10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (điểm cao)
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thu điếu (Nguyễn Khuyến) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (các mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu
a. Mở bài:
- Giới thiệu vài nét về Nguyễn Khuyến: được mệnh danh là "Tam nguyên Yên Đổ".
- Giới thiệu chung về chùm thơ thu và bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu).
b. Thân bài:
- Cảnh mùa thu ở vùng quê Bắc Bộ
+ Điểm nhìn: Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao rồi từ cao trở lại gần: điểm nhìn cảnh thu là chiếc thuyền câu, nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu.
+ Từ điểm nhìn ấy, từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động với những hình ảnh vừa cân đối, hài hòa.
- Mở ra một khung cảnh với những cảnh vật hết sức thanh sơ:
+ ao nhỏ trong veo
+ thuyền câu bé tẻo teo
+ sóng biếc gợn
+ lá vàng khẽ đưa
+ tầng mây lơ lửng
+ ngõ trúc quanh co
+ sắc xanh của trời hoà lẫn cùng sắc xanh của nước
=> Tất cả tạo nên một không gian xanh trong, dịu nhẹ, một chút sắc vàng của lá rụng trên cái nền xanh ấy khiến cảnh thu, hồn thu càng thêm phần sống động. Những đường nét, màu sắc... gợi lên trong tưởng tượng của người đọc khung cảnh của một buổi sớm thu yên bình trên một làng quê miền Bắc với bầu trời thu cao rộng, khoáng đạt, những ao chuôm trong vắt phản chiếu màu trời, màu lá, thôn xóm với những con đường nhỏ quanh co hun hút xanh màu tre trúc, gió thu dịu mát khẽ làm xao động mặt nước, thỉnh thoảng một vài chiếc lá rụng cắt ngang không gian... Trong bức tranh thu này mọi cảnh vật hiện ra đều rất đỗi bình dị, dân dã. Khung cảnh ấy vẫn thường hiển hiện vào mỗi độ thu về trên những làng quê và đi vào tâm thức của bao người, nhưng lần đầu tiên được Nguyễn Khuyến vẽ ra với nguyên cái thần thái tự nhiên của nó và khiến ta không khỏi ngỡ ngàng xúc động. Đó là một mùa thu trong trẻo, thuần khiết, mát lành.
- Cảnh sắc mùa thu đẹp nhưng đượm buồn
+ Không gian tĩnh lặng, phảng phất buồn: vắng teo, trong veo, khẽ đưa vèo, hơi gợn tí, mây lơ lửng ,…
+ Đặc biệt câu thơ cuối tạo được một tiếng động duy nhất: “Cá đâu đớp động dưới chân bèo” -> không phá vỡ cái tĩnh lặng, mà ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật -> Thủ pháp lấy động tả tĩnh.
=> Cảnh sắc thu đẹp nhưng tĩnh lặng vắng bóng người, vắng cả âm thanh dù đó là sự chuyển động nhưng đó là sự chuyển động rất khẽ khàng và cả tiếng cá đớp mồi cũng không làm không gian xao động.
- Nói chuyện câu cá nhưng thực ra là để đón nhận cảnh thu, trời thu vào cõi lòng:
+ Một tâm thế nhàn: Tựa gối ôm cần
+ Một sự chờ đợi: Lâu chẳng được.
+ Một cái chợt tỉnh mơ hồ: Cá đâu đớp động..
- Không gian thu tĩnh lặng như sự tĩnh lặng trong tâm hồn nhà thơ, khiến ta cảm nhận về một nỗi cô đơn, man mác buồn, uẩn khúc trong cõi lòng thi nhân.
=> Nguyễn khuyến có một tâm hồn hồn gắn bó với thiên nhiên đất nước, một tấm lòng yêu nước thầm kín mà sâu sắc.
c. Kết bài:
- Cảm nhận chung về bài thơ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 1
Nguyễn Khuyến được mệnh danh là "nhà thơ của làng cảnh Việt Nam", và "Thu điếu" là một trong những bài thơ xuất sắc nhất của ông viết về mùa thu. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn thể hiện tâm sự u hoài của một nhà nho trước thời cuộc.
Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu khung cảnh ao thu:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Câu thơ đầu tiên đã vẽ nên một không gian thu đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. "Ao thu" - hình ảnh quen thuộc, gần gũi với mỗi làng quê Việt Nam. Nước ao mùa thu "trong veo" đến lạ thường, trong đến nỗi có thể nhìn thấu tận đáy. Cái lạnh "lạnh lẽo" không phải là cái lạnh buốt giá mà chỉ se se, man mác, gợi cảm giác dễ chịu. Trên mặt nước trong xanh ấy, nổi bật lên hình ảnh "một chiếc thuyền câu bé tẻo teo". Từ láy "bé tẻo teo" vừa miêu tả kích thước nhỏ bé của con thuyền, vừa gợi sự đáng yêu, thân thương. Con thuyền nhỏ như một nét chấm phá nhẹ nhàng giữa khung cảnh thiên nhiên rộng lớn.
Nếu hai câu đầu là bức tranh tĩnh, thì đến hai câu thực, cảnh vật bắt đầu chuyển động nhẹ nhàng:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Nhà thơ quan sát rất tinh tế những chuyển động nhỏ nhất của thiên nhiên. Sóng trên mặt ao không hề dữ dội, chỉ "hơi gợn tí" như một làn da khẽ rung lên trước làn gió nhẹ. Màu "biếc" của sóng hòa cùng màu xanh của nước tạo nên vẻ đẹp dịu dàng, mát mắt. Trên không trung, những chiếc lá vàng "khẽ đưa vèo" trong gió. Chữ "vèo" được Nguyễn Khuyến sử dụng thật thần tình. Nó không chỉ diễn tả tốc độ rơi của chiếc lá mà còn gợi lên sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, của kiếp người. Nhà thơ Tản Đà sau này đã phải thốt lên ngưỡng mộ chữ "vèo" này.
Không gian được mở rộng hơn ở hai câu luận:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Bầu trời mùa thu hiện lên với màu "xanh ngắt" đặc trưng - một màu xanh thăm thẳm, cao vời vợi, không một gợn mây. Những tầng mây "lơ lửng" như đang dừng lại để suy tư cùng đất trời. Đối diện với bầu trời bao la là hình ảnh "ngõ trúc quanh co" của làng quê. Con đường làng nhỏ hẹp, uốn lượn và "vắng teo" - vắng đến mức không một bóng người qua lại. Cảnh vật càng thêm tĩnh lặng, cô liêu.
Và trong cái không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy, cuối cùng xuất hiện một âm thanh duy nhất:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Hình ảnh người câu cá hiện ra với tư thế "tựa gối ôm cần" - một tư thế thư thái, nhàn tản của một ẩn sĩ. Nhưng cái chính là tâm trạng của nhà thơ. Người đi câu mà dường như không chú tâm vào việc câu cá. Cảnh vật quá đỗi nên thơ khiến ông chìm đắm trong suy tư, để rồi bừng tỉnh bởi một tiếng động rất nhẹ "cá đâu đớp động dưới chân bèo". Tiếng động nhỏ ấy không hề phá vỡ sự tĩnh lặng, trái lại, nó càng làm tăng thêm vẻ yên ắng, tịch mịch của không gian và sự lắng đọng trong tâm hồn thi nhân.
"Thu điếu" quả thực là "điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam" như nhà phê bình Xuân Diệu từng khẳng định. Bằng tình yêu quê hương sâu sắc và ngòi bút tài hoa, Nguyễn Khuyến đã để lại cho đời một bức tranh thu tuyệt đẹp, đầy thi vị. Bài thơ sẽ còn sống mãi trong lòng người đọc như một biểu tượng đẹp về văn hóa và tâm hồn Việt.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 2
Nhắc đến Nguyễn Khuyến, người ta không thể không nhắc đến tài năng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt điêu luyện. "Thu điếu" chính là một minh chứng rõ nét nhất cho tài năng ấy. Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật vốn có những quy định chặt chẽ về niêm, luật, đối, vần, điệu, Nguyễn Khuyến đã "Việt hóa" một cách tài tình, tạo nên một bài thơ vừa cổ điển, vừa hiện đại, vừa đậm đà bản sắc dân tộc.
Trước hết, phải kể đến cách gieo vần độc đáo của bài thơ. Ngay từ câu thơ đầu tiên:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Bài thơ sử dụng vần "eo" - một vần được coi là khó làm, khó gieo, nhưng Nguyễn Khuyến đã sử dụng một cách thần tình. Các vần "veo", "teo", "vèo", "teo" (ở cuối bài) vang lên tạo cảm giác nhỏ bé, thanh mảnh, phù hợp với không gian của một ao thu, một chiếc thuyền câu nhỏ. Vần "eo" như kéo không gian lại gần, thu nhỏ lại, làm nổi bật sự tĩnh lặng và phần nào đó là sự khép kín trong lòng người.
Không chỉ tài tình ở vần điệu, Nguyễn Khuyến còn là bậc thầy trong việc sử dụng từ láy. Hàng loạt các từ láy được đưa vào bài thơ một cách tự nhiên, không hề gượng ép:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Các từ láy "lạnh lẽo", "tẻo teo", "lơ lửng", "quanh co" vừa có tác dụng miêu tả hình dáng, trạng thái của sự vật, vừa góp phần thể hiện tâm trạng. "Lơ lửng" gợi tả những tầng mây nhẹ nhàng trôi, cũng gợi tâm trạng bấp bênh, không biết bám víu vào đâu của tác giả. "Quanh co" không chỉ là con đường trúc uốn lượn mà còn là những suy nghĩ miên man, không lối thoát.
Đặc biệt, nghệ thuật đối trong bài thơ được thể hiện rất điêu luyện. Có thể thấy rõ phép đối ở hai câu thực và hai câu luận: "Sóng biếc" >< "Lá vàng" (màu sắc: xanh >< vàng), "theo làn" >< "trước gió" (quan hệ không gian), "hơi gợn tí" >< "khẽ đưa vèo" (mức độ và trạng thái chuyển động). Hay ở hai câu luận: "Tầng mây" >< "Ngõ trúc" (cảnh vật), "lơ lửng" >< "quanh co" (dáng vẻ), "trời xanh ngắt" >< "khách vắng teo" (không gian cao rộng >< không gian nhỏ hẹp và sự vắng lặng).
Phép đối không chỉ làm cho câu thơ cân xứng, hài hòa về mặt hình thức mà còn tạo nên những tầng nghĩa sâu sắc. Nó cho thấy sự vận động của không gian từ cận cảnh đến viễn cảnh, từ mặt nước lên bầu trời rồi trở về xóm làng, và từ ngoại cảnh vào nội tâm.
Một điểm nghệ thuật đặc sắc nữa là cách Nguyễn Khuyến sử dụng màu sắc trong bài thơ. Chỉ với vài nét chấm phá, ông đã vẽ nên một bức tranh thu sống động: "trong veo" của nước ao, "biếc" của làn sóng, "vàng" của chiếc lá, "xanh ngắt" của bầu trời, "xanh" của lũy tre làng (ngõ trúc).
Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thu hài hòa về màu sắc, đậm chất hội họa. Đặc biệt, màu sắc trong thơ Nguyễn Khuyến không chỉ là màu của cảnh vật mà còn là màu của tâm trạng. Màu xanh ngắt của bầu trời gợi cảm giác xa vời, lạnh lẽo. Màu vàng của lá gợi sự tàn phai, chia lìa.
Và cuối cùng, không thể không nhắc đến bút pháp "lấy động tả tĩnh" đặc sắc trong hai câu kết:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Cả bài thơ là một không gian tĩnh lặng đến mức gần như tuyệt đối. Và trong không gian ấy, một tiếng động nhỏ "cá đâu đớp động" cất lên. Tiếng động ấy không hề phá vỡ sự yên ắng, trái lại, nó càng làm nổi bật cái tĩnh lặng bao trùm khắp không gian. Giống như câu chuyện "một tiếng động nhỏ trong đêm khuya khiến đêm càng thêm tĩnh mịch". Chính nhờ bút pháp này, Nguyễn Khuyến đã đưa người đọc đến với một không gian thu tĩnh đến nao lòng, tĩnh đến xót xa.
Tóm lại, "Thu điếu" là một bài thơ đạt đến độ toàn bích về mặt nghệ thuật. Từ cách gieo vần, sử dụng từ láy, phép đối cho đến bút pháp tả cảnh, tất cả đều được Nguyễn Khuyến vận dụng một cách điêu luyện, tài hoa. Bài thơ xứng đáng là một kiệt tác trong kho tàng văn học dân tộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 3
Đọc "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến, người đọc không chỉ say mê trước một bức tranh thu hữu tình mà còn xúc động trước một tâm sự u hoài, kín đáo. Với bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, nhà thơ đã mượn cảnh vật để gửi gắm những trăn trở về thời thế, về lẽ đời.
Hai câu đề hiện lên với một không gian thật đặc biệt:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
"Ao thu" - một hình ảnh quá đỗi quen thuộc. Nhưng cái "lạnh lẽo" kia không chỉ là cảm giác của thời tiết mà còn có thể là cảm giác lạnh của lòng người trước thời cuộc. "Nước trong veo" - trong đến tận đáy, gợi liên tưởng đến một tấm lòng trong sạch, liêm khiết của một nhà nho không chịu cấu kết với bọn cướp nước. Giữa không gian mênh mông ấy, con người xuất hiện với dáng vẻ đơn độc trên một chiếc thuyền câu "bé tẻo teo". Sự nhỏ bé của con thuyền như một ẩn dụ cho sự nhỏ nhoi, bất lực của cá nhân trước bão táp thời đại.
Nếu cảnh vật hai câu đầu là tĩnh, thì đến hai câu thực, những chuyển động nhẹ nhàng bắt đầu xuất hiện:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
"Sóng biếc" chỉ "hơi gợn tí" - những chuyển động quá nhỏ, quá yếu ớt. "Lá vàng" rụng "khẽ đưa vèo" - một sự tàn phai, một sự kết thúc không ồn ào. Có thể liên tưởng những "làn sóng" kia là những phong trào đấu tranh còn nhỏ lẻ, chưa đủ mạnh, chỉ "gợn tí" rồi lại im ắng. Còn chiếc lá vàng rơi có phải chăng là hình ảnh của một thời đại, một vương triều đang suy tàn, đang lụi tàn trước làn gió dữ của thời cuộc? Chữ "vèo" không chỉ tả tốc độ rơi của lá mà còn gợi sự chóng tàn, mau đổi thay của thế sự.
Đến hai câu luận, không gian được mở rộng hơn, nhưng nỗi buồn cũng lan tỏa:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Bầu trời "xanh ngắt" tưởng chừng trong trẻo nhưng lại gợi cảm giác xa vời, lạnh lẽo. "Tầng mây lơ lửng" - trôi vô định, không biết đi về đâu, như chính tâm trạng của những người thức thời lúc bấy giờ. "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" - con đường về quê vắng vẻ, cũng là con đường lui về ở ẩn của nhà thơ. "Khách vắng teo" không chỉ là không có người qua lại mà còn có thể hiểu là sự thiếu vắng những người cùng chí hướng, cùng lý tưởng với ông. Nỗi cô đơn của một trí thức yêu nước càng trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết.
Trong cái không gian tĩnh lặng và cô đơn đến tuyệt đối ấy, một âm thanh nhẹ cất lên:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Tư thế "tựa gối ôm cần" cho thấy sự nhàn tản, nhưng lại "lâu chẳng được" - tâm không yên, không thể thực sự thư thái. Nhà thơ ngồi đó, ôm cần câu nhưng không phải để chờ cá mà để chất chứa bao tâm sự. Ông đợi chờ một điều gì? Có phải ông đang chờ đợi một "cá lớn", một minh quân, một thời cơ để có thể đem tài trí ra giúp đời? Nhưng cuối cùng, tất cả chỉ là ảo ảnh. Tiếng "cá đâu đớp động" như một tiếng thở dài, một sự bừng tỉnh đầy ngậm ngùi trước hiện thực phũ phàng. "Đâu" - một chữ phiếm chỉ, như muốn nói chẳng có con cá nào cả, mọi sự chỉ là hư vô.
Nguyễn Khuyến làm quan dưới triều Nguyễn, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, thực dân Pháp xâm lược. Ông đã lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết của một nhà nho. "Thu điếu" được viết trong thời gian này. Vì thế, đằng sau những câu thơ tả cảnh tưởng chừng vô tư ấy là cả một tâm sự đau đáu về thời cuộc.
"Thu điếu" không chỉ là một bài thơ hay về cảnh. Ẩn sâu trong từng câu chữ là tâm sự đau đáu của một người con yêu nước, thương dân trước cảnh nước mất nhà tan. Bài thơ là tiếng lòng của Nguyễn Khuyến, một trí thức lớn, một nhân cách lớn của dân tộc trong những năm tháng đen tối của lịch sử. Có thể nói, "Thu điếu" là một bài thơ trữ tình sâu sắc, kết hợp hài hòa giữa cảnh và tình, giữa tình riêng và nỗi nước.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 4
Nguyễn Khuyến về ở ẩn tại quê nhà, mang theo một nỗi niềm thời thế sâu kín. Có lẽ vì thế mà những sáng tác của ông trong thời kỳ này, dù tả cảnh thiên nhiên hữu tình, cũng phảng phất một nỗi buồn man mác, một sự cô đơn đến tột cùng. "Thu điếu" là một bài ca như thế.
Không gian bài thơ mở đầu thật nhẹ nhàng mà thấm thía:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Hai chữ "lạnh lẽo" không chỉ là cái lạnh của tiết trời mà còn là cái lạnh của lòng người. Một người cô đơn sẽ cảm nhận cái lạnh ấy sâu sắc hơn ai hết. Giữa cái không gian rộng lớn, trong trẻo nhưng vắng lặng ấy, chỉ có một chiếc thuyền câu nhỏ bé. Con người hiện lên đơn độc, như một ốc đảo giữa biển khơi tĩnh lặng. Hình ảnh "thuyền câu bé tẻo teo" như muốn thu nhỏ con người lại, để họ hòa mình vào thiên nhiên, nhưng cũng là để họ đối diện với chính mình một cách trọn vẹn nhất.
Cảnh vật xung quanh cũng mang nặng một nỗi buồn:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Những chuyển động rất nhẹ, rất khẽ càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng. Nhưng tĩnh lặng quá lại sinh ra buồn. Màu "biếc" của sóng, màu "vàng" của lá - những màu sắc đẹp đẽ ấy trong tâm trạng cô đơn cũng chỉ càng khiến lòng người thêm thổn thức. Chiếc lá rơi "khẽ đưa vèo" như một kiếp người mỏng manh, trôi nổi. Người đọc có thể hình dung nhà thơ đang ngồi đó, mắt dõi theo chiếc lá rơi, lòng chùng xuống theo từng vòng xoáy của nó.
Nỗi cô đơn càng được nhấn mạnh khi không gian mở rộng:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Bầu trời mùa thu cao rộng, trong xanh đến ngỡ ngàng. Nhưng đối diện với cái bao la ấy, con người lại càng thấy mình nhỏ bé và cô đơn. "Tầng mây lơ lửng" như một tâm hồn lơ lửng, không biết bấu víu vào đâu. "Ngõ trúc quanh co" vắng lặng, không một bóng người qua lại. Con người dường như bị bỏ lại hoàn toàn với thiên nhiên, với chính những suy tư của mình. Chữ "vắng teo" ở cuối câu như một nhát gạch xóa đi mọi sự sống, chỉ còn lại một không gian trống rỗng đến rợn ngợp. "Khách vắng teo" - không chỉ là vắng người, mà còn là vắng bạn tri âm, vắng người đồng điệu.
Và trong cái không gian đầy ám ảnh ấy, nhà thơ hiện ra với một tư thế và một phản ứng đầy tâm trạng:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Tư thế "tựa gối ôm cần" có vẻ an nhàn, thư thái. Nhưng nếu đã an nhàn thì tại sao lại "lâu chẳng được"? Bởi tâm trí ông không hề an nhàn. Ông ngồi đấy nhưng tâm hồn đang ở một nơi rất xa. Có thể ông đang nghĩ về một thời vàng son đã qua, về một triều đình rệu rã, về một đất nước lầm than. Nỗi cô đơn của ông là nỗi cô đơn của một người thức thời nhưng bất lực. Tiếng "cá đâu đớp động" là âm thanh duy nhất phá tan khoảng lặng mênh mông ấy, như một sự giật mình, một sự trở về thực tại đầy nuối tiếc. Nhưng sự thực tại ấy cũng chỉ là một ao thu tĩnh lặng và một chiếc thuyền câu đơn độc.
Đặc biệt, chữ "đâu" trong câu thơ "Cá đâu đớp động dưới chân bèo" mang nhiều sắc thái ý nghĩa. Nó vừa là từ phiếm chỉ (cá ở đâu), vừa thể hiện sự ngỡ ngàng (hóa ra có cá), vừa gợi một chút hụt hẫng (chẳng thấy cá đâu). Nhà thơ như chợt tỉnh giấc mộng, nhưng sự tỉnh giấc ấy chỉ càng làm nỗi cô đơn thêm sâu sắc.
Nỗi cô đơn trong "Thu điếu" không phải là nỗi cô đơn của một người già cả, lẻ bóng. Đó là nỗi cô đơn của người trí thức trước thời cuộc. Nguyễn Khuyến sống trong thời kỳ đất nước có nhiều biến động. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, ông đau xót nhưng bất lực. Ông tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống ẩn dật nhưng tâm hồn vẫn không nguôi lo nghĩ về dân, về nước. Chính vì thế, dù ở giữa thiên nhiên tươi đẹp, ông vẫn cảm thấy cô đơn.
"Thu điếu" vì thế không chỉ là bức tranh phong cảnh. Nó là tiếng lòng của một con người mang nặng nỗi đau thế sự, phải tìm về với thiên nhiên để gửi gắm tâm sự. Đó là một bài ca buồn, một khúc vĩ thanh của một tâm hồn cô đơn giữa chốn làng quê yên ả. Bài thơ đã chạm đến những rung động sâu kín nhất trong tâm hồn người đọc, để lại ấn tượng khó phai.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 5
Khi đọc "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến, người ta thường thấy có sự hòa quyện tuyệt diệu giữa cảnh và tình. Cảnh thu là phương tiện để nhà thơ bộc lộ tình thu (tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương và tâm sự thời thế), và tình thu lại được khắc họa đậm nét qua những đường nét, màu sắc của cảnh thu.
Trước hết, hãy đến với cảnh thu trong hai câu đề:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Cảnh thu hiện lên thật đẹp, thật thanh sơ. Một chiếc ao nhỏ với làn nước trong veo, có thể nhìn thấy tận đáy. Một chiếc thuyền câu nhỏ xíu nổi trên mặt nước. Cảnh vật ấy gợi lên tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ. Ông yêu từng ngọn cỏ, làn nước, con thuyền nhỏ bé của quê hương. Nhưng ẩn sâu trong tình yêu ấy là một nỗi buồn man mác. Cái "lạnh lẽo" của ao thu, sự nhỏ nhoi của chiếc thuyền câu như dự báo một tâm trạng không mấy vui vẻ. Tình yêu quê hương ở đây pha lẫn nỗi buồn thời thế.
Đến hai câu thực, cảnh thu và tình thu càng quyện chặt vào nhau:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Nhà thơ quan sát những chuyển động rất nhỏ của thiên nhiên: những gợn sóng lăn tăn trên mặt ao, chiếc lá vàng khẽ rơi trong gió. Điều đó cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, biết rung động trước vẻ đẹp bình dị của quê hương. Nhưng cũng chính sự quan sát ấy lại bộc lộ một tâm trạng. Chữ "gợn tí" không chỉ tả sóng mà còn gợn lên trong lòng người đọc một nỗi buồn nhẹ nhàng. Chữ "vèo" không chỉ tả lá rụng mà còn gợi lên cảm giác về sự chóng tàn, mau đổi thay của kiếp người. Cảnh vật như thấm đẫm tâm trạng con người.
Hai câu luận mở rộng không gian, nhưng cũng mở rộng nỗi lòng:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Cảnh thu tiếp tục được miêu tả với những nét vẽ tài hoa. Bầu trời cao xanh thăm thẳm, những tầng mây lơ lửng, con đường làng quanh co vắng vẻ. Nhưng đằng sau những hình ảnh ấy là cả một thế giới tình cảm. Bầu trời "xanh ngắt" gợi một nỗi buồn xa vời, lạnh lẽo. "Tầng mây lơ lửng" như tâm trạng bấp bênh, không biết bám víu vào đâu của nhà thơ. "Ngõ trúc quanh co" vừa là con đường làng thực, vừa là con đường tư tưởng quanh co, phức tạp. "Khách vắng teo" vừa là thực (vắng người qua lại), vừa là tình (thiếu vắng bạn tri âm). Cảnh và tình đã hòa làm một, không thể tách rời.
Cuối cùng, hai câu kết là đỉnh điểm của sự hòa quyện giữa cảnh và tình:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Cảnh vẫn là cảnh ao thu, thuyền câu, chân bèo. Nhưng tình đã hiện ra rất rõ. Người đi câu "tựa gối ôm cần" nhưng lại "lâu chẳng được". Tại sao lại "lâu chẳng được"? Bởi tâm trí ông không yên, ông không thể tập trung vào việc câu cá. Ông đang suy tư, đang trăn trở. Tiếng "cá đâu đớp động" là tiếng động nhỏ nhất của cảnh vật, nhưng nó lại đủ để đánh thức nhà thơ khỏi dòng suy tư. Tiếng động ấy vừa là cảnh (tiếng cá đớp mồi), vừa là tình (sự giật mình, sự trở về thực tại của nhà thơ).
Sự hòa quyện giữa cảnh và tình trong "Thu điếu" được thể hiện qua nhiều yếu tố. Màu sắc: Màu xanh của nước, màu biếc của sóng, màu vàng của lá, màu xanh ngắt của trời, màu xanh của trúc - tất cả tạo nên một bức tranh thu đẹp nhưng cũng đượm buồn. Âm thanh: Chỉ có một âm thanh duy nhất - tiếng cá đớp động - càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng và nỗi cô đơn. Chuyển động: Những chuyển động rất nhẹ, rất khẽ (gợn tí, đưa vèo, lơ lửng) gợi lên sự tĩnh lặng của cảnh vật và sự lắng đọng của tâm hồn.
Nguyễn Khuyến đã rất thành công trong việc sử dụng bút pháp "tả cảnh ngụ tình" - mượn cảnh vật để gửi gắm tâm trạng. Cảnh vật trong bài thơ không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là phương tiện biểu hiện nội tâm. Mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết đều mang một tầng nghĩa sâu xa.
Có thể nói, "Thu điếu" là một bài thơ trữ tình đặc sắc, nơi cảnh và tình hòa quyện nhuần nhuyễn. Qua bức tranh thu đẹp mà buồn, ta thấy được tình yêu quê hương sâu sắc và nỗi niềm thời thế kín đáo của Nguyễn Khuyến. Bài thơ xứng đáng là một kiệt tác trong kho tàng văn học dân tộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 6
Ít có nhà thơ nào thành công như Nguyễn Khuyến khi viết về làng cảnh Việt Nam, và "Thu điếu" chính là đỉnh cao trong những sáng tác về mùa thu của ông. Bài thơ không chỉ đơn thuần là một bức tranh phong cảnh, mà còn là nơi lưu giữ những nét đẹp bình dị, thân thuộc của làng quê Bắc Bộ.
Ngay từ những câu thơ đầu tiên, người đọc đã cảm nhận được không gian làng quê:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Ao thu - hình ảnh quen thuộc của mỗi làng quê Việt Nam. Ao không rộng lớn, không kỳ vĩ, chỉ là một ao nhỏ bình thường với làn nước trong veo. Trên ao, một chiếc thuyền câu nhỏ xíu - có thể là thuyền nan, thuyền thúng - đang trôi nhẹ nhàng. Cảnh vật ấy sao mà gần gũi, thân thương. Nó không phải là cảnh trong tranh vẽ hay trong mơ, mà là cảnh có thực ở bất kỳ làng quê Bắc Bộ nào.
Câu thơ thứ hai với từ láy "bé tẻo teo" mang đậm chất dân gian. Đó là cách nói của người nông dân, mộc mạc, giản dị. Chiếc thuyền không chỉ nhỏ mà còn rất nhỏ, nhỏ đến dễ thương. Hình ảnh ấy gợi lên cuộc sống thanh bần, giản dị của người nông dân Việt Nam.
Hai câu thực tiếp tục khắc họa những nét đặc trưng của làng quê:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Sóng trên ao không phải là sóng to, sóng lớn mà chỉ "gợn tí" khi có làn gió nhẹ thoảng qua. Đó là những con sóng hiền hòa, đúng với tính cách của người dân quê Việt. Lá vàng rơi "khẽ đưa vèo" - nhẹ nhàng, không ồn ào. Hình ảnh những chiếc lá vàng rơi trong gió thu là hình ảnh quen thuộc ở bất kỳ làng quê nào. Mùa thu đến, cây cối thay lá, tạo nên vẻ đẹp riêng.
Không gian làng quê được mở rộng với hình ảnh bầu trời và con đường làng:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Bầu trời thu trong xanh cao vời vợi. Màu xanh "ngắt" - xanh đậm, xanh thuần khiết, không một gợn mây. Đó là màu xanh đặc trưng của bầu trời miền Bắc vào thu. Trên nền trời xanh ấy, những tầng mây "lơ lửng" như đang dừng lại để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của đất trời.
"Ngõ trúc quanh co" - hình ảnh quá đỗi thân thuộc với mỗi làng quê Việt Nam. Tre, trúc là loại cây gắn bó với người nông dân từ bao đời. Bụi tre đầu làng, con đường trúc quanh co dẫn vào xóm thôn. "Khách vắng teo" - con đường vắng vẻ, yên tĩnh, chỉ có gió và lá rơi. Đó là vẻ đẹp yên bình, thanh tịnh của làng quê.
Cuối cùng, hình ảnh con người xuất hiện thật tự nhiên:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Đó là một người câu cá - hình ảnh quen thuộc ở các làng quê. Người dân quê thường đi câu không chỉ để bắt cá mà còn để thư giãn, để hòa mình với thiên nhiên. Tư thế "tựa gối ôm cần" rất đỗi bình dị, không kiểu cách, không màu mè. Và tiếng "cá đâu đớp động" dưới chân bèo - âm thanh bình dị ấy chỉ có ở ao làng, ở những vùng quê yên tĩnh.
Điều làm nên hồn quê trong "Thu điếu" chính là những hình ảnh bình dị, mộc mạc mà đầy sức gợi: ao thu, thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ trúc, chân bèo. Tất cả đều là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam.
Ngôn ngữ trong bài thơ cũng mang đậm hồn quê. Nguyễn Khuyến sử dụng nhiều từ láy giàu chất tạo hình và biểu cảm: "lạnh lẽo", "tẻo teo", "lơ lửng", "quanh co". Những từ ngữ này không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn thể hiện tình cảm của nhà thơ đối với quê hương.
Cách gieo vần "eo" cũng rất đặc biệt. Vần "eo" như muốn thu nhỏ không gian lại, tạo cảm giác ấm cúng, gần gũi. Nó phù hợp với không gian của một ao làng nhỏ bé, một con thuyền nhỏ xíu.
"Thu điếu" quả thực là "điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam". Bài thơ đã ghi lại những nét đẹp bình dị mà sâu sắc của quê hương, để mỗi khi đọc lên, người Việt Nam lại thấy lòng xao xuyến, bồi hồi nhớ về làng quê thân thuộc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 7
"Thu điếu" của Nguyễn Khuyến không chỉ đặc sắc về nội dung mà còn độc đáo về nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian. Nhà thơ đã tạo nên một không gian thu hẹp dần, tĩnh lặng dần và một thời gian như ngưng đọng, qua đó thể hiện tâm trạng u hoài, cô đơn của mình.
Không gian bài thơ được mở ra từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Đầu tiên, nhà thơ nhìn từ thuyền câu xuống mặt nước:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo."
Đây là không gian gần, không gian trực tiếp bao quanh nhà thơ. Ao thu nhỏ hẹp, nước trong veo, thuyền câu bé tẻo teo. Tất cả đều nhỏ bé, thu hẹp trong tầm mắt. Không gian này tạo cảm giác ấm cúng, gần gũi nhưng cũng gợi lên sự đơn độc của con người giữa thiên nhiên.
Tiếp đó, nhà thơ đưa mắt nhìn ra xa hơn một chút:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Không gian được mở rộng ra mặt ao với những con sóng lăn tăn và không trung với những chiếc lá vàng rơi. Nhưng mọi chuyển động đều rất nhẹ, rất khẽ, không làm không gian trở nên rộng lớn hơn mà chỉ làm tăng thêm vẻ tĩnh lặng.
Đến hai câu luận, không gian được mở rộng tối đa:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Nhà thơ nhìn lên bầu trời cao vời vợi với những tầng mây lơ lửng, rồi lại nhìn ra con đường làng xa xa với lũy trúc quanh co. Không gian được kéo dài theo chiều cao (bầu trời) và chiều sâu (con đường). Nhưng dù không gian có mở rộng đến đâu, nó vẫn giữ được vẻ tĩnh lặng, yên ả của làng quê.
Cuối cùng, không gian lại thu hẹp trở về với điểm xuất phát:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Điểm nhìn trở về với không gian gần nhất - dưới chân bèo, nơi có tiếng cá đớp động. Như vậy, không gian trong bài thơ vận động theo một vòng tròn khép kín: từ gần ra xa, từ thấp lên cao rồi lại trở về gần. Sự vận động ấy tạo nên tính toàn vẹn cho bức tranh thu.
Đặc biệt, không gian trong "Thu điếu" ngày càng thu nhỏ và tĩnh lặng. Bắt đầu bằng một không gian mở (ao thu, thuyền câu), sau đó mở rộng ra (sóng, lá, mây, trời, ngõ trúc), nhưng tất cả đều được miêu tả trong trạng thái tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Ngay cả những chuyển động cũng là chuyển động của sự tĩnh lặng: sóng chỉ "hơi gợn tí", lá chỉ "khẽ đưa vèo", mây "lơ lửng", ngõ trúc "quanh co" và "vắng teo". Sự tĩnh lặng ấy càng được tô đậm bởi tiếng động duy nhất của con cá đớp mồi.
Về thời gian, bài thơ không chỉ rõ một thời điểm cụ thể mà gợi lên thời gian của mùa thu. Đó là thời gian của sự chuyển mùa, của sự tàn phai: "Ao thu" - mùa thu, "Nước trong veo" - nước mùa thu thường trong hơn các mùa khác, "Lá vàng" - lá mùa thu thường chuyển sang màu vàng, "Trời xanh ngắt" - bầu trời mùa thu cao và xanh trong.
Nhưng thời gian trong bài thơ không chỉ là thời gian của thiên nhiên mà còn là thời gian tâm trạng. Đó là thời gian như ngưng đọng, như chậm lại để con người có thể suy tư, chiêm nghiệm:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được"
Chữ "lâu" cho thấy một khoảng thời gian dài nhà thơ ngồi đó, ôm cần câu nhưng không câu cá. Thời gian trôi qua mà ông không hề hay biết, chỉ đến khi tiếng cá đớp động mới làm ông giật mình trở về thực tại. Như vậy, thời gian trong bài thơ là thời gian của sự lắng đọng tâm hồn.
Mối quan hệ giữa không gian và thời gian trong "Thu điếu" rất đặc biệt. Không gian càng tĩnh lặng bao nhiêu thì thời gian càng như ngưng đọng bấy nhiêu. Và ngược lại, thời gian như ngưng đọng càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng. Sự kết hợp hài hòa giữa không gian và thời gian tạo nên một bức tranh thu vừa thực vừa mơ, vừa cụ thể vừa trừu tượng.
Không gian và thời gian trong "Thu điếu" không chỉ là phương tiện để miêu tả cảnh vật mà còn là phương tiện để biểu hiện tâm trạng. Không gian thu hẹp dần, tĩnh lặng dần và thời gian ngưng đọng là biểu hiện của tâm trạng cô đơn, u hoài của nhà thơ trước thời cuộc.
Như vậy, với tài năng nghệ thuật điêu luyện, Nguyễn Khuyến đã xây dựng thành công không gian và thời gian nghệ thuật độc đáo trong "Thu điếu", góp phần thể hiện sâu sắc nội dung tư tưởng của bài thơ
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 8
Nguyễn Khuyến là một đại thụ trong nền văn học cổ điển Việt Nam, người được mệnh danh là "nhà thơ của dân quê, làng cảnh Việt Nam". Trong chùm ba bài thơ thu nức tiếng, "Thu điếu" (Câu cá mùa thu) được coi là tác phẩm điển hình nhất, kết tinh vẻ đẹp thanh tao, tĩnh lặng của mùa thu xứ Bắc, đồng thời gửi gắm nỗi lòng thầm kín của một bậc trí sĩ nặng tình với non sông.
Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến không đưa ta đến những không gian bao la, hùng vĩ mà bắt đầu bằng một khung cảnh rất đỗi gần gũi, quen thuộc của làng quê:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,"
"Một chiếc thuyền câu bé tẻo tèo teo."
Cái hay của câu thơ nằm ở tính từ "lạnh lẽo" và "trong veo". Nó không chỉ gợi lên cái nhiệt độ đặc trưng của tiết thu mà còn vẽ nên sự tĩnh lặng, trong trẻo đến mức có thể nhìn thấu đáy ao. Hình ảnh "chiếc thuyền câu" xuất hiện giữa không gian ấy lại được thu nhỏ tối đa qua từ láy "tẻo tèo teo", tạo nên một sự cân xứng tuyệt đối giữa cái nhỏ bé của con người và sự tĩnh mịch của thiên nhiên.
Tiếp đến, tác giả sử dụng bút pháp lấy động gợi tĩnh để khắc họa sự chuyển động vô cùng tinh tế của cảnh vật:
"Sóng biếc theo làn hơi tí gợn,"
"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Sắc "biếc" của sóng hòa với sắc "vàng" của lá tạo nên một sự phối màu hài hòa, đậm chất cổ điển. Những chuyển động "hơi tí gợn" và "khẽ đưa vèo" nhẹ nhàng đến mức nếu không có một tâm hồn cực kỳ nhạy cảm và một không gian cực kỳ yên ắng, người ta khó lòng nhận ra. Đặc biệt, chữ "vèo" trong thơ Nguyễn Khuyến đã được thi sĩ Tản Đà khen ngợi hết lời vì nó lột tả được cái thần cốt của lá thu rơi.
Không gian bài thơ tiếp tục được mở rộng về chiều cao và chiều sâu:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,"
"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Màu "xanh ngắt" là đặc sản của bầu trời mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến – một màu xanh thẳm, thuần khiết và không chút gợn mây. Đối lập với cái cao rộng ấy là "ngõ trúc quanh co" nhỏ hẹp, vắng lặng. Cụm từ "khách vắng teo" không chỉ chỉ sự vắng vẻ về mặt cơ học mà còn gợi lên sự cô đơn trong tâm tưởng của nhà thơ.
Hai câu cuối khép lại bức tranh bằng hình ảnh người câu cá:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,"
"Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Tư thế "tựa gối ôm cần" cho thấy một sự tĩnh lặng tuyệt đối về thân thể nhưng lại là một sự xao động về tâm hồn. Nhà thơ đi câu nhưng thực chất không phải để bắt cá, mà để tìm một chốn tĩnh tâm, để suy ngẫm về thời thế. Tiếng cá "đớp động" đột ngột vang lên không làm không gian ồn ào hơn mà trái lại, nó càng tôn thêm cái tĩnh mịch, vắng lặng đến tê người của buổi chiều thu.
"Thu điếu" không chỉ thành công ở nghệ thuật gieo vần "eo" độc đáo – một vần khó nhưng được Nguyễn Khuyến sử dụng cực kỳ tự nhiên – mà còn thành công trong việc khắc họa linh hồn của làng quê Việt Nam. Qua đó, ta thấy được một tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước tha thiết ẩn sau vẻ ngoài bình thản của một vị quan đã lui về ở ẩn nhưng vẫn vẹn tròn nhân cách.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 9
Nếu phải chọn ra một bài thơ thu hay nhất trong văn học trung đại Việt Nam, chắc chắn "Thu điếu" của Nguyễn Khuyến sẽ là ứng cử viên sáng giá. Bài thơ như một lăng kính trong suốt, không chỉ phản chiếu vẻ đẹp của đất trời mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn soi rọi vào tận cùng tâm tư của một bậc danh sĩ lánh đời nhưng lòng vẫn "vương nợ tang bồng".
Bức tranh thu của Nguyễn Khuyến hiện lên với những gam màu lạnh và thanh nhẹ. Ngay từ hai câu đề, tác giả đã thiết lập một không gian thu hẹp:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,"
"Một chiếc thuyền câu bé tẻo tèo teo."
Mọi thứ đều nhỏ nhắn, xinh xắn và có phần co rụt lại. Vần "eo" xuyên suốt bài thơ (veo, teo, vèo, teo, bèo) tạo cảm giác không gian càng lúc càng thu nhỏ, khép kín. Điều này rất phù hợp với hoàn cảnh của Nguyễn Khuyến lúc bấy giờ: rời bỏ chốn quan trường nhiễu nhương để về sống ẩn dật tại quê nhà Bình Lục, Hà Nam.
Sự tinh tế của nhà thơ nằm ở cách ông nắm bắt những chuyển động siêu hình:
"Sóng biếc theo làn hơi tí gợn,"
"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo."
Ở đây, cái "tĩnh" là tuyệt đối, còn cái "động" chỉ là cái cớ để tôn vinh cái tĩnh. Một chiếc lá rụng "vèo" hay sóng "hơi tí gợn" đều là những chi tiết cực nhỏ, cho thấy sự quan sát tỉ mỉ và tâm hồn tĩnh lặng đến mức tuyệt đối của người cầm cần.
Tuy nhiên, chiều sâu của bài thơ nằm ở hai câu luận:
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,"
"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo."
Bầu trời "xanh ngắt" gợi lên sự cao vời vợi, xa xăm. Hình ảnh "ngõ trúc" là hình ảnh biểu tượng của làng quê Việt Nam và cũng là biểu tượng cho người quân tử. Sự vắng lặng "khách vắng teo" phản chiếu một thực tại phũ phàng: nhà thơ đang sống trong sự cô độc. Đó không chỉ là nỗi cô đơn giữa thiên nhiên mà là nỗi cô đơn của một tâm hồn thức giả trước vận mệnh đất nước đang bị xâm lăng, khi bản thân mình lại chọn con đường "về vườn" bất lực.
Hai câu kết thể hiện rõ nhất trạng thái "tâm cảnh":
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,"
"Cá đâu đớp động dưới chân bèo."
Hành động "tựa gối ôm cần" là hình ảnh của một người đang chìm đắm trong suy tư hơn là đang đi câu. Tâm trí nhà thơ không đặt ở mồi câu hay con cá, mà đang trôi dạt về những trăn trở của cuộc đời. Âm thanh "cá đớp động" vang lên như một sự thức tỉnh, nhưng cũng chỉ là một khoảnh khắc xao động nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng, giống như những trăn trở của ông khó lòng thay đổi được thực tại đau thương của dân tộc.
Tóm lại, "Thu điếu" là một chỉnh thể nghệ thuật hoàn hảo giữa cảnh và tình. Nguyễn Khuyến đã dùng những ngôn từ giản dị nhất để tạo nên một sức gợi lớn nhất. Bài thơ không chỉ là niềm tự hào của thơ ca dân tộc về tài năng ngôn ngữ mà còn là bài ca về nhân cách thanh cao, lòng yêu nước thầm lặng của một "ông tiên" làng Yên Đổ giữa buổi giao thời của lịch sử.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu điếu - mẫu 10
"Thu điếu" của Nguyễn Khuyến không chỉ là một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên và nỗi niềm trăn trở trước thời cuộc của nhà thơ
Trước hết, giá trị nhân văn của bài thơ thể hiện ở tình yêu quê hương sâu sắc. Nguyễn Khuyến yêu quê hương bằng một tình cảm giản dị, chân thành. Ông yêu từ những cảnh vật bình dị nhất:
"Ao thu lạnh lẽo nước trong veo"
Một ao làng nhỏ bé, nước trong veo - đó là hình ảnh thân thuộc của mỗi làng quê Việt Nam. Tình yêu của nhà thơ dành cho quê hương không phải là tình yêu sáo rỗng, xa vời mà là tình yêu gắn với những gì gần gũi, thân thương nhất.
"Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo"
Chiếc thuyền câu nhỏ xíu, đơn sơ nhưng đối với nhà thơ, nó là cả một bầu trời kỷ niệm. Đó có thể là chiếc thuyền ông thường ngồi câu cá, là nơi ông tìm thấy sự bình yên giữa cuộc đời nhiễu nhương.
Tình yêu quê hương còn thể hiện ở sự gắn bó với những hình ảnh đặc trưng của làng quê Bắc Bộ:
"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo"
Lũy tre xanh, con đường làng quanh co - những hình ảnh ấy đã đi vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam. Nguyễn Khuyến đã chọn những hình ảnh ấy để vẽ nên bức tranh quê hương, cho thấy tình cảm sâu nặng của ông với mảnh đất nơi mình sinh ra và lớn lên.
Giá trị nhân văn thứ hai của bài thơ là tình yêu thiên nhiên tha thiết. Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên bằng một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế. Ông cảm nhận được những vẻ đẹp dù nhỏ nhất của thiên nhiên:
"Sóng biếc theo làn hơi gợn tí"
Những con sóng nhỏ lăn tăn trên mặt nước - một vẻ đẹp rất bình dị nhưng phải có tâm hồn nhạy cảm mới cảm nhận được hết.
"Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo"
Chiếc lá vàng rơi trong gió thu - một hình ảnh đẹp nhưng cũng gợi buồn. Nhà thơ không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận được cái hồn của sự vật.
"Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt"
Bầu trời thu xanh ngắt, những tầng mây lơ lửng - vẻ đẹp thanh cao, trong trẻo của thiên nhiên được nhà thơ ghi lại bằng những vần thơ đầy cảm xúc.
Tình yêu thiên nhiên của Nguyễn Khuyến còn thể hiện ở sự hòa mình vào thiên nhiên. Ông không chỉ quan sát thiên nhiên từ xa mà còn sống cùng thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên:
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được”
Ông ngồi trên thuyền, tựa gối ôm cần, lắng nghe từng âm thanh nhỏ nhất của thiên nhiên. Sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên đã tạo nên vẻ đẹp thanh cao cho tâm hồn nhà thơ.
Giá trị nhân văn sâu sắc nhất của bài thơ là tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Khuyến. Đằng sau bức tranh thu tĩnh lặng là nỗi niềm u hoài, trăn trở trước thời cuộc:
"Tựa gối ôm cần lâu chẳng được"
Tại sao lại "lâu chẳng được"? Bởi lòng nhà thơ không yên. Ông ngồi câu cá nhưng tâm trí đang nghĩ về những điều lớn lao hơn: vận mệnh đất nước, cuộc sống của nhân dân.
"Cá đâu đớp động dưới chân bèo"
Tiếng cá đớp động như một sự giật mình, một sự bừng tỉnh. Nhà thơ như muốn quên đi thực tại nhưng thực tại vẫn luôn hiện hữu, vẫn luôn ám ảnh.
Nguyễn Khuyến làm quan dưới triều Nguyễn, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, thực dân Pháp xâm lược. Ông đau xót nhưng bất lực. Ông lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết nhưng tấm lòng vẫn hướng về dân, về nước. "Thu điếu" chính là tiếng lòng của ông - một tiếng lòng yêu nước thương dân sâu sắc.
Bài thơ còn thể hiện vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Khuyến. Đó là một nhà nho thanh cao, liêm khiết, không màng danh lợi. Ông chọn cuộc sống ẩn dật nơi thôn quê, sống hòa mình với thiên nhiên, với những người dân lao động. Hình ảnh "chiếc thuyền câu bé tẻo teo" không chỉ là hình ảnh của cảnh vật mà còn là biểu tượng cho cuộc sống giản dị, thanh bạch của nhà thơ.
Như vậy, "Thu điếu" không chỉ là một bài thơ hay về nghệ thuật mà còn giàu giá trị nhân văn. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu thiên nhiên và tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Khuyến. Những giá trị ấy sẽ còn sống mãi với thời gian, làm giàu đẹp thêm cho tâm hồn người đọc Việt Nam.
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Nam quốc sơn hà
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Tụng giá hoàn kinh sư
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Xa ngắm thác núi Lư
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thương vợ
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thiên Trường vãn vọng
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Câu cá mùa thu
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:
- Mục lục Văn phân tích, phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận
- Mục lục Văn biểu cảm
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn nghị luận
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8 và Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 8 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Friends plus
- Lớp 8 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) KNTT
- Giải sgk Toán 8 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 8 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 8 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - KNTT
- Giải sgk Tin học 8 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 8 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 8 - KNTT
- Lớp 8 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 8 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 8 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 8 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - CTST
- Giải sgk Tin học 8 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 8 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 8 - CTST
- Lớp 8 - Cánh diều
- Soạn văn 8 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 8 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 8 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 8 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 8 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 8 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 8 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

