10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn (điểm cao)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn

a. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm.

- Giới thiệu tác phẩm Nhàn.

b. Thân bài:

- Khái quát hoàn cảnh sáng tác tác phẩm 

- Phân tích hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

+ Điệp từ "một" đi cùng với các từ "mai, cuốc, cần câu"

⇒ Gợi ra hình ảnh người nông dân đang một mình điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng, dù một mình nhưng vẫn rất vui tươi.

+ Tính từ “thơ thẩn” diễn tả trạng thái ung dung, tự tại, không có gì là gấp gáp

+ “Dầu ai” có nghĩa là mặc cho ai

⇒ Làm nổi bật sự khác biệt trong sở thích, lối sống của tác giả. Mặc cho ai có cách vui thú nào, ta cứ thơ thẩn giữa cuộc đời này, sống theo cách riêng của ta, ung dung, thảnh thơi. 

Quảng cáo

- Phân tích hai câu thực: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

+ Phép đối: "ta" với "người", "khôn" với "dại", "vắng vẻ" với "lao xao"

⇒ Làm nổi bật sự đối lập về cách chọn nơi sống, niềm vui của Nguyễn Bỉnh Khiêm với người đời.

+ “Nơi vắng vẻ” chính là nơi tĩnh lặng của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi.

+ “Chốn lao xao” là nơi quan trường, chốn giành giật tư lợi, sang trọng, tấp nập ngựa xe, quyền quý, kẻ hầu người hạ.

⇒ Nguyễn Bỉnh Khiêm tự nhận mình là dại, cho người là khôn nhưng thực chất đó là cách nói ngược, hàm ý. Ẩn ý ở đây dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản. Khôn thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình. 

- Phân tích hai câu luận: Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.

+ "măng trúc", "giá" là những thức ăn "cây nhà lá vườn" dân dã quen thuộc do chính tác giả làm ra.

+ "tắm hồ sen", "tắm ao" hoạt động sinh hoạt dân giã, chân quê.

Quảng cáo

⇒ Thể hiện sự giản dị, đạm bạc trong ăn uống và sinh hoạt, có sự gắn bó, hòa quyện giữa con người với thiên nhiên. -

+ Sự xuất hiện của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

⇒ Thi sĩ đang rất hài lòng với cuộc sống giản dị, đạm bạc mà thanh cao, tự do, thoải mái, hòa quyện với thiên nhiên suốt 4 mùa của tác giả. 

- Phân tích hai câu kết: Triết lí sống nhàn, vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ.

+ Điển tích giấc mộng đêm hè của Thuần Vu Phần như một lời khẳng định phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

+ “nhìn xem” thể hiện một thế đứng cao hơn, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tự cho mình là “dại”

⇒ Cái nhìn của một bậc đại nhân đại trí, ông nhìn phú quý bằng ánh mắt coi thường, khinh bỉ, không đáng để ông suy nghĩ, bận tâm tới. 

c. Kết bài:

Khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.

Quảng cáo

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 1

Nguyễn Bỉnh Khiêm - danh sĩ tài ba của thế kỷ XVI - đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị, trong đó bài thơ "Nhàn" được xem như tuyên ngôn sống của một bậc đại trí. Bài thơ không chỉ là bức chân dung tự họa về cuộc sống thanh cao mà còn thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc của tác giả.

Mở đầu bài thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định quan niệm sống của mình:

"Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

Câu thơ mở ra hình ảnh một con người với những dụng cụ lao động bình dị: mai để đào đất, cuốc để xới cỏ, cần câu để thả cá. Điệp từ "một" được lặp lại ba lần nhấn mạnh sự đạm bạc, đơn sơ nhưng đầy đủ. Hai chữ "thơ thẩn" diễn tả dáng vẻ thong dong, tự tại, không vội vã, không bon chen. Cụm từ "dầu ai vui thú nào" thể hiện thái độ ung dung, mặc kệ người đời vui thú giàu sang, còn mình chỉ cần cuộc sống lao động bình dị là đủ. Đây là sự lựa chọn dứt khoát của một trí tuệ đã thấu hiểu lẽ đời.

Hai câu thực tiếp theo, tác giả bộc lộ rõ hơn quan niệm sống của mình:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Nghệ thuật đối lập được sử dụng rất tài tình: "dại" đối với "khôn", "nơi vắng vẻ" đối với "chốn lao xao". Nhà thơ tự nhận mình là "dại" khi tìm nơi vắng vẻ để ở, còn người đời là "khôn" khi đến chốn lao xao bon chen. Nhưng thực chất, đây là cách nói ngược đầy thâm thúy: cái "dại" mà tác giả nhận về mình thực chất là cái khôn, cái khôn của người biết chọn lẽ sống thanh cao; còn cái "khôn" của người đời thực chất là cái dại, bởi họ lao vào vòng danh lợi, để rồi cuối cùng mất cả danh dự lẫn nhân cách.

Hai câu luận là bức tranh sinh hoạt đầy chất thơ:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Câu thơ miêu tả cuộc sống sinh hoạt theo bốn mùa: mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá đỗ, mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. Những món ăn dân dã, thanh đạm (măng trúc, giá) và những thú vui đơn sơ (tắm hồ sen, tắm ao) cho thấy cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, với tạo hóa. Nhịp thơ 2/2/3 nhẹ nhàng, êm ái như chính nhịp sống an nhiên, tự tại của nhà thơ. Cách liệt kê theo mùa cũng thể hiện sự tuần hoàn của thời gian và sự ổn định, bền vững trong lối sống của tác giả.

Cuối cùng, hai câu kết đúc kết triết lý nhân sinh:

"Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Hình ảnh "đến cội cây ta sẽ uống" gợi lên một không gian thiên nhiên thân thuộc, nơi có cội cây già làm chỗ dựa, có rượu làm bạn. Đây là lối sống tùy duyên, thuận tự nhiên, không câu nệ, không gò bó. Câu thơ cuối là triết lý sâu sắc: "phú quý tựa chiêm bao". Tất cả giàu sang, phú quý, danh vọng ở đời cũng chỉ như một giấc chiêm bao, chóng tàn, hư ảo. Đây là triết lý đã được đúc kết từ bao đời, nhưng qua ngòi bút Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó trở nên thấm thía hơn bởi nó được rút ra từ chính cuộc đời từng trải của ông - một người đã từng làm quan, từng chứng kiến bao cảnh thịnh suy, được mất ở chốn quan trường.

Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, bài thơ "Nhàn" xứng đáng là một trong những đỉnh cao của thơ ca trung đại Việt Nam, thể hiện vẻ đẹp nhân cách và trí tuệ uyên thâm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 2

"Nhàn" là một đề tài lớn trong văn học trung đại Việt Nam, nhưng mỗi nhà thơ lại có một quan niệm riêng về chữ "nhàn". Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, "nhàn" không phải là lười biếng, trốn tránh cuộc đời mà là một cách sống chủ động, một thái độ sống tích cực, một triết lý nhân sinh sâu sắc.

Trước hết, "nhàn" với Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống hòa hợp với thiên nhiên, với lao động:

"Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

Ba công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu - tưởng như đơn giản nhưng lại chứa đựng cả một triết lý. Đó là sự lựa chọn quay về với cuộc sống thuần nông, rời xa chốn quan trường đầy rẫy thị phi. Hai chữ "thơ thẩn" gợi dáng vẻ thảnh thơi, không bận tâm toan tính. Cụm từ "dầu ai vui thú nào" thể hiện một tinh thần độc lập, không bị ảnh hưởng bởi sự giàu sang, danh vọng của người đời. Ở đây, "nhàn" trước hết là sự tự do về tinh thần, là không bị ràng buộc bởi vòng danh lợi.

Thứ hai, "nhàn" là biết chọn cho mình một lối sống phù hợp, xa lánh chốn bon chen:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Cách nói "dại - khôn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm đầy hàm ý. "Nơi vắng vẻ" là không gian của thiên nhiên tĩnh lặng, của cuộc sống thanh bần, là nơi tâm hồn được thư thái. "Chốn lao xao" là chốn quan trường, nơi đô hội ồn ào, nơi người ta bon chen, tranh giành quyền lực, danh vọng. Nhà thơ tự nhận mình là "dại" vì đã chọn nơi vắng vẻ, nhưng thực chất cái dại ấy mới thực sự là khôn. Bởi ai dại gì mà chui đầu vào chốn lao xao để rồi chuốc lấy bao điều phiền muộn, thậm chí là tai họa. Đây là bài học thâm thúy về cách lựa chọn lối sống của một bậc trí giả.

Thứ ba, "nhàn" là sống thuận theo tự nhiên, theo quy luật bốn mùa:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Câu thơ như một bức tranh tứ bình về cuộc sống thanh nhàn. Mỗi mùa đều có những thú vui riêng, những món ăn riêng, đơn sơ mà thanh đạm. Măng trúc mùa thu, giá đỗ mùa đông là những thức ăn dân dã, thanh khiết. Tắm hồ sen mùa xuân, tắm ao mùa hạ là những thú vui tao nhã, gần gũi với thiên nhiên. "Nhàn" ở đây là sự hòa mình vào dòng chảy của tạo hóa, sống đúng với quy luật của trời đất, không gò ép, không miễn cưỡng.

Cuối cùng, "nhàn" là khi con người nhận ra sự phù du, hư ảo của giàu sang, danh vọng:

"Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Uống rượu dưới cội cây - một hình ảnh rất lãng mạn, phóng khoáng, thể hiện sự ung dung, tự tại. Và từ đó, tác giả nhìn lại cuộc đời và rút ra chân lý: "phú quý tựa chiêm bao". Giàu sang, phú quý chỉ là giấc mộng, chóng tàn, hư ảo. Chỉ có tâm hồn thanh thản, cuộc sống tự do, hòa hợp với thiên nhiên mới là giá trị đích thực, bền vững.

Quan niệm sống "nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là lối sống ích kỷ, chỉ biết cho riêng mình. Đó là một thái độ sống tích cực, một sự phản ứng trước thời cuộc rối ren, một cách giữ gìn nhân cách và phẩm giá của người trí thức. "Nhàn" là để không tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực đen tối, để bảo toàn danh dự, để sống một cuộc đời có ý nghĩa.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 3

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thầy trong việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật đối, để thể hiện tư tưởng triết lý sâu sắc. Bài thơ "Nhàn" là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng nghệ thuật của ông, đặc biệt ở khả năng sử dụng phép đối tài tình để chuyển tải quan niệm sống "dại - khôn" một cách đầy hàm súc.

Trước hết, phép đối xuất hiện ngay trong cấu trúc tổng thể của bài thơ, nhưng tập trung nhất ở hai câu thực:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Đây là cặp đối hoàn hảo cả về thanh, về ý. Về mặt từ ngữ: "ta" đối với "người", "dại" đối với "khôn", "tìm" đối với "đến", "nơi vắng vẻ" đối với "chốn lao xao". Sự đối lập gay gắt giữa hai cách sống, hai sự lựa chọn được thể hiện rõ nét. Nhưng cái hay không chỉ ở sự đối lập bề ngoài mà ở sự đối lập bên trong: cái "dại" bề ngoài thực chất là cái khôn, cái "khôn" bề ngoài thực chất là cái dại. Nhờ phép đối, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo ra một cách nói ngược đầy thâm thúy, buộc người đọc phải suy ngẫm, phải lật ngược vấn đề để nhận ra chân lý.

Ở hai câu luận, nghệ thuật đối tiếp tục được thể hiện một cách tinh tế:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Cặp đối ở đây là đối giữa các mùa trong năm: thu - đông - xuân - hạ. Mỗi mùa đều có những sinh hoạt riêng, những thú vui riêng. Mùa thu ăn măng trúc, mùa đông ăn giá, mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. Phép đối tạo nên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống thanh nhàn, không bỏ sót một khoảnh khắc nào. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự tuần hoàn, liên tục của thời gian và nhịp sống thảnh thơi, an nhiên của nhà thơ.

Không chỉ có đối giữa các câu, trong nội bộ câu thơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng sử dụng phép đối một cách linh hoạt. Câu thơ đầu:

"Một mai, một cuốc, một cần câu"

Ba cụm từ "một mai", "một cuốc", "một cần câu" đặt cạnh nhau vừa có tính liệt kê, vừa có tính đối xứng. Điệp từ "một" lặp lại ba lần tạo nên sự cân xứng, nhịp nhàng, đồng thời nhấn mạnh sự đạm bạc, đơn sơ nhưng đầy đủ của cuộc sống nơi thôn dã.

Ngoài phép đối, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sử dụng thành công các biện pháp nghệ thuật khác như: sử dụng từ láy "thơ thẩn" gợi dáng vẻ thong dong, nhàn tản; sử dụng điển tích, điển cố "phú quý tựa chiêm bao" (giàu sang như giấc mộng) để đúc kết triết lý nhân sinh; sử dụng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng lại chứa đựng những tầng ý nghĩa sâu xa.

Đặc biệt, nghệ thuật xây dựng hình tượng trong bài thơ rất thành công. Hình tượng "ta" - con người nhàn tản hiện lên với dáng vẻ thơ thẩn bên mai, cuốc, cần câu; với lối sống hòa hợp thiên nhiên, thuận theo bốn mùa; với triết lý nhìn cuộc đời như một giấc chiêm bao. Đây là hình tượng của một bậc đại trí, đã đạt đến cảnh giới cao nhất của sự giác ngộ về lẽ đời.

Nhờ các biện pháp nghệ thuật tài tình, bài thơ "Nhàn" không chỉ là một tuyên ngôn về lối sống thanh cao mà còn là một tác phẩm nghệ thuật đích thực, có giá trị vượt thời gian. Nó chứng minh tài năng của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ ở tư tưởng triết lý sâu sắc mà còn ở khả năng sử dụng ngôn từ điêu luyện.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 4

Hình tượng con người nhàn tản là trung tâm của bài thơ "Nhàn". Đó không phải là hình tượng một ẩn sĩ tiêu cực, chán đời mà là một con người tích cực, đã đạt đến độ giác ngộ sâu sắc về lẽ đời, chọn cho mình một lối sống phù hợp để bảo toàn nhân cách và tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn nhất.

Trước hết, con người nhàn tản hiện lên với vẻ ngoài thật bình dị, gần gũi:

"Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

Hình ảnh một người đàn ông với mai, cuốc, cần câu - những dụng cụ lao động của nhà nông - không có gì đặc biệt. Nhưng điểm đặc biệt là ở dáng vẻ "thơ thẩn". "Thơ thẩn" là dáng điệu thong thả, thảnh thơi, không vội vàng, không hối hả. Đó là dáng vẻ của một người không bị cuốn vào vòng xoáy cơm áo gạo tiền, không phải chạy đua với thời gian. Cụm từ "dầu ai vui thú nào" cho thấy một thái độ sống rất độc lập: mặc kệ người đời theo đuổi những thú vui giàu sang, phú quý, còn ta chỉ cần cuộc sống đơn sơ này là đủ. Con người ấy tự tin, bản lĩnh, không hề ghen tị hay so đo với ai.

Con người nhàn tản còn thể hiện qua sự lựa chọn chốn ở:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Cách nói "dại" và "khôn" là cách nói đầy ngụ ý. Con người nhàn tản tự nhận mình là "dại" vì chọn nơi vắng vẻ. Nhưng cái dại ấy thực chất là cái khôn sâu sắc. Bởi ai từng trải mới hiểu, "nơi vắng vẻ" tuy thiếu thốn vật chất nhưng giàu có về tinh thần, tâm hồn được thảnh thơi. "Chốn lao xao" thì ngược lại, tuy giàu sang danh vọng nhưng đầy rẫy thị phi, tranh giành, có thể đánh mất mình bất cứ lúc nào. Con người nhàn tản ở đây hiện lên với một trí tuệ sáng suốt, nhìn thấu mọi lẽ ở đời để có lựa chọn đúng đắn.

Con người nhàn tản còn hiện ra qua sinh hoạt hàng ngày, qua bốn mùa:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Đây là con người sống hoàn toàn hòa hợp với thiên nhiên, với tạo hóa. Mùa nào thức ấy, không cầu kỳ, không xa hoa. Măng trúc, giá đỗ là những thức ăn thanh đạm, dân dã. Tắm hồ sen, tắm ao là những thú vui đơn sơ nhưng thanh cao. Nhịp sống của con người ấy cứ êm đềm trôi theo năm tháng, không xáo trộn, không bon chen. Đó là hình ảnh con người đã đạt đến sự hài hòa tuyệt đối với vũ trụ.

Cuối cùng, con người nhàn tản hiện lên với một tư thế ung dung, tự tại:

"Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Uống rượu dưới cội cây - đó là hình ảnh rất phóng khoáng, lãng mạn. Rượu ở đây không phải là thứ để say sưa, giải sầu mà là thứ để thưởng thức cuộc sống, để cùng thiên nhiên đối ẩm. Từ tư thế ung dung ấy, con người nhìn lại cuộc đời và nhận ra chân lý: "phú quý tựa chiêm bao". Giàu sang, danh vọng chỉ là giấc mộng. Chỉ có tâm hồn thanh thản, cuộc sống tự do, hòa mình với thiên nhiên mới là điều đáng quý, đáng trân trọng.

Hình tượng con người nhàn tản trong bài thơ "Nhàn" là hình tượng một bậc đại trí, một nhà hiền triết đã tìm thấy chân lý cuộc đời. Đó không phải là sự trốn tránh trách nhiệm mà là một lựa chọn có ý thức, một thái độ sống tích cực giữa thời cuộc rối ren. Con người ấy để lại một bài học sâu sắc về cách sống: sống đơn giản để được thanh thản, sống hòa hợp với thiên nhiên để tìm thấy bình yên, sống xa lánh danh lợi để giữ trọn nhân cách.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 5

Bài thơ "Nhàn" không chỉ là bức tranh về cuộc sống thanh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn là một triết lý nhân sinh sâu sắc, một bài học quý giá về cách sống, cách ứng xử ở đời. Qua những vần thơ giản dị, tác giả đã gửi gắm những thông điệp có giá trị vượt thời gian.

Triết lý đầu tiên và xuyên suốt bài thơ là triết lý về sự lựa chọn:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Ở đời, ai cũng phải đứng trước những lựa chọn. Lựa chọn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là chọn "nơi vắng vẻ" - nơi thanh tĩnh, xa lánh chốn quan trường bon chen. Đây không phải là lựa chọn bột phát mà là kết quả của cả một quá trình từng trải, suy ngẫm. Bài học rút ra từ đây là: hãy biết lựa chọn lối sống phù hợp với bản thân, đừng chạy theo đám đông. Cái mà người đời cho là "khôn" chưa chắc đã thực sự khôn, và cái bị cho là "dại" chưa chắc đã thực sự dại. Có những lúc "dại" mới là khôn, và "khôn" lại hóa dại.

Triết lý thứ hai là về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Con người là một phần của tự nhiên, và hạnh phúc đích thực là khi con người sống hòa hợp với tự nhiên. Những món ăn dân dã, những thú vui đơn sơ từ thiên nhiên đem lại cho con người sự thanh thản, nhẹ nhàng. Ngược lại, càng xa rời thiên nhiên, càng lao vào cuộc sống đô thị ồn ào, con người càng dễ đánh mất mình. Bài học ở đây là: hãy biết trân trọng, gìn giữ mối quan hệ với thiên nhiên, hãy sống gần gũi với thiên nhiên để tâm hồn luôn được trong lành, thư thái.

Triết lý thứ ba là về sự đạm bạc, thanh cao:

"Một mai, một cuốc, một cần câu"

Cuộc sống vật chất đạm bạc nhưng tinh thần lại phong phú. Ba chữ "một" cho thấy sự ít ỏi về vật chất, nhưng cũng chính sự ít ỏi ấy lại đem đến sự tự do, không bị ràng buộc. Con người càng ít ham muốn vật chất, càng dễ tìm thấy hạnh phúc. Đây là bài học về lối sống tối giản, biết đủ, biết dừng đúng lúc.

Triết lý sâu sắc nhất là về sự phù du, hư ảo của giàu sang, danh vọng:

"Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Câu thơ sử dụng điển tích "phú quý tựa chiêm bao" - giàu sang như giấc mộng - để khẳng định một chân lý: mọi thứ trên đời đều vô thường, đều qua mau. Giàu sang, danh vọng, quyền thế rồi cũng sẽ tan biến như giấc chiêm bao. Vì vậy, đừng quá coi trọng, đừng quá đam mê, đừng vì nó mà đánh mất mình. Hãy sống thanh thản, ung dung, bởi khi nhắm mắt xuôi tay, không ai mang theo được gì.

Từ những triết lý trên, bài thơ "Nhàn" gửi đến người đọc nhiều bài học quý giá:

Một là, bài học về cách đối diện với danh lợi. Đừng để danh lợi làm mờ mắt, đừng vì danh lợi mà bất chấp tất cả. Hãy biết đủ, biết dừng đúng lúc. Hai là, bài học về cách sống đơn giản. Cuộc sống càng đơn giản, tâm hồn càng thanh thản. Đừng chạy theo những nhu cầu vật chất quá mức, bởi đó là con đường dẫn đến khổ đau. Ba là, bài học về việc giữ gìn nhân cách. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy giữ cho mình một tâm hồn thanh cao, một phẩm giá trong sạch. Đừng vì lợi ích trước mắt mà đánh đổi nhân cách. Bốn là, bài học về sự hòa hợp với thiên nhiên. Hãy yêu quý, trân trọng thiên nhiên, bởi thiên nhiên là ngôi nhà chung của nhân loại, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn con người.

Với những triết lý và bài học sâu sắc ấy, bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng là một tác phẩm văn học lớn, có giá trị giáo dục to lớn đối với nhiều thế hệ độc giả.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 6

"Nhàn" là một đề tài quen thuộc trong văn học trung đại Việt Nam. Nhiều tác giả đã viết về "nhàn" và mỗi người lại có một quan niệm riêng. So sánh quan niệm "nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm với các tác giả khác như Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến sẽ giúp chúng ta thấy rõ hơn những nét độc đáo trong tư tưởng của Trạng Trình.

Trước hết, hãy đến với quan niệm "nhàn" của Nguyễn Trãi. Trong bài thơ "Thuật hứng" (bài 24), Nguyễn Trãi viết:

"Cơm ăn dù có rau muống

Áo mặc dù có vài bức là"

Hay:

"Ta càng nhàn, ngày tháng qua

Tuy rằng có lúc cũng vui già"

Với Nguyễn Trãi, "nhàn" là sự trở về với cuộc sống giản dị ở Côn Sơn, là tìm niềm vui trong thiên nhiên, cây cỏ. Nhưng ở Nguyễn Trãi, "nhàn" vẫn gắn với một nỗi niềm u uất, một tấm lòng "lo nước thương nhà" không nguôi. Ông về ở ẩn nhưng tâm vẫn hướng về dân, về nước. "Nhàn" của Nguyễn Trãi là sự bất đắc dĩ, là nơi nương thân sau những thăng trầm chốn quan trường.

Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, "nhàn" lại mang một ý nghĩa khác:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

"Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một sự lựa chọn chủ động, có ý thức, xuất phát từ một trí tuệ sáng suốt đã thấu hiểu lẽ đời. Ông không về ở ẩn vì thất thế hay bất đắc chí, mà ông về vì ông hiểu "phú quý tựa chiêm bao". "Nhàn" với ông là cách để bảo toàn nhân cách, để sống một cuộc đời có ý nghĩa, để đạt đến sự tự do tuyệt đối của tâm hồn.

Đến với Nguyễn Khuyến, nhà thơ làng cảnh Việt Nam, quan niệm "nhàn" lại hiện lên qua những vần thơ đậm chất quê:

"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo"

("Thu điếu")

"Nhàn" của Nguyễn Khuyến là những giây phút thảnh thơi, ung dung bên ao nhà, câu cá, uống rượu, ngâm thơ. Nhưng đằng sau cái "nhàn" ấy là cả một tấm lòng yêu nước thầm kín, là nỗi đau trước cảnh nước mất nhà tan. "Nhàn" của Nguyễn Khuyến là cái "nhàn" của một nhà nho bất lực trước thời cuộc, phải lui về ở ẩn để giữ mình.

Điểm chung giữa ba nhà thơ là họ đều tìm đến "nhàn" như một nơi nương tựa tinh thần, một cách để giữ gìn nhân cách giữa thời cuộc rối ren. Cả ba đều đề cao cuộc sống giản dị, hòa hợp với thiên nhiên và coi thường danh lợi.

Tuy nhiên, có những điểm khác biệt đáng chú ý. Với Nguyễn Trãi, "nhàn" mang màu sắc bi tráng, u uất. Với Nguyễn Khuyến, "nhàn" đậm chất trữ tình, man mác buồn. Còn với Nguyễn Bỉnh Khiêm, "nhàn" mang màu sắc trí tuệ, triết lý. Ông không chỉ sống "nhàn" mà còn lý giải tại sao lại sống "nhàn", và rút ra những bài học sâu sắc từ lối sống ấy.

Về thời gian, Nguyễn Trãi sống ở thế kỷ XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI, Nguyễn Khuyến ở thế kỷ XIX. Mỗi người sống trong một bối cảnh lịch sử khác nhau, chịu những tác động khác nhau, nên quan niệm "nhàn" cũng có những sắc thái riêng.

Có thể nói, trong số các tác giả viết về "nhàn", Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có quan niệm "nhàn" mang tính triết lý sâu sắc nhất. "Nhàn" của ông không chỉ là một lối sống mà còn là một triết lý nhân sinh, một bài học về cách đối nhân xử thế, một tuyên ngôn về nhân cách.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 7

Nguyễn Bỉnh Khiêm là bậc thầy về ngôn ngữ thơ ca. Trong bài thơ "Nhàn", ông đã sử dụng một hệ thống ngôn ngữ và hình ảnh vừa giản dị, tự nhiên, vừa hàm súc, giàu ý nghĩa triết lý, tạo nên một tác phẩm có sức lay động lâu bền.

Trước hết, về ngôn ngữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng thứ ngôn ngữ đời thường, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân:

"Một mai, một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

"Mai", "cuốc", "cần câu" là những vật dụng quen thuộc với người nông dân. "Thơ thẩn" là từ láy chỉ dáng vẻ thong thả, nhàn tản. "Dầu ai vui thú nào" như một lời nói thường ngày. Cả câu thơ không có một từ ngữ nào cầu kỳ, hoa mỹ. Nhưng chính sự giản dị ấy lại làm nên sức hấp dẫn đặc biệt, bởi nó chân thật, gần gũi.

Ở câu thơ thứ hai:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Ngôn ngữ đối lập được sử dụng rất tài tình. "Dại" và "khôn" là hai khái niệm trừu tượng, nhưng khi đặt trong câu thơ, chúng trở nên cụ thể, gợi mở nhiều suy ngẫm. "Nơi vắng vẻ" và "chốn lao xao" là những cụm từ giàu hình ảnh, tạo nên sự đối lập không gian rõ nét.

Đến hai câu luận:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Ngôn ngữ ở đây là ngôn ngữ liệt kê, nhưng được tổ chức một cách nghệ thuật. Mỗi mùa gắn với một hoạt động, một thức ăn cụ thể, tạo nên một bức tranh tứ bình sinh động. "Măng trúc", "giá", "hồ sen", "ao" - tất cả đều là những hình ảnh dân dã, quen thuộc với làng quê Việt Nam.

Hai câu kết:

"Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Ngôn ngữ trở nên triết lý, chiêm nghiệm. "Phú quý tựa chiêm bao" là một điển tích, một triết lý được đúc kết từ ngàn xưa, nhưng qua ngòi bút Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó trở nên thấm thía, sâu sắc hơn.

Về hình ảnh thơ, bài thơ "Nhàn" xây dựng một hệ thống hình ảnh rất đặc sắc. Đó là hình ảnh con người với những công cụ lao động đơn sơ: mai, cuốc, cần câu. Đó là hình ảnh không gian: nơi vắng vẻ - chốn lao xao. Đó là hình ảnh của bốn mùa với những sinh hoạt đặc trưng. Và cuối cùng là hình ảnh cội cây, rượu và giấc chiêm bao.

Đặc biệt, hình ảnh "cội cây" trong câu thơ cuối mang nhiều ý nghĩa. Đó có thể là cội đa đầu làng, cội cây cổ thụ - nơi hội tụ của thiên nhiên và con người, nơi nghỉ ngơi, thư giãn. Uống rượu dưới cội cây là một hình ảnh rất lãng mạn, phóng khoáng, thể hiện sự ung dung, tự tại.

Hình ảnh "phú quý tựa chiêm bao" là một ẩn dụ độc đáo. Chiêm bao là giấc mơ, là ảo ảnh. Nó tồn tại trong chốc lát rồi tan biến. So sánh phú quý với chiêm bao, Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khẳng định sự phù du, tạm bợ của giàu sang, danh vọng.

Một điểm đáng chú ý là các hình ảnh trong bài thơ đều được chọn lọc từ cuộc sống đời thường, từ thiên nhiên gần gũi. Không có hình ảnh kỳ vĩ, tráng lệ. Tất cả đều bình dị, mộc mạc như chính cuộc sống mà nhà thơ đang theo đuổi.

Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ giản dị và hình ảnh giàu sức gợi, bài thơ "Nhàn" đã tạo nên một không gian nghệ thuật đặc sắc, vừa chân thực, vừa lãng mạn, vừa gần gũi, vừa triết lý. Đó là một không gian thanh bình, an nhiên, nơi con người được sống thật với mình, với thiên nhiên, và với những giá trị tinh thần cao đẹp.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 8

Bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc mà còn chứa đựng những giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Qua những vần thơ giản dị, tác giả đã phản ánh hiện thực xã hội đương thời và thể hiện tấm lòng nhân ái cao cả.

Trước hết, về giá trị hiện thực. Tuy bài thơ không trực tiếp mô tả cảnh đời lầm than, nhưng nó phản ánh một hiện thực xã hội thế kỷ XVI đầy biến động:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

"Chốn lao xao" ở đây chính là chốn quan trường, nơi mà người ta bon chen, tranh giành quyền lực, danh vọng. Thế kỷ XVI là thời kỳ lịch sử đầy rối ren với sự suy yếu của triều đình nhà Lê, sự trỗi dậy của các tập đoàn phong kiến, những cuộc tranh giành quyền lực đẫm máu. Chốn quan trường khi ấy là nơi "lao xao" thực sự, với đủ mọi thứ thủ đoạn, mưu mô. Việc Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn "nơi vắng vẻ" là một sự phản ánh gián tiếp hiện thực đen tối của xã hội đương thời.

Câu thơ "Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao" cũng phản ánh một hiện thực: giàu sang, danh vọng ở chốn quan trường thật mong manh, phù du. Hôm nay có thể là quan lớn, ngày mai đã có thể là tội đồ. Bao người vì tranh giành quyền lực mà mất mạng, tan nhà. Sự phù du ấy là hiện thực mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chứng kiến trong suốt những năm tháng làm quan.

Giá trị hiện thực còn thể hiện ở bức tranh cuộc sống thanh bần của người trí thức lui về ở ẩn:

"Một mai, một cuốc, một cần câu

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá"

Đó là cuộc sống đạm bạc, thiếu thốn về vật chất. Nhưng chính sự thiếu thốn ấy lại là tấm gương phản chiếu sự xa hoa, lãng phí của tầng lớp thống trị. Trong khi quan lại trong triều đình ăn sơn hào hải vị, thì bậc trí thức lui về ở ẩn chỉ ăn măng trúc, giá đỗ. Đây là một sự đối lập có ý nghĩa tố cáo sâu sắc.

Về giá trị nhân đạo, bài thơ "Nhàn" thể hiện tình yêu thương con người một cách sâu sắc. Trước hết là tình yêu thương với chính mình, với nhân cách của mình. Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn lui về ở ẩn là để bảo toàn nhân cách, để không phải tham gia vào những cuộc tranh giành quyền lực đen tối, để giữ cho tâm hồn luôn thanh thản. Đây là một biểu hiện của lòng tự trọng, của ý thức về giá trị bản thân.

Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở thái độ trân trọng cuộc sống bình dị, trân trọng thiên nhiên:

"Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Nhà thơ tìm thấy niềm vui, hạnh phúc trong những điều giản dị nhất: mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. Đó là cách sống biết trân trọng những gì mình đang có, biết tận hưởng những niềm vui nhỏ bé. Điều này thể hiện một triết lý nhân văn sâu sắc: hạnh phúc không phải là có thật nhiều tiền, thật nhiều của, mà là biết hài lòng với những gì mình đang có.

Câu thơ cuối là đỉnh cao của tư tưởng nhân đạo:

"Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Nhà thơ nhìn thấu bản chất ảo ảnh của giàu sang, danh vọng. Từ đó, ông muốn thức tỉnh con người, muốn con người đừng quá đam mê, chạy theo những thứ phù du, hãy biết sống cho ra sống, hãy biết trân trọng những giá trị tinh thần. Đây là một lời khuyên đầy nhân ái, muốn con người tránh được những cạm bẫy của cuộc đời.

Đặc biệt, khi nói "phú quý tựa chiêm bao", Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ nói với riêng ai mà nói với tất cả mọi người. Ông muốn chia sẻ triết lý sống của mình, muốn giúp người đời nhận ra chân lý để sống tốt hơn. Đây chính là biểu hiện cao đẹp của tinh thần nhân đạo.

Như vậy, ẩn sau những vần thơ tưởng chừng chỉ nói về cuộc sống thanh nhàn là cả một thế giới hiện thực và tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Bài thơ "Nhàn" xứng đáng được coi là một tác phẩm văn học lớn, có giá trị hiện thực và nhân đạo to lớn.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 9

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thầy về nghệ thuật thơ ca. Bài thơ "Nhàn" tuy ngắn gọn nhưng đã hội tụ nhiều nét đặc sắc về bút pháp nghệ thuật, từ cách sử dụng ngôn từ, xây dựng hình ảnh, đến tổ chức kết cấu và tạo nhịp điệu.

Trước hết, về bút pháp tả thực kết hợp với lãng mạn. Bài thơ mở ra bằng những hình ảnh hết sức thực:

"Một mai, một cuốc, một cần câu"

Ba công cụ lao động cụ thể, có thể nhìn thấy, cầm nắm được. Đó là hiện thực của cuộc sống nông dân. Nhưng ba hình ảnh ấy xếp cạnh nhau, với điệp từ "một" tạo nên một vẻ đẹp lãng mạn, đó là vẻ đẹp của sự đạm bạc, thanh cao. Câu thơ tiếp theo:

"Thơ thẩn dầu ai vui thú nào"

"Thơ thẩn" là một từ láy gợi tả dáng vẻ thảnh thơi, thong dong. Đó là dáng vẻ của một con người không vướng bận lo toan, sống ung dung tự tại. Sự kết hợp giữa tả thực và lãng mạn đã tạo nên một bức chân dung vừa chân thực, vừa nên thơ.

Thứ hai, về bút pháp đối lập. Đây là bút pháp đặc trưng của thơ Đường luật và được Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng rất thành công:

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

Cặp đối "dại - khôn", "nơi vắng vẻ - chốn lao xao" tạo nên một sự tương phản gay gắt giữa hai cách sống, hai sự lựa chọn. Nhưng không chỉ đối lập bề mặt, bút pháp đối lập còn tạo ra sự đối lập bề sâu: cái "dại" bề ngoài là cái khôn bên trong, cái "khôn" bề ngoài là cái dại bên trong. Nhờ bút pháp này, tư tưởng của bài thơ trở nên thâm thúy, sâu sắc.

Thứ ba, về bút pháp liệt kê. Hai câu luận sử dụng bút pháp liệt kê theo mùa:

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Tác giả liệt kê các hoạt động sinh hoạt trong bốn mùa. Cách liệt kê này vừa tạo nên một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống thanh nhàn, vừa thể hiện sự tuần hoàn của thời gian, sự ổn định, bền vững của lối sống mà nhà thơ đã chọn.

Thứ tư, về bút pháp sử dụng điển tích, điển cố. Câu thơ cuối:

"Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

Sử dụng điển tích "phú quý tựa chiêm bao" - giàu sang như giấc mộng. Điển tích này vốn đã quen thuộc trong văn học, nhưng qua ngòi bút Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó trở nên mới mẻ, thấm thía bởi nó được rút ra từ chính trải nghiệm của tác giả.

Thứ năm, về bút pháp xây dựng hình tượng trữ tình. Xuyên suốt bài thơ là hình tượng "ta" - con người nhàn tản. "Ta" hiện lên với dáng vẻ thơ thẩn, với sự lựa chọn nơi vắng vẻ, với sinh hoạt bốn mùa, với tư thế ung dung uống rượu dưới cội cây. Hình tượng "ta" vừa là tác giả, vừa là một biểu tượng cho người trí thức chọn lối sống thanh cao, xa lánh danh lợi.

Cuối cùng, về ngôn ngữ thơ. Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, tự nhiên nhưng lại rất hàm súc, giàu sức gợi. Không có một chữ nào xa lạ, cầu kỳ, nhưng mỗi chữ đều chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa.

Tất cả những bút pháp nghệ thuật trên kết hợp nhuần nhuyễn đã tạo nên một bài thơ "Nhàn" vừa giản dị, vừa sâu sắc, vừa gần gũi, vừa triết lý, xứng đáng là một kiệt tác của thơ ca trung đại Việt Nam.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Nhàn - mẫu 10

Bài thơ "Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác phẩm ngắn gọn, chỉ có 8 câu nhưng mỗi câu đều chứa đựng những tầng ý nghĩa sâu xa. Để hiểu hết giá trị của bài thơ, chúng ta cần đi sâu phân tích, bình giảng từng câu thơ một cách chi tiết.

Câu thơ đầu mở ra bằng hình ảnh một con người với ba công cụ lao động: mai để đào đất, cuốc để xới đất, cần câu để câu cá. Điệp từ "một" được lặp lại ba lần, vừa có tác dụng liệt kê, vừa nhấn mạnh sự đạm bạc, đơn sơ. Không phải là những thứ xa hoa, cầu kỳ, chỉ là những vật dụng bình dị gắn với cuộc sống thôn quê. Ba chữ "một" cũng gợi lên sự đầy đủ, tự tại: tuy ít nhưng đủ, không thiếu thốn, không phải nhờ vả ai. Câu thơ thứ hai: "Thơ thẩn dầu ai vui thú nào". "Thơ thẩn" là từ láy tượng hình, gợi dáng vẻ thảnh thơi, ung dung, không vội vàng, không hối hả. Cụm từ "dầu ai vui thú nào" thể hiện một thái độ sống rất độc lập: mặc kệ người đời có những thú vui giàu sang, phú quý, còn ta chỉ cần cuộc sống lao động bình dị này là đủ. Hai câu đề đã giới thiệu một con người với lối sống giản dị, thảnh thơi, không màng danh lợi.

Đây là hai câu thơ thể hiện rõ nhất quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

"Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao"

 Tác giả tự nhận mình là "dại" vì đã tìm "nơi vắng vẻ" để ở. Ngược lại, "người khôn" thì đến "chốn lao xao". "Nơi vắng vẻ" là nơi thanh tĩnh, xa lánh chốn quan trường, xa lánh thị phi. "Chốn lao xao" là chốn đô hội ồn ào, nơi người ta bon chen, tranh giành quyền lực, danh vọng. Cách nói "dại - khôn" là cách nói ngược đầy thâm thúy. Thực chất, cái "dại" mà tác giả tự nhận mới là cái khôn thực sự, bởi chọn nơi vắng vẻ là để giữ được tâm hồn thanh thản, giữ được nhân cách. Còn cái "khôn" của người đời thực chất là cái dại, bởi chạy theo danh lợi rồi sẽ đánh mất mình. Câu thơ là một bài học sâu sắc về cách lựa chọn lối sống.

Hai câu thơ tả thực cuộc sống sinh hoạt của tác giả theo bốn mùa.

"Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao"

Mùa thu ăn măng trúc - măng tre mọc vào mùa thu, ăn thanh mát. Mùa đông ăn giá - giá đỗ, thức ăn dân dã, dễ kiếm. Mùa xuân tắm hồ sen - hồ sen thơm ngát, nước mát lành. Mùa hạ tắm ao - ao làng quen thuộc, mát mẻ. Cách liệt kê theo mùa cho thấy cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, thuận theo quy luật tạo hóa. Những món ăn, thú vui đều đạm bạc, dân dã nhưng lại đem đến niềm vui, sự thư thái. Câu thơ cũng thể hiện sự trân trọng những giá trị giản dị của cuộc sống, một bài học về lòng biết đủ.

Câu thơ thứ bảy mở ra một hình ảnh rất đẹp: uống rượu dưới cội cây. Rượu là thức uống, cũng là người bạn tâm giao của thi nhân. Cội cây là hình ảnh của thiên nhiên, của sự vững bền. Uống rượu dưới cội cây là một thú vui tao nhã, thể hiện sự ung dung, tự tại, hòa mình với thiên nhiên. Từ tư thế ung dung ấy, nhà thơ nhìn lại cuộc đời và rút ra chân lý: "phú quý tựa chiêm bao". "Phú quý" là giàu sang, danh vọng. "Chiêm bao" là giấc mơ, là ảo ảnh. So sánh giàu sang với giấc mơ, Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn khẳng định sự phù du, tạm bợ, không bền vững của nó. Con người sinh ra, chạy đuổi theo giàu sang danh vọng, cuối cùng khi nhắm mắt xuôi tay cũng chẳng mang theo được gì. Chỉ có tâm hồn thanh thản, nhân cách trong sạch mới là điều đáng quý. Câu thơ cuối là đúc kết triết lý sống của một bậc đại trí, cũng là lời thức tỉnh sâu sắc đối với mọi người.

Tám câu thơ ngắn gọn, giản dị nhưng đã vẽ nên một bức chân dung tự họa về con người Nguyễn Bỉnh Khiêm: một con người sống đạm bạc, thanh cao; một trí tuệ sáng suốt đã thấu hiểu lẽ đời; một nhân cách lớn chọn lui về ở ẩn để giữ mình giữa thời cuộc rối ren. Bài thơ "Nhàn" xứng đáng là một tác phẩm bất hủ trong kho tàng văn học dân tộc.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học