3+ Nhận định hay về phong cách nhà thơ Quang Dũng (siêu hay)

Tổng hợp Dẫn chứng nghị luận văn học Nhận định hay về phong cách nhà thơ Quang Dũng hay nhất giúp học sinh có thêm dẫn chứng để viết bài văn NLVH hay hơn. Mời các bạn đón đọc:

3+ Nhận định hay về phong cách nhà thơ Quang Dũng (siêu hay)

Quảng cáo

I. Khái niệm dẫn chứng trong văn bản nghị luận

- Dẫn chứng là những sự kiện, số liệu, hiện tượng, ví dụ cụ thể được đưa vào bài viết nhằm làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận điểm.

- Nói cách khác, dẫn chứng chính là “bằng chứng thực tế” giúp người viết chứng minh rằng ý kiến của mình không chỉ là nhận định chủ quan mà có cơ sở xác đáng, cụ thể, khách quan.

- Vai trò của dẫn chứng:

+ Cụ thể hóa luận điểm (tránh nói chung chung, mơ hồ)

+ Tăng độ tin cậy và sức thuyết phục

+ Làm cho bài viết sinh động, giàu tính thực tiễn

II. Khái niệm dẫn chứng nghị luận văn học

- Dẫn chứng trong nghị luận văn học là những chi tiết, hình ảnh, câu văn, đoạn thơ, ngoại hình và tâm lí nhân vật, tình huống… được trích từ tác phẩm văn học để phân tích, chứng minh cho nhận định về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm.

Quảng cáo

- Đặc điểm:

+ Xuất phát từ tác phẩm văn học cụ thể

+ Gắn với phân tích (không chỉ kể lại)

+ Phải chọn lọc tiêu biểu, chính xác và có giá trị làm sáng tỏ vấn đề nghị luận

- Ví dụ:

+ Khi phân tích nhân vật, dẫn chứng có thể là hành động, lời nói, tâm lí của nhân vật trong tác phẩm văn học.

+ Khi phân tích nghệ thuật, dẫn chứng có thể là hình ảnh, biện pháp tu từ, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học.

- Phân biệt: Có thể phân biệt hai loại dẫn chứng cơ bản: 

+ Dẫn chứng nội tại là những chi tiết, hình ảnh, câu chữ trực tiếp lấy từ tác phẩm đang được nghị luận. Đây là loại dẫn chứng quan trọng nhất, bắt buộc phải có và cần được phân tích kĩ.

+ Dẫn chứng liên hệ là những ví dụ ngoài tác phẩm như tác phẩm khác, sự kiện đời sống, hay ý kiến của nhà phê bình, được dùng để mở rộng và làm sâu sắc thêm vấn đề.

Quảng cáo

III. Các hình thức nêu dẫn chứng trong bài văn nghị luận văn học

1. Dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn.

Đây là cách nêu dẫn chứng được sử dụng phổ biến nhất trong các văn bản văn nghị luận đặc biệt trong nghị luận văn học. Khi đưa ra dẫn chứng là một câu thơ, câu văn hay một đoạn, một bài văn ngắn người ta thường dùng cách nêu dẫn chứng này và thường được sử dụng viết thành một đoạn văn riêng. Việc trích dẫn nguyên văn cả câu, đoạn, văn bản ngắn đòi hỏi việc trích dẫn mang tính chính xác cao vì thế người viết phải nắm được, hiểu được và thuộc dẫn chứng. Nếu sử dụng dẫn chứng ở nhiều bài khác nhau người ta phải chú thích dẫn chứng (Dùng ngoặc đơn để ghi tên tác giả, tác phẩm của dẫn chứng).

Ví dụ: Tạo hóa đã ban tặng cho con người một đặc quyền thiêng liêng – đó là sống. Van-gốc đã từng thốt lên rằng: “Đối với tôi không có gì tốt đẹp hơn là cuộc sống”. Dù cho ai nói với bạn điều gì đi chăng nữa, hãy vững tin rằng cuộc sống xung quanh ta chứa đầy hạnh phúc và niềm vui. Xuân Diệu, “thi sĩ mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh), đã hơn một lần khẳng định lối sống “vội vàng” của mình:

Quảng cáo

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,

Em, em ơi, tình non đã già rồi

(Giục giã – Xuân Diệu).

2. Trích từ ngữ tiêu biểu.

Khi làm bài văn nghị luận, đôi khi người viết có thể trích dẫn các từ ngữ tiêu biểu. Lúc ấy các dẫn chứng được kết hợp vào trong lời văn nghị luận của người viết.

Ví dụ: Quê hương Việt Nam qua bức tranh thôn Vĩ Dạ của xứ Huế sao mà xinh xắn thế, mơ mộng và trữ tình đến thế. Bằng những hình ảnh bình dị, thân thương như “nắng hàng cau” trong khu vườn “mướt” “xanh như ngọc”, nhà thơ cho chúng ta thêm yêu và trân trọng xứ Huế. Những “bến sông trăng” với con thuyền “chở trăng” gợi lên chất mộng, chất thơ nhưng cũng rất thực. Đấy chính là tấm lòng của nhà thơ đối với quê hương, với thiên nhiên đất nước. Ta có thể nhận thấy ngay các dẫn chứng trong đoạn văn trên là những từ ngữ tiêu biểu được trích dẫn bằng cách đặt trong ngoặc kép, hòa vào lời văn của người viết như:“nắng hàng cau”, “mướt”, “xanh như ngọc”, “bến sông trăng”, “chở trăng”.

3. Tóm lược nội dung chính.

Đây là cách trích dẫn dẫn chứng theo hình thức gián tiếp và khá phổ biến trong văn nghị luận, người viết chỉ dẫn ý của câu thơ, câu văn, lời nói, tóm lược nội dung câu chuyện… và không cần đặt trong ngoặc kép để đưa vào văn nghị luận.

Ví dụ: Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã đảo lộn thời gian tuyến tính, không đi từ quá khứ mà xuất phát từ tương lai, đẩy ngay Chí Phèo ra giữa sân khấu cuộc đời bằng những tiếng chửi sặc mùi rượu. Ban đầu hắn chửi trời, rồi hắn chửi đời, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại. Nhưng không ai đáp lời thằng say rượu. Tức mình, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, đến cuối cùng hắn đau đớn, hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo.

IV. Chọn lọc và sử dụng dẫn chứng nghị luận văn học hiệu quả

Để sử dụng dẫn chứng hiệu quả trong bài nghị luận văn học, người viết cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản theo trình tự logic. Trước hết là chọn lọc dẫn chứng: không phải chi tiết nào trong tác phẩm cũng có giá trị như nhau, vì vậy cần ưu tiên những chi tiết tiêu biểu, giàu ý nghĩa, có khả năng làm nổi bật trực tiếp luận điểm. Việc ghi nhớ có chọn lọc các “chi tiết đắt giá” sẽ giúp bài viết chủ động và chính xác hơn.

Tiếp đó, dẫn chứng phải đảm bảo tính chính xác. Khi trích dẫn cần đúng từ ngữ, đúng nội dung; nếu không nhớ nguyên văn, có thể diễn đạt lại nhưng vẫn phải giữ đúng ý nghĩa cốt lõi. Sự sai lệch trong dẫn chứng sẽ làm giảm độ tin cậy của lập luận.

Bên cạnh đó, việc đưa dẫn chứng cần theo trình tự hợp lí: có lời dẫn để giới thiệu, nêu dẫn chứng ngắn gọn, và quan trọng nhất là phân tích. Dẫn chứng chỉ thực sự có giá trị khi được phân tích rõ ràng nhằm làm sáng tỏ luận điểm; nếu chỉ nêu mà không phân tích, bài viết sẽ trở nên kể lể, thiếu chiều sâu.

Trong quá trình phân tích, cần kết hợp nội dung và nghệ thuật, không chỉ chỉ ra ý nghĩa mà còn làm rõ cách tác giả thể hiện qua hình ảnh, ngôn ngữ hay biện pháp tu từ. Đồng thời, cần sử dụng dẫn chứng với số lượng hợp lí: chọn ít nhưng tiêu biểu và tập trung phân tích sâu để tránh lan man.

Ngoài ra, có thể liên hệ mở rộng ở mức độ vừa phải với tác phẩm khác hoặc đời sống để tăng chiều sâu, nhưng vẫn phải đảm bảo trọng tâm là dẫn chứng từ tác phẩm chính.

Tóm lại, sử dụng dẫn chứng hiệu quả đòi hỏi người viết phải biết chọn đúng, trích đúng, đưa đúng và phân tích sâu. Khi đó, bài văn nghị luận sẽ trở nên chặt chẽ, thuyết phục và có giá trị cao.

Nhận định hay về phong cách nhà thơ Quang Dũng

1. “Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng… Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.”

(Nguyễn Đăng Điệp)

2. “Hay đến nỗi ta không khỏi ngạc nhiên mà nghĩ rằng tại sao trong những ngày đầu non nớt của nền thơ ca kháng chiến và cách mạng mà chúng ta lại có được một tác phẩm thơ tuyệt diệu đến thế, kinh điển đến thế mà cũng hiện đại đến thế.”

(Nhà thơ Anh Ngọc)

3. “Nhà thơ Quang Dũng độc đáo một cách hồn nhiên, ông cứ sống tự nhiên như chim trên trời, cá dưới nước mà thành độc đáo. Bài thơ “Tây Tiến” hội tụ được cả cái bi, cái tráng của thời đại. Cái buồn lãng mạn của người tiểu tư sản, tiểu trí thức do biết mình được đón nhận một chân lý lớn nhưng cũng đồng thời đón nhận một gian nan lớn.”

(Nhà thơ Vân Long)

Xem thêm các Dẫn chứng Nghị luận văn học hay, chọn lọc khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học