77+ Nhận định chung về truyện (siêu hay)
Tổng hợp Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định chung về truyện hay nhất giúp học sinh có thêm dẫn chứng để viết bài văn NLVH hay hơn. Mời các bạn đón đọc:
- Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận
- Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học
- Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
- Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả
- Nhận định chung về truyện
- Dẫn chứng Nhận định hay về văn xuôi
- Dẫn chứng về Chi tiết nghệ thuật trong truyện
- Dẫn chứng về Tình huống truyện
- Dẫn chứng về Nhân vật trong truyện
- Dẫn chứng về Chất thơ trong văn xuôi
77+ Nhận định chung về truyện (siêu hay)
I. Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận
- Dẫn chứng là những sự kiện, số liệu, hiện tượng, ví dụ cụ thể được đưa vào bài viết nhằm làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.
- Nói cách khác, dẫn chứng chính là “bằng chứng thực tế” giúp người viết chứng minh rằng ý kiến của mình không chỉ là nhận định chủ quan mà có cơ sở xác đáng, cụ thể, khách quan.
- Vai trò của dẫn chứng:
+ Cụ thể hóa luận điểm (tránh nói chung chung, mơ hồ)
+ Tăng độ tin cậy và sức thuyết phục
+ Làm cho bài viết sinh động, giàu tính thực tiễn
II. Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học
- Dẫn chứng trong nghị luận văn học là những chi tiết, hình ảnh, câu văn, đoạn thơ, ngoại hình và tâm lí nhân vật, tình huống… được trích từ tác phẩm văn học để phân tích, chứng minh cho nhận định về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.
- Đặc điểm:
+ Xuất phát từ tác phẩm văn học cụ thể
+ Gắn với phân tích (không chỉ kể lại)
+ Phải chọn lọc tiêu biểu, chính xác và có giá trị làm sáng tỏ vấn đề nghị luận
- Ví dụ:
+ Khi phân tích nhân vật, dẫn chứng có thể là hành động, lời nói, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm văn học.
+ Khi phân tích nghệ thuật, dẫn chứng có thể là hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.
- Phân biệt: Có thể phân biệt hai loại dẫn chứng cơ bản:
+ Dẫn chứng nội tại là những chi tiết, hình ảnh, câu chữ trực tiếp lấy từ tác phẩm đang được nghị luận. Đây là loại dẫn chứng quan trọng nhất, bắt buộc phải có và cần được phân tích kĩ.
+ Dẫn chứng liên hệ là những ví dụ ngoài tác phẩm như tác phẩm khác, sự kiện đời sống, hay ý kiến của nhà phê bình, được dùng để mở rộng và làm sâu sắc thêm vấn đề.
III. Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học
1. Dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn.
Đây là cách nêu dẫn chứng được sử dụng phổ biến nhất trong các văn bản văn nghị luận đặc biệt trong nghị luận văn học. Khi đưa ra dẫn chứng là một câu thơ, câu văn hay một đoạn, một bài văn ngắn người ta thường dùng cách nêu dẫn chứng này và thường được sử dụng viết thành một đoạn văn riêng. Việc trích dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn đòi hỏi việc trích dẫn mang tính chính xác cao vì thế người viết phải nắm được, hiểu được và thuộc dẫn chứng. Nếu sử dụng dẫn chứng ở nhiều bài khác nhau người ta phải chú thích dẫn chứng (Dùng ngoặc đơn để ghi tên tác giả, tác phẩm của dẫn chứng).
Ví dụ: Tạo hóa đã ban tặng cho con người một đặc quyền thiêng liêng – đó là sống. Van-gốc đã từng thốt lên rằng: “Đối với tôi không có gì tốt đẹp hơn là cuộc sống”. Dù cho ai nói với bạn điều gì đi chăng nữa, hãy vững tin rằng cuộc sống xung quanh ta chứa đầy hạnh phúc và niềm vui. Xuân Diệu, “thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), đã hơn một lần khẳng định lối sống “vội vàng” của mình:
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi
(Giục giã – Xuân Diệu).
2. Trích từ ngữ tiêu biểu.
Khi làm bài văn nghị luận, đôi khi người viết có thể trích dẫn các từ ngữ tiêu biểu. Lúc ấy các dẫn chứng được kết hợp vào trong lời văn nghị luận của người viết.
Ví dụ: Quê hương Việt Nam qua bức tranh thôn Vĩ Dạ của xứ Huế sao mà xinh xắn thế, mơ mộng và trữ tình đến thế. Bằng những hình ảnh bình dị, thân thương như “nắng hàng cau” trong khu vườn “mướt” “xanh như ngọc”, nhà thơ cho chúng ta thêm yêu và trân trọng xứ Huế. Những “bến sông trăng” với con thuyền “chở trăng” gợi lên chất mộng, chất thơ nhưng cũng rất thực. Đấy chính là tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương, với thiên nhiên đất nước. Ta có thể nhận thấy ngay các dẫn chứng trong đoạn văn trên là những từ ngữ tiêu biểu được trích dẫn bằng cách đặt trong ngoặc kép, hòa vào lời văn của người viết như:“nắng hàng cau”, “mướt”, “xanh như ngọc”, “bến sông trăng”, “chở trăng”.
3. Tóm lược nội dung chính.
Đây là cách trích dẫn dẫn chứng theo hình thức gián tiếp và khá phổ biến trong văn nghị luận, người viết chỉ dẫn ý của câu thơ, câu văn, lời nói, tóm lược nội dung câu chuyện… và không cần đặt trong ngoặc kép để đưa vào văn nghị luận.
Ví dụ: Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Ban đầu hắn chửi trời, rồi hắn chửi đời, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng không ai đáp lời thằng say rượu. Tức mình, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đến cuối cùng hắn đau đớn, hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.
IV. Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả
Để sử dụng dẫn chứng hiệu quả trong bài nghị luận văn học, người viết cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản theo trình tự logic. Trước hết là chọn lọc dẫn chứng: không phải chi tiết nào trong tác phẩm cũng có giá trị như nhau, vì vậy cần ưu tiên những chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa, có khả năng làm nổi bật trực tiếp luận điểm. Việc ghi nhớ có chọn lọc các “chi tiết đắt giá” sẽ giúp bài viết chủ động và chính xác hơn.
Tiếp đó, dẫn chứng phải đảm bảo tính chính xác. Khi trích dẫn cần đúng từ ngữ, đúng nội dung; nếu không nhớ nguyên văn, có thể diễn đạt lại nhưng vẫn phải giữ đúng ý nghĩa cốt lõi. Sự sai lệch trong dẫn chứng sẽ làm giảm độ tin cậy của lập luận.
Bên cạnh đó, việc đưa dẫn chứng cần theo trình tự hợp lí: có lời dẫn để giới thiệu, nêu dẫn chứng ngắn gọn, và quan trọng nhất là phân tích. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi được phân tích rõ ràng nhằm làm sáng tỏ luận điểm; nếu chỉ nêu mà không phân tích, bài viết sẽ trở nên kể lể, thiếu chiều sâu.
Trong quá trình phân tích, cần kết hợp nội dung và nghệ thuật, không chỉ chỉ ra ý nghĩa mà còn làm rõ cách tác giả thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ hay biện pháp tu từ. Đồng thời, cần sử dụng dẫn chứng với số lượng hợp lí: chọn ít nhưng tiêu biểu và tập trung phân tích sâu để tránh lan man.
Ngoài ra, có thể liên hệ mở rộng ở mức độ vừa phải với tác phẩm khác hoặc đời sống để tăng chiều sâu, nhưng vẫn phải đảm bảo trọng tâm là dẫn chứng từ tác phẩm chính.
Tóm lại, sử dụng dẫn chứng hiệu quả đòi hỏi người viết phải biết chọn đúng, trích đúng, đưa đúng và phân tích sâu. Khi đó, bài văn nghị luận sẽ trở nên chặt chẽ, thuyết phục và có giá trị cao.
Nhận định chung về truyện
V.1/ Chủ đề: Nhận định hay về văn xuôi
1. “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy bấy giờ biến thành của ta, và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ.”
(Nguyễn Đình Thi, trích Tiếng nói văn nghệ)
2. “Một tác phẩm văn học hay, theo tôi quan niệm, lõi phải dày, vỏ phải mỏng; căng, những tình cảm phải được đẩy đến tột cùng.”
(Nguyễn Khải)
3. “Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.”
(Hà Minh Đức)
4. “Trên trang sách cuộc sống tuyệt vời biết bao nhưng cũng bi thảm biết bao. Cái đẹp còn trộn lẫn nỗi niềm sầu muộn. Cái nên thơ còn lóng lánh giọt nước mặt ở đời.”
(Nguyễn Văn Thạc, trích Mãi mãi tuổi 20)
5. “Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn người.”
(Nguyễn Đình Thi)
6. “Khi viết truyện ngắn, bạn phải cẩn thận để không làm nó giống thơ ca.”
(Alice Munro)
7. “Văn học là những chân trời chờ đợi.”
(Khuyết danh)
8. “Gốc sáng tạo được quyết định bởi độ trong trẻo của tâm.”
(Lê Vũ Trường Giang)
9. “Mỗi truyện ngắn phải là một sự phát hiện bất ngờ về con người.”
(Bùi Hiển)
10. “Điều quan trọng hơn là là sau mỗi cách kết thúc, tác giả phải gieo vào lòng người đọc những nhận thức sâu sắc về quy luật đời sống và những dự cảm về tương lai, về cái đẹp tất yếu sẽ chiến thắng.”
(Bùi Việt Thắng)
11. “Thi thoảng tôi nghĩ nếu tiểu thuyết là một chuyến du hành xa xôi, băng qua một cánh rừng thăm thẳm, đi giữa đồng hoang rộng lớn hoặc lang thang trong sa mạc mênh mông, thì truyện ngắn lại giống với một góc vườn sau nhà, nơi nụ họa dại bất chợt mọc lên giữa um tùm cỏ dại, hay khoảng tường rêu xanh trên bức tường cũ kỹ nằm đằng sau khung cửa sổ, nơi vạt nắng sớm rắc lên vô sô hạt bụi vàng li ti.”
(Nhà văn Đỗ Quang Vinh)
12. “Trong sáng tạo nghệ thật, vấn đề “đôi mắt” được xem là một trong những đặc điểm cơ bản của chủ thể sáng tạo.”
(Khuyết danh)
13. “Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học không bao giờ là sự lí giải dửng dưng, lạnh lùng mà gắn liền với cảm xúc mãnh liệt.”
(Khuyết danh)
14. “Phải dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyệt thật ngắn gọn, tự nhiên.”
(Nguyễn Minh Châu)
15. “Nghệ thuật miêu tả tâm lí con người là thước đo tài năng của người nghệ sĩ.”
(Khuyết danh)
16. “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên, gợi những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa, đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra.”
(La Bruyère)
17. “Không có chi tiết thì tác phẩm không sống được. Ý nghĩa của chi tiết ở chỗ sao cho cái vặt vãnh không dễ nhận thấy lại trở thành to lớn, lấp lánh trước mọi người.”
(Paustovky)
18. “Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo.”
(Khuyết danh)
19. “Truyện ngắn là con đom đóm trong đêm tối.”
(Nadine Gordimer)
20. “Văn học chân chính có khả năng nhân đạo hóa con người.”
(Khuyết danh)
21. “Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận.”
(Chekhov)
22. “Tác phẩm nghệ thuật đạt tới cái đẹp theo nghĩa: mang được sự thật sâu xa của đời sống bên ngoài, đồng thời mang được sự thật tâm tình của con người.”
(Lê Đình Kỵ)
23. “Tác phẩm văn học lớn hấp dẫn người ta bởi cách nhìn nhận mới, tình cảm mới về những điều, những việc ai cũng biết cả rồi.”
(Nguyễn Đình Thi)
24. “Văn học lãng mạn không quan tâm đến thế giới như nó đang là mà quan tâm đến thế giới như nó có thể là và phải là.”
(Aristotle)
25. “Nghệ thuật viết văn là nghệ thuật của những chi tiết.”
(Chekhov)
26. “Mỗi chi tiết đắt giá ngoài ý nghĩa là một chi tiết chân thực còn cần đạt tới ý nghĩa tượng trưng, hàm chưa một cách nhìn, một cách đánh giá và năng lực tưởng tượng của nhà văn về cuộc sống và con người.”
(Bùi Việt Thắng)
27. “Nhà văn không chỉ viết bằng ngòi bút mà còn vẽ bằng từ ngữ thể hiện một cách hoàn hảo những tư tưởng của tác giả, xây dựng một bức tranh đậm đà, đắp nên những hình tượng sinh động, có sức thuyết phục đến nỗi người đọc trông thấy được những điều mà tác giả mô tả.”
(M.Gorky)
28. “Văn chương không phải đơn thuần là vấn đề cảm xúc, nó là vấn đề ngôn ngữ nữa. Văn chương là ngôn ngữ tạo ra cảm xúc.”
(Umberto Eco)
29. “Ngôn từ của tác phẩm văn chương khác lời nói thường ở chỗ nó gợi ra một tập hợp không sao kể xiết những ý tưởng, những tình cảm, những sự giải thích.”
(L.Tolstoy)
30. “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó, và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học.”
(M.Gorky)
31. “Xuyên qua ngôn ngữ, người ta có thể khám phá, cảm nhận được hiện thực.”
(Cao Hành Kiện)
32. “Hình tượng con người vô danh trong tác phẩm thường được các nhà văn xây dựng một cách chỉn chu, có số phận, có cá tính, tâm lí và đôi khi hội tụ đầy đủ mọi phẩm hạnh. Tuy nhiên nhà văn không định danh và vì không định danh nên nhân vật mãi mãi là những ám ảnh day dứt trong tâm hồn bạn đọc.”
(Mạc Ngôn)
33. “Cuối cùng truyện ngắn cũng như tiểu thuyết, điều chính yếu là qua nhân vật mà người viết đàm luận với người đọc về vai trò và số phận con người sống giữa xã hội và cuộc đời.”
(Nguyễn Minh Châu)
34. “Về phía độc giả, nhân vật phải là chiếc chìa khóa để giải mã những vấn đề hiện thực mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm.”
(Hà Minh Đức)
35. “Nội tâm nhân vật thường có nét riêng cho thấy những bí ẩn của tâm hồn, phẩm chất, lí tưởng của nhân vật. Đặc biệt là những thay đổi trong ý thức thái độ sống và tâm lí của nhân vật qua các giai đoạn.”
(Ngữ văn 12 – Nâng cao, tập 1)
36. “Trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện ngắn hay tác phẩm kịch, nhân vật bao giờ cũng là yếu tố mang nghĩa thể hiện các giá trị nhân sinh.”
(Khuyết danh)
37. “Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho đường chúng ta đi, nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước lên đường ấy.”
(Nguyễn Đình Thi)
38. “Tác phẩm văn học giúp người đọc hiểu đời, hiểu người và hiểu chính mình.”
(Khuyết danh)
39. “Văn chương giúp người ta nhìn sâu hơn vào đời sống, sống sâu hơn với đời.”
(Hoàng Đăng Khoa)
40. “Giống như lúa, ngô, đậu,… những thứ cây gần gũi nhất trên cánh đồng. Văn chương chính là ngũ cốc trên cánh đồng người.”
(Nguyễn Quang Thiều)
41. “Giống như mọi con trai đau đớn đều cho ngọc, mọi tác phẩm văn học chất chứa nỗi đau đều kết ngọc dâng đời.”
(Khuyết danh)
42. “Không nên nhất thiết trói buộc truyền ngăn vào những khuôn mẫu gò bó. Truyện ngắn vốn nhiều vẻ, có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một giây phút thoáng qua.”
(Nguyên Ngọc)
43. “Theo tôi quan niệm truyện ngắn phải có “chuyện” tức có thể kể lại cho người khác nghe được. Mà muốn kể, câu chuyện phải chặt chẽ, hấp dẫn. Yêu cầu bố cục đặt ra từ đây.”
(Nguyễn Quang Sáng)
44. “Theo tôi hiểu thì mọi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như thế nào đó đã xảy ra trong đời sống, nếu có đến hai tình thế trở lên, truyện ngắn sẽ bị phá vỡ.”
(Nguyễn Kiên)
45. “Bắt đầu viết truyện, tôi cố gắng tìm ra một cái tứ. Nó là cái gì ư, nó là chủ đề đấy, nhưng đã gắn với hình ảnh, với chất liệu.”
(Ma Văn Kháng)
46. “Nhưng viết cách nào thì viết, truyện ngắn cũng như mọi thể tài văn học khác, là một phương tiện để nhà văn tiếp xúc với đời giá. Sau cùng văn là sự đối thoại giữa người đọc và người viết. Truyện ngắn phải mang đậm dấu ấn của tác giả, biểu hiện sự tồn tại của tác giả. Đầu tiên, trước hết là tấm lòng đằm thắm của anh, sau đó là bút pháp, giọng nói, nhịp điệu câu chuyện của anh, những “cái áo” “làn da” của tấm lòng tác giả. Nếu không có gì đó nói, làm sao anh nâng nổi ngôi bút của anh cho được?”
(Nguyễn Thành Long)
47. “Với tôi, thường cốt truyện không thành vấn đề lắm. Và cả nhân vật nữa, giữa nhân vật và tôi không có những phân biệt đáng kể. Tôi không bám vào hiện tượng quan sát được, mà thường ướm mình vào nhân vật, không giả sử mình đóng vai người khác sẽ ra sao, mà thường giả sử trong trường hợp đó, mình sẽ xử sự ra sao. Tôi muốn huy động vai trò của bản thân tới mức cao nhất. Và mỗi truyện ngắn trở thành một mảnh của sự phân thân.”
(Đỗ Chu)
48. “Từ nguyên mẫu đến nhân vật, có sự tái tạo của nhà văn. Đây là một điều quan trọng. Trong tác giả, hình tượng nhân vật dần dà dậy lên một đời sống riêng, nó gồm những nét chủ yếu trong thực tế, cũng đồng thời lại óng ả lên những sắc thái mới, khiến cho đẹp đẽ hơn, thân thiết hơn. Cái gì đã xảy ra vậy? Nhà văn hồi tưởng lại một hình ảnh cụ thể. Những cái hình ảnh ấy đã trở thành một kỷ niệm, một mảnh của quá khứ, của tâm hồn. Nó lại giữ được đến những khi kỷ niệm khác vang vọng, giao lưu, bồi đắp; đó những tình cảm, suy nghĩ cũ, mới; do những ước vọng ấm áp thiết tha; tóm lại, do cả cuộc đời, sự từng trải của tác giả.”
(Nhà văn Bùi Hiển)
49. “Về mặt nội dung cũng như về tư tưởng, truyện ngắn không có gì khác tiểu thuyết. Nó cũng phải nói những gì cần thiết cho nó, chỉ có điều do ngắn, nên khó hơn. Truyện ngắn đòi hỏi sự nghiêm khắc, sự chính xác trong hình thức. Truyện ngắn đòi hỏi một công phu lao động lớn. Đây là chỗ đánh dấu trình độ nghệ thuật một nền văn học. Nhà văn cần phải cảm thấy vinh dự khi thấy mình trước tiên là một người viết truyện ngắn.”
(Nhà văn Liên Xô Alexandr Fadeev)
50. “Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất. Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể “đơn” cho độc giả “no” với những món sang đại loại như miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sắc,… Còn như trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh. Anh phải thông minh, như anh đã phải biết. Bởi lẽ, hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao. Anh phải viết một cách ngắn gọn, như nhà thơ làm thơ tuyệt. Nhưng ngắn gọn đây là ngắn gọn tập trung tài liệu, lựa chọn những gì cần viết. Về mặt kiến tạo, truyện ngắn cần phải có những dấu phẩy, những chữ “nhưng”. Cần phải có những tác phẩm trọn vẹn. Truyện ngắn là một trường học tốt nhất đối với các nhà văn”
(Aleksey Nikolayevich Tolstoy)
51. “Muốn tạo nên một đêm trăng, anh nói đến nào là bầu trời trong, ánh mây bạc, ánh trăng dịu dàng, tiếng đàn văng vẳng…, viết xong thấy chán ngấy không thể chịu được, trong khi một nhà văn khác chỉ nhắc đến một mảnh chai lấp loáng bên đường là người ta biết có trăng sáng.”
(Nguyễn Đình Thi)
52. “Tình huống là cái sống còn của truyện ngắn.”
(Nguyễn Minh Châu)
53. “Tình huống truyện như một thứ nước rửa ảnh làm nổi hình nổi sắc nhân vật”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
54. “Xem văn vẻ tự nhiên của trời đất xưa nay, có thể ngộ ra phép kết cấu của người viết văn. Văn tự nhiên như núi sông thường thấy, nhìn đầu biết cuối sẽ ứng theo, nhìn cuối lại ứng với đầu, nhìn giữa lại ứng cả đầu với cuối, đó há không phải là kết cấu tuyệt diệu hay sao?”
(Mao Tôn Cương)
55. “Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa mà không phục vụ chủ đề, thì cũng trở nên vô ích.”
(Nhà văn Vũ Thị Thường)
56. “Nhân vật là trụ cột của sáng tác, phải chuẩn bị nhân vật trước tiên”
(Tô Hoài)
57. “Có thể vì một truyện ngắn hay như một thứ quà có nhiều vỏ, luôn luôn làm cho đứa trẻ háu ăn bị “nhỡ tàu”. Mỗi lần bóc ra một lớp vỏ, người đọc thở phào thế là xong mọi chuyện, chắc là không phải chỉ đợi gì nữa, thì một lớp vỏ khác lại hiện ra. Hành động bên trong của truyện cần phải phát triển một cách kín đáo, trong từng câu văn, luôn luôn nó cần được bao phủ bằng những gì bề ngoài, để rồi, rút cục, những cái bề ngoài này lại góp vào việc giúp cho người đọc hiểu ra sự kiện chủ yếu. Đó chính là thứ vỏ lần lần giúp ta thấy rõ cái quả ẩn mãi bên trong.”
(Juan Bosch – nhà văn Trung Mỹ)
58. “Truyện ngắn dường như là đứa con tất yếu của người mẹ thơ và người cha văn xuôi. Nó là thơ viết bằng văn xuôi, bề ngoài mang tính cha mà bề trong mang tính mẹ.”
(Phạm Thị Hoài)
59. “Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ: Chỉ liếc qua những đường vân trên cái khoanh gỗ tròn tròn kia, dù sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo mộc.”
(Nguyễn Minh Châu)
60. “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung tất thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.”
(Tô Hoài)
61. “Toàn truyện ngắn phải là vòng tròn khép kín, không dài quá, không ngắn quá, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết.”
(Ma Văn Kháng)
V.2/ Chủ đề: Chi tiết nghệ thuật
1. “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn.”
(M.Gorki)
2. “Chi tiết làm nên bụi vàng của tác phẩm.”
(Pauxtopxki)
3. “Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn đầy ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.”
(Từ điển Thuật ngữ Văn học)
4. “Ở truyện ngắn, mỗi chi tiết đều có vị trí quan trọng như mỗi chữ trong bài thơ tứ tuyệt. Trong đó những chi tiết đóng vai trò đặc biệt như những nhãn tự trong thơ vậy.”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
5. “Nếu tình huống truyện tạo ra bước ngoặt của tác phẩm thì chi tiết nghệ thuật lại là cái bánh lái bẻ nên đường cua tuyệt diệu ấy.”
(Lêonit Leonov)
V.3/ Chủ đề: Tình huống truyện
1. “Tình huống truyện như lát cắt trên thân cây cổ thụ mà qua từng đường vân thớ gỗ, ta có thể thấy được trăm năm của một đời thảo mộc.”
(Nguyễn Minh Châu)
2. “Tình huống là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại.”
(Nguyễn Minh Châu)
3. “Quan trọng nhất của truyện ngắn là tạo ra một tình huống nào đấy, từ tình huống ấy bật nổi một bản chất tính cách nhân vật hoặc bộc lộ một tâm trạng.”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
V.4/ Chủ đề: Nhân vật trong truyện
1. “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác.”
(Tô Hoài)
2. “Nhà văn sáng tạo nhân vật để gửi gắm tư tưởng, tình cảm và quan niệm của mình về cuộc đời.”
(Sê-khốp)
3. “Nhân vật là bản sao của đời sống nhưng không phải là bê nguyên xi trần trụi vào tác phẩm mà đã được nhà văn gọt giũa bằng lớp lớp ngôn từ nên khi vào tác phẩm nhân vật đã trở thành hình tượng nghệ thuật.”
(Leonit Leonop)
V.5/ Chủ đề: Chất thơ trong văn xuôi
1. “Tôi cho rằng ngay trong văn xuôi, cần phải đượm hồn thơ, có như thế văn xuôi mới trong sáng cất cao.”
(Tô Hoài)
2. “Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả.”
(K.Pau-tôp-xki)
3. “Văn chương bao giờ cũng thấm đượm chất thơ như chất nước ngọt ngào trong trái táo.”
(Pustin)
4. “Văn xuôi cần phải có cánh. Đôi cánh ấy chính là chất thơ.”
(Pha-đê-ép)
5. “Nghệ thuật truyện ngắn là sự kết hợp giữa các phương thức biểu đạt của ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ điện ảnh.”
(Sưu tầm)
Xem thêm các Dẫn chứng Nghị luận văn học hay, chọn lọc khác:
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 12 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 12 Friends Global
- Lớp 12 Kết nối tri thức
- Soạn văn 12 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - KNTT
- Giải sgk Toán 12 - KNTT
- Giải sgk Vật Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Hóa học 12 - KNTT
- Giải sgk Sinh học 12 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 12 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - KNTT
- Giải sgk Tin học 12 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 12 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 12 - KNTT
- Giải sgk Mĩ thuật 12 - KNTT
- Lớp 12 Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 12 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 12 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 12 - CTST
- Giải sgk Vật Lí 12 - CTST
- Giải sgk Hóa học 12 - CTST
- Giải sgk Sinh học 12 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 12 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 12 - CTST
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - CTST
- Giải sgk Tin học 12 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 12 - CTST
- Lớp 12 Cánh diều
- Soạn văn 12 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 12 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 12 Cánh diều
- Giải sgk Vật Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hóa học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Sinh học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 12 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục KTPL 12 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 12 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 12 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 12 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục quốc phòng 12 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 12 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

