Viết bài văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc (17 mẫu)

Tổng hợp các đoạn văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc, đã nghe lớp 4 hay nhất giúp bạn có thêm đoạn văn, bài văn mẫu tham khảo để học tốt môn Tiếng Việt lớp 4.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một nhân vật lịch sử mà em đã đọc (17 mẫu)

Quảng cáo

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 1

Đất nước Việt Nam đã sản sinh ra rất nhiều anh hùng. Trong số đó, Trần Quốc Toản là vị anh hùng đáng ngưỡng mộ và cảm phục.

Trần Quốc Toản (không rõ năm sinh, năm mất), hiệu là Hoài Văn hầu, là một tông thất nhà Trần.

Vào năm 1282, vua Trần Nhân Tông cho tổ chức Hội nghị gồm các Vương hầu và tướng lĩnh tại bến Bình Than để bàn kế sách chống giặc Mông - Nguyên. Vì còn ít tuổi nên Trần Quốc Toản không được tham dự. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn uất, tay cầm quả cam mà bóp nát lúc nào không biết.

Không nản lòng, Trần Quốc Toản lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc sắm vũ khí, đóng chiến thuyền viết lên cờ sáu chữ “phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, đền ơn vua). Tiếng vang của Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng lan truyền khắp mọi nơi.

Quảng cáo

Đến năm 1285, quân Mông - Nguyên tràn vào xâm lược nước ta. Lúc này, lá cờ thêu sáu chữ vàng của Hoài Văn hầu xuất hiện trên nhiều mặt trận. Ông đã trực tiếp chỉ huy quân đội sát cánh cùng quân chủ lực của triều đình góp phần làm nên những chiến thắng vang dội ở Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương. Quân giặc phải bỏ Thăng Long, chạy về Kinh Bắc (Bắc Ninh) để tìm đường về nước. Sau này, khi ông hy sinh, vua Trần hết sức thương tiếc, cho cử hành tang lễ và đích thân làm văn tế và truy tặng Trần Quốc Toản tước Hoài Văn Vương.

Không nản lòng, Trần Quốc Toản lui về huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc sắm vũ khí, đóng chiến thuyền viết lên cờ sáu chữ “phá cường địch, báo hoàng ân” (Phá giặc mạnh, đền ơn vua). Tiếng vang của Quốc Toản với lá cờ thêu sáu chữ vàng lan truyền khắp mọi nơi.

Đến năm 1285, quân Mông - Nguyên tràn vào xâm lược nước ta. Lúc này, lá cờ thêu sáu chữ vàng của Hoài Văn hầu xuất hiện trên nhiều mặt trận. Ông đã trực tiếp chỉ huy quân đội sát cánh cùng quân chủ lực của triều đình góp phần làm nên những chiến thắng vang dội ở Hàm Tử, Tây Kết, Chương Dương. Quân giặc phải bỏ Thăng Long, chạy về Kinh Bắc (Bắc Ninh) để tìm đường về nước. Sau này, khi ông hy sinh, vua Trần hết sức thương tiếc, cho cử hành tang lễ và đích thân làm văn tế và truy tặng Trần Quốc Toản tước Hoài Văn Vương.

Quảng cáo

Trần Quốc Toản không chỉ có tài năng mà còn mang những phẩm chất tốt đẹp như dũng cảm, kiên cường và nghị lực. Ông đã trở thành tấm gương sáng ngời về ý chí và lòng yêu nước để các thế hệ trẻ Việt Nam noi theo.

Dàn ý Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc

a) Mở bài:

- Giới thiệu nhân vật lịch sử mà em muốn kể.

- Nhân vật đó là ai? Em biết câu chuyện về nhân vật qua sách, báo, thầy cô, ông bà hoặc một nguồn nào khác?

- Nêu ấn tượng chung của em về nhân vật.

b) Thân bài:

1. Giới thiệu khái quát về nhân vật

- Nhân vật sinh ra trong hoàn cảnh nào?

- Nhân vật có những phẩm chất đáng quý gì?

- Câu chuyện xảy ra vào thời gian, địa điểm nào?

2. Kể diễn biến câu chuyện

- Mở đầu câu chuyện: Sự việc gì đã xảy ra?

- Nhân vật đã làm gì trước tình huống đó?

- Những sự việc chính diễn ra theo trình tự:

+ Sự việc 1: Nhân vật gặp một tình huống hoặc nhiệm vụ quan trọng.

+ Sự việc 2: Nhân vật hành động, vượt qua khó khăn, thử thách.

+ Sự việc 3: Cao trào của câu chuyện, thể hiện rõ lòng dũng cảm, trí thông minh hoặc phẩm chất đáng quý của nhân vật.

+ Sự việc 4: Kết thúc câu chuyện và kết quả của những hành động ấy.

- Khi kể, chú ý sử dụng các từ ngữ chỉ thời gian, địa điểm, hành động và lời nói để câu chuyện sinh động.

Quảng cáo

3. Nêu phẩm chất, ý nghĩa của nhân vật

- Nhân vật đã thể hiện những phẩm chất đáng quý nào?

- Hành động của nhân vật có ý nghĩa gì?

- Câu chuyện để lại bài học gì cho em?

c) Kết bài:

- Nêu tình cảm, suy nghĩ của em đối với nhân vật lịch sử.

- Khẳng định sự ngưỡng mộ, biết ơn đối với những đóng góp của nhân vật.

- Nêu điều em muốn học tập ở nhân vật.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 2

Để có một đất nước không có chiến tranh, bộ đội và các chiến sĩ, các vị anh hùng của dân tộc đã phải đổ máu để dành lại tự do. Trong những người chiến sĩ dũng cảm đó, có trẻ nhỏ, có thiếu niên, có người trưởng thành. Và một trong những người anh hùng nhỏ tuổi mà em rất ngưỡng mộ, đó là anh Kim Đồng.

Một lần, sau khi làm nhiệm vụ dẫn cán bộ vào căn cứ, Kim Đồng đang trên đường trở về nhà thì nghe có tiếng động lạ ở trong rừng. Kim Đồng liền rủ Cao Sơn tìm cách báo động cho các anh cán bộ đang ở trong xóm biết. Sau khi quan sát, Kim Đồng đã nhìn thấy bọn lính đang lợi dụng sương mù phục kích trên đường vào xóm và im lặng đợi bắt người. Kim Đồng bảo Cao Sơn lùi về phía sau, chạy về báo cáo. Đợi cho bạn đi rồi, Kim Đồng ngắm kĩ địa hình, để chạy vọt qua suối, lên phía rừng. Như vậy, bọn lính sẽ phải nổ súng hoặc kêu lên. Chúng nó sẽ bị lộ. Quả nhiên, thấy có bóng người chạy, bọn giặc lên đạn và hô: “Đứng lại!”.

Kim Đồng không dừng chân. Giặc bắn theo.

Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên rừng. Song, Kim Đồng đã bị trúng đạn và anh dũng hy sinh tại chỗ, ngay bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là sáng sớm ngày 15 tháng 02 năm 1943.

Em rất ngưỡng mộ anh Kim Đồng. Anh đã nêu lên một tấm gương vì cách mạng quên mình, hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ cách mạng. Sự hy sinh đó là tấm gương sáng chói mở đầu cho nhiều gương cao quí khác trong đội ngũ Đội viên Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.

Anh Kim Đồng xứng đáng là một người anh hùng. Một người chết cho đân tộc, đã dâng cả đời mình để cứu lấy sự hoà bình, ấm no. Anh sẽ luôn sống mãi trong tâm trí của mỗi người theo năm tháng không bao giờ phai.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 3

Trong những năm tháng chiến tranh, rất nhiều người con của mảnh đất Việt Nam đã hy sinh để bảo vệ và đấu tranh cho nền độc lập của dân tộc. Một trong số đó là Võ Thị Sáu - nữ anh hùng huyền thoại vùng Đất Đỏ.

Võ Thị Sáu sinh năm 1933, mất năm 1952. Nguyên quán được ghi trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Ngay từ khi còn nhỏ, chị đã cùng với anh trai tham gia cách mạng. Chị tham gia vào đội công an xung phong, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, tiếp tế. Trong thời gian này, chị tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương. Không chỉ vậy, chị cũng nhiều lần phát hiện ra gian tế, tay sai Pháp, giúp đội công an thoát khỏi nguy hiểm, chủ động tấn công địch.

Một lần nọ, chị nhận nhiệm vụ mang lựu đạn phục kích giết tên cai Tòng - một tên Việt gian bán nước ngay tại xã nhà. Lựu đạn nổ, tên Tòng bị thương nặng nhưng không chết. Tuy nhiên, vụ tấn công khiến bọn lính đồn khiếp vía, không dám truy lùng Việt Minh ráo riết như trước. Sau này, trong một lần thực hiện nhiệm vụ, chị đã bị giặc bắt. Sau khi bị bắt, cô lần lượt bị đưa đi thẩm vấn và giam giữ tại các nhà tù Đất Đỏ, khám đường Bà Rịa và khám Chí Hòa. Thực dân Pháp đã cho mở phiên tòa, thời điểm này, chị vẫn chưa tròn mười tám tuổi. Luật sư biện hộ đã lấy đó làm căn cứ để giúp chị thoát khỏi án tử hình, nhưng tòa án vẫn tuyên án tử hình chị. Chúng chuyển chị cùng một số người tù cách mạng ra nhà tù Côn Đảo. Ở đây, thực dân Pháp đã lén lút đem chị đi tử hình.

Vào năm 1993, Nhà nước đã trân trọng truy tặng chị Huân chương chiến công hạng Nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Chị Võ Thị Sáu chính là một biểu tượng về lòng dũng cảm, kiên cường.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 4

Trong lịch sử nước ta có rất nhiều anh hùng với tuổi đời còn rất nhỏ, họ là những người thiếu niên với tấm lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc và đã giác ngộ Cách mạng từ rất sớm. Họ đã dạy chúng ta về lòng dũng cảm, lòng yêu nước sâu nặng, tinh thần quả cảm và tinh thần học hỏi không ngừng. Đối với tôi, những người thiếu niên đó đã giúp tôi có thêm những niềm cảm hứng tốt đẹp trong từng suy nghĩ, từng hành động và ước mơ của mình. Và có lẽ, người anh hùng thiếu niên Kim Đồng là người mà tôi yêu kính,khâm phục và là nguồn cảm hứng lớn nhất trong tôi.

Kim Đồng, anh tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1928, là một người dân tộc Nùng tại tỉnh Cao Bằng. Tuy là người dân tộc thiểu số, nhưng được sinh ra trong cái nôi Cách mạng nên anh sớm đã giác ngộ lý tưởng Cách mạng và trở thành đội trưởng đội Nhi đồng cứu quốc. Tuy còn nhỏ nhưng Kim Đồng đã nhận thức rõ được nhiệm vụ của Cách mạng và khuyến khích, vận động các bạn khác đi theo hoạt động và làm liên lạc cho Việt Minh.

Năm 1943, khi đó, Kim Đồng mới mười lăm tuổi, trong một lần làm nhiệm vụ canh gác, anh đã anh dũng hi sinh khi bảo vệ các đồng chí lãnh đạo rút lui về chiến khu an toàn. Anh hi sinh khi tuổi đời còn rất nhỏ, và sự hi sinh của anh đã trở thành tấm gương sáng chói để lớp thiếu niên thế hệ sau noi theo.

Ở Kim Đồng, chúng ta học được sự thông minh, nhanh nhẹn, lòng dũng cảm và lòng yêu nước sâu sắc. Vâng lời Bác Hồ đã dặn, thiếu niên chúng ta phải luôn biết "yêu Tổ quốc, yêu đồng bào". Từ tấm gương anh hùng Kim Đồng, chúng ta được truyền thêm nguồn cảm hứng để thực hiện được điều đó. Mỗi người thiếu niên chúng ta cần phải rèn luyện đạo đức, tác phong của mình, học tập thật chăm chỉ, tham gia các lớp ngoại khóa về chủ quyền dân tộc cũng như tuyên truyền để bảo vệ đất nước của mình. Kim Đồng cũng đã truyền cho tôi động lực và ước mơ được trở thành một người lính cầm súng bảo vệ quê hương mình. Chính anh là người đã khơi lên tình yêu nước trong tôi và lòng quyết tâm thực hiện ước mơ của mình để góp phần giữ gìn Tổ quốc như anh đã từng làm.

Chắc hẳn, không chỉ tôi mà toàn bộ người dân Việt Nam đều khâm phục lòng yêu nước vô cùng của Kim Đồng. Anh sẽ mãi mãi là tượng đài bất hủ của thiếu niên chúng ta về lòng yêu nước và sự can đảm, lòng dũng cảm của mình.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 5

Có một nữ anh hùng mà tôi luôn ngưỡng mộ, đó chính là Hai Bà Trưng. Tôi tìm hiểu thêm về cuộc đời của bà qua những thông tin trên báo chí, internet. Qua đó, tôi càng xúc động và khân phục trước hành động dũng cảm mà họ đã làm để trở thành những anh hùng dân tộc. Để tôi kể cho các bạn nghe câu chuyện này nhé!

Hai Bà Trưng sống trong thời kỳ đất nước bị xâm lược và chiến tranh không ngừng. Họ thấy bất bình trước tình trạng bị áp bức của nhân dân, vì thế đã rèn luyện võ nghệ và chờ đợi ngày giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, tất cả đã bắt đầu khi quan giặc Thi Sách giết chồng của bà Trưng Trắc. Hai bà quyết định nổi dậy khởi nghĩa chống lại kẻ thù ngoại xâm.

Hai Bà Trưng trở nên mạnh mẽ và thông thạo chiến lược. Đội quân của họ ngày càng đông hơn, chiến thắng quân địch và khiến kẻ thù kinh hãi. Nhưng cuối cùng, quân thù bắt đầu đến với binh viện trợ, dồn áp lực lên quân ta. Hai Bà Trưng đã chiến thắng, nhưng không kéo dài được lâu.

Tình thế khó khăn khiến hai bà bị dồn vào vách núi và quyết định tự vẫn để không rơi vào tay kẻ thù. Tinh thần kiên cường của hai bà vẫn khiến tôi cảm phục đến ngày hôm nay. Hai Bà Trưng cũng là minh chứng rõ nét và hùng hồn về những người phụ nữ Việt Nam dù thời nào cũng luôn quật cường, anh dũng, chẳng thua kém bất cứ đấng nam nhi nào.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 6

Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh. Rất nhiều vị anh hùng đã góp phần làm nên lịch sử của dân tộc. Một trong số đó phải kể đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh là Võ Giáp, bí danh là Văn. Ông sinh năm 1911, mất năm 2013. Quê tại làng An Xá, nay là xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước, nên từ nhỏ đã được giáo dục về lòng căm thù giặc và tình yêu quê hương, đất nước.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng, giao cho nắm giữ trọng trách quan trọng. Chuyện kể rằng cuối năm 1954, Ban Thường vụ T.Ư quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận. Trước khi ra mặt trận, Bác Hồ có hỏi: “Chú đi xa như vậy, chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại?”. Đại tướng trả lời: “Thưa Bác, chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề gì quan trọng, khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị!”. Bác bảo: “Tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định rồi báo cáo sau”. Khi chia tay, Bác căn dặn: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh!”.

Nhờ có sự tin tưởng tuyệt đối của Bác Hồ đã củng cố quyết tâm thực hiện phương châm tác chiến phải “đánh chắc, tiến chắc” của Đại tướng. Kết quả là chiến dịch Điện Biên Phủ đã giành thắng lợi vẻ vang.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được coi là người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông đã trở thành tấm gương sáng ngời để thế hệ sau noi theo.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 7

Đất nước Việt Nam có rất nhiều vị anh hùng nổi tiếng. Nhưng em cảm thấy ngưỡng mộ và khâm phục nhất là Trần Quốc Toản.

Vốn là dòng dõi con nhà võ, từ thuở nhỏ Trần Quốc Toản đã làu thông sử sách và rất giỏi võ công mưu lược. Năm Trần Quốc Toản 15 tuổi, vua Trần triệu tập “Hội nghị Bình Than” - (Nay thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh), gồm toàn thể các quan đại thần và các tướng lĩnh để bàn kế đánh giặc Nguyên Mông. Vì tuổi còn nhỏ nên Trần Quốc Toản đến nhưng vua không cho vào dự họp bàn lại còn an ủi ban thưởng cho một quả cam... Trần Quốc Toản lấy làm xấu hổ, nghĩ vua vẫn coi mình như là con nít. Rồi với lòng buồn tủi và căm thù giặc uất nghẹn trào lên, cậu bé Quốc Toản đã bóp nát quả cam trong tay mình lúc nào mà không hay biết!

Trở về, Trần Quốc Toản “bí mật” huy động gia nô tùy tùng, bạn bè thân hữu (đa phần là tuổi thiếu niên) khoảng hơn nghìn người, tổ chức đúc rèn binh khí, đóng chiến thuyền và dựng một lá cờ to thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo Hoàng ân” để chờ ngày xuất binh.

Đầu năm 1285, giặc Nguyên Mông ồ ạt kéo sang xâm lược nước Nam. Trần Quốc Toản chỉ huy “đội quân thiếu niên” của mình, sát cánh với đội quân của thượng tướng Trần Quang Khải “đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy đều phải tránh lại, không kẻ nào dám đối địch”... Đến tháng 6 năm đó, giặc Nguyên Mông bị quân dân ta căng ra đánh ở khắp nơi khiến cho chúng hao tổn lực lượng và thất bại liên tiếp. Thừa thắng, Hoài văn hầu Trần Quốc Toản cùng với tướng quân Nguyễn Khoái đem binh đi chặn đón đánh giặc ở Tây Kết. Trận này giặc thua to, tan rã ra từng mảng, tìm đường tháo chạy về nước. Khi giặc Nguyên Mông rút chạy đến sông Như Nguyệt (đoạn ở Thị Cầu bây giờ) vua Trần Thánh Tông đã sai Hoài văn hầu Trần Quốc Toản đến chặn đánh. Trận đánh ấy diễn ra rất căng thẳng gay go. Bọn giặc tuy bị thua chạy nhưng chúng chống trả rất quyết liệt! Và... Hoài văn hầu Trần Quốc Toản đã anh dũng hy sinh trong trận đánh này lúc vừa tròn 18 tuổi. Đó là vào trung tuần tháng 6 năm Ất Dậu (1285). Được tin, vua Trần Thánh Tông vô cùng thương xót, tự mình làm văn tế lễ và truy phong tước vương để ghi nhận công lao đánh giặc.

Hoài đức vương Trần Bà Liệt (bố đẻ của Trần Quốc Toản) khi qua đời, thi hài được mang về an táng tại quê mẹ ở làng Sặt nay là khu phố Trang Liệt (tức trang trại của Trần Bà Liệt). Nơi đây còn khu ruộng diện tích gồm 41 mẫu Bắc bộ trước kia có ghi ở trong “địa bạ” mà người dân địa phương vẫn thường gọi là “Trần triều sơn lăng”. Khu đồng này trong hương ước làng đã quy định: Chỉ dành riêng để trồng cây Lim lấy gỗ phục vụ cho việc tu sửa và kiến thiết xây dựng đình, đền, chùa. Nên từ xa xưa mới có tên gọi là “Rừng Sặt”, “Làng Sặt”... Đình làng Trang Liệt phụng thờ thượng tướng quân Trần Quang Khải với bài thơ nổi tiếng của ông được làm sơn mài rất trang trọng tôn nghiêm:

“Đoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ cựu giang san”

Dịch nghĩa:

Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước mãi ngàn thu!

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 8

Trong những câu chuyện về nhân vật lịch sử đã được đọc, em rất yêu thích câu chuyện Ông Yết Kiêu - một câu chuyện kể dân gian về người anh hùng tài giỏi.

Yết Kiêu là một người anh hùng sống ở thời Trần của nước ta. Ông sinh ra và lớn lên với sức khỏe phi thường và khả năng bơi lội, lặn dưới nước rất giỏi. Khi nghe tin đất nước phải đối mặt với giặc Nguyên hùng mạnh sang xâm lược, Yết Kiêu vô cùng lo lắng. Lúc ông biết giặc cử 100 chiến thuyền tấn công nước ta từ cửa biển Vạn Ninh, thì liền quyết định xin đi đánh giặc. Bởi ông biết được tài năng của mình sẽ giúp ích rất nhiều cho trận chiến này, nên đã vào cung xin vua được ra trận. Thấy Yết Kiêu trổ tài, nhà vua rất vui mừng và tin tưởng giao cho ông trọng trách ngăn chặn các chiến thuyền của giặc. Tuy nhiên, khi nhà vua hỏi ông cần bao nhiêu binh lính và công cụ để hỗ trợ. Thì ông lại không cần ai đi cùng cả, chỉ xin vua một chiếc dùi đục và một chiếc búa mà thôi.

Chỉ với hai công cụ đó, Yết Kiêu một mình bí mật đi ra biển, truy tìm tàu của địch và đục lỗ khiến các chiến thuyền bị chìm một cách bí ẩn. Điều đó khiến quân giặc vô cùng hoang mang và sợ hãi. Sau này, chúng sử dụng một ống nhòm có mắt bằng thủy tinh, nên phát hiện ra Yết Kiêu đang đục thuyền. Nhân lúc ông tập trung đục đáy thuyền, chúng dùng lưới sắt bắt ông lên. Thấy giặc hằm hè đe dọa, Yết Kiêu giả vờ sợ hãi. Rồi khai ra những thông tin giả để lung lạc bọn chúng. Ông nói rằng nước Nam có rất nhiều người tài như, đều đang chia nhau ra để làm nhiệm vụ. Và hứa rằng nếu địch cởi trói cho ông, ông sẽ dẫn chúng đi bắt những người còn lại. Nghe vậy, lũ giặc tin lắm, liền cởi trói cho ông. Nhờ vậy, chỉ một giây lơ là của lũ giặc, Yết Kiêu đã nhảy xuống biển, lặn mất tăm.

Sau đó, các chiến thuyền của giặc lại bị đắm ngày càng nhiều hơn, nhưng chúng không thể bắt được Yết Kiêu thêm lần nữa. Nhớ lại lời khai của Yết Kiêu, chúng nghĩ bụng nước Nam nhiều người tài như thế thì khó mà thắng được, nên đành rút quân, bỏ chạy về nước.

Người anh hùng Yết Kiêu vừa tài giỏi lại dũng cảm, đa mưu túc trí khiến em vô cùng thán phục và ngưỡng mộ. Em rất biết ơn những người anh hùng lịch sử như ông ấy, vì nhờ có họ mà đất nước ta mới trường tồn, nhân dân mới có cuộc sống bình yên.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 9

Trong suốt hơn nghìn năm dựng nước và giữ nước, đất nước ta đã xuất hiện lớp lớp những anh hùng. Họ trở thành chứng nhân lịch sử, thành biểu tượng hào hùng cho dân tộc. Đã có rất nhiều câu chuyện viết về những người anh hùng ấy. Nhưng em ấn tượng và đọc lại nhiều lần nhất vẫn là câu chuyện Hai Bà Trưng.

Câu chuyện kể về hai nữ anh hùng Trưng Trắc và Trưng Nhị. Đương thời, nước ta đang sống dưới sự cai trị và bóc lột tàn bạo của giặc phương Bắc. Chúng bắt dân ta cống nạp đủ thứ, rồi đày người dân đi săn thú lạ, xuống biển mò ngọc trai. Vì vậy mà nhân dân sống khổ đau, uất hận. Lúc đó, hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị sống ở vùng Mê Linh được mẹ nuôi dạy khôn lớn, không chỉ giỏi võ nghệ mà còn tinh thông binh lược. Hai bà nồng nàn lòng yêu nước và khát khao đánh đuổi giặc xâm lược. Danh tiếng của hai bà vang dội trong lòng dân, nên lũ giặc phương Bắc đang đô hộ rất e ngại. Chúng đã bắt giết chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách hòng đe dọa bà. Nhưng ngờ đâu, hành động đó của chúng lại khiến cơn căm giận của hai bà càng thêm bùng cháy. Hai bà quyết tâm đứng dậy khởi nghĩa, lãnh đạo nhân dân chống lại kẻ thù. Nghĩa quân ầm ầm kéo về thành Luy Lâu hỏi tội Tô Định. Khí thế đoàn quân hào hùng, hai bà mặc áo giáp rực rỡ, cưỡi trên con voi to lớn làm kẻ thù run sợ, lần lượt bại trận thảm hại. Tô Định thất thế phải bỏ chạy về nước trong nhục nhã. Nhờ Hai Bà Trưng, đất nước ta lần đầu tiên đánh thắng giặc xâm lược phương Bắc, dành được độc lập.

Đọc câu chuyện Hai Bà Trưng, em vô cùng xúc động và tự hào về hai bà. Dù là phận nữ nhi nhưng những điều mà hai bà làm được thì cả thế giới phải ngả nón thán phục. Thật tự hào và hạnh phúc khi dân tộc ta có hai nữ anh hùng lịch sử như Hai Bà Trưng.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 10

Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em đã được nghe và đọc rất nhiều câu chuyện về những người anh hùng đã đứng lên bảo vệ quê hương, đất nước. Trong số đó, câu chuyện về Hai Bà Trưng là câu chuyện để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất. Hình ảnh hai người phụ nữ cưỡi voi ra trận, phất cao lá cờ khởi nghĩa đã trở thành biểu tượng đẹp đẽ cho lòng yêu nước, ý chí bất khuất và sức mạnh của nhân dân Việt Nam.

Ngày xưa, đất nước ta bị nhà Hán đô hộ. Nhân dân phải sống trong cảnh vô cùng cực khổ, thường xuyên bị áp bức và bóc lột. Trước tình cảnh ấy, ở vùng Mê Linh có hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hai bà không chỉ là những người phụ nữ có tài mà còn có lòng yêu nước và ý chí mạnh mẽ. Chồng của Trưng Trắc là Thi Sách cũng là người có chí lớn, luôn mong muốn cùng nhân dân đứng lên chống lại quân đô hộ. Biết được điều đó, thái thú Tô Định vô cùng lo sợ nên đã tìm cách sát hại Thi Sách nhằm dập tắt ý chí chống giặc của nhân dân. Tin chồng bị giết khiến Trưng Trắc vô cùng đau đớn. Thế nhưng, nỗi đau ấy không làm bà gục ngã mà biến thành lòng căm thù giặc và quyết tâm cứu nước. Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị quyết định dựng cờ khởi nghĩa tại Hát Môn. Ngày hai bà phất cờ, tiếng trống trận vang lên mạnh mẽ, kêu gọi nhân dân cùng đứng lên đánh giặc. Từ khắp nơi, nghĩa quân và nhân dân kéo về hưởng ứng. Người góp sức, người góp của, tất cả đều chung một lòng đánh đuổi quân xâm lược. Hai Bà Trưng dẫn đầu đoàn quân tiến đánh nhiều thành trì của quân Hán. Trước sức mạnh của nghĩa quân, quân giặc liên tiếp thất bại. Tô Định hoảng sợ, vội vàng bỏ chạy về nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân đã giành lại được nhiều vùng đất, khiến nhân dân vô cùng vui mừng. Trưng Trắc được suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh và bắt đầu xây dựng lại đất nước. Tuy nhiên, sau đó, nhà Hán không chịu từ bỏ ý định xâm lược nên đã sai Mã Viện đem quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Hai bà Trưng cùng nghĩa quân anh dũng chống trả. Dù chiến đấu vô cùng kiên cường, cuối cùng nghĩa quân không thể chống lại lực lượng quá mạnh của quân Hán. Hai bà đã gieo mình xuống dòng sông để giữ trọn khí tiết. Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng tinh thần của Hai Bà Trưng không bao giờ bị khuất phục. Tên tuổi của hai bà vẫn được nhân dân đời đời ghi nhớ và tôn kính.

Câu chuyện về Hai Bà Trưng đã giúp em hiểu thêm về truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm của cha ông. Em vô cùng khâm phục hai bà bởi dù là phụ nữ, hai bà vẫn có thể làm nên những việc lớn lao vì đất nước. Em tự nhủ sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt, sống có trách nhiệm và biết trân trọng những trang sử hào hùng mà cha ông đã để lại.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 11

Tuổi nhỏ thường gắn với những trò chơi hồn nhiên, những ngày tháng vô tư bên gia đình và bạn bè. Thế nhưng trong lịch sử nước ta, có một người thiếu niên dù tuổi đời còn rất trẻ đã mang trong mình một tình yêu nước lớn lao và một ý chí đánh giặc mạnh mẽ. Đó chính là Trần Quốc Toản. Câu chuyện về người anh hùng nhỏ tuổi và quả cam bóp nát đã khiến em vô cùng khâm phục.

Vào thời nhà Trần, đất nước ta đứng trước nguy cơ bị quân Nguyên - Mông xâm lược. Trước tình hình đó, triều đình tổ chức một cuộc hội nghị quan trọng để bàn việc chống giặc. Khi ấy, Trần Quốc Toản tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã sớm có lòng yêu nước và căm thù quân xâm lược. Chàng rất nóng lòng muốn được tham dự hội nghị để nghe bàn việc nước và góp sức đánh giặc. Vì còn nhỏ nên Trần Quốc Toản không được phép vào dự hội nghị. Chàng đứng ngoài, lòng vô cùng nóng ruột. Chàng nghĩ rằng đất nước đang gặp nguy nan, tại sao mình lại không được góp sức? Chàng muốn nói với vua rằng mình cũng có thể đánh giặc, cũng có thể góp một phần sức lực để bảo vệ non sông. Nhưng vì không được vào, chàng đành đứng chờ bên ngoài. Khi vua đi ra, Trần Quốc Toản cố gắng tiến đến để bày tỏ nguyện vọng. Nhà vua thấy chàng còn nhỏ nên ban cho một quả cam để an ủi rồi cho chàng trở về. Cầm quả cam trong tay, Trần Quốc Toản vừa cảm thấy biết ơn nhà vua, vừa tức giận vì mình không được tham gia việc nước. Chàng không nhận ra rằng trong lúc quá xúc động, bàn tay mình đã bóp nát quả cam. Về đến nhà, nhìn quả cam đã nát trong tay, Trần Quốc Toản càng quyết tâm phải làm điều gì đó có ích cho đất nước. Chàng tự mình tập hợp những người có cùng chí hướng, rèn luyện quân sĩ và dựng lá cờ thêu sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. Sáu chữ ấy thể hiện quyết tâm đánh tan giặc mạnh và báo đáp ơn vua của người thiếu niên anh hùng. Dưới lá cờ ấy, đội quân của Trần Quốc Toản ngày càng lớn mạnh. Chàng trực tiếp tham gia chiến đấu chống quân Nguyên - Mông và lập được nhiều chiến công. Hình ảnh người thiếu niên cưỡi ngựa, tay cầm lá cờ sáu chữ vàng, dẫn quân ra trận đã trở thành một hình ảnh đẹp trong lịch sử dân tộc. Điều khiến em cảm phục nhất là Trần Quốc Toản không chỉ nói về lòng yêu nước mà đã biến tình yêu ấy thành hành động. Khi bị từ chối vì tuổi còn nhỏ, chàng không buồn bã hay bỏ cuộc mà tự tìm cách góp sức cho đất nước.

Câu chuyện về Trần Quốc Toản khiến em hiểu rằng tuổi tác không quyết định lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi người. Dù còn nhỏ, Trần Quốc Toản đã có một trái tim lớn và một ý chí đáng khâm phục. Em rất yêu thích hình ảnh quả cam bị bóp nát, bởi đó không chỉ là một chi tiết thú vị mà còn thể hiện lòng yêu nước đang sôi sục trong trái tim người anh hùng trẻ tuổi. Em sẽ luôn ghi nhớ câu chuyện này để tự nhắc mình phải biết cố gắng học tập và sống có trách nhiệm hơn.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 12

Có những câu chuyện lịch sử không kể về những trận đánh lớn hay những chiến công vang dội nhưng vẫn khiến người nghe xúc động bởi sự giản dị và ý nghĩa sâu sắc. Câu chuyện về đôi dép cao su của Bác Hồ là một câu chuyện như thế. Em đã được nghe thầy cô kể về đôi dép đặc biệt ấy và từ đó càng thêm kính yêu, khâm phục vị lãnh tụ của dân tộc.

Sau khi đất nước giành được độc lập, Bác Hồ vẫn giữ một lối sống vô cùng giản dị. Trong những năm tháng làm việc và đi công tác, Bác thường sử dụng một đôi dép cao su được làm từ lốp ô tô cũ. Đôi dép ấy đã theo Bác qua rất nhiều nơi, từ những con đường làng cho đến những chuyến đi công tác. Vì sử dụng trong thời gian dài nên đôi dép nhiều lần bị mòn, quai dép cũng có lúc bị đứt. Những người phục vụ bên cạnh Bác thấy vậy thường muốn thay cho Bác một đôi dép mới. Một lần, thấy đôi dép đã cũ, một cán bộ kính cẩn thưa với Bác: “Thưa Bác, đôi dép của Bác đã cũ lắm rồi, Bác để chúng cháu đổi cho Bác đôi khác ạ!”. Bác nhìn xuống đôi dép dưới chân rồi nhẹ nhàng trả lời rằng đôi dép vẫn còn đi tốt, chưa cần phải thay. Mọi người nghe vậy đành thôi. Một thời gian sau, đôi dép lại bị hỏng. Các chú phục vụ tìm cách sửa lại cho Bác. Mỗi khi đi đâu, Bác vẫn vui vẻ sử dụng đôi dép quen thuộc ấy. Có lần, trong lúc Bác đi thăm đồng bào, nhiều người chú ý đến đôi dép cao su giản dị dưới chân Người. Đó chỉ là một đôi dép bình thường, được làm từ vật liệu cũ, nhưng lại thể hiện rất rõ phong cách sống của Bác. Bác luôn cho rằng đất nước còn nhiều khó khăn, nhân dân còn phải chịu nhiều thiếu thốn thì người cán bộ càng phải sống giản dị, tiết kiệm, không nên đòi hỏi những thứ xa hoa. Bác không chỉ nói về tiết kiệm mà chính Người là người thực hành điều ấy trong cuộc sống hằng ngày. Từ quần áo, nơi ở đến những vật dụng nhỏ bé như đôi dép, Bác đều sử dụng rất giản dị và trân trọng. Điều đó khiến những người xung quanh vô cùng cảm phục. Đôi dép cao su đã trở thành một hình ảnh gần gũi gắn liền với Bác Hồ. Qua câu chuyện nhỏ ấy, em nhận ra rằng một con người vĩ đại không nhất thiết phải thể hiện sự vĩ đại bằng những điều xa hoa. Chính sự giản dị, khiêm nhường và luôn nghĩ cho nhân dân mới làm cho Bác trở nên gần gũi và đáng kính đến vậy.

Câu chuyện về đôi dép cao su tuy rất giản dị nhưng đã để lại trong em một bài học sâu sắc. Em hiểu rằng mỗi người cần biết tiết kiệm, không lãng phí và phải biết trân trọng thành quả lao động. Em càng thêm kính yêu Bác Hồ và mong rằng mình có thể học tập được ở Bác những phẩm chất tốt đẹp như sống giản dị, tiết kiệm, khiêm tốn và luôn biết quan tâm đến mọi người.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 13

Mỗi khi đọc những trang sử viết về hành trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, em luôn cảm thấy tự hào và xúc động. Trong những câu chuyện ấy, có một câu chuyện đặc biệt không bắt đầu bằng tiếng súng hay một trận chiến, mà bắt đầu bằng quyết tâm ra đi của một người thanh niên yêu nước. Đó là câu chuyện về Nguyễn Tất Thành – người sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã rời Tổ quốc để tìm con đường cứu nước.

Vào đầu thế kỉ XX, nước ta đang chìm trong cảnh mất nước, nhân dân phải sống dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã diễn ra nhưng chưa tìm được con đường đúng đắn để giành lại độc lập. Trước cảnh đồng bào chịu nhiều đau khổ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành luôn suy nghĩ và trăn trở về tương lai của dân tộc. Người đã chứng kiến những người dân nghèo phải chịu cảnh áp bức, chứng kiến đất nước mất độc lập và hiểu rằng nếu chỉ đi theo những con đường cũ thì khó có thể đưa dân tộc thoát khỏi cảnh nô lệ. Vì vậy, Người quyết định tìm một con đường mới. Khi ấy, Nguyễn Tất Thành còn rất trẻ. Người không có trong tay tiền bạc hay một địa vị đặc biệt nào. Hành trang của Người chủ yếu là lòng yêu nước, ý chí quyết tâm và khát vọng tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên con tàu Amiral Latouche-Tréville để ra nước ngoài. Người xin làm phụ bếp trên tàu để có thể đi nhiều nơi và tự mình tìm hiểu cuộc sống ở các nước. Khi con tàu rời bến, phía sau Người là quê hương Việt Nam thân yêu, còn phía trước là một hành trình dài đầy khó khăn và chưa biết sẽ đi đến đâu. Nhưng Người không sợ hãi. Người muốn tận mắt nhìn thấy các nước khác sống như thế nào, muốn tìm hiểu vì sao họ có thể trở nên mạnh mẽ và quan trọng hơn cả là tìm ra con đường giúp dân tộc mình giành lại độc lập. Trong những năm tháng bôn ba ở nước ngoài, Nguyễn Tất Thành đã làm nhiều công việc khác nhau để kiếm sống. Người từng làm phụ bếp, quét tuyết, làm ảnh và nhiều công việc nặng nhọc khác. Dù cuộc sống vô cùng khó khăn, Người vẫn không ngừng học hỏi, quan sát và suy nghĩ về vận mệnh của dân tộc. Người đi qua nhiều quốc gia, tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân và hiểu thêm về cuộc sống của những người lao động. Những trải nghiệm ấy giúp Người nhận ra nhiều điều quan trọng và từng bước tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn. Sau nhiều năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tìm thấy con đường giải phóng dân tộc phù hợp với Việt Nam. Từ đó, Người tích cực hoạt động cách mạng, truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hành trình bắt đầu từ chuyến ra đi của người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã trở thành một bước ngoặt lớn đối với lịch sử dân tộc.

Câu chuyện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước khiến em vô cùng xúc động và khâm phục. Em khâm phục nhất ở Người là sự quyết tâm, lòng yêu nước và tinh thần dám nghĩ, dám làm. Nếu ngày ấy Người không dũng cảm rời quê hương để tìm con đường mới, lịch sử dân tộc có thể đã đi theo một hướng khác. Câu chuyện giúp em hiểu rằng để thực hiện một ước mơ lớn, con người cần có niềm tin, nghị lực và sự kiên trì. Em sẽ luôn ghi nhớ câu chuyện này và cố gắng học tập, rèn luyện để trở thành người có ích cho gia đình và quê hương.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 14

Trong lịch sử chống ngoại xâm lừng lẫy của dân tộc, Hoàng đế Quang Trung — Nguyễn Huệ là một tài năng quân sự kiệt xuất, và chiến công đại phá 29 vạn quân Thanh vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) chính là trang sử vàng chói lọi nhất thể hiện nghệ thuật quân sự độc đáo cùng khí chất anh hùng của ông.

Cuối năm 1788, mượn cớ giúp đỡ vua Lê Chiêu Thống, 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đã ồ ạt tràn sang xâm lược nước ta, chiếm đóng Thăng Long và gieo rắc bao nỗi đau thương cho nhân dân Bắc Hà. Nhận được tin cấp báo, Nguyễn Huệ tại Phú Xuân liền làm lễ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung, rồi ngay lập tức tự mình cầm quân tiến ra Bắc với một chiến lược hành quân "thần tốc" chưa từng có trong lịch sử. Trên đường đi, ông vừa nhanh chóng tuyển thêm binh lính vừa tổ chức huấn luyện ngay trên đường di chuyển bằng cách sáng tạo ra phương pháp ghép ba người thành một tốp: hai người khiêng một người nằm trên võng nghỉ ngơi rồi luân phiên nhau đi suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Đêm Giao thừa năm Kỷ Dậu, khi quân Thanh còn đang chìm trong tiệc tùng say sưa ăn Tết và chủ quan cho rằng quân Tây Sơn không thể ra kịp, vua Quang Trung đã bất ngờ phát lệnh tổng tấn công, đánh như vũ bão và hạ liên tiếp các đồn lũy kiên cố của địch ở Hà Hồi, Ngọc Hồi và Khương Thượng. Vua Quang Trung trực tiếp cưỡi voi chiến dẫn đầu quân sĩ xông trận, chiếc áo bào màu đỏ của ông bị ám khói súng đen kịt; đến mùng 5 Tết, quân Tây Sơn tiến thẳng vào giải phóng Thăng Long khiến tướng địch Tôn Sĩ Nghị sợ hãi đến mức "ngựa không kịp đóng dạn, người không kịp mặc giáp", bỏ chạy thục mạng qua cầu phao làm cầu gãy, hàng vạn quân Thanh chen nhau chết đuối tắc cả dòng sông Hồng.

Cuộc đại phá 29 vạn quân Thanh trong vòng chỉ chưa đầy một tuần lễ không chỉ là một kỷ lục về tốc độ và nghệ thuật chiến tranh, mà còn khẳng định uy danh lừng lẫy của người anh hùng áo vải Quang Trung, giúp bảo vệ vẹn toàn độc lập chủ quyền của đất nước trước đại họa xâm lược.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 15

Có những con người chết đi nhưng tên tuổi của họ lại hóa thành bất tử, trở thành kim chỉ nam soi sáng cho hàng triệu trái tim của các thế hệ mai sau. Người thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng chính là một minh chứng hùng hình như thế, khi câu chuyện về cuộc đời và tinh thần hy sinh oanh liệt của anh đã trở thành biểu tượng kiên trung bất khuất của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp.

Sống trong thời kỳ đất nước còn chìm dưới ách đô hộ tàn bạo của thực dân Pháp, Lý Tự Trọng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và được gửi sang nước ngoài học tập rồi trở về Sài Gòn đảm nhận nhiệm vụ liên lạc vô cùng nguy hiểm là vận chuyển tài liệu, thư từ và bảo vệ các cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Mặc dù tuổi đời còn rất trẻ nhưng với sự thông minh, nhanh trí và dũng cảm phi thường, anh đã nhiều lần vượt qua sự kiểm soát gắt gao của mạng lưới mật thám Pháp để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Vào mùa xuân năm 1931, trong một cuộc diễn thuyết tuyên truyền cách mạng tại sân vận động Mơ-xanh ở Sài Gòn, khi một tên mật thám Pháp tàn ác lén rút súng bắn vào cán bộ của ta, không ngần ngại nguy hiểm đến tính mạng, Lý Tự Trọng đã lập tức rút súng bắn gục tên mật thám để bảo vệ đồng chí rồi bị kẻ thù vây bắt. Trong ngục tối tàn bạo của thực dân, dù bị tra tấn bằng những đòn roi dã man nhất kết hợp với những lời dụ dỗ ngon ngọt, anh vẫn giữ vững khí tiết quật cường, nhất quyết không khai ra tổ chức; và khi đứng trước tòa án án tử hình của kẻ thù, anh đã dõng dạc tuyên bố một câu nói đi vào lịch sử: "Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác". Ngày bước lên máy chém, người thanh niên ấy vẫn cất cao tiếng hát bài "Quốc tế ca" với phong thái tự do, kiêu hãnh khiến ngay cả những kẻ thù độc ác nhất cũng phải cúi đầu kính sợ.

Sự hy sinh oanh liệt của anh Lý Tự Trọng ở tuổi mười bảy phơi phới đã trở thành ngọn đuốc rực sáng, tiếp thêm sức mạnh và niềm tin cho biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc, để lại bài học vô giá về lý tưởng sống cho thế hệ trẻ ngày nay.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 16

Lịch sử dân tộc Việt Nam giống như một dòng sông cuộn sóng, nơi cưu mang và ghi danh biết bao vị anh hùng kiệt xuất đã hi sinh tuổi thanh xuân cho độc lập tự do của Tổ quốc. Giữa muôn vàn ngôi sáng ấy, hình ảnh vị anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản với ngọn lửa yêu nước nồng nàn và lá cờ thêu sáu chữ vàng luôn là một câu chuyện đẹp đẽ, khiến trái tim em mỗi khi nhớ lại đều trào dâng niềm tự hào và xúc động sâu sắc.

Năm 1282, trước nguy cơ giặc Nguyên Mông với sức mạnh hung tàn chuẩn bị sang xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần Nhân Tông đã hội họp các vương tôn, tướng lĩnh tại bến Bình Than để bàn kế giữ nước. Cậu thiếu niên Trần Quốc Toản khi ấy mới chỉ mười sáu tuổi, vì chưa đến tuổi trưởng thành nên không được vào dự hội nghị cùng các vị tướng già, phải đứng trên bờ nhìn về phía thuyền ngự mà lòng sôi sục căm hờn giặc. Cảm thấy mình bị xem nhẹ và không thể ngồi yên nhìn giặc tàn phá quê hương, Quốc Toản xông xuống tâu xin được đánh giặc, vua Trần thấy cậu còn trẻ mà đã có chí lớn nên không bắt tội xô xát lễ nghi mà còn khen ngợi, ban cho một quả cam quý. Tuy nhiên, sự tủi thân vì không được ra trận bàn việc lớn cộng với lòng căm thù giặc cuộn trào đã khiến Quốc Toản vô tình bóp nát quả cam trong tay từ lúc nào không hay; sự uất hận đó lập tức biến thành hành động khi cậu trở về quê nhà, tự tay chiêu mộ hàng nghìn binh lính trẻ tuổi, đúc vũ khí và tự tay thêu lên lá cờ đại sáu chữ vàng  (Phá giặc mạnh, báo ơn vua). Khi trận chiến bùng nổ, đội quân của Trần Quốc Toản với lá cờ sáu chữ vàng tung bay phấp phới đã xông pha qua muôn vàn trận mạc gian nguy, đánh cho quân Nguyên Mông khiếp vía, lập nên những chiến công vang dội góp phần bảo vệ vẹn toàn bờ cõi Đại Việt.

Hình ảnh người anh hùng trẻ tuổi Trần Quốc Toản bóp nát quả cam năm xưa cùng lá cờ thêu sáu chữ vàng sẽ mãi mãi là biểu tượng bất tử về lòng yêu nước và chí khí quật cường của tuổi trẻ Việt Nam, nhắc nhở thế hệ hôm nay luôn phải sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh của các thế hệ cha anh đi trước.

Viết bài văn kể lại câu chuyện về một lịch sử mà em đã đọc - mẫu 17

Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có những chiến công đã trở thành bản anh hùng ca bất tử, và tôi — Ngô Quyền — rất tự hào khi được cùng nhân dân Đại Việt viết nên trang sử chói lọi ấy trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử vào năm 938, đánh tan hoàn toàn quân xâm lược Nam Hán.

Năm ấy, khi nhận được tin Thái tử Lưu Hoằng Tháo chỉ huy hàng vạn quân Nam Hán theo đường biển tiến sang xâm lược nước ta, lòng tôi sôi sục một quyết tâm phải dập tắt vĩnh viễn mộng xâm lược của phương Bắc. Mất đi người đồng chí Kiều Công Hãn phản bội nhưng thu phục được lòng dân, tôi liền hội tụ các tướng sĩ tài ba và nhận ra rằng dòng sông Bạch Đằng với đặc điểm thủy triều lên xuống mạnh mẽ chính là "sợi dây thòng lọng" tuyệt vời nhất để siết cổ kẻ thù. Tôi lập tức ra lệnh cho quân dân đốn những cây gỗ lớn trong rừng, vót nhọn đầu rồi bọc sắt cứng, sau đó thừa lúc thủy triều rút đã đem đóng dày đặc xuống lòng sông ở những vị trí hiểm yếu nhất. Sáng sớm hôm ấy, khi con nước dâng cao phủ kín hoàn toàn các cọc nhọn dưới lòng sông, tôi sai một đội thuyền nhẹ do các chiến sĩ dũng cảm chỉ huy ra bơi đánh tháo, giả vờ thua chạy để dụ địch vào sâu trong lòng sông; Lưu Hoằng Tháo cậy thuyền to bơi khỏe nên ngông nghênh, hăng máu thúc quân đuổi theo mà không hề hay biết mình đang bước vào bẫy tử thần. Đến khi toàn bộ hạm đội thuyền chiến cồng kềnh của địch đã lọt trọn vào vùng cọc nhọn, tôi nhận thấy con nước bắt đầu rút nhanh, liền phát lệnh tổng tấn công làm tiếng trống trận nổi lên rung chuyển cả một vùng trời, các chiến thuyền của ta từ các ngách sông đồng loạt xông ra đánh chặn đầu và khép chặt hai bên sườn. Quân Nam Hán hoảng loạn quay đầu tháo chạy nhưng đã quá muộn vì con nước rút mạnh đã làm lộ ra hàng ngàn cọc sắt nhọn nhắt, đâm thủng vỡ liên tiếp các thuyền chiến to lớn khiến chúng chìm nghỉm, tiếng la ó kêu cứu vỡ vụn trong sóng nước, Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng tại trận và quân địch chết quá nửa trong một khung cảnh vô cùng hỗn loạn.

Trận đại thắng trên sông Bạch Đằng năm 938 không chỉ là minh chứng cho trí tuệ quân sự và tinh thần đoàn kết quật cường của dân tộc ta, mà nó còn chính thức chấm dứt hơn một nghìn năm Bắc thuộc tối đen, mở ra một thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài và thịnh vượng cho đất nước Việt Nam.

Xem thêm các bài viết Tập làm văn lớp 4 hay khác:

Xem thêm các tài liệu học tốt lớp 4 hay khác:

Loạt bài Soạn, giải Tiếng Việt lớp 4 của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Tiếng Việt lớp 4 Tập 1 và Tập 2 Kết nối tri thức (NXB Giáo dục).