15+ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh (siêu hay)

Viết bài văn thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

15+ Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh (siêu hay)

Quảng cáo

Dàn ý Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh

1. Mở bài

- Giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh sẽ thuyết minh.

- Nêu vị trí (ở đâu) và ấn tượng chung (Ví dụ: đó là một địa điểm nổi tiếng, mang giá trị lịch sử – văn hóa – du lịch)

2. Thân bài

a. Vị trí và nguồn gốc

- Nằm ở đâu (tỉnh, huyện, xã)

- Có từ bao giờ (nếu biết)

- Gắn với truyền thuyết hoặc lịch sử nào

b. Đặc điểm của danh lam thắng cảnh

- Cảnh quan thiên nhiên (núi, sông, cây cối, không gian…)

- Kiến trúc (chùa, đền, đình… nếu có)

- Quy mô, cấu trúc, vẻ đẹp nổi bật

c. Giá trị của danh lam thắng cảnh

- Giá trị lịch sử

Quảng cáo

- Giá trị văn hóa – tín ngưỡng

- Giá trị du lịch, thu hút khách tham quan

d. Hoạt động liên quan (nếu có)

- Lễ hội, hoạt động văn hóa

- Sinh hoạt tín ngưỡng, du lịch

3. Kết bài

- Khẳng định ý nghĩa của danh lam thắng cảnh

- Nêu cảm nghĩ hoặc lời kêu gọi bảo tồn, giữ gìn.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Phật Tích - mẫu 1

Nhắc đến các di tích lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh không thể không nhắc đến Chùa Phật Tích, một cổ tự gần nghìn năm tuổi. Không những độc đáo về kiến trúc, chùa phật tích còn là nơi gìn giữ nét văn hóa cổ xưa, có sự hòa quyện giữa giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ hết sức đặc sắc. Chùa Phật Tích là di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu được giới nghiên cứu các ngành khoa học xã hội, nghiên cứu nghệ thuật, nghiên cứu tôn giáo trong và ngoài nước rất quan tâm tìm hiểu.

Quảng cáo

Chùa Phật Tích (hay còn gọi là chùa Vạn Phúc) nằm cách Hà Nội 20km về phía Đông, có vị trí tọa lạc trên núi Lạn Kha thuộc địa phận xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Đây là một trong những ngôi chùa có lịch sử lâu đời với kiến trúc mang đậm dấu ấn thời Lý. Chùa Phật Tích được xây dựng trên núi Phật Tích (còn gọi là núi Lạn Kha, núi Tiên Du, núi Nguyệt Hằng), cửa mở ra hướng Tây, trước mặt là sông Đuống.

Về cơ bản, kiến trúc chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị Tam thế Phật, 8 gian nhà tổ và 7 gian nhà thờ thánh Mẫu. Ngôi chùa có kiến trúc của thời Lý, thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60 m, rộng khoảng 33 m, mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật.

Tính từ cổng chùa lên đến vườn tháp, khu vực chùa có 3 lớp. Từ cổng chùa nhìn vào, qua một đoạn đường bằng, là những bậc đá lên vườn chùa. Vườn chùa là khu đất cao hơn khu vực cổng chùa 3,7 mét và được kè đá chắc chắn. Dãy tường đá dài 58 mét, dưới chân có một cấp nữa, được kè vuông góc với bờ tường cấp thứ hai rộng một mét, cao 0,75 mét.

Quảng cáo

Chính giữa chiều dài bức tường có một con đường đá rộng 5 mét được cấu tạo thành 30 bậc. Đi hết 30 bậc sẽ lên đến nền gác chuông (rộng 11 mét, dài 13 mét. Đi tiếp đến lớp nền thứ hai. Lớp nền này rộng 62 mét, có tường đá cao 5 mét. Ở khoảng giữa bức tường dài cũng có con đường đốc với những bậc đá dẫn lên chùa. Nằm đối xứng giữa hai bậc đá dẫn lên chùa, tại mép tường đá là hai dãy tượng thú thờ bằng đá, gồm 10 con: sấu, ngựa, trâu, voi, sư tử (mỗi giống có hai con). Lớp nền thứ hai có chiều sâu 66 mét. Tại lớp nền này, các công trình kiến trúc chính được hiện diện.

Điểm độc đáo của chùa Phật Tích không chỉ là những công trình kiến trúc mà còn là các tác phẩm điêu khắc đá cổ kính. Trước hết phải kể đến pho tượng đá A Di Đà. Tượng được đặt trên bệ tòa sen bằng đá. Tòa sen được đặt trên bệ đá hình bát giác với nghệ thuật chạm khắc rất tinh xảo. Bệ tòa sen được tạo hình các đóa sen đang nở với hai tầng cánh Theo các nhà nghiên cứu mỹ thuật, tượng đá A Di Đà là tác phẩm điêu khắc thời Lý. Các họa tiết trang trí, phù điêu quanh tượng hết sức tỷ mỷ, sống động.

Bức tượng mình người đầu chim đang vỗ trống. Tượng được cho là hình ảnh của thần nhạc công. Tượng được tạc bằng chất liệu đá xanh. Khuôn mặt tượng phúc hậu hiền từ, toát lên vẻ trí tuệ và thánh thiện. Cặp lông mày cong thanh tú, đôi mắt nhỏ mơ màng, đôi má bầu bĩnh, ngực nở, cổ tay tròn, mập mạp, đôi cánh xòe rộng, bộ lông đuôi dài hất ngược lên, hai chân cứng khỏe với những móng cong sắc. Tượng người- chim có bộ lông mượt mà; các phần cánh, đuôi, bụng, chân được diễn tả bằng những đường uốn cong, mềm mại,… Trên búi tóc tượng người- chim có cài những dải hoa và kết thành dải dài để giữ lấy làn tóc trên trán.

Trước sân chùa là hàng tượng lính thú. Mười linh thú gồm 5 đôi: sấu, ngựa, trâu, voi, sư tử. Những con vật này đều gắn bó hoặc có liên quan đến cuộc đời và nghiệp truyền đạo của đức Phật Thích ca Mâu ni. 10 linh thú trước sân chùa Phật Tích đều được tạc bằng đá nguyên khối (trừ con trâu). Riêng phần tai, sừng, đuôi được làm rời rồi lắp ghép vào thân linh thú bằng liên kết mộng.

Tại giữa cửa tầng nền thứ ba, cách mép nền 14,30 mét có một ao nhỏ, gọi là Long trì (ao rồng). Ao có chiều dài 7 mét, chiểu rộng 5 mét, sâu 2 mét. Bốn xung quanh bờ đều được kè bằng đá tảng, vách đứng, vuông góc. Theo truyền thuyết, ao rồng để lộ phần đuôi rồng, còn đầu rồng hiện đã tìm thấy ở giếng Ngọc. Trước đây ao rồng đầy nước quanh năm. Nhưng lâu nay, ao đã bị khô cạn.

Nổi tiếng và độc đáo nhất di tích chùa Phật tích chính là các ngọn bảo tháp. Trong vườn tháp của chùa Phật Tích có 36 ngọn bảo tháp. Ngọn tháp lớn nhất là Tháp Phổ Quang, cao 5,10 m gồm đế, khám thờ, hai tầng diềm và mái mui luyện với chóp tròn. Vườn tháp được bố trí ở tầng nền thứ 3, tầng nền cao nhất.

Phần lớn các tháp ở đây đến nay còn đọc được tên và niên đại an tháp. Ngoài các tháp đá, tại sườn phía trái núi Phật Tích có một số tháp gạch. Một số tháp có văn bia với nét chữ còn tương đối rõ, ghi chép về hành trạng của vị thiền sư được an trong tháp. Trong quá khứ, một vài bảo vật của chùa đã bị trộm cắp. Một phần khác hiện đang được lưu giữ và bảo quản tại bảo tàng mỹ thuật Việt Nam.Sách và văn học

Chùa Phật Tích ngày nay đã được sửa chữa, tu bổ tương đối tốt. Dù nét xưa tích cũ đã bị hư hoại nhiều theo thời gian, lại cộng thêm sự tàn phá chiến tranh, thế nhưng ngày nay toàn bộ di tích chùa Phật Tích được tôn tạo, trùng tu và gìn giữ khá hoàn chỉnh.

Hàng năm vào ngày 4 tết Nguyên Đán, nhân dân quanh chùa Phật Tích thường mở hội truyền thống để tưởng nhớ công lao các vị tiền bối đã khai sinh và tu tạo chùa. Trong những ngày xuân tưng bừng ấy, khách thập phương về đây lễ Phật, hái hoa mẫu đơn, thưởng ngoạn cảnh đẹp vùng Kinh Bắc hoặc tham dự các trò chơi ngày hội như đấu vật, chơi cờ, đánh đu, hát quan họ.

Năm 2009, với sự giúp đỡ về tài chính của một số nhà hảo tâm và của chính quyền các cấp tỉnh Bắc Ninh, chùa Phật Tích đã tổ chức trưng bày tượng Phật ngọc lớn nhất thế giới với hàng chục triệu người đến chiêm bái.

Di tích chùa Phật Tích là một chứng nhân lịch sử phản ánh và lưu giữ văn hóa của nhân dân từ lúc chùa  mới hình thành cho đến tận ngày nay. Những hiện vật vô cùng quý giá còn sót lại cho sự xuất hiện sớm và phát triển nhanh, mạnh mẽ, liên tục của một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta. Đồng thời qua những hiện vật, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về trình độ văn minh, trình độ khoa học kỹ thuật của ông cha ta thưở trước và công sức tài nghệ của những người thợ chạm khắc đá, kiến trúc xây dựng chùa. Chính những di sản văn hoá quý báu đó là tài liệu sống động, đầy sức thuyết phục trong hành trình về cội nguồn dân tộc nói chung và mỹ thuật chùa chiền nói riêng.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Phật Tích - mẫu 2

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng trong câu ca dân gian là xứ sở của những làn điệu dân ca Quan họ đằm thắm, ngọt ngào. Tuy nhiên, sức hấp dẫn của mảnh đất này không chỉ nằm ở âm thanh tiếng hát, mà còn ở bề dày lịch sử – văn hóa với nhiều công trình kiến trúc tâm linh cổ kính. Trong số đó, chùa Phật Tích được xem như một viên ngọc quý, vừa mang vẻ đẹp thanh bình của thiên nhiên, vừa lưu giữ những giá trị văn hóa – nghệ thuật đặc sắc của dân tộc từ ngàn đời.

Chùa Phật Tích, còn có tên chữ là Vạn Phúc Tự, tọa lạc trên sườn phía nam núi Phật Tích (còn gọi là núi Lạn Kha), thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi chùa cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía đông bắc. Nơi đây có địa thế phong thủy hài hòa, lưng tựa núi cao, mặt hướng ra cánh đồng và dòng sông Đuống hiền hòa phía trước. Núi Lạn Kha cũng gắn liền với nhiều truyền thuyết dân gian nổi tiếng như chuyện tiều phu Vương Chất xem tiên đánh cờ đến quên cả thời gian, hay câu chuyện Từ Thức gặp tiên Giáng Hương, tạo nên một không gian vừa linh thiêng vừa huyền ảo.

Về lịch sử, chùa Phật Tích là một trong những ngôi cổ tự lâu đời ở Việt Nam. Theo các tài liệu lịch sử, chùa được khởi dựng từ rất sớm và phát triển rực rỡ nhất vào thời Lý, đặc biệt dưới triều Lý Thánh Tông. Tương truyền, vào năm 1057, vua cho xây tháp và đặt tượng Phật quý tại đây, từ đó hình thành tên gọi Phật Tích – gắn với sự tích “Phật hiện”. Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là trong chiến tranh, chùa từng bị tàn phá nặng nề vào năm 1947. Sau đó, từ năm 1959 trở đi, chùa được trùng tu, phục dựng dần trên nền móng cũ và hiện nay đã trở thành di tích quốc gia đặc biệt.

Bước vào khuôn viên chùa, du khách sẽ cảm nhận rõ kiến trúc mang đậm dấu ấn thời Lý với bố cục “nội công ngoại quốc”, hài hòa giữa công trình và thiên nhiên. Chùa được xây dựng theo kiểu giật cấp trên sườn núi với ba tầng nền chính. Từ chân núi đi lên là hệ thống bậc đá rêu phong, hai bên là những cây đại cổ thụ tỏa bóng mát. Cấp nền thứ nhất gồm khu vườn cảnh và hành lang. Cấp nền thứ hai là khu trung tâm với Tam Bảo, nhà tổ và các công trình thờ tự chính. Lên đến cấp nền cao nhất là khu vườn tháp và không gian mở, nơi đặt tượng Phật lộ thiên giữa trời đất.

Giá trị nổi bật nhất của chùa Phật Tích nằm ở hệ thống cổ vật và nghệ thuật điêu khắc đá thời Lý. Tiêu biểu là tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh, được xem là một kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời trung đại. Tượng mang vẻ đẹp thanh thoát, từ bi, với đường nét tinh xảo, hài hòa. Bên cạnh đó là hệ thống linh thú đá như sư tử, voi, ngựa… được bố trí dọc lối lên chùa, thể hiện trình độ chạm khắc điêu luyện và tư duy thẩm mỹ đặc sắc của cha ông.

Không chỉ có giá trị kiến trúc và nghệ thuật, chùa Phật Tích còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng quan trọng của người dân Kinh Bắc. Hằng năm, vào ngày mùng 4 tháng Giêng âm lịch, lễ hội chùa Phật Tích được tổ chức long trọng, thu hút đông đảo du khách và phật tử. Đến với lễ hội, người ta không chỉ dâng hương cầu an mà còn được tham gia nhiều hoạt động văn hóa dân gian như hát quan họ, cờ người, và thưởng ngoạn cảnh sắc mùa xuân.

Thời gian có thể làm phai mờ nhiều dấu tích, nhưng vẻ đẹp cổ kính và giá trị linh thiêng của chùa Phật Tích vẫn còn nguyên vẹn. Ngôi chùa không chỉ là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn là chứng nhân lịch sử, lưu giữ tinh hoa văn hóa – nghệ thuật của dân tộc Việt Nam. Với mỗi du khách, hành trình đến Phật Tích là một chuyến trở về với sự bình yên trong tâm hồn, đồng thời thêm tự hào về những giá trị truyền thống mà cha ông để lại.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Dâu - mẫu 3

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng là cái nôi của nền văn minh lúa nước và vùng đất giàu truyền thống văn hiến. Không chỉ được biết đến với những làn điệu quan họ đằm thắm, nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử – văn hóa có giá trị đặc biệt. Trong số đó, chùa Dâu được xem là một trong những ngôi cổ tự tiêu biểu nhất, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam.

Chùa Dâu, còn gọi là Diên Ứng Tự hay Cổ Châu Tự, tọa lạc tại phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km về phía Đông Bắc. Ngôi chùa nằm trong quần thể di tích Luy Lâu xưa – trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa quan trọng của Giao Châu trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Với vị trí giữa không gian làng quê yên bình, bao quanh bởi sông Dâu và đồng ruộng, chùa mang vẻ đẹp cổ kính, thanh tịnh và linh thiêng.

Về lịch sử, chùa Dâu được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, gắn với sự du nhập sớm của Phật giáo vào nước ta. Chùa hình thành từ rất sớm, phát triển mạnh trong thời kỳ Luy Lâu trở thành trung tâm Phật giáo lớn. Trải qua nhiều biến động lịch sử, chùa đã nhiều lần được trùng tu, trong đó có những lần lớn dưới các triều đại phong kiến. Với giá trị đặc biệt, chùa Dâu hiện được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

Về kiến trúc, chùa Dâu mang kiểu bố cục “nội công ngoại quốc” quen thuộc của kiến trúc chùa cổ miền Bắc. Quần thể gồm các dãy nhà bao quanh tạo thành khuôn viên khép kín, bên trong là tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Điểm nhấn nổi bật của khu di tích là tháp Hòa Phong nằm giữa sân chùa, được xây bằng gạch nung cổ, hiện còn ba tầng, mang vẻ đẹp trầm mặc theo thời gian. Đây là một trong những công trình tiêu biểu thể hiện dấu ấn kiến trúc Phật giáo cổ Việt Nam.

Giá trị đặc sắc nhất của chùa Dâu nằm ở hệ thống tín ngưỡng Tứ Pháp – sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng nông nghiệp bản địa. Chùa thờ Pháp Vân (thần mây), cùng hệ thống các nữ thần như Pháp Vũ (mưa), Pháp Lôi (sấm), Pháp Điện (chớp). Hệ thống thờ tự này phản ánh tư duy tâm linh gắn liền với đời sống sản xuất nông nghiệp của cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ nhiều tượng cổ và hiện vật có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân xưa.

Không chỉ có giá trị lịch sử và kiến trúc, chùa Dâu còn là trung tâm lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc. Hằng năm, vào ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch, lễ hội chùa Dâu được tổ chức long trọng với nhiều nghi thức truyền thống, trong đó nổi bật là lễ rước tượng Tứ Pháp. Lễ hội thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia, với các hoạt động văn hóa dân gian như múa rồng, cướp nước, hát giao duyên… thể hiện đời sống tinh thần phong phú của cư dân địa phương.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, chùa Dâu vẫn giữ được vị thế là một biểu tượng văn hóa – tâm linh tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là một danh lam thắng cảnh cổ kính, chùa còn là chứng nhân lịch sử quan trọng, lưu giữ những giá trị tinh thần sâu sắc của người Việt qua nhiều thế hệ.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Dâu - mẫu 4

Bắc Ninh là vùng đất cổ kính, nổi tiếng với những làn điệu quan họ ngọt ngào, tha thiết; các di tích chùa, đình, miếu, mạo nhiều bậc nhất cả nước. Bên cạnh chùa Phật Tích, một trong những di tích cổ xưa nhất, có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với đời sống tinh thần người Bắc Ninh chính là chùa Dâu - một cổ tự mang đậm dấu ấn Phật giáo vốn rất thịnh hành từ xưa đến nay ở vùng đất này.

Chùa Dâu còn có tên chùa Cả, Cổ Châu Tự, Diên Ứng Tự. Đây là nơi hình thành và phát triển sớm nhất của phật giáo Việt Nam. Chùa Dâu là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay gắn với kỳ tích chùa trăm gian, tháp chín tầng, cầu chín nhịp. Chùa Dâu được xây dựng vào buổi đầu Công Nguyên (khoảng từ năm 187 và hoàn thành năm 226). Đây là ngôi chùa lâu đời nhất và gắn liền với lịch sử văn hóa, Phật giáo Việt Nam. Từ buổi đầu sơ khai cho đến tận ngày nay, chùa đã trải qua nhiều lần phục dựng, trùng tu do sự hủy hoại của thời gian và chiến tranh.

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt Nam, chùa Dâu được xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi nhà chính: tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Tiền đường của chùa Dâu đặt tượng Hộ pháp, tám vị Kim Cương; Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long, hai bên có tượng các vị Diêm Vương, Tam châu Thái tử, Mạc Đĩnh Chi. Thượng điện để tượng Bà Dâu (Pháp Vân), Bà Đậu (Pháp Vũ), và các hầu cận. Các pho tượng Bồ tát, Tam thế, Đức ông, Thánh tăng được đặt ở phần hậu điện phía sau chùa chính.

Ở gian giữa chùa có tượng Bà Dâu, hay nữ thần Pháp Vân, uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun, cao gần 2m được bày ở gian giữa. Tượng có gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ Ấn Độ, tới quê hương Tây Trúc. Ở hai bên là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ. Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá, tương truyền là em út của Tứ Pháp. Bên trái của thượng điện có pho tượng thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, vị tổ sư sáng lập phái thiền tông ở việt Nam đã từng đến kiết trụ thiền định ở chùa này. Bức tượng được đặt trên một kệ gỗ hình sư tử đội tòa sen, có thể có niên đại thế kỷ 14.

Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới, cao khoảng 17 m nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Mặt trước tầng 2 có gắn bảng đá khắc chữ “Hòa Phong tháp”. Chân tháp vuông, mỗi cạnh gần 7m. Tầng dưới có 4 cửa vòm. Trong tháp, treo một quả chuông đồng đúc năm 1793 và một chiếc khánh đúc năm 1817. Có 4 tượng Thiên Vương cao 1,6 m ở bốn góc. Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 m, cao 0,8 m. Tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán.

Trải qua hàng ngàn năm, phần “lễ” của hội đã ít nhiều bị mai một, mặc dù vậy chúng ta vẫn nhận thấy chân nét đẹp, giá trị văn hóa truyền thống phản ánh đời sống tín ngưỡng đa dạng, sự sáng tạo phong phú của người xưa còn được lưu giữ đến ngày nay. Di tích lịch sử chùa Dâu đi vào đời sống dân gian từ bao đời nay. Mặc dù ngày nay, di tích chùa Dâu không còn như xưa nữa nhưng ý nghĩa và giá trị của nó vẫn còn nguyên vẹn trong lòng con người:

Dù ai buôn đâu bán đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Bút Tháp - mẫu 5

Nếu như chùa Phật Tích mang đậm dấu ấn vương quyền thời Lý, chùa Dâu lưu giữ hơi thở buổi đầu Phật giáo du nhập, thì chùa Bút Tháp lại là đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cổ thế kỷ XVII. Nằm soi bóng bên dòng sông Đuống hiền hòa, ngôi cổ tự này không chỉ là một chốn bồng lai thanh tịnh mà còn là một bảo tàng nghệ thuật sống động. Chùa Bút Tháp chính là biểu tượng cho sự khéo léo, tư duy thẩm mỹ đỉnh cao và lòng sùng kính Phật pháp của cha ông ta thời Lê Trung Hưng.

Chùa Bút Tháp tọa lạc tại bờ nam sông Đuống thuộc thôn Nhạn Tháp, xã Đình Tổ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi chùa nằm giữa một vùng đồng bằng trù phú, xung quanh là những bãi bồi xanh mướt, mang đậm nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ. Tên chữ của chùa là Ninh Phúc Tự, với ý nghĩa cầu mong cho mọi người luôn được hưởng phúc lành và sự bình yên. Cái tên dân gian "Bút Tháp" xuất phát từ thời vua Tự Đức nhà Nguyễn, khi nhà vua tuần du qua đây, nhìn thấy ngọn tháp đá sừng sững trông giống như một cây bút khổng lồ viết lên nền trời xanh nên đã ban tên gọi này cho ngôi tháp, từ đó người dân quen gọi là chùa Bút Tháp.

Về lịch sử hình thành, mặc dù có những dấu tích cho thấy chùa được khởi dựng từ thời Trần, nhưng diện mạo hoàn chỉnh và quy mô bề thế như ngày nay là nhờ công lao trùng tu lớn vào thế kỷ XVII dưới thời Lê Trung Hưng. Vào khoảng những năm 1646 – 1647, Hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cùng con gái là Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên đã từ bỏ nhung lụa cung đình, về đây xuất gia và phát tâm đóng góp tiền của để xây dựng lại ngôi chùa. Dưới sự chủ trì của Thiền sư Chuyết Chuyết và người học trò là Thiền sư Minh Hành, chùa Bút Tháp đã trở thành một trung tâm Phật giáo sầm uất, có kiến trúc hoàn chỉnh và quy củ bậc nhất thời bấy giờ.

Điểm độc đáo của chùa Bút Tháp nằm ở bố cục kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc" nhưng được kéo dài một cách vô cùng sáng tạo trên một trục chính duy nhất. Đi từ ngoài vào trong, du khách sẽ lần lượt đi qua các công trình: Tam quan, Gác chuông, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, Tích thiện am, Nhà trung, Phủ thờ và cuối cùng là Hậu đường. Sự sắp xếp tuần tự này tạo ra một không gian có chiều sâu thăm thẳm, dẫn dắt tâm trí con người từ cõi thực bước dần vào thế giới tâm linh tĩnh lặng. Đặc biệt, tòa Tích thiện am ba tầng mái là nơi lưu giữ cây cửu phẩm liên hoa – một tháp quay bằng gỗ chín tầng chạm khắc tinh xảo các hình ảnh Phật giáo, thể hiện triết lý luân hồi và con đường tu tập của chúng sinh.

Nhắc đến chùa Bút Tháp, không thể không nhắc đến pho tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay – một Tuyệt tác Bảo vật quốc gia. Pho tượng do nghệ nhân Trương Thọ Nam tạc vào năm 1656 bằng gỗ mít sơn son thếp vàng. Tượng cao hơn 2 mét, ngự trên tòa sen do một con rồng nâng đỡ từ dưới lòng đại dương. Tượng có 42 cánh tay lớn kết ấn hoặc cầm các pháp bảo, phía sau là một vầng hào quang khổng lồ được tạo nên từ gần một nghìn cánh tay nhỏ, trong mỗi lòng bàn tay lại có một con mắt nhỏ nhìn thấu khắp nhân gian. Pho tượng vừa uy nghiêm, vừa từ bi, dường như đã đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối về cả tỷ lệ giải phẫu học lẫn đỉnh cao điêu khắc dân gian Việt Nam.

Bên cạnh hệ thống tượng Phật, cảnh quan kiến trúc của chùa còn được tôn lên nhờ hai ngọn tháp đá nổi tiếng. Ngọn tháp thứ nhất là tháp Báo Nghiêm, nơi đặt xá lị của Thiền sư Chuyết Chuyết. Tháp cao 13 mét gồm năm tầng, được dựng hoàn toàn bằng đá xanh trông như một cây bút uy nghi viết lên trời cao. Ngọn tháp thứ hai là tháp Tôn Đức, nơi yên nghỉ của Thiền sư Minh Hành. Sự kết hợp giữa chất liệu đá xám lạnh và chất liệu gỗ ấm áp của các tòa điện tạo nên một sự hài hòa, cổ kính và trầm mặc cho không gian toàn cảnh của ngôi chùa. Hàng năm, vào ngày mùng 23 và 24 tháng Ba âm lịch, hội chùa Bút Tháp lại được mở ra để người dân khắp nơi về dâng hương, tham gia các trò chơi dân gian và hát giao duyên trên dòng sông Đuống.

Dẫu trải qua gần bốn thế kỷ với bao thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của thời gian, chùa Bút Tháp vẫn đứng vững chãi, giữ nguyên vẹn cái hồn cốt mỹ thuật thời Lê Trung Hưng. Ngôi chùa không chỉ là một danh lam thắng cảnh làm say lòng bao du khách bởi vẻ đẹp kiến trúc rêu phong, mà còn là một kho tàng văn hóa dân tộc có giá trị học thuật vô giá. Bước đi dưới những mái ngói thâm nghiêm, ngắm nhìn những đường chạm trổ tài hoa của người xưa, mỗi chúng ta đều cảm thấy lòng mình lắng lại, thêm trân trọng và tự hào về một thời kỳ vàng son của nền mỹ thuật cổ nước nhà.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Đền Bà Chúa Kho - mẫu 6

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng là cái nôi của văn hiến lâu đời với hàng loạt đền chùa cổ kính. Bên cạnh những ngôi chùa Phật giáo thanh tịnh, Bắc Ninh còn sở hữu những công trình tâm linh gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu độc đáo của dân tộc. Trong số đó, đền Bà Chúa Kho hiện lên như một biểu tượng của lòng tri ân và niềm tin tài lộc. Nằm tựa lưng vào núi Kho sừng sững, ngôi đền không chỉ là một danh lam thắng cảnh thơ mộng mà còn là điểm đến tâm linh thu hút đông đảo du khách thập phương bậc nhất khu vực miền Bắc.

Đền Bà Chúa Kho tọa lạc trên sườn núi Kho, thuộc khu Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30 km về phía Đông Bắc. Vị trí của đền vô cùng đắc địa khi phía trước là dòng sông Cầu hiền hòa, phía sau là núi Kho vững chãi bao bọc. Không gian nơi đây vừa mang vẻ tĩnh mịch, trang nghiêm của chốn thờ tự, vừa mang nét khoáng đạt, trong lành của cảnh sắc thiên nhiên non nước hữu tình.

Vẻ đẹp cảnh sắc và sự linh thiêng nơi đây đã từng đi vào những câu thơ dân gian ca ngợi:

“Ai về Cổ Mễ mà coi

Núi Kho đứng đó, sông Cầu nước xuôi

Đền thờ Linh Từ ngút trời

Chúa Kho hiển thánh độ trì muôn dân.”

Về lịch sử hình thành, đền gắn liền với huyền tích về một người phụ nữ thời Lý có công trong việc trông coi kho lương thực tại núi Kho, phục vụ quân đội trong cuộc kháng chiến chống quân Tống. Sau khi bà hy sinh, nhà vua và nhân dân đã lập đền thờ ngay tại vị trí kho cũ để tưởng nhớ công lao. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền được gìn giữ và trùng tu, trở thành một công trình khang trang, uy nghi như ngày nay.

Về kiến trúc, đền Bà Chúa Kho mang đậm dấu ấn truyền thống, được xây dựng theo địa hình sườn núi. Sau khi qua cổng Tam quan, du khách sẽ lần lượt bước qua các bậc đá dẫn lên các không gian thờ tự. Quần thể kiến trúc gồm tiền tế, trung cung và hậu cung (cung cấm), trong đó cung cấm là nơi đặt tượng thờ Bà Chúa Kho linh thiêng. Hệ thống kiến trúc với cột kèo gỗ và các họa tiết long – ly – quy – phụng thể hiện sự tinh xảo của nghệ thuật dân gian.

Không chỉ là một công trình kiến trúc có giá trị, đền Bà Chúa Kho còn là trung tâm tín ngưỡng lớn của cả nước. Hằng năm, vào dịp đầu xuân, lễ hội đền được tổ chức, đặc biệt là ngày 12 tháng Giêng (ngày giỗ Bà). Từ rất sớm, đông đảo du khách đã về đây “lễ vay vốn”, cầu mong một năm làm ăn thuận lợi. Đến cuối năm, họ lại trở về “trả lễ”, tạo nên nét văn hóa tâm linh đặc sắc, sôi động nhưng vẫn trang nghiêm.

Trải qua thời gian, đền Bà Chúa Kho vẫn giữ được giá trị linh thiêng và trở thành điểm tựa tinh thần quan trọng của người dân. Không chỉ là một danh lam thắng cảnh đẹp, nơi đây còn thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Đến với đền, con người như tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn và thêm trân trọng những giá trị văn hóa lâu đời của cha ông.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Đền Đô - mẫu 7

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã được coi là mảnh đất "địa linh nhân kiệt", nơi phát tích của triều đại nhà Lý rực rỡ trong lịch sử dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm, dấu ấn của triều đại ấy vẫn vẹn nguyên và kết tinh sống động tại đền Đô. Nằm bình yên bên dòng sông Tiêu Tương cổ kính, đền Đô không chỉ là một danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp với kiến trúc cung đình bề thế, mà còn là chốn linh thiêng hội tụ linh khí của đất trời, nơi người dân đất Việt tìm về để tri ân công đức của các bậc tiền nhân.

Đền Đô, còn gọi là Cổ Pháp Điện hay đền Lý Bát Đế, tọa lạc tại phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km về phía bắc. Vùng đất Đình Bảng xưa kia vốn là quê hương của vĩ nhân Lý Công Uẩn và cũng là nơi đặt lăng mộ của các vị vua nhà Lý. Đền Đô được xây dựng trên một cuộc đất hội tụ thế phong thủy quý giá: "đầu gối núi sấm, chân giẫm sông Tiêu", xung quanh là đồng ruộng bằng phẳng, mang lại cho ngôi đền một không gian vừa trang nghiêm, uy nghi, vừa thoáng đãng và hòa hợp với thiên nhiên làng quê xứ Bắc.

Về lịch sử hình thành, đền Đô được khởi dựng từ thế kỷ thứ XI. Vào năm 1010, sau khi dời đô về Thăng Long, vua Lý Thái Tổ đã trở lại thăm quê hương Cổ Pháp. Sau khi nhà vua băng hà, người kế nhiệm là vua Lý Thái Tông đã cho xây dựng Cổ Pháp Điện trên nền đất cũ để làm nơi thờ tự lăng vua cha. Dần theo thời gian, nơi đây trở thành nơi thờ tự chung của 8 vị vua nhà Lý bao gồm: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đền đã bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Đến năm 1989, đền Đô bắt đầu được khởi công tái thiết, trùng tu từng bước dựa trên đúng bản vẽ kiến trúc cổ kính cũ nhờ sự đóng góp của nhân dân khắp mọi miền. Với những giá trị lịch sử độc nhất vô nhị, đền Đô đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt.

Kiến trúc của đền Đô là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cung đình hoàng gia và kiến trúc dân gian truyền thống, chia thành hai khu vực rõ rệt là nội thành và ngoại thành. Bước qua cổng tam quan ngoại, du khách sẽ đến khu vực ngoại thành rộng lớn với điểm nhấn là hồ bán nguyệt trong vắt. Giữa hồ sừng sững nhà Thủy Đình với mái đao cong vút mềm mại, ngày nay là nơi biểu diễn hát Quan họ phục vụ du khách. Đối diện với hồ bán nguyệt là bức cuốn thư bằng gốm Bát Tràng khổng lồ, chạm khắc bài "Chiếu dời đô" khẳng định tầm nhìn thiên tài của Lý Thái Tổ. Đi sâu vào bên trong qua cổng ngũ môn là khu vực nội thành nghiêm trang. Công trình trung tâm là tòa Đại Bái và Hậu Cung uy nghi, được xây dựng bằng những loại gỗ quý và đá xanh nguyên khối. Bên trong Hậu Cung là nơi đặt bài vị và tượng thờ của 8 vị vua nhà Lý được chạm khắc vô cùng tinh xảo, uy nghiêm.

Không chỉ là một kiệt tác kiến trúc, đền Đô còn là trung tâm văn hóa tâm linh của vùng Kinh Bắc với lễ hội đền Đô được tổ chức hàng năm vô cùng long trọng. Lễ hội diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Ba âm lịch (chính hội là ngày 15 tháng Ba, kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang). Đây là một trong những lễ hội lớn nhất của tỉnh Bắc Ninh, thu hút hàng vạn người dân và du khách thập phương về tham dự. Điểm độc đáo nhất của lễ hội là tiếng trống hội vang trời cùng màn rước kiệu kéo dài hàng cây số với hàng ngàn người tham gia trong trang phục cổ trang lộng lẫy. Ngoài phần lễ trang nghiêm, phần hội còn tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao dân gian phong phú như thi gói bánh phu thê, đấu vật, cờ người và hát Quan họ trên thuyền rồng.

Trải qua biết bao biến thiên của thời gian, đền Đô vẫn đứng hiên ngang, uy nghiêm như một đài kỷ niệm sống động về một triều đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc. Ngôi đền không chỉ là một danh lam thắng cảnh thanh bình, thơ mộng làm say đắm lòng người, mà còn là cội nguồn tâm linh, là nơi giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Đến với đền Đô, đứng trước lăng tẩm các bậc vĩ nhân và lắng nghe tiếng gió vi vu qua hàng cây cổ thụ, mỗi người con đất Việt đều cảm thấy lòng mình lắng lại, thêm trân trọng những giá trị hòa bình, độc lập mà cha ông đã dày công vun đắp từ ngàn năm trước.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Đình làng Đình Bảng - mẫu 8

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã được xem như một “bảo tàng văn hóa sống” của dân tộc Việt Nam với hệ thống đền, chùa, đình làng dày đặc và giàu giá trị lịch sử. Trong kho tàng di sản ấy, đình làng Đình Bảng nổi bật như một kiệt tác kiến trúc gỗ độc đáo, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thời Lê Trung Hưng. Trải qua hơn ba thế kỷ tồn tại, ngôi đình không chỉ là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng mà còn là niềm tự hào của người dân xứ Kinh Bắc.

Đình làng Đình Bảng tọa lạc tại phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 km về phía Bắc. Ngôi đình được xây dựng trên một khu đất cao giữa làng, phía trước là hồ nước rộng, tạo thế phong thủy “tụ thủy – tụ tài” hài hòa và đẹp mắt. Không gian xung quanh đình là những hàng cây cổ thụ xanh mát cùng nếp nhà ngói rêu phong, góp phần tạo nên vẻ đẹp thanh bình, cổ kính của làng quê Bắc Bộ.

Vẻ đẹp và vị thế của đình Đình Bảng đã đi vào ca dao dân gian với câu nói quen thuộc:

“Thứ nhất là đình Đông Khang,

Thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm.”

Về lịch sử, đình được khởi công xây dựng năm 1700 và hoàn thành vào năm 1736, kéo dài suốt 36 năm. Công trình gắn liền với công lao của quan Thần bộc Nguyễn Thạc Lượng cùng phu nhân Nguyễn Thị Nguyên. Đình là nơi thờ các vị thành hoàng làng như Cao Sơn đại vương, Thủy Hải đại vương, Bạch Mã đại vương và những vị có công lập làng từ thế kỷ XV. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình từng bị chiếm đóng, nhưng nhờ sự bảo vệ của nhân dân, công trình vẫn giữ được giá trị kiến trúc cốt lõi. Hiện nay, đình Đình Bảng đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

Về kiến trúc, đình mang phong cách thời Lê Trung Hưng với quy mô đồ sộ và nghệ thuật tinh xảo. Tổng thể công trình gồm tòa Đại đình và Hậu cung bố trí theo hình chữ “Đinh”. Đại đình có kết cấu gỗ lớn, không gian rộng rãi, thoáng đãng. Mái đình lợp ngói mũi hài, uốn cong mềm mại ở bốn góc như những cánh chim đang vươn mình giữa trời cao.

Toàn bộ công trình được nâng đỡ bởi hệ thống cột gỗ lim nguyên khối đồ sộ, tạo nên sự vững chãi và bền bỉ theo thời gian. Đặc biệt, nghệ thuật chạm khắc trên đình đạt đến trình độ đỉnh cao với các đề tài tứ linh, tứ quý và hình tượng rồng uyển chuyển, sống động, thể hiện tài hoa của nghệ nhân dân gian xứ Bắc.

Không chỉ là công trình kiến trúc đặc sắc, đình Đình Bảng còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa – lễ hội quan trọng của cộng đồng. Hằng năm, lễ hội đình diễn ra từ ngày 12 đến 14 tháng Hai âm lịch, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Trong không khí trang nghiêm mà rộn ràng ấy, người dân tổ chức dâng hương, tưởng nhớ công đức tổ tiên, đồng thời tham gia các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người và đặc biệt là những làn điệu quan họ mượt mà – nét đặc trưng của văn hóa Kinh Bắc.

Trải qua hơn 300 năm lịch sử, đình làng Đình Bảng vẫn sừng sững như một chứng nhân văn hóa của thời gian. Ngôi đình không chỉ mang giá trị kiến trúc – nghệ thuật đặc sắc mà còn là biểu tượng của truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Đến với đình Đình Bảng, con người như được trở về cội nguồn văn hóa, lắng lại giữa không gian cổ kính để thêm tự hào về những giá trị cha ông đã dày công gìn giữ.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Làng Gốm Phù Lãng - mẫu 9

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu nổi tiếng không chỉ bởi những làn điệu dân ca Quan họ ngọt ngào mà còn bởi những làng nghề truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc. Trong số đó, làng gốm Phù Lãng được xem như một nét chấm phá đặc biệt của quê hương Bắc Ninh. Với lịch sử hơn bảy thế kỷ, nơi đây không chỉ là một làng nghề nổi tiếng mà còn là điểm đến hấp dẫn, lưu giữ vẻ đẹp mộc mạc và tinh hoa lao động của người Việt.

Làng gốm Phù Lãng nằm bên bờ sông Cầu thuộc xã Phù Lãng, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 60 km về phía đông bắc. Ngôi làng hiện lên bình yên giữa khung cảnh làng quê Bắc Bộ với những con đường nhỏ quanh co, những rặng tre xanh và những mái nhà cổ kính. Điều gây ấn tượng mạnh nhất đối với du khách khi đặt chân tới đây là những bức tường, cổng làng hay hàng rào được xây dựng từ các mảnh gốm vỡ, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo, vừa mộc mạc vừa đậm chất nghệ thuật.

Theo truyền thuyết, nghề gốm Phù Lãng có từ thời nhà Trần và được truyền dạy bởi ông tổ nghề Lưu Phong Tú. Trải qua nhiều thế kỷ phát triển, người dân nơi đây đã gìn giữ và phát huy nghề truyền thống của cha ông. Từ những sản phẩm phục vụ đời sống thường ngày như chum, vại, bình vôi, tiểu sành, làng nghề đã không ngừng đổi mới để tạo ra nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện đại.

Điểm đặc sắc làm nên thương hiệu của gốm Phù Lãng chính là chất liệu và kỹ thuật chế tác truyền thống. Đất làm gốm được lựa chọn kỹ lưỡng, có màu hồng đặc trưng và khả năng chịu nhiệt cao. Dưới đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, những khối đất vô tri được tạo hình thành các sản phẩm mang vẻ đẹp khỏe khoắn, giản dị nhưng không kém phần tinh tế. Đặc biệt, lớp men da lươn màu nâu vàng đặc trưng cùng kỹ thuật nung bằng lò củi truyền thống đã tạo nên những sản phẩm có màu sắc độc đáo, không sản phẩm nào hoàn toàn giống sản phẩm nào.

Đến với Phù Lãng, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những sản phẩm gốm mà còn có cơ hội tìm hiểu quy trình làm gốm và trực tiếp trải nghiệm các công đoạn tạo hình trên bàn xoay. Hình ảnh những lò gốm đỏ lửa, những người thợ cần mẫn bên khối đất sét hay những sản phẩm phơi mình dưới nắng đã tạo nên một bức tranh lao động bình dị nhưng đầy sức sống. Đây cũng chính là nét hấp dẫn riêng khiến Phù Lãng trở thành điểm đến yêu thích của nhiều du khách trong và ngoài nước.

Trải qua bao biến động của thời gian, làng gốm Phù Lãng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống và sức sống bền bỉ của một làng nghề cổ. Không chỉ góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc, nơi đây còn là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh nói riêng và của Việt Nam nói chung. Mỗi sản phẩm gốm được tạo ra không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn chứa đựng tâm huyết, tài năng và tình yêu nghề của biết bao thế hệ nghệ nhân. Vì vậy, làng gốm Phù Lãng mãi là một điểm sáng trong bức tranh văn hóa đặc sắc của vùng đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Lăng Kinh Dương Vương - mẫu 10

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh không chỉ nổi tiếng với những làn điệu Quan họ mượt mà mà còn là nơi lưu giữ nhiều dấu tích lịch sử gắn liền với cội nguồn dân tộc Việt Nam. Trong số đó, Lăng Kinh Dương Vương là một di tích đặc biệt quan trọng, được xem là nơi thờ vị vua đầu tiên trong truyền thuyết dân tộc Việt – Kinh Dương Vương, người được coi là thủy tổ của người Việt.

Lăng Kinh Dương Vương tọa lạc tại thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, nằm bên dòng sông Đuống hiền hòa. Không gian nơi đây mang vẻ đẹp yên bình, thoáng đãng, với cảnh quan sông nước hữu tình và những cánh đồng trù phú bao quanh. Chính địa thế ấy đã góp phần tạo nên sự linh thiêng, cổ kính cho khu di tích.

Theo truyền thuyết và sử liệu dân gian, Kinh Dương Vương là vị vua đầu tiên của nước Xích Quỷ, được xem là tổ tiên xa xưa của dân tộc Việt Nam. Ông là cha của Lạc Long Quân – người sinh ra các vua Hùng, từ đó hình thành nên dòng giống “con Rồng cháu Tiên”. Vì vậy, Lăng Kinh Dương Vương không chỉ là nơi thờ tự một nhân vật lịch sử – huyền thoại, mà còn là biểu tượng thiêng liêng của cội nguồn dân tộc.

Về kiến trúc, khu lăng được xây dựng trang nghiêm, hài hòa với cảnh quan tự nhiên. Tổng thể gồm nhiều hạng mục như nghi môn, sân tế, nhà bia, khu lăng mộ và đền thờ. Các công trình được bố trí cân đối, mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống Việt Nam với mái ngói cong, họa tiết rồng phượng tinh xảo, thể hiện sự tôn kính đối với bậc tiền nhân.

Không gian trong khu di tích mang vẻ trầm mặc, cổ kính, tạo cảm giác linh thiêng cho du khách khi đến thăm. Nơi đây không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là một địa chỉ văn hóa – lịch sử quan trọng, giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn về nguồn gốc và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.

Hằng năm, vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Kinh Dương Vương được tổ chức long trọng, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Lễ hội gồm các nghi thức tế lễ truyền thống, dâng hương tưởng niệm và nhiều hoạt động văn hóa dân gian, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Trải qua thời gian, Lăng Kinh Dương Vương vẫn giữ được giá trị lịch sử và ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Đây không chỉ là một di tích quan trọng của Bắc Ninh mà còn là biểu tượng thiêng liêng về cội nguồn dân tộc Việt Nam. Mỗi khi đến đây, con người như được nhắc nhớ về nguồn gốc “con Rồng cháu Tiên”, từ đó thêm tự hào và trân trọng truyền thống dân tộc.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Làng tranh Đông Hồ - mẫu 11

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu được xem như cái nôi của nền văn minh lúa nước với bề dày truyền thống văn hóa lâu đời. Bên cạnh những làn điệu Quan họ ngọt ngào, nơi đây còn lưu giữ một di sản nghệ thuật đặc sắc mang đậm hồn quê Việt Nam, đó chính là làng tranh dân gian Đông Hồ. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, Đông Hồ không chỉ là một làng nghề truyền thống mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa độc đáo, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Làng tranh Đông Hồ thuộc xã Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 35 km về phía Đông. Ngôi làng nằm bên bờ nam sông Đuống hiền hòa, thơ mộng – dòng sông đã đi vào thơ ca với vẻ đẹp bình dị mà sâu lắng. Không gian nơi đây mang đậm nét đặc trưng của làng quê Bắc Bộ với rặng tre xanh, bến nước và những con đường nhỏ yên ả. Tất cả tạo nên một khung cảnh cổ kính, gợi cảm giác thanh bình và hoài niệm cho bất cứ ai đặt chân tới.

Theo lịch sử, làng tranh Đông Hồ đã hình thành từ khoảng thế kỷ XVI dưới thời nhà Lê và phát triển rực rỡ trong nhiều thế kỷ sau đó. Mỗi dịp Tết đến xuân về, chợ tranh Đông Hồ lại trở nên tấp nập, rộn ràng, người mua kẻ bán đông vui như một lễ hội nghệ thuật dân gian. Trải qua những biến động của thời gian, có giai đoạn nghề tranh tưởng như bị mai một, nhưng nhờ tâm huyết của các nghệ nhân, đặc biệt là những người gìn giữ nghề truyền thống, tranh Đông Hồ đã được phục hồi và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Điểm đặc sắc nhất của tranh Đông Hồ nằm ở chất liệu hoàn toàn tự nhiên và kỹ thuật in mộc bản truyền thống. Giấy in tranh là giấy điệp, được phủ lớp bột vỏ sò tạo nên ánh lấp lánh đặc trưng. Màu sắc của tranh cũng được chế tác từ thiên nhiên như màu đen từ than lá tre, màu vàng từ hoa hòe, màu đỏ từ sỏi son, tạo nên bảng màu mộc mạc nhưng bền vững theo thời gian. Thay vì dùng cọ vẽ, nghệ nhân sử dụng các bản khắc gỗ để in từng lớp màu, tạo nên những tác phẩm giản dị mà giàu ý nghĩa, tiêu biểu như “Đám cưới chuột”, “Gà đàn”, “Lợn âm dương” – phản ánh sinh hoạt và triết lý dân gian sâu sắc của người Việt.

Ngày nay, đến với làng tranh Đông Hồ, du khách không chỉ được chiêm ngưỡng không gian làng quê yên bình mà còn có cơ hội trực tiếp trải nghiệm quy trình làm tranh truyền thống. Từ việc quét giấy điệp, in mộc bản đến hoàn thiện một bức tranh, tất cả đều mang lại những trải nghiệm thú vị và ý nghĩa. Hằng năm, vào ngày 15 tháng Ba âm lịch, lễ hội làng Đông Hồ được tổ chức trang trọng với các nghi thức tế tổ nghề và những hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, trong đó có những làn điệu Quan họ giao duyên trên sông Đuống đầy lắng đọng.

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, làng tranh Đông Hồ vẫn giữ được vẻ đẹp mộc mạc và giá trị văn hóa bền vững. Đây không chỉ là một làng nghề truyền thống mà còn là minh chứng sống động cho sức sáng tạo của cha ông, đồng thời là cầu nối đưa tinh hoa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Đền thờ Cao Lỗ Vương - mẫu 12

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu nổi tiếng là cái nôi văn hiến lâu đời, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử – văn hóa gắn liền với truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong số đó, đền thờ Cao Lỗ Vương là một di tích tiêu biểu, vừa mang giá trị lịch sử sâu sắc, vừa thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” thiêng liêng của người Việt. Ngôi đền không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là biểu tượng của lòng tự hào dân tộc và truyền thống yêu nước bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Đền thờ Cao Lỗ Vương tọa lạc tại thôn Đại Trung (làng Lớ), xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền nằm bên bãi bồi sông Đuống, hướng về vùng Lục Đầu Giang lịch sử. Không gian nơi đây mang vẻ đẹp yên bình với những cánh đồng rộng lớn, rặng tre xanh và dòng sông hiền hòa, tạo nên một khung cảnh vừa thơ mộng vừa linh thiêng, đậm chất làng quê Kinh Bắc.

Đền được xây dựng để thờ danh tướng Cao Lỗ Vương – một vị anh hùng thời An Dương Vương. Ông là người có công lớn trong việc giúp vua Thục Phán xây dựng thành Cổ Loa kiên cố và chế tạo “nỏ thần” – vũ khí lợi hại trong cuộc kháng chiến chống quân Triệu Đà. Sau khi ông qua đời, nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công lao to lớn ấy. Trải qua nhiều triều đại phong kiến, ông được phong là Thượng đẳng thần. Ngày nay, đền đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Về kiến trúc, đền mang phong cách truyền thống thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn với bố cục cân đối, trang nghiêm. Toàn bộ công trình được xây dựng theo kiểu “tiền công, hậu quốc”, gồm các khu đền Ngoài, đền Trung và đền Thượng. Bước qua cổng Tam môn, du khách sẽ đến tòa Tiền tế làm bằng gỗ lim với mái cong rêu phong cổ kính. Đi sâu vào bên trong là Hậu cung, nơi đặt tượng thờ Cao Lỗ Vương trong tư thế cầm nỏ thần uy nghiêm. Trong đền hiện còn lưu giữ nhiều cổ vật quý như bia đá cổ và 21 đạo sắc phong qua các triều đại.

Không chỉ có giá trị lịch sử – kiến trúc, đền thờ Cao Lỗ Vương còn là trung tâm của lễ hội truyền thống vùng Đại Than. Lễ hội được tổ chức từ mùng 9 đến mùng 11 tháng Ba âm lịch, trong đó ngày mùng 10 là chính hội, trùng với ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Đây là dịp để nhân dân và con cháu dòng họ Cao khắp nơi về dâng hương tưởng niệm. Phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như đấu vật, cờ người và đặc biệt là lễ rước kiệu cùng đua thuyền rồng trên sông Đuống, tạo nên không khí tưng bừng, đậm bản sắc văn hóa vùng sông nước.

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, đền thờ Cao Lỗ Vương vẫn đứng vững bên dòng sông Đuống như một chứng nhân của thời gian. Ngôi đền không chỉ mang vẻ đẹp cổ kính mà còn là biểu tượng thiêng liêng của lòng biết ơn đối với bậc tiền nhân. Đến thăm nơi đây, mỗi người như được trở về với cội nguồn dân tộc, thêm tự hào về truyền thống lịch sử và ý thức hơn trong việc gìn giữ những giá trị văn hóa quý báu của quê hương.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Thành cổ Bắc Ninh - mẫu 13

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu được xem như một không gian văn hóa – lịch sử giàu truyền thống, nơi không chỉ lưu giữ những làn điệu Quan họ mượt mà mà còn gắn liền với nhiều dấu tích lịch sử quan trọng của dân tộc. Trong bức tranh di sản ấy, Thành cổ Bắc Ninh nổi bật như một công trình quân sự tiêu biểu, mang đậm dấu ấn kiến trúc phương Tây kết hợp với giá trị lịch sử lâu đời của vùng đất Kinh Bắc.

Thành cổ Bắc Ninh tọa lạc tại các phường Vệ An, Ninh Xá và Tiền An, nằm ngay trung tâm thành phố Bắc Ninh ngày nay. Xưa kia, đây là vị trí quân sự quan trọng, án ngữ con đường chiến lược từ Thăng Long lên phía Bắc. Dù thời gian đã khiến đô thị hóa bao quanh, nhưng những dấu tích thành cổ vẫn còn hiện diện, tạo nên không gian giao thoa giữa quá khứ và hiện tại.

Về lịch sử, Thành cổ Bắc Ninh được xây dựng lần đầu vào năm 1805 dưới thời vua Gia Long, sau đó được xây dựng lại kiên cố vào năm 1838 dưới thời Minh Mạng. Công trình được thiết kế theo kiến trúc Vauban hình ngôi sao của phương Tây, thể hiện trình độ quân sự và kỹ thuật xây dựng tiến bộ thời bấy giờ. Hiện nay, di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia.

Về kiến trúc, thành có dạng hình lục giác, bao quanh bởi hệ thống hào nước rộng và sâu, vừa có chức năng phòng thủ vừa tạo cảnh quan đặc trưng. Bốn cổng thành quay về bốn hướng với dáng vẻ cổ kính, rêu phong. Nổi bật trong khuôn viên là Kỳ đài (cột cờ) uy nghiêm, biểu tượng cho tinh thần lịch sử và lòng tự hào dân tộc của người dân Kinh Bắc.

Ngày nay, Thành cổ Bắc Ninh không còn là công trình quân sự mà trở thành một không gian văn hóa – lịch sử quan trọng. Nơi đây là điểm đến để du khách tìm hiểu về lịch sử, đồng thời cũng là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.

Trải qua thời gian, Thành cổ Bắc Ninh vẫn lặng lẽ đứng đó như một chứng nhân lịch sử, nhắc nhở mỗi người về quá khứ hào hùng của dân tộc và giá trị thiêng liêng của hòa bình hôm nay.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Chùa Tiêu - mẫu 14

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng là cái nôi của văn hiến lâu đời với những làn điệu Quan họ mượt mà và các di tích lịch sử phong phú. Bên cạnh những ngôi đền, mái đình bề thế, nơi đây còn sở hữu những ngôi cổ tự ngàn năm tuổi, mang trong mình linh hồn và mạch ngầm lịch sử của dân tộc. Trong số đó, chùa Tiêu hiện lên như một chứng nhân lịch sử thiêng liêng và trầm mặc. Nằm ẩn mình trên lưng chừng núi, ngôi chùa không chỉ là một danh lam thắng cảnh bình yên làm say lòng người, mà còn là vùng đất phát tích, nơi dung dưỡng tuổi thơ của bậc minh quân Lý Công Uẩn.

Chùa Tiêu, tên chữ là Thiên Tâm Tự (nghĩa là ngôi chùa đứng giữa trời đất), tọa lạc trên sườn núi Tiêu, thuộc phường Tương Giang, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Vị trí của đền vô cùng đắc địa khi nương theo sườn núi quanh năm cây cối u tịch, phía dưới chân núi xưa kia là dấu tích của dòng sông Tiêu Tương cổ kính và thơ mộng. Không gian nơi đây không đón du khách bằng những thanh âm náo nhiệt, mà bằng bầu không khí hoài cổ, tĩnh lặng tuyệt đối với những am tháp rêu phong và hàng cây ngọc lan trăm tuổi. Vẻ đẹp lắng động đầy chất thơ của bóng tháp chùa Tiêu từ lâu đã đi vào những câu thơ hoài cổ nổi tiếng:

“Chim sáo cây rừng kêu ẩn sớm

Chùa Tiêu bóng tháp khểnh nằm trưa.”

Về lịch sử hình thành, chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam, có từ thời Tiền Lê. Ngôi chùa gắn liền với cuộc đời của Thiền sư Vạn Hạnh – bậc cao tăng có tầm nhìn vĩ đại, người đã trực tiếp nuôi dạy cậu bé Lý Công Uẩn lớn lên tại đây, định hướng cho vương triều Lý và khai sáng kinh đô Thăng Long. Không chỉ có bề dày lịch sử, chùa Tiêu còn ẩn chứa bí ẩn tâm linh độc đáo khi là nơi lưu giữ nhục thân (tượng táng) hơn 300 năm của Thiền sư Thích Như Trí – người đã có công khắc in bộ sử thiền quý giá "Thiền Uyển Tập Anh". Với những giá trị vô giá đó, chùa Tiêu đã vinh dự được đón nhận bằng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Kiến trúc của chùa Tiêu mang đậm nét hoài cổ, mộc mạc và tôn nghiêm, phân bố hài hòa từ chân núi lên đỉnh núi. Du khách bước qua những bậc đá rêu phong sẽ lần lượt ghé thăm điện Tam Bảo, nhà Tổ, nhà khách và khu vườn tháp cổ kính – nơi yên nghỉ của các vị thiền sư. Điểm nhấn nổi bật nhất của chùa chính là pho tượng Quốc sư Lý Vạn Hạnh bằng đồng cao lớn sừng sững trên đỉnh núi Tiêu, hướng tầm mắt từ bi về phía trời Nam. Điểm đặc biệt khiến du khách muôn phương vô cùng nể trọng chính là quy định nghiêm ngặt mang đậm tinh thần chân tu nơi đây: chùa hoàn toàn không đặt hòm công đức, không đốt vàng mã và không thắp hương trong nội điện để giữ gìn sự thanh tịnh.

Hằng năm, vào ngày mùng 3 đến mùng 5 tháng Ba âm lịch, chùa Tiêu lại tổ chức lễ hội truyền thống để tưởng nhớ công đức của vị Quốc sư Vạn Hạnh và các bậc tiền nhân. Lễ hội diễn ra rất trang nghiêm, mộc mạc, chủ yếu là các nghi thức dâng hương, tụng kinh cầu quốc thái dân an và hát Quan họ chúc phúc dưới chân núi.

Dẫu dòng chảy thời gian có trôi qua bao thế kỷ, chùa Tiêu vẫn đứng vững chãi như một biểu tượng trường tồn của lịch sử và tinh thần Phật giáo Việt Nam. Đến thăm chùa Tiêu, bước đi dưới bóng râm của hàng cây cổ thụ và ngắm nhìn nhục thân vị thiền sư đắc đạo, mỗi chúng ta đều cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng hơn, từ đó thêm tự hào và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của cha ông.

Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở Bắc Ninh: Đền Lý Thường Kiệt - mẫu 15

Vùng đất Kinh Bắc – Bắc Ninh từ lâu đã gieo vào lòng người những giai điệu Quan họ đằm thắm và bóng dáng thâm nghiêm của những cổ tự ngàn năm. Thế nhưng, ẩn sau chiếc áo văn hiến dịu dàng ấy, xứ Bắc còn là nơi ghi dấu những chiến công phòng thủ oanh liệt, bảo vệ bờ cõi nước nhà. Nổi bật bên dòng sông Cầu lịch sử như một tượng đài bằng gạch đá uy nghi chính là đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt. Ngôi đền không chỉ là một danh lam thắng cảnh bề thế mà còn là chốn linh thiêng hội tụ linh khí của đất trời, nơi hào khí ngàn năm của dân tộc thắp sáng niềm tự hào trong lòng mỗi người con đất Việt.

Đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt tọa lạc tại xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 30 km. Ngôi đền sở hữu vị trí địa lý vô cùng đắc địa khi nằm ngay sát bờ đê sông Cầu – nơi xưa kia chính là phòng tuyến sông Như Nguyệt lừng lẫy. Không gian xung quanh đền được bao bọc bởi dòng nước trong xanh hiền hòa, những bãi bồi lộng gió và rặng tre ngút ngàn, tạo nên bức tranh làng quê Kinh Bắc trầm mặc, khoáng đạt. Sự tôn nghiêm của chốn thờ tự hòa quyện với phong cảnh thiên nhiên khiến ai đến cũng thấy lòng lắng lại.

Về lịch sử hình thành, khu di tích được xây dựng trên chính mảnh đất gắn với chiến công năm 1077, khi Lý Thường Kiệt chỉ huy quân dân Đại Việt đánh bại quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Để tưởng nhớ công lao to lớn ấy, nhân dân đã dựng đền thờ ông. Công trình hiện nay được xây dựng và hoàn thiện quy mô lớn, trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh.

Kiến trúc của đền mang sự kết hợp hài hòa giữa phong cách cung đình thời Lý và nghệ thuật truyền thống. Toàn bộ khu đền gồm các hạng mục như Đại bái, Hậu cung, Tả vu và Hữu vu. Các chi tiết gỗ lim được chạm khắc tinh xảo với hoa văn long, ly, quy, phụng. Nổi bật nhất là tượng đài Thái úy Lý Thường Kiệt bằng đồng cao 9 mét, nặng 16 tấn, trong tư thế uy nghiêm hướng về dòng sông Như Nguyệt lịch sử.

Giá trị tinh thần lớn nhất của ngôi đền gắn liền với bài thơ “Nam quốc sơn hà”. Trong cuộc kháng chiến năm 1077, bài thơ vang lên như lời khẳng định chủ quyền thiêng liêng của dân tộc:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Không gian nội điện của đền được bài trí trang nghiêm, thể hiện sự tôn kính đối với vị anh hùng dân tộc. Hằng năm, lễ hội đền được tổ chức vào tháng Hai và tháng Sáu âm lịch, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Các hoạt động như bơi chải, đấu vật, cờ người và hát Quan họ làm cho không khí lễ hội thêm sôi động và giàu bản sắc.

Trải qua thời gian, đền thờ Lý Thường Kiệt vẫn đứng vững như một chứng nhân lịch sử. Nơi đây không chỉ lưu giữ ký ức hào hùng của dân tộc mà còn là “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học