5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (điểm cao)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Tú Xương) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu

a. Mở đoạn:

Dẫn dắt, giới thiệu về văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.

b. Thân đoạn: 

- Giới thiệu về khoa thi năm Đinh Dậu

+ Theo lệ thường “Nhà nước ba năm mở một khoa”: Ba năm có một khoa thi thi Hương.

- Điều khác thường:

+ “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”: “Trường Nam” là trường thi ở Nam Định, “Trường + + Hà” là trường thi ở Hà Nội. Đó là hai trường thi Hương ở Bắc kì thời xưa. Nhưng khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội thì trường thi ở đây bị bãi bỏ, các sĩ tử ở Hà Nội phải xuống thi chung ở trường Nam Định.

+ Từ “lẫn” cho thấy quang cảnh bát nháo, lẫn lộn của trường thi. Điều đó làm mất đi vẻ trang nghiêm của kì thi Hương.

- Cảnh trường thi trong thực tế

+ Sĩ tử “lôi thôi, vai đeo lọ” gợi dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

Quảng cáo

+ Quan trường “ậm ọe, miệng thét loa”: sự ra oai, nạt nộ nhưng đó là vẻ bên ngoài.

=> Từ đó cho thấy cảnh thi cử lúc bấy giờ thật nhốn nháo, không còn theo quy củ. Cảnh trường thi đã gián tiếp phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

+ Quan sứ: “Cờ kéo (Lọng kéo) rợp trời quan sứ đến”: cho thấy sự đón tiếp trọng thể.

+ Mụ đầm: “Váy lê quét đất mụ đầm ra” cho thấy lối ăn mặc diêm dúa, phô trương.

+ Nghệ thuật đối: cờ - váy, trời - đất, quan sứ - mụ đầm nhằm mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

=> Sự có mặt của quan sự đáng lẽ ra phải khiến quang cảnh trường thi trở nên trang nghiêm hơn. Nhưng trái lại, sự xuất hiện này càng khiến cho sự nhếch nhác, tùy tiện được bày ra rõ ràng hơn.

- Thái độ, tâm trạng của nhà thơ

+ Câu hỏi tu từ “Nhân tài đất Bắc nào ai đó”: thức tỉnh các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Kẻ thù xâm lược vẫn còn đó, thì đường công danh này có ý nghĩa gì.

+ Tâm trạng, thái độ: sự tủi nhục, xót xa trước thực tại đau đớn của nước nhà.

Quảng cáo

c. Kết đoạn: Khẳng định giá trị của bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu - mẫu 1

Trần Tế Xương (Tú Xương) là một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Ông nổi tiếng với những vần thơ trào phúng sắc sảo, châm biếm sâu cay nhưng cũng đầy tính nhân văn. "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" được sáng tác nhân kỳ thi Hương năm Đinh Dậu (1897) tại trường Nam Định – nơi Tú Xương từng nhiều lần dự thi và cũng nhiều lần hỏng. Bài thơ không chỉ tái hiện sinh động cảnh tượng hỗn độn, nhố nhăng của một kỳ thi dưới chế độ thực dân phong kiến nửa vời, mà còn là tiếng cười chua chát, đả kích sâu cay cái xã hội đương thời đang trên đà mục ruỗng, tha hoá.

Ngay từ hai câu đề, Tú Xương đã dựng lên một khung cảnh tưởng chừng trang nghiêm, trọng thể của một kỳ thi nhưng hóa ra lại lố bịch, thảm hại:

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

Quảng cáo

Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh, vẽ nên hai hình ảnh đối lập mà thực chất là bổ sung cho nhau tạo nên bức tranh hài hước. "Sĩ tử" là những người đi thi, đáng lẽ phải trang nghiêm, chỉnh tề trong lễ phục, khăn áo, nhưng hiện lên với dáng vẻ "lôi thôi" luộm thuộm, nhếch nhác. Hình ảnh "vai đeo lọ" (lọ đựng mực) trở nên thô kệch, nặng nề. Đáng lẽ lọ mực phải được đặt trong túi, trong hòm, nhưng ở đây lại đeo vai như một thứ đồ quê mùa. Đối diện với họ là "quan trường" (các quan coi thi) với giọng "ậm oẹ" như kẻ ngọng, nói không ra hơi, chỉ biết "miệng thét loa" một cách thô lỗ, thiếu uy nghiêm. Bức tranh trường thi vì thế mất hẳn đi vẻ trang nghiêm vốn có, thay vào đó là sự lố bịch, hỗn tạp. Chỉ bằng hai từ láy tượng thanh, tượng hình "lôi thôi" và "ậm oẹ", Tú Xương đã phác họa chân dung cả hai đối tượng một cách sống động và đầy mỉa mai.

Đến hai câu thực, cảnh tượng càng trở nên nhốn nháo, hỗn loạn hơn khi xuất hiện những nhân vật đặc biệt:

"Cờ kéo rợp trời quan sứ đến

Lọng cắm rợp đường quan tỉnh về"

"Quan sứ" là viên quan người Pháp (công sứ) và "quan tỉnh" là quan lại người Việt. Họ xuất hiện trong lễ xướng danh không phải với tư cách trọng tài hay người chứng kiến, mà như những nhân vật chính. Cờ xí của họ "kéo rợp trời", lọng của họ "cắm rợp đường". Động từ "kéo" và "cắm" đi kèm với từ láy "rợp trời", "rợp đường" diễn tả một sự phô trương thanh thế, một sự hiện diện đầy uy quyền và hách dịch. Họ đến để khẳng định sự thống trị của mình trên đất nước này, biến cái lễ thiêng liêng của dân tộc thành nơi để họ diễu võ dương oai. Cảnh tượng long trọng, lộng lẫy ấy không phải để tôn vinh sự học hay các sĩ tử mà để tôn vinh chính quyền thực dân và quan lại tay sai. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn chất chứa nỗi căm phẫn, xót xa trước cảnh nước mất nhà tan, trước sự hiện diện trâng tráo của kẻ thù trên chính quê hương mình.

Giữa cái không khí ồn ào, phô trương ấy, hình ảnh những sĩ tử và các quan trường hiện lên thật thảm hại. Và Tú Xương đã đặt ra một câu hỏi đầy mỉa mai:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó?

Ngoại hạng thơm tho lắm kẻ nhòm"

"Nhân tài đất Bắc" – những người tài của đất Bắc Kỳ, nơi kỳ thi được tổ chức – đâu rồi? Câu hỏi tu từ không cần lời đáp, bởi lẽ nhân tài thực sự đâu có xuất hiện trong cảnh hỗn loạn, nhố nhăng này? Và nếu có người đỗ đạt ("ngoại hạng" chỉ những người đỗ cao), thì danh tiếng và bổng lộc ("thơm tho") của họ lại trở thành đối tượng để "lắm kẻ nhòm" ngó, dòm ngó, thèm muốn. "Nhòm" là dòm ngó, thèm muốn, rình rập để cướp đoạt, để được chia phần. Câu thơ vạch trần một thực tế đau lòng: giá trị của sự học, của nhân tài không còn được tôn vinh vì chính nó, mà bị đánh đồng với miếng mồi béo bở của danh lợi. Ai cũng nhăm nhe, ai cũng thèm muốn. Xã hội đang dần mất đi những giá trị đạo đức tốt đẹp, thay vào đó là lối sống thực dụng, vụ lợi.

Khép lại bài thơ, Tú Xương bộc lộ trực tiếp nỗi niềm của mình bằng một lời tự trào đầy xót xa:

"Nhớ lại đồng môn khi trước ấy

Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!"

"Đồng môn" là những người cùng học một thầy, cùng thi một khoa. Tác giả nhớ lại những người bạn cũ, những sĩ tử cùng thời với mình. Kết quả thật đau lòng: "Kẻ đậu, người không". Câu thơ tưởng như chỉ là lời kể, nhưng lại chất chứa bao nỗi ngậm ngùi, chua xót. "Hỡi ôi!" là tiếng thở dài, là nỗi buồn cho bạn, cho mình, và cho cả một thế hệ sĩ phu đang phải chịu cảnh lỡ thời, lỡ vận. Họ là những người tài hoa nhưng sinh nhầm thế kỷ, trở nên lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời xuôi ngược. Đằng sau tiếng cười trào phúng là cả một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, là nỗi xót xa cho những kẻ sĩ tài tử mà vô dụng trong thời loạn lạc.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ thành công với việc sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh giàu giá trị biểu cảm: "lôi thôi" gợi dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác; "ậm oẹ" gợi âm thanh ú ớ, không rõ lời; "rợp trời", "rợp đường" gợi sự phô trương, lộng lẫy. Phép đối được sử dụng nhuần nhuyễn: "sĩ tử" đối với "quan trường", "cờ kéo" đối với "lọng cắm", "kẻ đậu" đối với "người không" – tạo nên những tương phản mỉa mai, châm biếm. Đặc biệt, giọng điệu linh hoạt, đa thanh: lúc mỉa mai, châm biếm; lúc phẫn nộ, tố cáo; lúc xót xa, ngậm ngùi. Sự chuyển đổi giọng điệu này giúp bài thơ không đơn điệu, vừa thể hiện được sự sắc sảo của ngòi bút chiến đấu, vừa bộc lộ được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ.

"Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" là một bài thơ trào phúng xuất sắc, một bức tranh hiện thực sinh động về xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Tú Xương đã dùng ngòi bút hiện thực sắc lạnh và tiếng cười đả kích mạnh mẽ để vạch trần bộ mặt thật của chế độ thi cử và quan trường đương thời. Bài thơ không chỉ có giá trị hiện thực to lớn mà còn chan chứa tình cảm nhân đạo, thể hiện thái độ của một nhà nho giàu lòng tự trọng trước thời cuộc. Tác phẩm xứng đáng là một trong những đỉnh cao của thơ trào phúng Việt Nam.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu - mẫu 2

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Tú Xương được coi là bậc thầy của thơ trào phúng. Ông đã nâng thể loại này lên một tầm cao mới với những sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu. "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" là một minh chứng rực rỡ cho tài năng ấy. Toàn bộ bài thơ là một tổng thể nghệ thuật, nơi các thủ pháp trào phúng được vận dụng một cách nhuần nhuyễn, tinh tế và đạt hiệu quả cao nhất, từ việc sử dụng ngôn từ, xây dựng hình ảnh đến giọng điệu và kết cấu.

Trước hết, Tú Xương đặc biệt thành công trong việc sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh để tạo ra hiệu ứng mỉa mai, châm biếm. Hai câu đề là một ví dụ điển hình:

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

"Lôi thôi" là từ láy tượng hình, gợi tả dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác, không gọn gàng. Từ này thường dùng để chỉ những người ăn mặc xuề xòa, đầu tóc bù xù. Gắn từ "lôi thôi" với "sĩ tử" – những người được coi là tinh hoa, đại diện cho sự học thức, trang nhã – Tú Xương đã tạo ra một sự đối lập hài hước, làm giảm đi vẻ trang nghiêm vốn có của họ. "Ậm oẹ" là từ láy tượng thanh, mô phỏng âm thanh ú ớ, không rõ lời, như tiếng của người bị ngọng hoặc đang nói năng lúng túng. Đây là từ ít dùng trong văn chương bác học, nhưng Tú Xương đã đưa nó vào thơ một cách tự nhiên, tài tình. Gắn "ậm oẹ" với "quan trường" – những người đại diện cho uy quyền, pháp luật – là một sự mỉa mai sâu cay. Hai từ láy này đã kéo cả hai đối tượng xuống cùng một mặt bằng lố bịch, hài hước.

Một thủ pháp quen thuộc khác của Tú Xương là sử dụng phép đối để tạo ra sự tương phản mỉa mai. Suốt bài thơ, ông xây dựng nhiều cặp đối rất chỉnh: "Lôi thôi sĩ tử" >< "Ậm oẹ quan trường": Đối lẫn nhau về hình thức, nhưng cả hai đều chung bản chất lố bịch, thảm hại. "Cờ kéo rợp trời" >< "Lọng cắm rợp đường": Đối nhau về hình ảnh, cùng diễn tả sự phô trương, lộng lẫy của bọn quan lại thực dân và phong kiến. "Kẻ đậu" >< "người không": Đối lập về kết quả của những người đồng môn, gợi lên sự ngậm ngùi, xót xa. "Nhân tài" >< "lắm kẻ nhòm": Đối lập giữa giá trị cao quý của nhân tài và sự dòm ngó tầm thường của lợi danh.

Phép đối không chỉ làm cho câu thơ cân xứng, nhịp nhàng mà còn tạo ra những ý nghĩa mới, làm nổi bật sự chênh vênh, nghịch lý của hiện thực xã hội. Nó như một lăng kính để Tú Xương phơi bày những mâu thuẫn, những nghịch cảnh trớ trêu của thời cuộc.

Nghệ thuật trào phúng còn thể hiện ở giọng điệu linh hoạt, đa thanh. Bài thơ có giọng mỉa mai, châm biếm sâu cay khi tả cảnh trường thi hỗn độn:

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

Có giọng phẫn nộ, tố cáo khi nói về sự lộng hành của bọn quan lại thực dân và phong kiến: "Cờ kéo rợp trời quan sứ đến", "Lọng cắm rợp đường quan tỉnh về". Có giọng chua chát, xót xa ở hai câu cuối: "Nhớ lại đồng môn khi trước ấy", "Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!".

Sự chuyển đổi giọng điệu linh hoạt này giúp cho bài thơ không đơn điệu, vừa thể hiện được sự sắc sảo, mạnh mẽ của ngòi bút chiến đấu, vừa bộc lộ được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của nhà thơ. Đằng sau những tiếng cười châm biếm là một trái tim đang quặn thắt trước thời thế.

Đặc biệt, Tú Xương còn sử dụng thành công nghệ thuật "đả kích qua việc dùng từ Hán Việt và thuần Việt". Các từ Hán Việt như "sĩ tử", "quan trường", "quan sứ", "quan tỉnh", "nhân tài", "ngoại hạng", "đồng môn" là những từ ngữ trang trọng, dùng để chỉ những con người, sự vật trong một xã hội phong kiến "văn minh". Nhưng khi đặt chúng cạnh những từ thuần Việt mang sắc thái thô tục, mỉa mai ("lôi thôi", "ậm oẹ", "vai đeo lọ", "miệng thét loa", "lắm kẻ nhòm", "hỡi ôi"), Tú Xương đã tạo ra một sự "lệch chuẩn" về phong cách. Sự lai tạp ngôn ngữ này phản ánh sự lai tạp, nửa mùa, nửa Tây nửa ta của xã hội đương thời. Nó như một nhát dao bổ thẳng vào cái vỏ hào nhoáng, giả dối của chế độ thi cử và quan trường bấy giờ.

Kết cấu của bài thơ cũng góp phần tạo nên hiệu quả trào phúng. Sáu câu đầu là bức tranh toàn cảnh về kỳ thi với những chi tiết hài hước, lố bịch. Hai câu kết bỗng nhiên lắng xuống, trở nên trữ tình, sâu lắng, gợi một nỗi niềm xót xa, ngậm ngùi. Sự thay đổi đột ngột về cảm xúc này khiến cho nỗi buồn càng thêm thấm thía. Đằng sau những tràng cười châm biếm sảng khoái, người đọc nhận ra một Tú Xương đầy tâm trạng, một nhà nho giàu lòng tự trọng và nặng tình với bạn bè, với lớp sĩ phu đồng điệu.

Nghệ thuật trào phúng trong "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" đã đạt đến trình độ bậc thầy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thủ pháp sử dụng từ láy, phép đối, giọng điệu đa thanh và sự lai ghép ngôn ngữ đã tạo nên một bài thơ vừa giàu tính hiện thực, vừa có sức công phá mạnh mẽ, đồng thời chan chứa tình cảm nhân đạo sâu sắc. Tú Xương xứng đáng là một cây đại thụ của thơ trào phúng Việt Nam, và bài thơ này là một viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu - mẫu 3

Cuối thế kỷ XIX là một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Việt Nam. Thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược, thiết lập bộ máy thống trị trên toàn cõi Đông Dương. Chế độ phong kiến suy tàn, trở thành tay sai cho ngoại bang. Xã hội rơi vào cảnh hỗn loạn, các giá trị truyền thống bị đảo lộn. "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" của Tú Xương ra đời trong bối cảnh ấy, như một tấm gương phản chiếu trung thực và sắc sảo bộ mặt xã hội đương thời. Qua ngòi bút trào phúng tài tình, bài thơ đã tái hiện sinh động một thực tại đầy nghịch lý, mâu thuẫn và tha hóa.

Trước hết, bài thơ phản ánh sự suy tàn, mục ruỗng của nền giáo dục khoa cử phong kiến. Kỳ thi Hương – một sự kiện văn hóa lớn của đất nước – đáng lẽ phải diễn ra trong không khí trang nghiêm, thành kính, tôn vinh sự học và người tài, thì nay lại trở nên hỗn độn, nhố nhăng:

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

Các "sĩ tử", những người được kỳ vọng là tinh hoa của đất nước, hiện lên với dáng vẻ "lôi thôi", luộm thuộm, vai đeo lọ mực một cách thô kệch. Họ không còn là những nho sinh thanh lịch, chỉn chu trong tà áo dài, khăn xếp, mà trông thật quê mùa, thảm hại. Hình ảnh chiếc "lọ" đựng mực vốn nhỏ nhắn, tinh tế, giờ đây trở nên nặng nề, vướng víu trên vai những con người đang lũ lượt đi thi. Đối diện với họ là "quan trường" với giọng "ậm oẹ", miệng thét loa, không còn chút uy nghi, trang trọng. Cả hai đều mang một bộ dạng lố bịch, thiếu đi cái thần thái của một buổi lễ thiêng liêng. Tú Xương đã vẽ nên một bức tranh trường thi mà ở đó, cái "lễ" đã mất, chỉ còn lại cái "hài" hiện ra. Nền giáo dục khoa cử vốn là niềm tự hào của dân tộc, giờ đây chỉ còn là một thứ hình thức rỗng tuếch, không còn giá trị thực chất.

Thứ hai, bài thơ tố cáo sự hiện diện đầy quyền lực của thực dân Pháp và sự rước kiệu, bợ đỡ của quan lại phong kiến tay sai:

"Cờ kéo rợp trời quan sứ đến

Lọng cắm rợp đường quan tỉnh về"

"Quan sứ" và "quan tỉnh" xuất hiện trong lễ xướng danh không phải với tư cách trọng tài hay người chứng kiến, mà như những nhân vật chính. Cờ xí của họ "kéo rợp trời", lọng của họ "cắm rợp đường". Những động từ "kéo", "cắm" đi kèm với các từ láy "rợp trời", "rợp đường" diễn tả một sự phô trương thanh thế, một sự hiện diện đầy uy quyền và hách dịch. Họ đến để khẳng định sự thống trị của mình trên đất nước này, biến cái lễ thiêng liêng của dân tộc thành nơi để họ diễu võ dương oai. Cảnh tượng long trọng, lộng lẫy ấy không phải để tôn vinh sự học hay các sĩ tử mà để tôn vinh chính quyền thực dân và quan lại tay sai. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn chất chứa nỗi căm phẫn, xót xa trước cảnh nước mất nhà tan, trước sự hiện diện trâng tráo của kẻ thù trên chính quê hương mình. Nó cho thấy một thực tế đau lòng: người Pháp đã trở thành ông chủ thực sự trên đất nước ta, còn quan lại người Việt chỉ là tay sai, là kẻ hầu hạ, rước kiệu cho chúng.

Thứ ba, bài thơ còn phản ánh sự tha hóa về đạo đức, sự chạy theo lợi danh tầm thường của con người trong xã hội đương thời:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó?

Ngoại hạng thơm tho lắm kẻ nhòm"

"Nhân tài" – một khái niệm cao quý, đáng trân trọng – bị Tú Xương đặt trong dấu hỏi ngờ vực. Có còn nhân tài trong một kỳ thi hỗn độn như thế này không? Và nếu có, những người đỗ đạt ("ngoại hạng") thì danh tiếng, bổng lộc ("thơm tho") của họ lại trở thành đối tượng để "lắm kẻ nhòm". "Nhòm" là dòm ngó, thèm muốn, rình rập để cướp đoạt, để được chia phần. Câu thơ vạch trần một thực tế đau lòng: giá trị của sự học, của nhân tài không còn được tôn vinh vì chính nó, mà bị đánh đồng với miếng mồi béo bở của danh lợi. Ai cũng nhăm nhe, ai cũng thèm muốn. Xã hội đang dần mất đi những giá trị đạo đức tốt đẹp, thay vào đó là lối sống thực dụng, vụ lợi. Con người sống với nhau bằng toan tính, bằng dòm ngó, bằng thèm khát lẫn nhau.

Cuối cùng, hai câu kết là tiếng thở dài não nuột cho thân phận của những nhà nho trong buổi giao thời:

"Nhớ lại đồng môn khi trước ấy

Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!"

Những người cùng học, cùng thi với Tú Xương, giờ đây mỗi người một số phận. "Kẻ đậu" – có người đỗ đạt, làm quan, nhưng liệu họ có giữ được khí tiết trong hoàn cảnh nhiễu nhương này? Liệu họ có phải cúi đầu, luồn cúi trước bọn thực dân để giữ ghế? "Người không" – những kẻ hỏng thi, lỡ vận, phải sống cảnh đời tầm gửi, vô dụng, như chính Tú Xương. Câu thơ là nỗi xót xa cho bạn, cho mình, cho cả một thế hệ "sĩ phu bất lực" trước thời cuộc. Họ là những người tài hoa nhưng sinh nhầm thế kỷ, trở nên lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời xuôi ngược. Tiếng "hỡi ôi!" vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa cho một thế hệ đang phải chịu cảnh lỡ thời, lỡ vận.

"Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" không chỉ là một bài thơ hay về mặt nghệ thuật, nó còn là một tư liệu hiện thực vô cùng quý giá, tái hiện một cách chân thực và sống động bộ mặt xã hội Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX. Với ngòi bút trào phúng sắc sảo, Tú Xương đã vạch trần những mâu thuẫn, những nghịch lý và sự tha hóa của một xã hội đang trên đà mục ruỗng. Bài thơ vì thế có giá trị hiện thực to lớn, xứng đáng là một tác phẩm tiêu biểu của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu - mẫu 4

Đọc "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu", người ta thường ấn tượng bởi tiếng cười trào phúng sảng khoái, bởi những vạch trần hiện thực sắc sảo. Nhưng ẩn sâu trong những vần thơ mỉa mai ấy là cả một thế giới tâm trạng phức tạp của Tú Xương – một nhà nho tài tử, giàu lòng tự trọng nhưng bất lực trước thời cuộc. Bài thơ không chỉ là tiếng cười đả kích xã hội, mà còn là tiếng lòng đầy xót xa, ngậm ngùi của tác giả về thân phận mình và bạn bè đồng trang lứa trong một thời đại đầy biến động.

Ngay từ những câu thơ đầu, khi vẽ ra bức tranh trường thi hỗn độn, Tú Xương đã đứng ở tư thế của một người trong cuộc, nhưng lại là một người có cái nhìn tỉnh táo và đầy mỉa mai:

"Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"

Ông không chỉ nhìn thấy sự "lôi thôi" của sĩ tử, sự "ậm oẹ" của quan trường, mà còn cảm nhận sâu sắc cái bi hài của tình cảnh ấy. Tú Xương là một sĩ tử, nhưng lại đứng trên cả sĩ tử để phán xét. Cái cười của ông là cái cười của người thấu hiểu nỗi đau của chính mình. Hình ảnh "vai đeo lọ" không chỉ là nét vẽ hài hước, mà còn là biểu tượng cho sự lỡ thời, lỡ vận của những kẻ sĩ nghèo phải gồng mình trong một xã hội mà giá trị của họ đang bị đánh mất. Tú Xương đã từng nhiều lần đi thi và nhiều lần hỏng, vì thế ông hiểu rõ cái cảnh "vai đeo lọ" ấy hơn ai hết. Nó vừa thực, vừa thương, vừa buồn cười, vừa xót xa.

Đến hai câu thơ tả cảnh quan sứ và quan tỉnh, tâm trạng của Tú Xương dần lộ rõ:

"Cờ kéo rợp trời quan sứ đến

Lọng cắm rợp đường quan tỉnh về"

Đây không chỉ là sự mỉa mai trước sự phô trương lố lăng, mà còn là một nỗi xót xa, căm giận đến tận cùng. Cảnh tượng cờ xí, lọng che rợp trời rợp đất diễn ra trên chính quê hương ông. Người đọc như thấy một Tú Xương đang đứng nép đâu đó, lặng lẽ quan sát với ánh mắt vừa châm biếm, vừa đau đớn. Hình ảnh "quan sứ" người Pháp hiên ngang giữa đất Việt, được quan lại bản xứ rước lọng, kéo cờ hộ tống, chính là nỗi nhục của cả một dân tộc. Là một nhà nho giàu lòng tự tôn dân tộc, Tú Xương không thể không đau lòng trước cảnh ấy. Nhưng ông không thể làm gì khác ngoài việc ghi lại bằng những vần thơ đầy phẫn uất. Sự bất lực ấy càng làm cho nỗi đau thêm sâu sắc.

Hai câu luận tiếp tục là sự giãi bày tâm sự của tác giả về thời cuộc:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó?

Ngoại hạng thơm tho lắm kẻ nhòm"

Câu hỏi tu từ "nào ai đó?" không phải là một câu hỏi ngây thơ, mà là một tiếng thở dài đầy ngậm ngùi. Trong cái xã hội hỗn loạn này, liệu có còn nhân tài thực sự không? Nếu có, họ có được trọng dụng và tỏa sáng không? Hay họ cũng chỉ là những món hàng để "lắm kẻ nhòm"? Chữ "nhòm" rất tinh quái, vừa gợi sự dòm ngó thèm muốn của kẻ khác, vừa cho thấy cái giá trị bị hạ thấp của "nhân tài". Nhân tài giờ đây không phải để tôn vinh mà chỉ là thứ để người ta dòm ngó, tính toán lợi lộc. Đó là một sự thật đau lòng, khiến người có tài, có tâm như Tú Xương không khỏi chạnh lòng, ngao ngán. Ông tự hỏi, liệu mình có phải là nhân tài không? Và nếu có, liệu mình có được ai nhòm ngó không? Câu hỏi vừa mỉa mai, vừa tự trào.

Đỉnh điểm của tâm trạng được bộc lộ ở hai câu kết:

"Nhớ lại đồng môn khi trước ấy

Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!"

Đây không còn là tiếng cười trào phúng nữa, mà là tiếng nói trực tiếp của trái tim. Tác giả nhớ về những người bạn cùng học, cùng thi với mình ngày nào. Họ là những người có tài, có chí hướng, cùng nhau đèn sách, cùng nhau mơ ước một tương lai tươi sáng. Vậy mà giờ đây, kẻ đỗ đạt, người trượt. Câu thơ tưởng đơn giản nhưng chứa đựng biết bao suy tư. "Kẻ đậu" liệu có hạnh phúc không khi phải làm quan dưới ách thống trị của thực dân? Liệu họ có phải đánh đổi nhân cách để giữ ghế? "Người không" như ông, sống cuộc đời nghèo khó, tài tử mà vô dụng, có phải là một sự giải thoát hay là một bi kịch? Câu cảm thán "hỡi ôi!" vang lên như một tiếng nấc nghẹn ngào, xót xa cho bạn, cho mình và cho cả một thế hệ. Nó cho thấy Tú Xương là người sống rất nặng tình, nặng nghĩa với bạn bè, với lớp sĩ phu đồng điệu.

Như vậy, ẩn sau lớp ngôn từ trào phúng sắc sảo của "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" là một tâm hồn Tú Xương đầy trăn trở, đau đáu trước thời cuộc. Ông là một nhà nho tài tử nhưng sinh không gặp thời, phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cảnh xã hội suy đồi, cảnh bạn bè lỡ vận. Bài thơ vừa là tiếng cười đả kích xã hội, vừa là tiếng lòng tự thương thân, tự cười mình và thương cho những người cùng cảnh ngộ. Chính sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trào phúng và chất trữ tình sâu lắng này đã tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt và giá trị nhân bản sâu sắc cho bài thơ.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu - mẫu 5

Nhắc đến Tú Xương, người ta thường nghĩ ngay đến một cây bút trào phúng sắc sảo, một nhà thơ hiện thực xuất sắc. Nhưng có lẽ, ít ai nhận ra rằng, đằng sau những tiếng cười châm biếm, đả kích ấy là một tấm lòng nhân đạo bao la và một tinh thần phản kháng mãnh liệt. "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" là một minh chứng rõ ràng cho điều đó. Bài thơ không chỉ dừng lại ở việc phơi bày hiện thực đen tối, mà còn thể hiện thái độ của nhà thơ trước hiện thực ấy: một thái độ phủ nhận, lên án, và sự cảm thông sâu sắc với những con người bé nhỏ, bất hạnh.

Trước hết, giá trị nhân đạo của bài thơ thể hiện ở tấm lòng của Tú Xương đối với những người bạn đồng môn, những sĩ tử nghèo trong kỳ thi:

"Nhớ lại đồng môn khi trước ấy

Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!"

Câu thơ cuối là một tiếng thở dài đầy xót xa, thương cảm. Nhà thơ không chỉ nhìn thấy sự thảm hại, lôi thôi của họ ở hiện tại, mà còn nhớ về họ với tư cách là những người bạn học ngày nào, cùng chung chí hướng, cùng chung lý tưởng. Họ là những người đã từng cùng ông đèn sách, cùng ông mơ ước một tương lai tươi sáng. Giờ đây, trước thời cuộc đảo điên, mỗi người một số phận, mỗi người một nỗi niềm. Dù đậu hay không, tất cả đều đáng thương, đều là nạn nhân của một chế độ thi cử mục ruỗng, của một xã hội loạn lạc. Nỗi thương cảm ấy vượt lên trên sự khác biệt về thành tích, là sự đồng cảm giữa những con người cùng cảnh ngộ, cùng thời thế. Tú Xương thương bạn, cũng là thương mình, thương cho cả một thế hệ sĩ phu sinh không gặp thời.

Giá trị nhân đạo còn thể hiện ở thái độ trân trọng những giá trị tinh thần cao quý, dù chúng đang bị xã hội vùi dập:

"Nhân tài đất Bắc nào ai đó?"

Khi Tú Xương đặt câu hỏi này, ông không hề phủ nhận sự tồn tại của nhân tài. Ngược lại, chính vì quá trân trọng nhân tài, quá đau lòng trước cảnh nhân tài bị lợi dụng, bị hạ thấp thành đối tượng để "lắm kẻ nhòm", ông mới cất lên tiếng hỏi đầy ngậm ngùi ấy. Ông đau xót khi chứng kiến một nền khoa cử vốn dùng để tìm kiếm và tôn vinh người tài, giờ đây lại trở thành nơi để lũ quan lại phô trương quyền lực, để bọn thực dân thị uy sức mạnh. Nhân tài không được trọng dụng, không được tôn vinh, mà chỉ bị "nhòm" ngó như một món hàng. Đó là một sự phí phạm, một sự xúc phạm đến những giá trị tinh thần cao quý mà ông hằng trân trọng.

Tinh thần phản kháng trong bài thơ thể hiện trước hết ở thái độ lên án, tố cáo mạnh mẽ bộ máy thống trị thực dân và phong kiến tay sai:

"Cờ kéo rợp trời quan sứ đến

Lọng cắm rợp đường quan tỉnh về"

Hai câu thơ này không chỉ tả cảnh mà còn chất chứa một sự phẫn nộ đến tận cùng. Cảnh tượng cờ xí, lọng che rợp trời rợp đất diễn ra trên chính quê hương ông. "Quan sứ" người Pháp hiên ngang, "quan tỉnh" người Việt rước lọng hầu hạ. Đó là hình ảnh của một dân tộc bị đô hộ, của một chế độ phong kiến đã hoàn toàn sụp đổ và trở thành tay sai. Tú Xương không trực tiếp lên tiếng chửi bới, nhưng qua những hình ảnh đầy mỉa mai, ông đã vạch trần bộ mặt thật của chúng. Sự phô trương, lộng lẫy ấy chỉ càng làm nổi bật sự nhục nhã, ê chề của cảnh nước mất nhà tan.

Tinh thần phản kháng còn thể hiện ở thái độ của Tú Xương đối với chính bản thân mình và những người bạn đồng môn. Câu hỏi "Nhân tài đất Bắc nào ai đó?" và câu cảm thán "Kẻ đậu, người không biết hỡi ôi!" không chỉ là nỗi xót xa, mà còn là một sự khẳng định ngầm: trong cái xã hội hỗn loạn này, việc không đỗ đạt, không làm quan có thể lại là một cách giữ mình, giữ khí tiết. Tú Xương đã từ chối con đường làm quan, chấp nhận cuộc sống nghèo khó để giữ trọn nhân cách. Đó là một sự phản kháng thầm lặng nhưng mạnh mẽ, một cách bảo vệ phẩm giá của người trí thức trước thời cuộc.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ thể hiện tinh thần phản kháng qua giọng điệu mỉa mai, châm biếm sâu cay. Tú Xương không dùng những lời lẽ nặng nề, trực diện để công kích, mà dùng tiếng cười như một vũ khí lợi hại. Tiếng cười của ông vừa sảng khoái, vừa chua chát, vừa khiến người đọc bật cười, vừa khiến họ phải suy ngẫm. Đó là thứ tiếng cười của người tỉnh táo, của người dám nhìn thẳng vào sự thật và dám lên tiếng.

"Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" không chỉ là một bài thơ trào phúng xuất sắc, mà còn là một tác phẩm giàu giá trị nhân đạo và tinh thần phản kháng. Tú Xương đã dùng ngòi bút của mình để lên án một xã hội bất công, mục ruỗng, đồng thời bày tỏ sự cảm thông sâu sắc với những con người bé nhỏ, bất hạnh trong xã hội ấy. Bài thơ vì thế có sức sống lâu bền trong lòng độc giả, xứng đáng là một trong những kiệt tác của thơ ca Việt Nam.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học