng. Tường thành mỗi ngày một cao dần và lại cao như tường thành cũ. Nhưng rồi một đêm cả dãy tường thành lại sập xuống như đất bằng. An Dương Vương sai người đi hỏi dân chúng ở gần đó thì họ lại nói như trước. Ban đêm họ cũng nghe thấy những bước chân rầm rập như thiên binh vạn mã trẩy qua rồi lại những tiềng huỳnh huỵch tiếp đến những tiếng ầm ầm như sấm động.
An Dương Vương lại xem chỗ địa thành để cầu trời phù hộ mình đắp cho xong tòa thành. Vua đi vòng quanh chân tường vừa đi vừa suy nghĩ. Ðột nhiên vua thấy một ông già râu tóc bạc từ phía xa đi lại. Ðến gần An Dương Vương ông tự xưng mình là thổ thần của vùng đất này, nói với vua rằng:
- Nhà vua đừng lo, sáng mai nhà vua ra đợi ở bờ sông sẽ có sứ giả Thanh Giang đến giúp nhà vua đắp thành.
Nói xong ông già biến mất.
Hôm sau mới tờ mờ sáng, An Dương Vương đã ra tận bờ sông để đợi Giang sứ. Vừa bắt đầu tan sương thì có một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt sông từ phía Ðông bơi vào bờ đến gần nhà vua, rùa tự xưng mình là thần Kim Quy sứ giả của vua Thủy Tề. An Dương Vương sai đặt Giang sứ lên một chiếc mâm vàng và khiêng vào cung. Vua hỏi kế đắp thành, thần Kim Quy bảo rằng:
- Ở núi Thất Diệu có một con gà trắng sống lâu năm thành tinh có phép biến hoá khôn lường. Nó thường hãm hại khách qua đường và khách ngủ ở quán trọ trong vùng này. Các vua thời trước cùng bọn nhạc công chết đi đều chôn ở núi Thất Diệu, những u hồn ấy từ lâu không tan lẩn khuất trong khe đá ở hang sâu. Những u hồn ấy có thù với nhà vua nên đêm thanh vắng họp thành từng đàn từng lũ đến xúi dục con tinh gà trắng phá thành đang xây của nhà vua. Con tinh gà trắng đã dẫn những u hồn ấy đến chân thành dùng phép ma phá đổ tường thành rồi gần sáng lại bay về núi. Con tinh gà trắng có tiền duyên với con gái lão chủ quán gần chân núi nên hay hiện hình làm khách bộ hành ghé vào nhà lão khi thì nhập vào con gái lão khi thì nhập vào con gà trắng của lão. Muốn đắp cho được thành, trước hết phải trừ cho tiệt giống yêu ma và giết đứa con gái cùng con gà trắng của lão chủ quán kia đi.
Nghe lời thần mách bảo, Vua sai mấy viên tướng đem quân vào rừng mai phục rồi vua cải trang cùng thần Kim Quy giả làm khách bộ hành đến quán xin ngủ trọ. Chủ quán từ chối lấy cớ là trong núi có nhiều yêu quái hay làm hại khách đi đường. Nhưng An Dương Vương và thần Kim Quy nhất định xin ở. Chủ quán phải chiều theo ý hai người.
Gần sáng lại có những tiếng chân rầm rập ở ngoài, thần Kim Quy bảo An Dương Vương mở cửa phên ra gọi quân mai phục đuổi theo đám yêu tinh đang rút lui về Thất Diệu, quân lính vừa đuổi vừa giương nỏ bắn theo. Ðến khi mặt trời mọc thì yêu khí tan. Quân lính của An Dương Vương đào được rất nhiều hài cốt và nhạc khí cổ trong các hang núi, họ chất thành từng đống cao đốt đi rồi tro than đổ xuống suối cho tan hẳn oan hồn.
An Dương Vương và thần Kim Quy trở về quán trọ bảo chủ quán hiến cho mình con gà trắng để tạ trời đất. Gà vừa bị cắt tiết thì con gái chủ quán cũng lăn ra chết. Giữa lúc ấy có một con chim tứ trong nhà bay vụt ra, thần Kim Quy biết đó là con yêu tinh đã tìm đường chạy trốn, liền tung phép giết chết.
Yêu ma đã trừ xong, thần Kim Quy lại hiện nguyên hình là con rùa vàng rất lớn. Thần rút một cái móng của mình trao cho An Dương Vương, dặn rằng:
- Nhà vua giữ lấy móng chân này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc thì đem ra bắn, một phát có thể giết được hàng ngìn quân giặc.
Nói xong, thần biến mất, nhờ có thần Kim Quy trừ hết yêu ma. An Dương Vương ra lệnh cho quân lính và nhân dân xây lại thành. Chẳng bao lâu tòa thành đắp xong, rộng tới ngàn trượng, vừa dầy vừa cao xoáy vòng như hình con ốc, nên gọi là Loa thành.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 8
Trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam, em rất yêu thích câu chuyện “Thánh Gióng”. Đây là câu chuyện kể về một cậu bé làng Gióng đã lớn nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh tan giặc Ân, bảo vệ đất nước. Câu chuyện đã để lại trong em niềm tự hào sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc ta.
Ngày xưa, ở làng Phù Đổng có một cậu bé lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói, chưa biết cười, cũng chẳng biết đi. Cậu sống cùng mẹ trong một túp lều nhỏ. Một hôm, giặc Ân từ phương Bắc kéo sang xâm lược nước ta. Quân giặc rất đông và hung hãn, khiến nhân dân vô cùng lo sợ. Nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài cứu nước.
Khi sứ giả đến làng Phù Đổng và cất tiếng rao tìm người đánh giặc, cậu bé bỗng cất tiếng nói đầu tiên:
– Mẹ ơi! Mẹ mời sứ giả vào đây cho con!
Người mẹ vô cùng ngạc nhiên. Sứ giả bước vào, cậu bé liền nói:
– Ông hãy về tâu với nhà vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một thanh roi sắt và một bộ áo giáp sắt. Ta sẽ đánh tan quân giặc.
Sứ giả vội vàng trở về báo tin. Từ hôm ấy, cậu bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn bao nhiêu cũng không đủ, áo vừa mặc đã chật. Mẹ cậu phải nhờ bà con trong làng góp gạo, góp vải để nuôi cậu.
Chẳng bao lâu, ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt được mang đến. Cậu bé vươn vai một cái, bỗng biến thành một tráng sĩ cao lớn, khỏe mạnh. Tráng sĩ mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa sắt hí vang, phun lửa rồi lao thẳng về phía quân giặc.
Tráng sĩ vung roi đánh giặc. Quân Ân hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Roi sắt bị gãy, tráng sĩ liền nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí tiếp tục đánh giặc. Cuối cùng, quân giặc bị đánh tan, đất nước trở lại bình yên.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Thánh Gióng cưỡi ngựa lên đỉnh núi Sóc. Người và ngựa bay thẳng lên trời. Nhân dân nhớ ơn người anh hùng nên lập đền thờ và truyền nhau kể lại câu chuyện về Thánh Gióng từ đời này sang đời khác.
Em rất khâm phục Thánh Gióng. Người không chỉ có sức mạnh phi thường mà còn có lòng yêu nước và tinh thần sẵn sàng đứng lên bảo vệ quê hương. Qua câu chuyện, em càng hiểu rằng lòng yêu nước là một truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 9
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều người anh hùng đã đứng lên chống giặc ngoại xâm. Trong đó, em ấn tượng nhất với câu chuyện về Hai Bà Trưng – hai nữ anh hùng đã phất cờ khởi nghĩa, đánh đuổi quân Đông Hán, giành lại độc lập cho đất nước.
Ngày ấy, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Nhân dân phải chịu rất nhiều áp bức, bóc lột. Thái thú Tô Định là một kẻ tham lam, tàn bạo, luôn tìm cách đàn áp dân chúng. Ở vùng Mê Linh có hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hai bà đều là những người phụ nữ tài giỏi, có lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc.
Chồng của Trưng Trắc là Thi Sách cũng là một người có lòng yêu nước. Vì muốn chống lại sự áp bức của quân Hán, ông đã cùng nhân dân chuẩn bị khởi nghĩa. Biết được việc ấy, Tô Định vô cùng tức giận và tìm cách bắt giết Thi Sách.
Trước nỗi đau mất chồng và cảnh nước mất, Trưng Trắc càng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược. Hai Bà Trưng cùng nhau dựng cờ khởi nghĩa ở Mê Linh. Tiếng trống trận vang lên mạnh mẽ. Nghĩa quân từ khắp nơi kéo về hưởng ứng. Nhiều người tài giỏi cũng đem quân đến giúp sức.
Hai Bà Trưng cưỡi voi, dẫn đầu đoàn quân tiến về phía trước. Nghĩa quân chiến đấu vô cùng dũng mãnh. Quân Hán vốn hung hãn nhưng trước khí thế mạnh mẽ của nghĩa quân đã nhanh chóng thất bại. Tô Định hoảng sợ bỏ chạy về nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được nhiều thành trì, giành lại được sáu mươi lăm thành. Nhân dân vô cùng vui mừng. Trưng Trắc được suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh.
Câu chuyện về Hai Bà Trưng khiến em vô cùng xúc động và tự hào. Hai bà đã chứng minh rằng phụ nữ cũng có thể làm nên những việc lớn lao, có thể lãnh đạo nhân dân chống lại kẻ thù mạnh. Hình ảnh hai nữ tướng cưỡi voi ra trận đã trở thành biểu tượng đẹp về lòng yêu nước, ý chí bất khuất và tinh thần không chịu khuất phục của dân tộc Việt Nam.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 10
Trong những câu chuyện dân gian kể về các anh hùng chống giặc ngoại xâm, em đặc biệt yêu thích câu chuyện về Yết Kiêu. Điều khiến em khâm phục người anh hùng này không chỉ là lòng yêu nước mà còn là tài bơi lặn đặc biệt và sự mưu trí khi chiến đấu với quân giặc.
Ngày xưa, Yết Kiêu là một người dân nghèo sống bằng nghề đánh cá. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng khỏe mạnh và có tài bơi lặn giỏi. Ông có thể lặn rất lâu dưới nước và bơi nhanh như cá.
Khi quân Nguyên – Mông sang xâm lược nước ta, Yết Kiêu vô cùng căm giận. Ông nghĩ rằng đất nước đang gặp nguy hiểm, mình không thể chỉ đứng nhìn. Vì thế, ông tìm đến vua Trần và xin được góp sức đánh giặc.
Nhà vua hỏi:
– Nhà ngươi có tài gì mà muốn ra trận?
Yết Kiêu thưa:
– Muôn tâu bệ hạ, thần có thể lặn sâu dưới nước nhiều giờ mà không cần ngoi lên thở. Xin cho thần được dùng tài ấy để đánh thuyền giặc.
Nhà vua nghe xong rất mừng và giao cho ông nhiệm vụ phá thuyền giặc.
Yết Kiêu cùng quân lính chuẩn bị những chiếc dùi sắt sắc nhọn. Khi đoàn thuyền của quân giặc tiến đến, ông lặng lẽ lặn xuống dưới nước. Không ai nhìn thấy bóng dáng ông. Ông bơi đến gần những chiếc thuyền chiến của giặc rồi dùng dùi sắt đục thủng đáy thuyền. Nước tràn vào, thuyền giặc từ từ chìm xuống.
Cứ như vậy, Yết Kiêu liên tục lặn xuống, phá từng chiếc thuyền. Quân giặc vô cùng hoảng sợ. Chúng không biết kẻ nào đang âm thầm tấn công mình. Nhiều thuyền chiến bị chìm khiến đội quân xâm lược rơi vào cảnh hỗn loạn.
Nhờ tài năng và lòng dũng cảm của Yết Kiêu cùng sự chiến đấu của quân dân nhà Trần, quân giặc cuối cùng phải chịu thất bại và rút khỏi nước ta.
Câu chuyện khiến em rất khâm phục Yết Kiêu. Ông đã biết sử dụng tài năng của mình để bảo vệ quê hương. Em hiểu rằng mỗi người đều có những khả năng riêng. Điều quan trọng là phải biết rèn luyện và sử dụng khả năng ấy vào những việc có ích. Lòng yêu nước không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao mà có thể được thể hiện bằng việc sẵn sàng góp sức khi quê hương cần.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 11
Em từng được nghe bà kể câu chuyện “Sự tích Hồ Gươm”. Câu chuyện kể về Lê Lợi – người anh hùng đã lãnh đạo nghĩa quân Lam Sơn chống lại quân Minh xâm lược. Trong câu chuyện ấy, hình ảnh thanh gươm thần và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc.
Ngày ấy, giặc Minh sang xâm lược nước ta. Chúng gây ra biết bao đau khổ cho nhân dân. Trước cảnh đất nước bị giặc chiếm đóng, Lê Lợi vô cùng căm phẫn. Ông dựng cờ khởi nghĩa ở vùng Lam Sơn và kêu gọi nhân dân cùng đứng lên đánh giặc.
Những ngày đầu, nghĩa quân Lam Sơn gặp rất nhiều khó khăn. Quân số ít, vũ khí thiếu thốn, lương thực cũng không đủ. Trong khi đó, quân Minh đông và có nhiều vũ khí mạnh. Tuy vậy, Lê Lợi và nghĩa quân không hề nản chí.
Một hôm, Lê Thận – một người đánh cá – kéo lưới trên sông. Trong lưới của ông có một thanh sắt rất lạ. Ông đem về nhà, nhưng không ngờ đó lại là lưỡi gươm. Sau này, khi đến tham gia nghĩa quân Lam Sơn, Lê Lợi nhìn thấy thanh gươm ấy và nhận ra trên lưỡi gươm có hai chữ “Thuận Thiên”.
Không lâu sau, Lê Lợi lại tìm thấy chuôi gươm trong một khu rừng. Khi ghép chuôi và lưỡi lại, thanh gươm vừa khít như đã được tạo ra để dành cho nhau. Mọi người tin rằng đây là thanh gươm thần được trao cho người lãnh đạo nghĩa quân.
Có thanh gươm thần trong tay, Lê Lợi càng thêm quyết tâm. Ông cùng nghĩa quân Lam Sơn ngày đêm chiến đấu. Từ những trận đánh nhỏ, nghĩa quân dần lớn mạnh. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, người góp sức, người góp của, người tham gia đánh giặc.
Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, nghĩa quân liên tiếp giành được thắng lợi. Quân Minh thất bại nặng nề, cuối cùng phải rút khỏi nước ta. Đất nước trở lại thanh bình, nhân dân được sống trong những ngày yên vui.
Sau khi lên ngôi, một hôm Lê Lợi đi thuyền trên hồ Tả Vọng. Bỗng một con rùa vàng nổi lên mặt nước, tiến về phía thuyền. Lê Lợi rút thanh gươm ra. Rùa vàng ngậm lấy thanh gươm rồi lặn xuống hồ. Từ đó, hồ Tả Vọng được gọi là Hồ Gươm.
Câu chuyện về Lê Lợi khiến em vô cùng tự hào. Em hiểu rằng để bảo vệ quê hương, người anh hùng cần có lòng yêu nước, ý chí kiên cường và sự đoàn kết với nhân dân. Thanh gươm thần trong câu chuyện cũng như một biểu tượng cho sức mạnh chính nghĩa. Dù kẻ thù có mạnh đến đâu, nếu nhân dân đồng lòng và quyết tâm bảo vệ đất nước thì nhất định có thể giành được thắng lợi.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 12
Trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam, hình ảnh Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân cứu nước luôn là biểu tượng rực rỡ nhất cho sức mạnh quật cường và tinh thần yêu nước của dân tộc ta. Mỗi lần nghe lại câu chuyện này, trong em lại dâng lên một niềm tự hào mãnh liệt về truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông.
Chuyện kể rằng vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông bà lão chăm chỉ, ăn ở phúc đức nhưng mãi vẫn chưa có một người con. Một hôm, bà lão ra đồng thấy một vết chân rất to liền đặt chân mình vào ướm thử. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh ra một đứa trẻ khôi ngô, đặt tên là Gióng. Kỳ lạ thay, chú bé đã lên ba tuổi mà vẫn nằm ngửa, không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi.
Thời bấy giờ, thế lực giặc Ân tràn sang xâm lược nước ta. Chúng đốt phá, cướp bóc, làm cho nhân dân ta vô cùng lầm than. Vua Hùng lo lắng liền sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi ra cứu nước. Khi sứ giả đi qua làng Gióng, cất tiếng rao loan tin, cất tiếng nói đầu tiên của cậu bé ba tuổi lại là một lời đề nghị đĩnh đạc: – Mẹ mời sứ giả vào đây cho con!
Gặp sứ giả, Gióng dõng dạc tâu: – Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ đánh tan lũ giặc này!
Từ sau hôm đó, một sự thay đổi kỳ diệu đã diễn ra. Chú bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc vừa xong đã chật. Dân làng ai nấy đều phấn khởi, gom góp từng thúng gạo, từng củ khoai để nuôi Gióng, vì ai cũng hiểu rằng cậu bé chính là hy vọng duy nhất của quê hương.
Khi giặc đã đến chân núi Trâu Sơn, tình thế vô cùng cấp bách. Đúng lúc ấy, sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Gióng vươn vai một cái liền biến thành một trang nam tử sức vóc tráng lệ, oai phong lẫm liệt. Người anh hùng mặc giáp sắt, cầm roi sắt, nhảy lên lưng ngựa. Con ngựa sắt hí vang một tiếng dài, phun ra ngọn lửa đỏ rực rồi phi như bay ra chiến trường.
Đến nơi, Thánh Gióng xông thẳng vào trận tuyến kẻ thù. Roi sắt vung lên đến đâu, giặc chết như rạ đến đó. Giữa lúc trận chiến đang diễn ra quyết liệt thì roi sắt bất ngờ bị gãy. Không một chút nao núng, Gióng nhanh trí nhổ những bụi băm tre bên đường quật liên tiếp vào quân địch. Lũ giặc Ân hoảng loạn, giẫm đạp lên nhau chạy trốn, gục ngã dưới chân người anh hùng.
Sau khi quét sạch bóng dáng quân xâm lược, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên đỉnh núi Sóc Sơn. Tại đây, người anh hùng cởi bỏ tấm áo giáp sắt để lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay thẳng lên trời xanh.
Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ giải thích những dấu tích lịch sử như ao hồ hình vết chân ngựa hay bụi tre đằng ngà ngả màu vàng óng, mà quan trọng hơn, câu chuyện đã khắc họa trọn vẹn hình hình ảnh người anh hùng bất tử của lòng dân. Sự đoàn kết của dân làng nuôi Gióng cùng sức mạnh phi thường của người anh hùng là bài học muôn đời về tinh thần yêu nước và ý chí bảo vệ độc lập dân tộc.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 13
Trong lịch sử chống ngoại xâm hào hùng của dân tộc, Hai Bà Trưng là biểu tượng rực rỡ cho tinh thần bất khuất và lòng quả cảm của người phụ nữ Việt Nam. Câu chuyện về hai vị nữ anh hùng phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Hán gian ác luôn khơi dậy trong em niềm tự hào sâu sắc.
Vào đầu thế kỷ thứ nhất, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Chúng đặt ra muôn vàn thứ thuế nặng nề, vơ vét tài nguyên và bóc lột nhân dân ta vô cùng dã man. Thái thú Tô Định nổi tiếng tham lam và ác độc. Bất bình trước cảnh nước mất nhà tan, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị – vốn là con gái Lạc tướng vùng Mê Linh – đã cùng nhân dân bí mật chiêu mộ binh sĩ, rèn luyện vũ khí chờ ngày khởi nghĩa. Khi chồng của bà Trưng Trắc là Thi Sách bị Tô Định hại chết, nỗi đau gia đình càng biến thành quyết tâm cứu nước.
Mùa xuân năm 40, trên dòng sông Hát lịch sử, Hai Bà Trưng trang nghiêm làm lễ tế cờ khởi nghĩa. Lời thề quyết tâm phất cờ đánh đuổi kẻ thù vang vọng khắp đất trời. Hai Bà mặc giáp vàng, cưỡi trên lưng hai con voi chiến dũng mãnh, dẫn đầu đoàn quân xông thẳng vào sào huyệt kẻ thù. Tiếng trống đồng âm vang kết hợp cùng khí thế hừng hực của quân ta khiến giặc Hán hoảng loạn, khiếp sợ.
Trước sức tấn công như vũ bão của nghĩa quân, các thành trì của địch lần lượt sụp đổ. Thái thú Tô Định sợ hãi phải cắt tóc, cạo râu, cải trang thành dân thường để lén lút trốn về nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân đã quét sạch bóng giặc, thu phục lại 65 thành trì, khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc.
Hình ảnh Hai Bà Trưng oai phong lẫm liệt trên lưng voi chiến đã trở thành tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước. Câu chuyện khẳng định rằng khi dân tộc ta đoàn kết một lòng, dù là nam hay nữ đều có thể đứng lên đập tan mọi gông cồng xâm lược.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 14
Nhắc đến những trang sử chống giặc ngoại xâm lẫy lừng của dân tộc, em không thể nào quên truyền thuyết về anh hùng Ngô Quyền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử năm 938, mở ra một kỷ nguyên độc lập lâu dài cho đất nước.
Năm 938, quân Nam Hán mượn cớ sang xâm lược nước ta bằng đường thủy. Vua Nam Hán sai con trai là Hoằng Thao chỉ huy một hạm đội thuyền chiến lớn tiến vào cửa sông Bạch Đằng. Đứng trước họa xâm lược, Ngô Quyền – một vị tướng tài ba, trí dũng song toàn – đã đứng ra kêu gọi nhân dân cùng đứng lên đánh giặc.
Nhận thấy sông Bạch Đằng có con nước thủy triều lên xuống rất mạnh, Ngô Quyền đã nảy ra một kế sách vô cùng độc đáo. Ông cho binh sĩ vào rừng đẽo gọt hàng ngàn cây gỗ lớn, vót nhọn đầu rồi bọc sắt cứng, sau đó đem đóng dày đặc xuống lòng sông ở những vị trí hiểm yếu.
Khi thủy triều dâng cao phủ kín các cọc nhọn, Ngô Quyền cử các thuyền nhẹ ra nghênh chiến rồi giả vờ thua chạy. Hoằng Thao chủ quan, thúc quân đuổi theo vượt qua vùng cọc ngầm. Đợi đến khi thủy triều rút nhanh, Ngô Quyền lập tức ra lệnh cho quân ta quay đầu đánh trả dữ dội. Bị tấn công bất ngờ, thuyền giặc tháo chạy thảm hại. Lúc này, nước sông rút xuống làm lộ ra bãi cọc nhọn hoắt. Các thuyền chiến lớn của địch đâm phải cọc bị va đập, thủng vỡ và đắm hàng loạt. Hoằng Thao bỏ mạng giữa dòng sông, quân Nam Hán hoàn toàn đại bại.
Trí thông minh và sự quyết đoán của Ngô Quyền đã đập tan mộng xâm lược của phương Bắc. Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ thể hiện tài nghệ quân sự kiệt xuất mà còn là niềm tự hào vô giá của dân tộc Việt Nam.
Viết bài văn kể lại câu chuyện dân gian về một người anh hùng chống ngoại xâm - mẫu 15
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một trong những vị anh hùng dân tộc vĩ đại nhất, người đã ba lần lãnh đạo quân dân nhà Trần đánh tan quân Mông - Nguyên hung hãn bậc nhất thế giới thời bấy giờ.
Vào thế kỷ XIII, đế quốc Mông - Nguyên với quân đông như kiến, ngựa chiến đông đúc tràn sang xâm lược nước ta. Chúng đi đến đâu là đốt phá, chém giết đến đó, khiến lòng người không khỏi hoang mang. Trong thời khắc nguy cấp của đất nước, Trần Quốc Tuấn được vua Trần tin tưởng giao quyền Quốc công tiết chế, chỉ huy toàn bộ quân đội. Ông không chỉ là một nhà quân sự thiên tài mà còn là tấm gương sáng về lòng trung thành và tinh thần yêu nước.
Để xóc lại tinh thần tướng sĩ, ông đã viết bài "Hịch tướng sĩ" đập tan sự sợ hãi, khơi dậy chí khí sục sôi của toàn quân. Dưới sự chỉ huy sáng suốt của ông, quân dân nhà Trần đã thực hiện kế sách "vườn không nhà trống", chủ động rút lui để tiêu hao lực lượng địch, làm cho chúng rơi vào cảnh thiếu lương thực và mệt mỏi.
Khi thời cơ đến, Trần Quốc Tuấn mở các đợt phản công chiến lược ở Đông Bộ Đầu, Tây Kết, Hàm Tử, Vân Đồn... làm cho quân địch khiếp vía. Đặc biệt, bằng việc kế thừa và phát triển trận địa cọc nhọn trên sông Bạch Đằng, ông một lần nữa nhấn chìm toàn bộ hạm đội giặc, bắt sống nhiều tướng giỏi của địch.
Sức mạnh trí tuệ, lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận" do Trần Quốc Tuấn gầy dựng đã tạo nên sức mạnh kỳ diệu. Tên tuổi của ông mãi mãi gắn liền với những trang sử vàng chói lọi của dân tộc.
Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 4 hay khác:
- Nói 2 – 3 câu giới thiệu về quê hương em hoặc địa phương em. Cảnh vật nào ở đó khiến em nhớ nhất? Vì sao?
- Tìm đọc các bài văn miêu tả cây cối. Ghi lại những câu văn hay mà em muốn học tập.
- Trao đổi cùng bạn: Dấu hiệu nào của thời tiết giúp em nhận ra mùa xuân đang về, Tết sắp đến?
- Em hãy giới thiệu về một miền quê em yêu mến
- Giới thiệu một lễ hội mùa xuân mà em biết
Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 4 hay khác:
TÀI LIỆU CLC DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH LỚP 4
Bộ giáo án, bài giảng powerpoint, đề thi file word có đáp án 2026 tại https://tailieugiaovien.com.vn/
Hỗ trợ zalo: VietJack Official
Tổng đài hỗ trợ đăng ký: 084 283 45 85
Công cụ giáo viên (2048.VN)
Tạo- trộn đề thi miễn phí từ file PDF, Word, Giao bài nhanh chóng, Hoàn toàn Free
Loạt bài Soạn, giải Tiếng Việt lớp 4 của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Tiếng Việt lớp 4 Tập 1 và Tập 2 Kết nối tri thức (NXB Giáo dục).
- Giáo án lớp 4 (các môn học)
- Bài tập cuối tuần lớp 4 Toán, Tiếng Việt (có đáp án)
- Đề thi lớp 4 (các môn học)
- Giải sgk Tiếng Việt lớp 4
- Giải Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4
- Giải sgk Toán lớp 4
- Giải Vở bài tập Toán lớp 4
- Giải Tiếng Anh lớp 4 Global Success
- Giải sgk Đạo đức lớp 4
- Giải sgk Khoa học lớp 4
- Giải sgk Lịch Sử và Địa Lí lớp 4
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm lớp 4
- Giải sgk Tin học lớp 4
- Giải sgk Công nghệ lớp 4
Dành cho bạn
Công cụ giáo viên
- Tạo đề online từ PDF / Word
- Trộn nhiều mã đề, in Offline
- Giao bài online, Quản lí lớp học

