10+ Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn (điểm cao)

Tổng hợp các bài văn mẫu Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn

1. Mở bài

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm

- Giới thiệu đoạn trích cần cảm nhận

2. Thân bài

- Phép lặp kết hợp điệp ngữ “một- một” khung cảnh sống bình dị, đơn sơ, nhà thơ không hề đơn độc 

- Phép liệt kê “mai”, “quốc”, “cần câu” đều là những vật dụng quen thuộc, thô sơ của người dân lao 

- Hai chữ “thơ thẩn” cho thấy phong thái ung dung, thoải mái 

=> Đơn giản là niềm vui được hằng ngày sống cuộc sống giản dị, an nhàn nơi quê hương . 

- Đối lập “vắng vẻ - lao xao”, “ta dại- người khôn” tìm về nơi vắng vẻ sống cuộc sống thoải mái

- “Dại - khôn” Sống một cuộc sống thanh cao, an nhiên trong tâm hồn

=> Đó là cách sống của con người trung thực, yêu đất nước, lựa chọn giữa cho mình nhân cách thanh cao không bị lôi kéo vào xã hội phong kiến lúc bấy giờ.

Quảng cáo

* Nghệ thuật:

- Thể thơ thất ngôn bát cú đường luật cùng các phép đối tạo nên sự cân đối, sức hấp dẫn cho tác phẩm

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và triết lý sâu xa tạo nên sự thâm trầm, sâu lắng cho bài thơ

- Sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị gần gũi với người đọc

3. Kết bài

- Khái quát nội dung đoạn thơ

Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn - mẫu 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những tên tuổi lớn nhất được tôn vinh trong triều Ngụy Mạc, là một tên tuổi lớn của lịch sử dân tộc.Ông là cây đại thụ trong nền văn hóa Việt Nam và đã từ lâu được coi là tỏa bóng suốt thế kỷ XVI. Ông có phong cách sáng tác mang đậm chất triết lý, ngợi ca chí của kẻ sĩ, thú thanh nhàn. Phê phán những điều xấu xa trong xã hội, thơ ông mang đậm tấm lòng lo cho nước thương dân. “Nhàn” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách sáng tác của ông. Tác phẩm là bài thơ nôm số 73, trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Bài thơ là lời tâm sự về quan niệm sống nhàn của tác giả, đặc biệt thể hiện qua bốn câu thơ đầu tác phẩm: 

Quảng cáo

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bình khiêm được tái hiện qua hai câu đề:

“Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Mở đầu bài thơ với phép lặp kết hợp điệp ngữ “một - một” gợi lên khung cảnh sống bình dị, đơn sơ nơi vùng quê nghèo. Một là sống một mình, thế nhưng trong tác phẩm nhà thơ không hề đơn độc. Phép liệt kê “mai”, “quốc”, “cần câu” đều là những vật dụng quen thuộc, thô sơ của người dân lao động, những hình ảnh đó gắn liền với người nông dân, là vật không thể thiếu trong công việc hàng ngày của họ. Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên với cuộc sống an nhàn, thảnh thơi một mình với công việc của mình. Với thú vui tao nhã là câu cá, làm vườn đây là cuộc sống đáng mơ ước của nhiều người nhưng không phải ai cũng biết hưởng thụ. Hai chữ “thơ thẩn” ở đầu câu thứ hai cho thấy phong thái ung dung cùng tâm trạng thoải mái của con người được tự do, không ham danh lợi, rời xa cõi trần tục đầy tham lam. Trong lòng nhà thơ lúc này không còn vướng bận hay tính toán bon chen gì nữa. Đó chỉ đơn giản là niềm vui được hằng ngày sống cuộc sống giản dị, an nhàn nơi quê hương . Hai câu đầu cho thấy niềm vui, sự nhẹ nhàng thanh thản một cách lạ kỳ. 

Quảng cáo

“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao”

Hai câu thơ với cặp đại từ đối lập “vắng vẻ- lao xao”, “ta dại- người khôn” thể hiện phong cách sống đối lập với mọi người của tác giả. Nhà thơ tìm về nơi vắng vẻ, cáo quan trở về quê nhà sống cuộc sống thoải mái, an nhiên không bon chen, tính toán. Nơi vắng vẻ ấy thật yên bình với thiên nhiên tươi xanh, thoáng đãng. Đó là sự thảnh thơi trong chính tâm hồn. Khác xa với những người chỉ mong sống trong quyền thế, nơi cuộc sống xô đẩy, giẫm đạp lên nhau giành quyền lợi. “Dại - khôn” là hai từ đặc biệt nói lên phong cách nhà thơ. Ông là người thông minh, sáng suốt, nhà thơ không phải tìm về nơi vắng vẻ để trốn tránh trách nhiệm với nhà nước. Đó là cách chọn cuộc sống thông minh của nhà thơ. Sống một cuộc sống thanh cao, an nhiên trong tâm hồn. Ta đã từng nghe qua câu thơ:

“Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại mà thật thà ấy là dạy khôn”

Cái sai của một bậc trí thức, thông minh, tài trí như Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhận thức rõ sự suy yếu của xã hội. Ông đã từ bỏ làm quan trọn cuộc sống thanh thản an nhàn. Nhàn ở đây là lựa chọn cuộc sống thanh cao trí tuệ, rời xa nơi sống hám danh lợi. Đó là cách sống của con người trung thực, yêu đất nước, lựa chọn giữa cho mình nhân cách thanh cao không bị lôi kéo vào xã hội phong kiến lúc bấy giờ.

Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật cùng các phép đối tạo nên sự cân đối, sức hấp dẫn cho tác phẩm. Cùng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và triết lý sâu xa tạo nên sự thâm trầm, sâu lắng cho bài thơ. Tác phẩm sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị gần gũi với người đọc.

Bốn câu thơ đầu đã nói lên phong cách sống thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong hoàn cảnh xã hội đang dần suy yếu, con người đang chà đạp lên nhau dành danh lợi. Nguyễn Bỉnh Kiêm lại chọn cách sống an nhàn, đó là lối sống dời xa danh lợi, sống hòa hợp với thiên nhiên, giữ cho mình cốt cách thanh cao, trong đẹp.

Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn - mẫu 2

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho uyên thâm nổi tiếng trong thời kì phân tranh Trịnh - Nguyễn. Sống trong thời loạn lạc, ông không ủng hộ thế lực phong kiến nào mà tìm đường lui về quê ẩn dật theo đúng lối sống của đạo Nho. Bài thơ Nhàn là một trong những tác phẩm viết bằng chữ Nôm, rút trong Bạch Vân quốc ngữ thi tập của ông. Bài thơ cho thấy một phần cuộc sống và quan niệm sống của tác giả trong xã hội loạn lạc hiện thời.Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên trong bài thơ là cuộc sống giản dị, đạm bạc (đơn giản) nhưng thanh cao, trong sạch. Mở đầu bài thơ là hai câu thơ:

"Một mai một quốc một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

Với cách sử dụng số đếm: "một" rất linh hoạt, nhịp thơ ngắt nhịp đều đặn 2/2/3 kết hợp với hình ảnh những dụng cụ lao động nơi làng quê: mai, cuộc, cần câu cho ta thấy những công cụ cần thiết của cuộc sống thôn quê. Chính những cái mộc mạc chân chất của những vật liệu lao động thô sơ ấy cho ta thấy được một cuộc sống giản dị không lo toan vướng bận của một danh sĩ ẩn cư nơi ruộng vườn, ngày ngày vui thú với cảnh nông thôn. Không những thế những câu thơ tiếp theo tiếp tục cho ta thấy được cái bình dị trong cuộc sống thôn quê qua những bữa ăn thường ngày của ông:

"Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao"

Món ăn của ông là những thức có sẵn ở ruộng vườn, mùa nào thức nấy: măng, trúc, giá,.... những món rất giản dị đời thường. Cuộc sống sinh hoạt của cụ giống như một người nông dân thực thụ, cũng tắm hồ, tắm ao. Hai câu thơ vẽ nên cảnh sinh hoạt bốn mùa của tác giả, mùa nào cũng thong dong, thảnh thơi. Qua đó ta thấy được một cách sống thanh cao, nhẹ nhàng, tránh xa những lo toan đời thường. Ngoài thể hiện cuộc sống đời thường tác giả còn thể hiện triết lí sống, nhân cách của ông:

"Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao "

Tìm nơi "vắng vẻ" không phải là xa lánh cuộc đời mà tìm nơi mình thích thú được sống thoải mái, hoà nhập với thiên nhiên, lánh xa chốn quan trường, lợi lộc để tìm chốn thanh cao."Chốn lao xao" là chốn vụ lợi, chạy theo vinh hoa, lợi ích vật chất, giành giật hãm hại lẫn nhau. Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm cho cách sống nhàn nhã là xa lánh không quan tâm tới danh lợi. Tác giả mượn lời nói của đòi thường để diễn đạt quan niệm sống của mình mặc người đời cho là khôn hay dại. Đó cũng chính là quan niệm của Nho sĩ thời loạn vẫn tìm về nơi yên tĩnh để ở ẩn.Nghệ thuật đối: "ta" đối với "người", "dại" đối với "khôn", "nơi vắng vẻ" đối với "chốn lao xao" tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả. Không những thế hình ảnh thơ cuối như lần nữa khẳng định triết lí sống của tác giả:

"Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Trong hơi men nồng nàn cùng sự bình yên của làng quê nhà thơ nhận ra phú quý quả thật chỉ là một giấc chiêm bao. Nó cũng sẽ mau chóng tan thành mây khói.

Bài thơ thể hiện được quan niệm của nhà thơ về cuộc đời, đồng thời ta thấy được cuộc sống an nhàn của nhà thơ nơi thôn dã. Đó là một cuộc sống vô cùng giản dị và bình an, đạm bạc nhưng lại rất thanh cao. Nguyên Bỉnh Khiêm đẫ thể hiện lên một tâm hồn một nhân cách sống rất bình dị đời thường, một cốt cách cao đẹp.

Cảm nhận 4 câu thơ đầu trong bài thơ Nhàn - mẫu 3

Trong văn học trung đại, có nhiều bài thơ hay và ý nghĩa của các thi sĩ đương thời. Trong đó bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những bài thơ tiêu biểu, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn nhân cách của tác giả, tôn cao triết lí sống.

Bài thơ Nhàn được sáng tác trong hoàn cảnh tác giả về quê ở ẩn. Chữ “nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề tâm thường như trong câu “nhàn cư vi bất thiện” mà là thái động sống, một triết lí sống của tác giả được bộc lộ rõ ràng. Bài thơ mang bốn triết lí sâu sắc gói gọn trong chữ “nhàn” được phân chia bố cục chặt chẽ. Mở đầu bài thơ tác giả viết:

Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dàu ai vui thú nào

Hai câu mở tạo ấn tượng đầu tiên với điệp ngữ “một” được lặp lại ba lần trong một dòng thơ mang tính chất liệt kê các sự vật quen thuộc: “mai”, “cuốc”, “cần câu” những vật dụng rất đỗi quen thuộc mang bóng dáng nhà nông chân chất vừa mang bóng dáng của một tao nhân mặc khách. Chỉ cần vậy thôi, ta đã cảm nhận được đây là một cuộc sống thư thái an nhàn của nhân vật trữ tình. Kết hợp với điệp ngữ “một” là từ láy “thơ thẩn” miêu tả được tráng thái của tác giả. Với dáng người ung dung, thoải mái, trạng thái tâm hồn thanh nhàn an nhiên không vướng bận chút bụi trần. Câu thơ như một lời thách thức của tác giả đối với người đời, mặc dù ai vui thú nào, ta đây vẫn vui thú an nhàn, vui cuộc sống thôn quê. Từ lời thách thức ấy toát lên sự ung dung trong phong thái, thanh thản trong tâm hồn, vui thu điền viên.

Đến với hai câu thực tiếp theo đã khái quát chân dung nhân vật trữ tình và triết lí “nhàn” của thi nhân:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Ở đây ta thấy rõ được sự đối lập giữa các sự vật trong hai câu thơ “nơi vắng vẻ” là chốn thôn quê thanh bình, an nhàn vô âu vô lo, ở đó tâm hồn con người hòa nhập với thiên nhiên, còn “chốn lao xao” là nơi quan trường với những đua tranh ghen ghét của danh lợi, ồn áo phiền não. Phải chăng tác giả “dại” nên tìm nơi thôn quê, còn người đời “khôn” tìm đến chốn quan trường, nhưng thật chất ngược lại, xét trong câu thơ, “dại” có nghĩa là khôn, “khôn” có nghĩa là dại. Lối nói ngược mang ý nghĩa mỉa mai: người khôn mà chọn chốn lao xao đầy rẫy những tham lam, dục vọng, luôn phải suy nghĩ đắn đo, và như thế liệu có sung sướng? Phép đối hai câu thơ thực mang nghĩ mỉa mai chế giễu lũ người kia chỉ biết lao đầu vào tham vọng, vào vòng danh lợi. còn tác giả, ông phủ nhận vòng danh lợi ấy bằng cách thể hiện quan điểm, khí chất thanh cao trong sạch. “Nhàn” ở đây chính là cuộc sống thanh cao, tránh xa vòng danh lợi.

Không những tác giả chọn cuộc sống thanh cao, tránh xa tham vọng, tác giả còn hết mình hòa nhập với thiên nhiên, Đến với hai câu luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn của nhân vật trữ tình:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Ai cũng biết măng, tre, trúc, giá là đồ ăn dân dã từ thiên nhiên rất dễ tìm thấy, gắn liền với cuộc sống của nhà nghèo nơi thôn dã đậm đà vị quê. Những thức ăn ấy trở nên quen thuộc mỗi ngày trong đời sống sinh hoạt, thu ăn măng trúc trên rừng, mùa đông về ăn giá. Đặc biệt câu thơ: “xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” đã phác họa hình ảnh quen thuộc ở làng quê, lối sinh hoạt dân dã. Khi trở về với thiên nhiên, với làng xóm, Nguyễn Bỉnh Khiêm thực sự hòa mình với thôn quê thuần hậu. Cuộc sống thanh đạm, mang lại thú vui an nhàn, thảnh thơi mùa nào thức đấy, đó là một cuộc sống được nhiều người ngưỡng mộ mà chẳng mấy ai có được. chính cảnh sinh hoạt đời thường ấy đã thể hiện sự đồng điệu nhịp bước của thiên nhiên và của con người. Hẳn phải sống hết mình, sống hòa hợp với thiên nhiên mới có sự đồng điều kì diệu như vậy.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 12 sách mới các môn học