10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (điểm cao)
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Tức cảnh chiều thu (Bà Huyện Thanh Quan) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.
- Dàn ý Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 1)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 2)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 3)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 4)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 5)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 6)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 7)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 8)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (mẫu 9)
- Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (các mẫu khác)
10+ Phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu (điểm cao)
Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu
a. Mở bài:
- Chiều hôm nhớ nhà Bà Huyện Thanh Quan đã khẳng định tài hoa thơ phú của mình.
- Nội dung: Bài thơ chứa một niềm tâm sự hoài cổ, nuối tiếc thời xưa được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả cảnh để bộc lộ tình của tác giả.
b. Thân bài:
- Giới thiệu: Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong thời kỳ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Bà sáng tác thơ rất ít nhưng hầu hết những tác phẩm của bà đều có giá trị to lớn.
=> bộc lộ tài năng độc đáo của mình: sâu lắng, hoài cổ, buồn nhớ trong nỗi niềm tâm sự cùng với nghệ thuật đặc sắc "tức cảnh sinh tình" thật trang nhã, đầy hình tượng.
- Đặc sắc:
+ Ở bài thơ, ta đều bắt gặp một quang cảnh buồn, hoang vắng, cô tịch. Đó là cảnh buổi hoàng hôn tím sẫm, cái khoảng không gian và thời gian buồn, gợi nhớ nhất trong một ngày.
+ Cả hai bài thơ đều có hình ảnh con người nhưng chỉ thoáng bóng thôi, và quang cảnh chỉ có thế. Đó là những người dân lao động nghèo, vất vả làm ăn, sinh hoạt của họ thật tẻ nhạt, thiếu sinh động.
+ Bà luôn hoài cổ để chối bỏ thực tại và bày tỏ sự chán ghét thực tại. Đó là nỗi nhớ nước, nhớ nhà bà luôn giấu kín trong lòng
+ Trước cảnh, bà bộc lộ được niềm tâm sự của mình, một tâm sự hoài cổ, đầy nuối tiếc, muốn níu giữ những kỉ niệm xa xưa.
=> Chính nét đặc sắc đó về nội dung cũng như nghệ thuật "tức cảnh sinh tình" trong thơ bà đã nâng bà vượt lên, có một phong cách riêng, không thể lẫn vào đâu được với những Hồ Xuân Hương đầy trần tục mà rất Việt Nam, Nguyễn Du mang tư tưởng định mệnh... Tóm lại bà có một phong cách thơ rất đặc biệt.
c. Kết bài:
Qua Chiều hôm nhớ nhà Bà Huyện Thanh Quan đã khẳng định tài hoa thơ phú của mình. Hai bài thơ chứa một niềm tâm sự hoài cổ, nuối tiếc thời xưa được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả cảnh để bộc lộ tình của tác giả. Cả hai mặt nội dung và nghệ thuật hoà quyện vào nhau thật nhuần nhuyễn, điêu luyện, mang một sắc thái riêng biệt, đặc sắc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 1
Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tài danh bậc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam. Thơ bà mang phong cách trang nhã, cổ kính, đượm buồn và giàu chất tạo hình. "Tức cảnh chiều thu" là một trong những thi phẩm xuất sắc nhất của bà, thể hiện tài quan sát tinh tế và tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Câu thơ mở đầu bằng một âm thanh rất nhẹ, rất khẽ: "thánh thót". Đó là tiếng mưa thu lác đác rơi trên tàu chuối. Không phải một cơn mưa rào ào ạt, cũng chẳng phải một trận mưa phùn dai dẳng, chỉ "mấy hạt mưa" thôi nhưng đủ để đánh thức không gian chiều thu tĩnh mịch. Trong cái khoảnh khắc yên ắng ấy, tác giả bất chợt thốt lên lời khen "Khen ai khéo vẽ". Lời khen như hướng tới tạo hóa, đấng sáng tạo ra bức tranh thiên nhiên kỳ diệu này. "Cảnh tiêu sơ" - một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, không son phấn. Đó chính là cái đẹp của thiên nhiên thuần khiết, của tạo vật ban sơ.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Bức tranh chiều thu hiện lên với hai mảng màu đối lập nhưng hài hòa. Màu "xanh om" của những tán cổ thụ già cỗi, xum xuê, được miêu tả với hình khối rất cụ thể "tròn xoe tán". Cây cổ thụ như một chiếc ô khổng lồ xòe rộng, in bóng xuống mặt đất. Đối diện với mảng màu xanh ấy là màu "trắng xoá" của dòng sông dài rộng lớn. "Tràng giang" gợi lên không gian mênh mông, bất tận. Mặt nước "phẳng lặng tờ" không một gợn sóng, như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời. Các từ láy "xanh om", "tròn xoe", "trắng xoá" vừa giàu tính tạo hình, vừa thể hiện sự quan sát tỉ mỉ của tác giả.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Hai câu thơ tiếp theo vẽ lên chân dung người thi sĩ trước cảnh đẹp non sông. "Bầu dốc giang sơn" là hình ảnh người lữ khách say sưa với cảnh vật, dốc cạn bầu rượu cùng giang sơn. Nhưng cái say ở đây không phải là say rượu, mà là "say chấp rượu" - say hơn cả say rượu, một cái say kỳ lạ của tâm hồn trước cái đẹp. Cùng với đó, chiếc túi đeo lưng không đựng vàng bạc châu báu mà chất chứa "phong nguyệt" - gió trăng, vẻ đẹp của thiên nhiên. Nó trở nên "nặng vì thơ" - nặng vì những vần thơ trào dâng, những cảm xúc dạt dào chất chứa trong lòng. Hình tượng người nghệ sĩ hiện lên thật hào hoa, phong nhã và tài hoa.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Câu thơ cuối là một triết lý nhẹ nhàng về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Cảnh vật không vô tri vô giác, mà cũng có hồn, cũng biết "ưa" những người có tâm hồn đồng điệu. Và khi đã bắt gặp được sự đồng điệu ấy, con người không thể không "ngẩn ngơ", thẫn thờ, đắm say. Câu thơ là một chân lý muôn đời: cái đẹp luôn có sức hấp dẫn lạ kỳ đối với tâm hồn con người, và tâm hồn con người luôn khao khát được sống trong cái đẹp.
Bài thơ "Tức cảnh chiều thu" xứng đáng là một viên ngọc quý trong kho tàng thơ ca dân tộc. Với thể thơ Đường luật chuẩn mực, ngôn ngữ chọn lọc, hình ảnh thơ gợi cảm, tác giả đã vẽ nên một bức tranh chiều thu tuyệt đẹp và gửi gắm vào đó tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước tha thiết. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy cảnh mà còn thấy người - một tâm hồn Việt Nam tinh tế, nhạy cảm và sâu lắng.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 2
Nhắc đến Bà Huyện Thanh Quan, người ta nhớ ngay đến một giọng thơ trang nhã, cổ kính với những vần thơ đượm buồn, hoài niệm. "Tức cảnh chiều thu" tuy không mang nỗi buồn sâu thẳm như "Qua Đèo Ngang" hay "Thăng Long thành hoài cổ", nhưng lại là một bức tranh phong cảnh tuyệt mỹ, thể hiện rõ nhất bút pháp tả cảnh tài hoa của nữ sĩ. Bài thơ là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp chấm phá, lấy động tả tĩnh và nghệ thuật đối lập điêu luyện.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Ngay câu thơ đầu tiên, tác giả đã sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh một cách tinh tế. "Thánh thót" là âm thanh của tiếng mưa rơi, nhưng trong không gian chiều thu vắng lặng, âm thanh ấy càng làm nổi bật sự tĩnh mịch bao trùm. Cũng như tiếng chim quốc kêu, chim đa đa trong "Qua Đèo Ngang", tiếng mưa thu này không hề phá vỡ sự yên ắng mà ngược lại, còn tăng thêm chiều sâu cho bức tranh tĩnh lặng. Câu thơ thứ hai là một lời bình, một cảm thán trước vẻ đẹp "tiêu sơ" của cảnh vật. "Vẽ" ở đây là một động từ đặc biệt, biến thiên nhiên thành một bức họa, và nhà thơ là người thưởng lãm bức họa ấy.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Đến hai câu thực, bức tranh được phác họa bằng nghệ thuật đối lập rất rõ nét. Đối lập về màu sắc: "xanh om" đối với "trắng xoá". Màu xanh của tán cây cổ thụ là màu xanh đậm đà, ấm áp, của sự sống trường tồn. Màu trắng xoá của dòng sông là màu trắng tinh khôi, mênh mông, gợi cảm giác bao la, bất tận. Đối lập về hình khối: tán cây "tròn xoe" - một hình khối khép kín, vững chãi, đối với mặt sông "phẳng lặng tờ" - một mặt phẳng mở rộng vô cùng. Đối lập về chiều cao: cây cổ thụ vươn cao trên mặt đất, dòng sông trải dài dưới thấp. Sự đối lập ấy tạo nên một bố cục hài hòa, cân đối cho bức tranh.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Bút pháp tả cảnh ngụ tình bắt đầu xuất hiện rõ nét. Cảnh vật không còn là đối tượng thụ động mà đã tác động mạnh mẽ vào tâm hồn thi nhân. Cái "say" ở đây là kết quả của sự giao cảm giữa người và cảnh. "Bầu dốc giang sơn" là hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho những tao nhân mặc khách ngày xưa, nhưng qua ngòi bút của Bà Huyện Thanh Quan, nó trở nên sống động và đầy chất thơ. Túi thơ "nặng vì thơ" là cách nói rất sáng tạo, thể hiện sự dạt dào của cảm xúc thi ca trước cảnh đẹp.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Hai câu kết vừa là cảm xúc, vừa là triết lý. Cảnh "ưa người" là một cách nhân hóa đầy duyên dáng. Nó thể hiện quan niệm của người xưa về sự giao hòa giữa con người và vũ trụ. Và hệ quả tất yếu của sự giao hòa ấy là cái "ngẩn ngơ" - trạng thái đắm say, thẫn thờ của tâm hồn khi bắt gặp tuyệt tác của tạo hóa.
Với bút pháp tả cảnh điêu luyện, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tả thực và ước lệ, giữa cảnh và tình, Bà Huyện Thanh Quan đã để lại cho đời một bức tranh chiều thu bất hủ. Bài thơ không chỉ đẹp bởi cảnh sắc thiên nhiên mà còn đẹp bởi tấm lòng của thi nhân dành cho quê hương, đất nước. Đó chính là sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòng người đọc bao thế hệ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 3
Đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan, người ta thường thấy một nỗi buồn hoài cổ, một nỗi niềm cô đơn trước thời thế. Nhưng "Tức cảnh chiều thu" lại là một bài thơ mang tâm trạng khác - tâm trạng say sưa, thăng hoa trước cái đẹp của thiên nhiên. Đó là giây phút hiếm hoi người nữ sĩ gác lại những muộn phiền để đắm mình trong cảnh sắc quê hương.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Buổi chiều thu với những hạt mưa lác đác trên tàu chuối hiện ra trong tâm trí thi nhân. Từ láy tượng thanh "thánh thót" không chỉ gợi âm thanh mà còn gợi cảm giác mát dịu, nhẹ nhàng của mưa thu. Trong cái không gian tĩnh lặng ấy, một cảm xúc bất chợt trào dâng: "Khen ai khéo vẽ". "Ai" ở đây có thể là tạo hóa, có thể là một họa sĩ vô hình nào đó đã sắp xếp cảnh vật thật hài hòa, đẹp đẽ. "Cảnh tiêu sơ" là cảnh đơn sơ, mộc mạc, nhưng chính trong cái đơn sơ ấy lại ẩn chứa một vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết. Tâm hồn thi nhân đã rung động trước vẻ đẹp ấy, và sự rung động được thể hiện qua lời khen đầy ngỡ ngàng, thán phục.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Nhà thơ như đang đứng ở một vị trí cao, phóng tầm mắt ra xa để thu vào tầm mắt toàn bộ bức tranh phong cảnh. Màu xanh của cây cổ thụ và màu trắng của dòng sông là hai mảng màu chủ đạo. Cây cổ thụ với tán lá tròn xoe tượng trưng cho sự vững bền, trường tồn của thiên nhiên. Dòng sông phẳng lặng tờ tượng trưng cho sự bao la, rộng lớn của vũ trụ. Trước không gian ấy, lòng người trở nên thư thái, thanh thản. Tâm hồn thi nhân như hòa vào thiên nhiên, như đang đối thoại cùng cỏ cây sông nước.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Đến đây, tâm trạng thi nhân đã lên đến cao trào. "Say" là từ khóa của hai câu thơ này. Nhưng say ở đây không phải là say rượu, mà là say cảnh, say trời đất, say trước vẻ đẹp của tạo hóa. Cái say ấy còn hơn cả say rượu ("say chấp rượu") - một sự so sánh thú vị và đầy sáng tạo. Hình ảnh "bầu dốc giang sơn" khiến ta liên tưởng đến những bậc tao nhân mặc khách ngày xưa, uống rượu và làm thơ giữa chốn sơn thủy hữu tình. Còn "túi lưng phong nguyệt" là chiếc túi thơ chứa đầy gió trăng - chất liệu của thi ca. Nó trở nên nặng trĩu vì những vần thơ đang trào dâng trong lòng. Tâm hồn thi nhân đang ở trong trạng thái thăng hoa, dạt dào cảm xúc.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Kết thúc bài thơ là một nhận xét đầy triết lý nhưng cũng rất tình cảm. "Cảnh cũng ưa người" - cảnh vật như có linh hồn, như hiểu được tấm lòng người thưởng ngoạn. Và khi đã bắt gặp được sự đồng điệu ấy, con người không thể không "ngẩn ngơ". "Ngẩn ngơ" là trạng thái tâm hồn lâng lâng, xao xuyến, bâng khuâng trước cái đẹp. Đó là một trạng thái rất đỗi con người, rất đỗi thi sĩ. Câu thơ như một lời tâm sự nhẹ nhàng, nhưng cũng là một chân lý muôn thuở: cái đẹp bao giờ cũng khiến lòng người rung động.
"Tức cảnh chiều thu" là một bài thơ đẹp, một tâm hồn đẹp. Qua bài thơ, ta thấy được một Bà Huyện Thanh Quan không chỉ tài hoa mà còn rất yêu đời, yêu cuộc sống. Những phút giây thăng hoa cùng thiên nhiên ấy đã để lại cho đời những vần thơ bất hủ, lay động lòng người bao thế hệ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 4
Từ xưa, người ta vẫn thường nói "thi trung hữu họa" - trong thơ có họa. Điều đó đặc biệt đúng với thơ của Bà Huyện Thanh Quan, nhất là trong bài "Tức cảnh chiều thu". Đọc bài thơ, người đọc như được chiêm ngưỡng một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp với bố cục cân đối, màu sắc hài hòa và đường nét tinh tế, tất cả được vẽ nên bằng ngôn từ của một hồn thơ tài hoa.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Nếu coi bài thơ là một bức tranh, thì hai câu đề chính là cảm xúc của người xem tranh trước tác phẩm. Âm thanh "thánh thót" của mưa thu như một nốt nhạc nhẹ len vào không gian tĩnh lặng, tạo điểm nhấn cho bức tranh. Nhưng điều đáng chú ý nhất là chữ "vẽ" ở câu thơ thứ hai. Tác giả không dùng "tả", "thấy" hay "ngắm", mà dùng "vẽ". Điều đó cho thấy, ngay từ đầu, tác giả đã có ý thức về một bức họa thiên nhiên. "Cảnh tiêu sơ" - đề tài của bức họa, là những gì giản dị, mộc mạc nhất của làng quê Việt Nam.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Đến hai câu thực, bức tranh hiện ra với những nét vẽ rõ ràng. Nhà thơ đã sử dụng bút pháp chấm phá đặc trưng của hội họa phương Đông. Thay vì vẽ chi tiết, chỉ chấm phá vài nét nhưng đủ để gợi lên toàn bộ không gian. Cây cổ thụ được vẽ bằng những nét tròn, tạo hình khối vững chãi. Dòng sông được vẽ bằng những nét ngang dài, tạo cảm giác mênh mông, bất tận. Màu sắc chỉ có hai màu cơ bản: xanh và trắng. Nhưng sự kết hợp giữa xanh đậm ("xanh om") của cây và trắng xóa của sông tạo nên một bức tranh vừa hài hòa, vừa có chiều sâu.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Đến hai câu luận, con người xuất hiện trong bức tranh. Nhưng con người ở đây không được vẽ bằng những nét cụ thể, mà được gợi lên qua những hình ảnh ước lệ: "bầu dốc giang sơn", "túi lưng phong nguyệt". Đó là hình ảnh những tao nhân mặc khách thời xưa, rong chơi giữa chốn giang sơn, say sưa với cảnh đẹp và làm thơ. Sự xuất hiện của con người khiến bức tranh thêm sinh động, có hồn. Con người không phải là chủ thể mà chỉ là một phần nhỏ của thiên nhiên, hòa mình vào cảnh vật.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Hai câu kết là những nét vẽ cuối cùng, hoàn thiện bức tranh. Đó là nét vẽ của tình cảm, của sự giao hòa giữa người và cảnh. "Cảnh cũng ưa người" - thiên nhiên không vô tri, mà cũng có linh hồn, cũng biết rung động trước tấm lòng người thưởng ngoạn. Và con người, trước vẻ đẹp ấy, chỉ biết "ngẩn ngơ", đắm say. Câu thơ như một chữ ký của người họa sĩ, khẳng định giá trị tinh thần của tác phẩm.
Bức tranh "Tức cảnh chiều thu" của Bà Huyện Thanh Quan thật sự là một kiệt tác. Nó không chỉ đẹp về hình thức mà còn sâu sắc về nội dung. Tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước đã được thể hiện một cách kín đáo mà thấm thía qua từng câu chữ. Đọc bài thơ, ta không chỉ thấy cảnh mà còn thấy cả tình, thấy cả một tâm hồn Việt Nam tinh tế, sâu sắc.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 5
Bà Huyện Thanh Quan nổi tiếng là bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ trong thơ ca trung đại. Mỗi chữ, mỗi câu thơ của bà đều được chọn lọc kỹ càng, đạt đến độ tinh tế và hàm súc. Bài thơ "Tức cảnh chiều thu" tuy ngắn gọn với 8 câu thơ Đường luật, nhưng là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng sử dụng từ ngữ điêu luyện của nữ sĩ.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Mở đầu bài thơ là một từ láy tượng thanh: "thánh thót". Từ láy này không chỉ đơn thuần mô phỏng âm thanh tiếng mưa rơi, mà còn gợi lên cái không khí thanh bình, tĩnh lặng của buổi chiều thu. Tiếng mưa thánh thót nghe như tiếng nhạc, như tiếng lòng của thiên nhiên. Tiếp đến là từ "vẽ" - một động từ thường dùng trong hội họa. Việc dùng từ "vẽ" thay vì "tả" hay "thấy" cho thấy dụng ý nghệ thuật rõ ràng của tác giả: muốn biến cảnh vật thành một bức tranh. "Tiêu sơ" là một từ Hán Việt, mang nghĩa đơn sơ, mộc mạc. Sự kết hợp giữa từ thuần Việt và từ Hán Việt tạo nên một âm hưởng vừa quen thuộc, vừa trang nhã.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Ở hai câu thực, tác giả sử dụng một loạt các từ láy tượng hình rất đặc sắc. "Xanh om" là màu xanh đậm đà, tốt tươi, khác với "xanh ngắt" (xanh thuần một màu) hay "xanh rì" (xanh mướt và dày). "Tròn xoe" gợi tả hình dáng tròn trịa, đầy đặn của tán cây. "Trắng xoá" gợi màu trắng tinh khiết, trải dài mênh mông. "Phẳng lặng tờ" là một so sánh đặc biệt: mặt nước phẳng như tờ giấy. Các từ láy này vừa có giá trị gợi hình, vừa thể hiện sự quan sát tinh tế của nhà thơ.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Hai câu luận sử dụng nhiều từ Hán Việt trang trọng: "giang sơn", "phong nguyệt". "Giang sơn" chỉ non sông đất nước, "phong nguyệt" chỉ gió trăng - vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhưng điểm nhấn ở đây là cách dùng từ rất sáng tạo: "say chấp rượu". "Chấp" có nghĩa là hơn, là vượt. "Say chấp rượu" nghĩa là cái say này còn hơn cả say rượu. Cách nói này vừa lạ, vừa hay, thể hiện được mức độ say sưa cao độ của thi nhân trước cảnh đẹp. "Nặng vì thơ" cũng là một cách nói độc đáo: thơ không phải là vật chất nhưng lại làm cho túi trở nên nặng, bởi nó nặng bằng tình cảm, bằng cảm xúc.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Hai câu kết sử dụng ngôn ngữ đời thường, gần gũi: "nhỉ", "ai mà chẳng". Điều này tạo nên giọng điệu tâm tình, thân mật như một lời trò chuyện. "Ngẩn ngơ" là một từ láy rất giàu sức gợi, diễn tả trạng thái thẫn thờ, đắm say trước cái đẹp. Sự kết hợp giữa từ Hán Việt trang trọng và từ thuần Việt giản dị trong toàn bài thơ tạo nên một phong cách rất riêng: vừa cổ kính, trang nhã, vừa gần gũi, dễ hiểu.
Qua việc phân tích từ ngữ, ta càng thấy rõ tài năng của Bà Huyện Thanh Quan. Mỗi chữ trong bài thơ đều được đặt đúng chỗ, không thể thay thế bằng bất kỳ chữ nào khác. Đó là thứ ngôn ngữ đã được chắt lọc, tinh luyện đến mức điêu luyện, tạo nên giá trị trường tồn cho tác phẩm.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 6
Thơ ca trung đại thường lấy cảnh để ngụ tình, mượn cảnh vật để bày tỏ tâm trạng. "Tức cảnh chiều thu" của Bà Huyện Thanh Quan cũng nằm trong mạch nguồn ấy. Bài thơ không chỉ tả cảnh thu đẹp mà còn gửi gắm một tình thu sâu lắng, một tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết của tác giả.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Cảnh thu hiện lên qua những hình ảnh rất đặc trưng: mưa thu, tàu chuối, không gian chiều. Nhưng ngay trong cảnh đã có tình. Tiếng mưa "thánh thót" không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn là âm thanh của lòng người, của một tâm hồn đang lắng nghe, đang rung động. Lời khen "Khen ai khéo vẽ" là tiếng lòng trào dâng tự nhiên trước vẻ đẹp của tạo vật. "Cảnh tiêu sơ" gợi một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng chính cái giản dị ấy lại làm xao xuyến lòng người hơn cả những gì cầu kỳ, son phấn.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Cảnh thu được vẽ nên bằng những mảng màu tương phản nhưng hài hòa. Màu xanh của cây cổ thụ tượng trưng cho sự sống bền bỉ, trường tồn. Màu trắng của dòng sông tượng trưng cho sự bao la, vĩnh hằng. Đứng trước cảnh vật ấy, lòng người trở nên thanh thản, lắng đọng. Không gian tĩnh lặng của chiều thu như xoa dịu tâm hồn, gạt đi những ưu phiền của cuộc sống. Tình thu bắt đầu nhen nhóm từ đây, từ những rung động nhẹ nhàng trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Tình thu đến đây đã bùng lên mạnh mẽ. Cái "say" của thi nhân là bằng chứng rõ ràng nhất cho tình cảm sâu nặng dành cho cảnh vật. Đây không phải cái say của men rượu mà là cái say của tâm hồn, cái say của người nghệ sĩ trước cái đẹp. "Say chấp rượu" - một cách nói cường điệu nhưng rất chân thật, cho thấy cảnh đẹp đã làm say đắm lòng người hơn bất cứ thứ men say nào. Và trong cái say ấy, thơ ùa về, chất đầy trong "túi lưng phong nguyệt", làm cho nó trở nên nặng trĩu. Tình yêu thiên nhiên đã khơi nguồn cho thi hứng, và thi hứng lại càng làm cho tình yêu ấy thêm sâu đậm.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Hai câu kết như một lời khẳng định cho sự gắn bó mật thiết giữa cảnh và tình. "Cảnh cũng ưa người" - đó là triết lý về sự giao hòa giữa con người và vũ trụ. Khi con người yêu cảnh, cảnh cũng mở lòng đón nhận con người. Và hệ quả là cái "ngẩn ngơ" - một trạng thái tình cảm đặc biệt, vừa say sưa, vừa bâng khuâng, vừa xao xuyến. Câu thơ như một nốt nhạc cuối cùng, vang lên và để lại dư âm trong lòng người đọc.
Cảnh thu và tình thu trong bài thơ hòa quyện vào nhau, không thể tách rời. Cảnh nhờ có tình mà trở nên sống động, có hồn. Tình nhờ có cảnh mà trở nên sâu sắc, thấm thía. Đó chính là thành công lớn nhất của Bà Huyện Thanh Quân trong bài thơ này. Bà không chỉ tả cảnh mà còn gửi vào đó cả tấm lòng của mình, một tấm lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương tha thiết.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 7
Trong thơ ca trung đại, cái tôi cá nhân thường bị hòa tan vào cái ta chung, nhưng ở Bà Huyện Thanh Quan, cái tôi trữ tình đã bắt đầu có những biểu hiện rõ nét. Bài thơ "Tức cảnh chiều thu" là một minh chứng cho sự hiện diện của cái tôi ấy - một cái tôi tinh tế, nhạy cảm và giàu rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Cái tôi trữ tình xuất hiện ngay từ những câu thơ đầu tiên qua cách cảm nhận và cách thể hiện cảm xúc. "Thánh thót" không chỉ là tiếng mưa rơi, mà là tiếng mưa được cảm nhận qua một tâm hồn nhạy cảm. Nếu không có cái tôi lắng nghe, tiếng mưa chỉ là âm thanh vô hồn. Và lời khen "Khen ai khéo vẽ" là một sự bộc lộ trực tiếp cảm xúc của cái tôi trước cảnh đẹp. Cái tôi ấy không giấu mình, không ẩn mình sau những hình ảnh ước lệ, mà dám bày tỏ trực tiếp sự ngưỡng mộ, thán phục trước tạo hóa.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Đến hai câu thực, cái tôi trữ tình lùi lại để nhường chỗ cho cảnh vật. Nhưng sự lựa chọn cảnh vật nào để miêu tả, miêu tả bằng cách nào, từ ngữ nào, tất cả đều thể hiện cái nhìn chủ quan của cái tôi. Cây cổ thụ với tán "tròn xoe", dòng sông với màu "trắng xoá" - đó là những hình ảnh được chọn lọc từ vô vàn hình ảnh khác, phản ánh gu thẩm mỹ và tâm hồn của tác giả. Một tâm hồn ưa thích sự hài hòa, cân đối, thích vẻ đẹp giản dị mà thanh cao.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Đến đây, cái tôi trữ tình hiện ra trực tiếp qua những hình ảnh đầy lãng mạn. "Bầu dốc giang sơn" và "túi lưng phong nguyệt" là những hình ảnh ước lệ để chỉ con người thi sĩ. Nhưng điều đáng nói là trạng thái "say" và sự "nặng" của túi thơ. Cái say và cái nặng ấy chỉ có thể là của một cái tôi đang thăng hoa, đang rung động tột cùng trước cái đẹp. Đây không còn là cái tôi chung chung, đại diện cho tầng lớp nào, mà là cái tôi cá nhân rất cụ thể, rất riêng tư.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Câu thơ cuối cùng là tiếng nói của cái tôi đã trải nghiệm, đã cảm nhận và rút ra một chân lý. "Cho hay" như một sự phát hiện, một sự ngộ ra. "Nhỉ" là một từ tình thái rất đỗi thân mật, thể hiện giọng điệu tâm tình của cái tôi. Và câu hỏi tu từ "ai mà chẳng ngẩn ngơ" vừa là sự khẳng định, vừa là lời mời gọi đồng cảm. Cái tôi trữ tình không cô đơn, nó muốn chia sẻ, muốn tìm kiếm những tâm hồn đồng điệu.
Như vậy, xuyên suốt bài thơ, cái tôi trữ tình hiện diện một cách rõ ràng và nhất quán. Đó là cái tôi của một người nghệ sĩ tài hoa, giàu cảm xúc, dám sống thật với những rung động của mình. Sự xuất hiện của cái tôi này là một đóng góp quan trọng của Bà Huyện Thanh Quan cho sự phát triển của thơ ca trung đại Việt Nam, mở đường cho những tiếng nói cá nhân sau này.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 8
Để hiểu sâu sắc hơn về bài thơ "Tức cảnh chiều thu", chúng ta hãy đặt nó trong tương quan với những sáng tác khác của Bà Huyện Thanh Quân, đặc biệt là "Qua Đèo Ngang" và "Thăng Long thành hoài cổ". Sự so sánh này sẽ giúp chúng ta thấy được những điểm chung trong phong cách và những nét riêng của từng tác phẩm.
"Qua Đèo Ngang" mở ra một không gian hoang sơ, heo hút: "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà". "Thăng Long thành hoài cổ" lại là không gian của hoài niệm: "Tạo hóa gây chi cuộc hí trường". Còn "Tức cảnh chiều thu" là không gian của sự tĩnh lặng, thanh bình: "Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa". Cả ba bài thơ đều có yếu tố "chiều" - thời điểm nhạy cảm của lòng người, nhưng mỗi bài lại gợi một tâm trạng khác nhau.
Nếu ở "Qua Đèo Ngang", thi nhân đứng trước thiên nhiên với tâm thế cô đơn, lẻ loi: "Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta". Ở "Thăng Long thành hoài cổ", bà đứng trước cảnh cũ người xưa với nỗi buồn hoài cổ: "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương". Còn ở "Tức cảnh chiều thu", bà đứng trước thiên nhiên với tâm thế say sưa, thăng hoa: "Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu". Có thể thấy, đây là bài thơ hiếm hoi bà viết với tâm trạng tích cực, lạc quan như vậy.
Về bút pháp, cả ba bài đều sử dụng thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú một cách thuần thục. Nhưng nếu "Qua Đèo Ngang" nổi bật với nghệ thuật lấy động tả tĩnh (tiếng chim quốc, chim đa đa), "Thăng Long thành hoài cổ" đặc sắc với những hình ảnh ước lệ giàu sức gợi (cỏ nội, hoa khoe), thì "Tức cảnh chiều thu" lại ấn tượng với bút pháp tạo hình và sử dụng màu sắc. "Xanh om cổ thụ" và "trắng xoá tràng giang" tạo nên một bức họa thu vừa hài hòa vừa sống động.
Về ngôn ngữ, cả ba bài đều thể hiện phong cách trang nhã, cổ kính với nhiều từ Hán Việt. Nhưng "Tức cảnh chiều thu" có phần gần gũi, dễ hiểu hơn với những từ như "tròn xoe", "ngẩn ngơ". Đặc biệt, câu thơ "Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ" mang giọng điệu vui tươi, khác hẳn với giọng buồn thương, hoài cảm trong hai bài kia.
Về kết cấu, cả ba bài đều tuân thủ nghiêm ngặt bố cục đề - thực - luận - kết. Nhưng phần luận và kết của "Tức cảnh chiều thu" có phần nhẹ nhàng, lạc quan hơn. Nếu "Qua Đèo Ngang" kết bằng nỗi cô đơn không ai sẻ chia, "Thăng Long thành hoài cổ" kết bằng câu hỏi tu từ đầy day dứt, thì "Tức cảnh chiều thu" kết bằng sự "ngẩn ngơ" đầy lãng mạn.
Như vậy, "Tức cảnh chiều thu" tuy vẫn mang đậm phong cách Bà Huyện Thanh Quan, nhưng lại có những nét riêng độc đáo. Nó cho thấy một khía cạnh khác của nữ sĩ: không chỉ buồn thương, hoài cảm mà còn rất yêu đời, yêu cuộc sống. Chính sự đa dạng này đã làm nên sức hấp dẫn của thơ bà trong lòng người đọc bao thế hệ.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 9
Bài thơ "Tức cảnh chiều thu" của Bà Huyện Thanh Quan không chỉ đẹp về mặt nghệ thuật mà còn chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Đó là tình yêu thiên nhiên, là khát vọng sống hòa hợp với tạo vật, và hơn cả là triết lý về mối quan hệ giữa con người với vẻ đẹp của cuộc đời.
"Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ."
Giá trị nhân văn trước hết thể hiện ở khả năng rung động trước cái đẹp bình dị. "Cảnh tiêu sơ" - cảnh đơn sơ, mộc mạc - nhưng lại được tác giả trân trọng, ngợi ca. Điều đó cho thấy một quan niệm thẩm mỹ lành mạnh, tích cực: cái đẹp không nhất thiết phải lộng lẫy, xa hoa; cái đẹp có thể nằm ngay trong những điều giản dị nhất. Và con người có khả năng cảm nhận, rung động trước cái đẹp ấy - đó là một phẩm chất cao quý của tâm hồn.
"Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ."
Hai câu thơ này thể hiện khát vọng sống hòa hợp với thiên nhiên. Cây cổ thụ với tán lá tròn xoe, dòng sông với mặt nước phẳng lặng - tất cả tạo nên một không gian thanh bình, yên ả. Con người trong không gian ấy không phải là kẻ chinh phục hay thống trị, mà là một phần của thiên nhiên, đang chiêm ngưỡng và thưởng thức vẻ đẹp của nó. Đó là một lối sống văn minh, nhân văn, biết trân trọng những gì tạo hóa ban tặng.
"Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ."
Giá trị nhân văn còn thể hiện ở tinh thần lạc quan, yêu đời. Giữa một thời đại nhiều biến động, Bà Huyện Thanh Quan vẫn tìm thấy niềm vui, sự say sưa trong cảnh đẹp quê hương. "Say chấp rượu" không phải là sự trốn tránh thực tại mà là sự thăng hoa của tâm hồn trước cái đẹp. Và "thơ" - sản phẩm tinh thần của con người - được coi là thứ quý giá, nặng hơn cả của cải vật chất. Điều đó đề cao giá trị tinh thần, khẳng định đời sống nội tâm phong phú mới là hạnh phúc đích thực.
"Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ."
Đỉnh cao của giá trị nhân văn là triết lý về sự giao cảm giữa con người và vũ trụ. "Cảnh cũng ưa người" - đó là một niềm tin đẹp: vạn vật đều có linh hồn, đều có thể cảm nhận và đáp lại tình cảm của con người. Niềm tin ấy khiến con người gắn bó hơn với thế giới xung quanh, sống có trách nhiệm hơn với thiên nhiên. Và cái "ngẩn ngơ" khi thấy cảnh đẹp - đó là phản ứng tự nhiên, chân thật nhất của con người trước cái đẹp. Nó chứng tỏ rằng con người sinh ra đã có khả năng yêu cái đẹp, và cái đẹp có sức mạnh nâng cao tâm hồn con người.
Như vậy, qua bài thơ ngắn gọn, Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm những thông điệp nhân văn sâu sắc. Bà dạy chúng ta biết yêu cái đẹp, biết sống hòa hợp với thiên nhiên, biết trân trọng những giá trị tinh thần và tin vào sự giao cảm kỳ diệu giữa con người với vũ trụ. Đó là những bài học vượt thời gian, vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Tức cảnh chiều thu - mẫu 10
Mùa thu trong văn chương thường gắn liền với nỗi buồn, và với Bà Huyện Thanh Quan, cái buồn ấy còn nhân lên gấp bội khi nó hòa quyện cùng nỗi lòng "thương nhớ quá khứ". Bài thơ “Tức cảnh chiều thu” là một bức tranh thủy mặc được vẽ bằng ngôn từ, nơi thiên nhiên và con người soi bóng vào nhau trong sự cô độc tuyệt đối.
Mở đầu bài thơ, tác giả không dùng hình ảnh mà dùng âm thanh để đánh thức không gian:
"Thánh thót tiêu đưa quyện gió vàng,"
"Gà vừa eo óc gáy sang canh."
Tiếng tiêu "thánh thót" gợi lên sự thanh mảnh, cao vút nhưng lại buồn bã, len lỏi vào "gió vàng" (gió thu). Tiếng gà gáy "eo óc" – một từ láy rất đắt – gợi lên sự thưa thớt, vắng lặng của đêm khuya. Tác giả đang "thức" để cảm nhận bước đi của thời gian. Đêm càng tĩnh, âm thanh càng trở nên xa vắng và lòng người càng thêm trăn trở.
Từ âm thanh, tầm mắt của thi nhân chuyển sang những hình ảnh thực tại nhưng nhuốm màu tàn úa:
"Bóng tà hiu hắt bên thành cũ,"
"Tiếng trúc vi vu nhẹ gió mành."
Hình ảnh "thành cũ" và "bóng tà" là những biểu tượng đặc trưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan. "Thành cũ" gợi về một thời hoàng kim đã mất, nay chỉ còn là phế tích. Ánh nắng chiều "hiu hắt" càng làm tăng thêm vẻ hoang vu, cô tịch. Tiếng trúc vi vu bên mành thưa không làm không gian động hơn mà chỉ càng nhấn mạnh cái tĩnh lặng, mong manh của cảnh vật.
Đến đây, nỗi buồn không còn ẩn giấu sau cảnh vật nữa mà trực tiếp trào dâng qua các phép nhân hóa:
"Gió đưa dế khóc, sương vây thỏ,"
"Cảnh cũ, người xưa, hận chửa đành."
Tiếng dế kêu trong đêm được bà cảm nhận là "tiếng khóc". Hình ảnh "sương vây thỏ" (thỏ ngọc - mặt trăng) gợi sự mờ ảo, lạnh lẽo. Câu thơ tiếp theo chính là tâm điểm của bài: "Cảnh cũ, người xưa, hận chửa đành". Chữ "hận" ở đây là nỗi nuối tiếc, là niềm đau đáu về những giá trị xưa cũ đã tan biến theo dòng chảy của thời gian mà tâm hồn nữ sĩ vẫn chưa thể đành lòng buông bỏ.
Khép lại bài thơ là một hình ảnh đầy ám ảnh về thân phận con người:
"Một mảnh tình riêng ta với ta,"
"Đèn khuya hiu hắt bóng lồng thành."
Cụm từ "ta với ta" khẳng định sự đơn độc đến cùng cực. Giữa cái bao la của đất trời, giữa cái vĩnh hằng của lịch sử (thành quách), chỉ có một mình tác giả đối diện với "mảnh tình riêng" của chính mình. Hình ảnh ngọn đèn khuya soi bóng lên vách thành tạo nên một sự tương phản gay gắt: cái nhỏ bé của kiếp người đối chọi với cái mênh mông, vô tình của thời gian.
Bài thơ "Tức cảnh chiều thu" là một kiệt tác về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Với ngôn ngữ trang nhã, điêu luyện và bút pháp cổ điển, Bà Huyện Thanh Quan đã vẽ nên một bức tranh mùa thu đẹp nhưng buồn đến nao lòng. Bộc lộ một tâm hồn trung quân ái quốc, luôn nặng lòng với những giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc. Khẳng định một cái tôi cô đơn nhưng đầy kiêu hãnh giữa dòng đời biến động.
Qua bài thơ, chúng ta không chỉ thấy cảnh thu mà còn thấy cả một "tâm thu" – một trái tim nhạy cảm, giàu trắc ẩn của một nữ sĩ tài hoa bậc nhất trong nền văn học cổ điển Việt Nam..
Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Cảnh khuya
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Rằm tháng giêng
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Ngắm trăng
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Tức cảnh Pác Bó
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Lễ xướng danh khoa
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thu điếu
Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:
- Mục lục Văn phân tích, phát biểu cảm nghĩ, cảm nhận
- Mục lục Văn biểu cảm
- Mục lục Văn thuyết minh
- Mục lục Văn nghị luận
Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.
Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8 và Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.
Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.
- Giải Tiếng Anh 8 Global Success
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Smart World
- Giải sgk Tiếng Anh 8 Friends plus
- Lớp 8 - Kết nối tri thức
- Soạn văn 8 (hay nhất) - KNTT
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) KNTT
- Giải sgk Toán 8 - KNTT
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - KNTT
- Giải sgk Lịch Sử 8 - KNTT
- Giải sgk Địa Lí 8 - KNTT
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - KNTT
- Giải sgk Tin học 8 - KNTT
- Giải sgk Công nghệ 8 - KNTT
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - KNTT
- Giải sgk Âm nhạc 8 - KNTT
- Lớp 8 - Chân trời sáng tạo
- Soạn văn 8 (hay nhất) - CTST
- Soạn văn 8 (ngắn nhất) - CTST
- Giải sgk Toán 8 - CTST
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - CTST
- Giải sgk Lịch Sử 8 - CTST
- Giải sgk Địa Lí 8 - CTST
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - CTST
- Giải sgk Tin học 8 - CTST
- Giải sgk Công nghệ 8 - CTST
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - CTST
- Giải sgk Âm nhạc 8 - CTST
- Lớp 8 - Cánh diều
- Soạn văn 8 Cánh diều (hay nhất)
- Soạn văn 8 Cánh diều (ngắn nhất)
- Giải sgk Toán 8 - Cánh diều
- Giải sgk Khoa học tự nhiên 8 - Cánh diều
- Giải sgk Lịch Sử 8 - Cánh diều
- Giải sgk Địa Lí 8 - Cánh diều
- Giải sgk Giáo dục công dân 8 - Cánh diều
- Giải sgk Tin học 8 - Cánh diều
- Giải sgk Công nghệ 8 - Cánh diều
- Giải sgk Hoạt động trải nghiệm 8 - Cánh diều
- Giải sgk Âm nhạc 8 - Cánh diều


Giải bài tập SGK & SBT
Tài liệu giáo viên
Sách
Khóa học
Thi online
Hỏi đáp

