Sơ đồ tư duy Vợ nhặt dễ nhớ, ngắn gọn

Sơ đồ tư duy Vợ nhặt dễ nhớ, ngắn gọn

Tải xuống

Nhằm mục đích giúp học sinh dễ dàng hệ thống hóa được kiến thức, nội dung các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12, chúng tôi biên soạn bài viết Sơ đồ tư duy Vợ nhặt dễ nhớ, ngắn gọn với đầy đủ các nội dung như tìm hiểu chung về tác phẩm, tác giả, bố cục, dàn ý phân tích, bài văn mẫu phân tích, .... Hi vọng qua Sơ đồ tư duy Vợ nhặt sẽ giúp học sinh nắm được nội dung cơ bản của Sơ đồ tư duy Vợ nhặt.

Bài giảng: Vợ nhặt - Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

A. Sơ đồ tư duy Vợ nhặt

Sơ đồ tư duy Vợ nhặt dễ nhớ, ngắn gọn

Sơ đồ tư duy Vợ nhặt dễ nhớ, ngắn gọn

B. Tìm hiểu tác phẩm Vợ nhặt

I. TÁC GIẢ:

– Kim Lân (1920 – 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở Tiên Sơn, Bắc Ninh. Ông là cây bút truyện ngắn nổi tiếng.

– Thế giới nghệ thuật của Kim Lân chỉ tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. Kim Lân bắt đầu viết truyện từ năm 1941, sáng tác của ông thể hiện được không khí tiêu điều, ảm đạm ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Sau cách mạng Kim Lân vẫn tiếp tục làm báo, viết văn.

– Những tác phẩm chính: “Nên vợ nên chồng”(1955), “Con chó xấu xí” (1962).

II. TÁC PHẨM:

1.     Hoàn cảnh ra đời:

Vợ nhặt là truyện ngắn rút ra từ tập “Con chó xấu xí”. Truyện ngắn này có tiền thân là truyện “Xóm ngụ cư” được sáng tác ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và mất bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

2.     Thể loại: Truyện ngắn.

3.     Nhan đề:

-         “Vợ nhặt” là vợ theo không, không cưới xin, không lễ nghi. Thứ vợ được nhặt được một cách ngẫu nhiên. Ngưòi ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ.

-         Thân phận con ngưòi bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác roi vãi bên đường mà người ta có thể nhặt được một cách dễ dàng ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh. Gia đình Tràng từ khi có người “vợ nhặt”, mọi người trở nên gắn bó, chăm lo, thu vén cho tổ ấm của mình. Giá trị nhân bản của Vợ nhặt là lời kết tội đanh thép giặc Pháp và Nhật đã gây ra tình cảnh trên cho người nông dân.

=> Nhan đề vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945, vừa bộc lộ ,sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng hướng tới cuộc sống tốt hon và niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.

4.     Chủ đề:

-         Tác phẩm lên án xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo đã đẩy nhân dân ta vào nạn đói khủng khiếp năm 1945. Chính chuyện anh Tràng tự nhiên nhặt được vợ trước hết là vì đói quá – cũng đủ nói lên sự khủng khiếp của nạn đói.

-         Nhà văn thể hiện một quan niệm nhân đạo sâu sắc, cảm động: phát hiện và diễn tả khát vọng của ngưòi lao động, cho dù bị đẩy vào tình huống bi đát, phải sống trong sự đe dọa của cái chết vẫn khao khát tình thương, khao khát có một tổ ấm gia đình, luôn hướng về sự sống, luôn hướng về tương lai, mà tương lai này gắn liền với cách mạng.

5.     Bố cục: 4 đoạn

– Đoạn 1 : Từ đầu đến “thành vợ thành chồng”: Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Đoạn 2: Từ “ít lâu nay” đến “cùng đẩy xe bò về”: Kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ, nên chồng.

– Đoạn 3: Từ “Tràng chợt đứng dừng lại” đến “cứ chảy xuống ròng ròng”: Tình thương của người mẹ già nghèo khó đối với đôi vợ chồng mới.

– Đoạn 4: Còn lại: Lòng tin về sự đổi đời trong tương lai.

6.     Tóm tắt:

- Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra lan tràn khắp nơi trên cả nước, người chết như rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma. Tràng là chàng trai xấu xí thô kệch, ế vợ, Tràng sống ở xóm ngụ cư. Anh làm nghề kéo xe bò thuê và sống cùng người mẹ già. Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Tràng đã quen với môt cô gái. Vài ngày sau gặp lại, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy, bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cô đã khác đi rất nhiều. Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô gái liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc. Sau một câu nói nửa thật, nửa đùa, cô gái đã theo anh về nhà làm vợ. Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngu cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ (mẹ của Tràng) cũng không nổi bàng hoàng ngạc nhiên và lo lắng nhưng rồi bà cụ cũng đã hiểu ra và chấp nhận người con dâu ấy. Trong bữa cơm” đón nàng dâu mới, họ chỉ với một bữa cháo kèm theo là nồi cháo cám bà cụ tứ dành cho nàng dâu nhân bữa cơm đón nàng dâu mới với tấm lòng độ lượng, bao dung. Tác phẩm kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen. Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào.

7.     Giá trị nội dung:

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp 1945 mà còn thể hiện được những phẩm chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

8.     Giá trị nghệ thuật:

– Tình huống truyện độc đáo: Vừa lạ vừa éo le

– Cách kể chuyện hấp dẫn

– Miêu tả tâm lí khá tinh tế, dựng đối thoại sinh động

III. DÀN Ý PHÂN TÍCH:

I. Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân (những nét chính về tiểu sử, các tác phẩm chính, phong cách nghệ thuật…)

- Giới thiệu khái quát về truyện ngắn Vợ nhặt (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật..)

II. Thân bài:

1. Ý nghĩa nhan đề và tình huống truyện:

a) Ý nghĩa nhan đề:

- Vợ: biểu tượng cho khát khao tổ ấm, hạnh phúc gia đính, mang ý nghĩa trọng đại và lớn lao

- Nhặt: hành động rẻ rúng, tầm thường

=> Vợ nhặt có nghĩa là nhặt được vợ, gợi sự rẻ rúng của thân phận con người và tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói năm 1945

b) Tình huống truyện:

- Tình huống: Tràng – một người dân ngụ cư xấu xí bỗng dưng lại có vợ mà lại là nhặt được, theo về không.

- Đây là một tình huống vừa éo le, vừa độc đáo, bất ngờ nhưng cũng hết sức hợp lí, thể hiện giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm:

   + Giá trị hiện thực: bức tranh hiện thực về cuộc sống khốn khó, nghèo khổ của con người và thân phận rẻ rúng của con người tới mức có thể nhặt được vợ

   + Giá trị nhân đạo: lời kết tội đanh thép về tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật và tay sai. Đồng thời, qua đó thể hiện tình yêu thương, sự đùm bọc lẫn nhau và khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của con người trong cuộc sống khó khăn, vất vả và nghèo khổ

2. Nhân vật Tràng:

a) Ngoại hình:

- Dáng người thô kệch, cái cười khềnh khệch.

- Lưng Tràng như con gấu.

- Quai hàm bạnh ra.

- Dân ngụ cư.

b) Diễn biến tâm trạng của Tràng:

- Chợn, nghĩ: lo sợ vì không biết bản thân mình có nuôi nổi không lại còn đèo bòng

- Tặc lưỡi, “chậc, kệ”: niềm khát khao hạnh phúc tổ ấm gia đình đã lớn hơn mọi nỗi lo lắng, sợ hãi

- Trên đường đưa vợ về nhà:

   + Vẻ mặt phớn phở, tủm tỉm cười nụ một mình,mắt sáng lên lấp lánh, cái mặt vênh lên tự đắc với mình.

   + Mua dầu về thắp để khi thị về căn nhà của mình trở nên sáng sủa hơn.

- Lúc về đến nhà:

   + Ngượng ngịu, đứng tây ngây ra giữa nhà, lo lắng không biết bà cụ Tứ có chấp nhận người vợ củ mình hay không.

   + Loanh quanh hết chạy ra ngõ đứng ngóng rồi lại chạy vào sân rồi lại nhìn trộm vào trong nhà.

   + Nhổ vu vơ một bãi nước bọt.

   + Lúc bà cụ Tứ về: reo lên như một đứa trẻ, lật đật chạy ra đón, tươi cười, bảo mẹ ngồi rồi nói “Kìa, nhà tôi nó chào u”.

=>Tâm trạn vui sướng đến tột cùng của Tràng.

- Sáng hôm sau:

   + Êm ái, lửng lơ như trong mơ bước ra, hạnh phúc vô bờ bến, một niềm hạnh phúc không thể gọi thành tên

   + Nhìn cảnh nhà cửa gọn gàng, Tràng thấy cảm động, thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà, một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột, ngập tràn

⇒ Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp. Sự thay đổi đó xuất phát từ tình yêu thương. Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cái đói.

3. Nhân vật bà cụ Tứ:

a) Ngoại hình:

- Dáng người lọng khọng

- Vừa đi vừa húng hắng ho, vừa lẩm bẩm tính toán

→ Nghèo khó, vất vả, cơ cực, lam lũ và đầy lo toan

b) Diễn biến tâm trạng:

- Ngạc nhiên, tỏ ý không hiểu: bà không tin vào sự thật rằng Tràng đã có vợ

- Bà hiểu và hiểu ra bao nhiêu cơ sự - bà tin là Tràng đã có vợ và người phụ nữ kia chính là con dâu của bà:

   + Ai oán, xót thương

   + Bà khóc vì thương con, vì lo cho con, vì bà không làm tròn bổn phận của người mẹ

   + Vui vẻ đón nhận nàng dâu mới với tất cả tình yêu thương, sự đùm bọc, chở che

- Sáng hôm sau:

   + Tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủm beo u ám của bà tươi tắn hẳn lên

→ Sự vui mừng, phấn khởi, hạnh phúc

   + Trong bữa cơm sớm, bà nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau

=>Thắp sáng nên sự lạc quan, yêu đời và niềm tin vào tương lai tươi sáng

Bà cụ Tứ không chỉ là người mẹ nhân hậu, yêu thương con mà còn là một người giàu lòng yêu thương, sự giúp đỡ người khác dẫu trong hoàn cảnh khó khăn.

4. Nhân vật “người vợ nhặt”:

a) Ngoại hình:

- Khuôn mặt lưỡi cày xám xịt

- Áo quần rách như tổ đỉa

- Cái ngực gầy lép nhô lên

=> Một ngoại hình không mấy dễ nhìn. Thị là hiện thân của sự nghèo đói, khốn khổ.

b) Hành động và diễn biến tâm trạng:

- Khi gặp Tràng:

   + Hành động: ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mặt, cười tít, sà xuống ăn một chặp bốn bát bánh đúc, ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng

   + Lời nói: chua ngoa, đanh đá

=> Những hành động và lười nói này của thị bắt nguồn từ cái đói, đói đến mức khiến người ta mất đi cả lòng tự trọng, sĩ diện và sự e thẹn, dịu dàng vốn có của người phụ nữ

- Trên đường theo Tràng về nhà: rón rén, e thẹn, ngượng nghịu, chân nọ bước díu vào chân kia. Tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp khi bước chân về "làm dâu ngà người".

- Khi về đến nhà:

   + Đảo mắt nhìn xung quanh, nén một tiếng thở dài, nhếch mép, cười nhạt nhẽo

   + Ngồi mớm ở mép giường, tay vẫn ôm khư khư cái thúng con

=> Thị mang tâm trạng chông chênh, lo âu khi mới bước chân về làm dâu

- Sáng hôm sau: một người đàn bà hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát, chỏng lỏn.

=> Sự thay đổi xuất phát từ tình thương.

Ngoại hình, hành động, lời nói của thị là nạn nhân của cái đói, cái khổ. Song cái đói, cái khổ không làm mất đi ở thị vẻ đẹp tâm hồn của một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, luôn khát kháo yêu thương, hạnh phúc và tràn đầy niềm tin vào tương lai

III. Kết bài:

Khái quát giá trị nội dung (giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo) và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

 

IV. MỘT SỐ CÂU HỎI ĐỌC HIỂU VÀ BÀI PHÂN TÍCH:

* Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân gây cho bạn ấn tượng sâu sắc và xúc động nhất? Vì sao?

Nhà văn Kim Lân tâm sự “Phần gây xúc động nhất cho tôi khi đọc lại truyện là đoạn bà cụ Tứ trở về. ở đấy tình của người mẹ thật lón. Bà nhanh chóng hiểu rõ hoàn cảnh và chấp nhận ngay. Bà không chỉ thương con trai mà còn đầy lòng thương xót với người đàn bà cùng quẫn kia dù hoàn cảnh bà cũng không khá hon lắm. Đó chính là bản chất nhân đạo trong tâm hồn con người Việt. Đó cũng là chủ đề của câu chuyện.

– Bà ngạc nhiên trước thái độ trịnh trọng khác thường của người con trai vô tâm tính.

– Khi thấy người đàn bà lạ ngồi ở đầu giường con trai hai lần chào mình bằng u bà thấy mắt nhoèn đi, bà im lặng vì quá ngạc nhiên, hoàn toàn không hiểu đầu đuôi câu chuyện.

– Khi hiểu câu chuyện, bà hiểu ra bao nhiêu cơ sự.

+ Nghĩ về con trai – thương con phải lấy vợ nhặt, nhờ cơn đói khát mới lấy được vợ, về bản thân – thấy tủi vì chưa làm tròn bổn phận của người mẹ lấy vợ cho con, về người chồng đã khuất – thương và tủi cho vong linh chồng không biết mặt con dâu, không được chứng kiến ngày con trai lấy vợ, và về người đàn bà lạ bỗng trở thành con dâu – thương người đàn bà khốn khố, cùng đường mới lấy đến con trai bà mà không tính đến cưới hỏi.

=> Ngổn ngang bao tâm trạng buồn vui, mừng tủi, và nhất là lo lắng vì nạn đói, lo vợ chồng chúng nó có sống qua nổi cái thời tao loạn này không – tất cả hoà trong dòng nước mắt nghẹn ngào.

=> Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ chân thật, logic và rất xúc động. Đó là tấm lòng nhân hậu, bao dung, đầy hi sinh của người mẹ nghèo Việt Nam.

– Đối xử với nàng dâu mới:

+ Tỏ thái độ gần gũi, thương yêu, chăm sóc nàng dâu mới: “Con ngồi xuống đây! Ngồi xuống đây cho đỡ mỏi chân”.

+ Lời nói chân tình, dịu dàng, tính toán cùng vợ chồng con chuyện nuôi gà, chuyện ngăn liếp, chuyện tương lai vói niềm lạc quan dân dã “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời; Sông có khúc, rtgưòi có lúc” để động viên các con.

+ Buổi sáng hôm sau: bà bảo ban các con, đem niềm vui cho các con, cố động viên các con bằng món chè khoán, đắng chát nhưng đậm nghĩa tình => bà là người mẹ nghèo nhưng cố gắng giữ nếp nhà.

2. Phân tích ý nghĩa đoạn kết của tác phẩm

a. Ý nghĩa nội dung:

– Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng vừa gợi ra cảnh đói khát thê thảm vừa gợi ra những tín hiệu của cuộc cách mạng, cả hai đều là những nét chân thực trong bức tranh đời sống lúc bấy giờ.

– Kết thúc truyện góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo cửa Kim Lân: trân trọng niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.

b. Ý nghĩa nghệ thuật:

– Hình ảnh dùng để kết thúc truyện là triển vọng sáng sủa của hiện thực tăm tối, đó là tương lai đang nảy sinh trong hiện tại, vì thế nó quyết định đến âm hưởng lạc quan chung của câu chuyện.

– Đây là kiểu kểt thúc mở giúp thể hiện xu hướng vận động tích cực của cuộc sống được mô tả trong toàn bộ câu chuyện; dành khoảng trống cho người đọc suy tưởng, phán đoán.

Bài phân tích

Đề bài: Phân tích tác phẩm “Vợ nhặt” – Kim Lân

Bài làm

Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc và những hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê. Văn của Kim Lân đi sâu vào lòng người đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình. Tác phẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thành công xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân. Bằng bút pháp tả thực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bần cùng giai đoạn đó.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vào nạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nhan nhản, ”người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường. Không khí vấn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”. Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tả được cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm. Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sống của những điều khốn khổ, bần hàn nhất. Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huống truyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật.

Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉ với vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anh nông dân nghèo rách mùng tơi. Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con không buồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực. Khung cảnh buồn thiu, đầy ám ảnh bao phủ lên xóm nghèo. Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng được tái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay. Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”.

Với vài chi tiết tiêu biểu, Kim Lân đã vé lên trước mặt người đọc hình ảnh người nông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực. Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thay đổi cuộc đời của một con người. Tình huống Tràng “nhặt” được vợ. Là “nhặt” được chứ không phải lấy được. Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy giờ.

Hình anh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy ám ảnh “thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”. Một người đàn bà nghèo khổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng là một đôi trời sinh. Giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìu hiu, ảm đạm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt.

Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa. Dưới gốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ kêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. Không còn gì thê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy. Mọi thứ dường như bị cái đói, cái nghèo đè nén đến chìm nghỉm. Bằng ngòi bút tả thực sinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay cho những phận nghèo long đong.

Điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng về người đàn bà đi bên cạnh tràng. Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có lẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để”. Người đàn bà bắt không còn chua ngoa, đanh đá nữa mà trở nên thẹn thùng khi quyết định theo Tràng về làm vợ. Làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ. Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy hai con người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương. Hẳn người đọc sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ cư.

Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và sự chuyển đổi trong tâm tính thật tài tình và sâu sắc. Người đọc sẽ hiểu hơn tấm lòng một người mẹ bao dung và hiền hậu. Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…” Sự băn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiện lên. Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu “bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình. Chao ôi người ta dựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suy nghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiến cho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết.

Bà đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai. Tình huống khiến người đọc nhớ mãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu đầu tiên. Hình ảnh “nồi cháo cám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn gì giá trị nữa”. Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn nói những chuyện vui trong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo. Hình ảnh “nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo. Ai cũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâu nhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương bà có thể mang lại cho con.

Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân khiến người đọc nhớ mãi. Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện của cuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn. Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo, độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khung cảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945. Qua đó tác giả cũng nhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt.

V. MỘT SỐ LỜI BÌNH VỀ TÁC PHẨM:

·        "Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói, người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người."

·        "Vợ nhặt đã thể hiện cảm động vẻ đẹp tình người và khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân ngay trên bờ vực của cái chết".

Tải xuống

Bài giảng: Vợ nhặt - Cô Vũ Phương Thảo (Giáo viên VietJack)

Xem thêm sơ đồ tư duy của các tác phẩm, văn bản lớp 12 hay, chi tiết khác:

Ngân hàng trắc nghiệm miễn phí ôn thi THPT Quốc Gia tại khoahoc.vietjack.com

GIẢM GIÁ 75% KHÓA HỌC VIETJACK HỖ TRỢ DỊCH COVID

Tổng hợp các video dạy học từ các giáo viên giỏi nhất - CHỈ TỪ 399K tại khoahoc.vietjack.com

Tổng đài hỗ trợ đăng ký khóa học: 084 283 45 85


Các loạt bài lớp 12 khác