5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh (điểm cao)

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật): Thu Vịnh (Nguyễn Khuyến) điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

5+ Phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh

a. Mở bài:

- Nguyễn Khuyến có nhiều bài thơ viết về mùa thu. Chùm thơ thu nổi tiếng đã góp phần tôn vinh tên tuổi tác giả lên vị trí hàng đầu trong các nhà thơ viết về quê hương làng cảnh Việt Nam.

- Trong chùm thơ đó thì bài Thu vịnh tiêu biểu nhất, in đậm phong cách nghệ thuật của Nguyễn Khuyến.

b, Thân bài:

- Hai câu đề:

"Trời thu xanh ngắt mấy từng cao,

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu."

+ Mở đầu là hình ảnh bầu trời mùa thu xanh ngắt và cao vời vợi. Xanh ngắt là xanh thăm thẳm một màu; mấy từng cao là tưởng như bầu trời có nhiều lớp, nhiều tầng.

+ Nghệ thuật lấy điểm tả diện, lấy động tả tĩnh trong câu thứ hai thường thấy trong thơ cổ điển, được Nguyễn Khuyến vận dụng rất tự nhiên và phù hợp. Cần trúc thanh mảnh khẽ đong đưa trước ngọn gió hắt hiu (gió nhẹ) càng tôn thêm vẻ mênh mông của bầu trời mùa thu.

Quảng cáo

- Hai câu thực:

"Nước biếc trông như tầng khói phủ,

Song thưa để mặc bóng trăng vào."

+ Nước biếc là màu đặc trưng của nước mùa thu (trong xanh). Lúc sáng sớm và chiều tối, mặt ao hồ thường có sương, trông như tầng khói phủ. Cảnh vật quen thuộc, bình dị trở nên huyền ảo.

+ Hình ảnh Song thưa để mặc bóng trăng vào có sự tương phản giữa cái hữu hạn (song thưa) và cái vô hạn (bóng trăng), do vậy mà tứ thơ rộng mở, mênh mông ý nghĩa.

+ Cảnh vật trong bốn câu thơ trên được nhà thơ miêu tả ở những thời điểm khác nhau trong ngày, nhưng mối dây liên hệ giữa chúng lại là sự nhất quán trong cảm xúc của tác giả.

- Hai câu luận:

"Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,

Một tiếng trên không ngỗng nước nào."

Quảng cáo

+ Tâm trạng hoài cổ chi phối cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ. Hoa năm nay mà nghĩ là hoa năm ngoái. Tiếng ngỗng trời kêu quen thuộc mỗi độ thu về khiến nhà thơ giật mình, băn khoăn tự hỏi ngỗng nước nào?

+ Âm điệu câu thơ 4/1/2 như chứa chất bâng khuâng, suy tư. Nhà thơ quan sát cảnh vật với một nỗi niềm u uất.

- Hai câu kết:

"Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào."

+ Thi hứng dạt dào thôi thúc nhà thơ cầm bút, nhưng phần lý trí bừng thức khiến nhà thơ chợt thấy thẹn với ông Đào. (Tức Đào Tiềm, nhà thơ nổi tiếng đời Đường bên Trung Quốc).

+ Nguyễn Khuyến thẹn về tài thơ thua kém hay thẹn vì không có được khí tiết cứng cỏi như ông Đào ? Nói vậy nhưng Nguyễn Khuyến vẫn sáng tác nên bài Thu vịnh để đời.

+ Câu thơ cuối bỏ lửng khơi gợi suy ngẫm của người đọc.

c. Kết bài:

Quảng cáo

- Thu vịnh là một bài thơ hay, góp phần khẳng định tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước trong thơ Nguyễn Khuyến

- Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt tới mức điêu luyện, khó ai sánh kịp.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh - mẫu 1

Nguyễn Khuyến được tôn vinh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, và chùm thơ thu của ông gồm "Thu vịnh", "Thu điếu", "Thu ẩm" được coi là đỉnh cao của thơ ca viết về mùa thu. Trong đó, "Thu vịnh" được nhiều người đánh giá là bài thơ vịnh mùa thu hay nhất, thể hiện một cách trọn vẹn nhất cái thần thái, cái hồn của mùa thu Bắc Bộ. Bài thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên tuyệt tác mà còn là tiếng lòng của một nhà nho thanh cao, yêu nước nhưng bất lực trước thời cuộc, đành lui về ở ẩn, gửi tâm hồn vào cảnh sắc quê hương.

Mở đầu bài thơ là một câu thơ rất đặc biệt, vừa là câu hỏi vừa là lời tự vấn: "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao". Màu xanh "ngắt" là màu xanh đặc trưng của bầu trời thu trong vắt, không một gợn mây, cao vời vợi. Đó là một màu xanh thuần khiết, tinh khôi, khác với màu xanh nhạt của mùa xuân hay màu xanh đậm của mùa hè. "Mấy từng cao" gợi lên cái cao vời vợi, mênh mông, vô tận của không gian. Câu thơ mở ra một không gian nghệ thuật bao la, rộng lớn, làm nền cho những hình ảnh tiếp theo.

Từ cái nhìn bao quát bầu trời, thi nhân đưa mắt nhìn xuống mặt đất với những hình ảnh rất đỗi quen thuộc: "Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu". Hình ảnh "cần trúc" (thân tre) mảnh mai, yếu ớt, khẽ đung đưa trong làn gió thu nhẹ. Từ láy "lơ phơ" gợi tả sự thưa thớt, mỏng manh, nhẹ nhàng của những tàu lá tre trước gió. "Gió hắt hiu" là thứ gió heo may của mùa thu, se se lạnh, gợi cảm giác bâng khuâng, man mác. Chỉ với một câu thơ, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một không gian thu vừa hữu hình (cần trúc) vừa vô hình (gió), vừa có đường nét vừa có cảm xúc.

Bức tranh thu tiếp tục được tô điểm bằng những hình ảnh đầy thi vị: "Hoa lau trắng xóa từng đôi ngọn / Nước biếc trong xanh mấy lớp mây". "Hoa lau" là loài hoa đặc trưng của mùa thu, thường nở trắng các bờ sông, bãi đất hoang. "Trắng xóa" là một màu trắng tinh khiết, trải dài bất tận. "Từng đôi ngọn" gợi lên những bông lau mọc thành từng cặp, nhẹ nhàng đung đưa trong gió. Đối diện với sắc trắng của hoa lau là màu "nước biếc trong xanh" - màu xanh lam biếc của dòng sông mùa thu, trong vắt đến nỗi có thể thấu tận đáy. Hình ảnh "mấy lớp mây" phản chiếu dưới mặt nước tạo nên một không gian vừa thực vừa ảo, như có như không, khiến lòng người cũng bâng khuâng theo.

Hai câu thơ tiếp theo vẽ nên một không gian thu trên cao: "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo". Đây là một câu thơ đặc sắc, thể hiện rõ bút pháp của Nguyễn Khuyến. "Ngõ trúc" là con đường làng được bao bọc bởi hai hàng tre, một hình ảnh quen thuộc của nông thôn Bắc Bộ. "Quanh co" gợi lên sự uốn lượn, không thẳng tắp. "Khách vắng teo" là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ. "Vắng teo" diễn tả sự vắng vẻ đến mức tuyệt đối, không một bóng người. Câu thơ gợi lên một không gian tĩnh lặng, vắng lặng đến nao lòng. Giữa con ngõ trúc quanh co ấy, thi nhân như đang một mình bước đi, hoặc một mình ngồi ngắm cảnh, đối diện với thiên nhiên và với chính mình.

Trước khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp ấy, tâm hồn thi nhân trỗi dậy những cảm xúc: "Người lên ngựa kẻ chia bầu / Rượu ngon không có bạn hiền không mấy". Nhà thơ nhớ về những cuộc chia ly, những người bạn tri kỷ đã xa. "Lên ngựa" là hình ảnh của sự ra đi, của những cuộc chia tay. "Chia bầu" là chia nhau bầu rượu, là cùng nhau chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống. Nay bạn bè đã tản mác bốn phương, rượu ngon cũng không có người cùng uống. Câu thơ thể hiện nỗi cô đơn, trống vắng của thi nhân giữa cảnh thu đẹp nhưng vắng bạn.

Và cuối cùng, nhà thơ thốt lên một lời tự nhận xét đầy hóm hỉnh mà cũng rất chua xót: "Lạnh lẽo ơi người khách văn chương". Tự nhận mình là "người khách văn chương" - một kẻ chỉ biết đến thơ phú, một con người đa cảm, nhạy cảm trước cảnh vật. Và người khách văn chương ấy đang cảm thấy "lạnh lẽo" trong tâm hồn. Cái lạnh ấy không chỉ là cái lạnh của tiết trời mùa thu mà còn là cái lạnh của sự cô đơn, của nỗi buồn nhân thế, của một tâm hồn không tìm được tiếng nói tri âm.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật một cách nhuần nhuyễn. Ngôn ngữ thơ giản dị, tinh tế, giàu hình ảnh và sức gợi. Các từ láy "xanh ngắt", "lơ phơ", "hắt hiu", "trắng xóa", "quanh co", "vắng teo" được sử dụng tài tình, góp phần khắc họa thành công bức tranh thu. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến độ điêu luyện.

Tóm lại, "Thu vịnh" là một kiệt tác của thơ ca Việt Nam. Bài thơ không chỉ là bức tranh mùa thu tuyệt đẹp với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ mà còn là tiếng lòng của một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, nhạy cảm, mang trong mình nỗi cô đơn và tình yêu quê hương sâu sắc.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh - mẫu 2

Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam bởi khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc một cách tài tình, tinh tế. Ông đã đưa những hình ảnh, những từ ngữ quen thuộc của đời sống thôn dã vào thơ ca và nâng chúng lên thành những biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Bài thơ "Thu vịnh" là một minh chứng xuất sắc cho tài năng ấy. Từ những câu chữ giản dị, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh mùa thu tuyệt đẹp, đồng thời gửi gắm những rung động tinh tế của tâm hồn mình.

Trước hết, người đọc ấn tượng với cách sử dụng từ ngữ vô cùng chính xác và giàu sức gợi của tác giả. Câu thơ mở đầu "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao" đã cho thấy điều đó. Từ "xanh ngắt" không chỉ đơn thuần là màu xanh, mà là một màu xanh đặc trưng của mùa thu: xanh trong, xanh thuần khiết, xanh đến tận cùng, không một gợn mây. Nó khác với "xanh thẳm" của rừng già, khác với "xanh non" của mùa xuân. Từ "ngắt" còn gợi một cảm giác gần như có thể cầm nắm được, một thứ màu xanh đậm đặc, tràn đầy sức sống của đất trời.

Câu thơ thứ hai: "Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu". Từ láy "lơ phơ" là một sáng tạo độc đáo. Nó gợi tả sự thưa thớt, nhẹ nhàng, lả lướt của những chiếc lá tre trước gió. Không phải là "la đà", không phải là "rung rinh", mà là "lơ phơ" - một từ nghe rất mới, rất lạ, nhưng lại vô cùng chính xác để diễn tả những chuyển động rất nhẹ, rất khẽ của thiên nhiên trong buổi thu. Cùng với đó, "gió hắt hiu" là một kết hợp tài tình, gợi lên cái se lạnh, heo may, man mác buồn của gió mùa thu.

Tiếp đến là hai câu thơ tả cảnh với bút pháp chấm phá đặc trưng của thơ ca phương Đông: "Hoa lau trắng xóa từng đôi ngọn / Nước biếc trong xanh mấy lớp mây". Nhà thơ không tả tỉ mỉ, chi tiết, mà chỉ chọn ra hai hình ảnh tiêu biểu nhất: hoa lau và dòng nước. Màu trắng của hoa lau và màu biếc của nước hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh có chiều sâu không gian. Hình ảnh "từng đôi ngọn" gợi lên những bông lau mọc sát nhau, nhẹ nhàng đung đưa. Hình ảnh "mấy lớp mây" phản chiếu dưới mặt nước cho thấy mặt nước trong đến mức có thể nhìn thấu bầu trời. Cả hai câu thơ đều gợi lên vẻ đẹp thanh khiết, yên bình của làng quê.

Câu thơ "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" là một đỉnh cao trong nghệ thuật sử dụng từ ngữ của Nguyễn Khuyến. Từ "vắng teo" là một từ được nhà thơ sáng tạo ra, chưa thấy xuất hiện trong bất kỳ tác phẩm nào trước đó. Nó diễn tả sự vắng vẻ đến mức tuyệt đối, không chỉ vắng người, vắng tiếng động, mà còn vắng cả sự sống. Trong không gian ấy, con người chỉ còn biết đối diện với thiên nhiên và với chính mình. Cả con ngõ trúc quanh co như thu mình lại, lắng sâu vào một nỗi niềm tĩnh lặng.

Sau khi vẽ nên bức tranh thu tuyệt đẹp, nhà thơ chuyển sang bày tỏ tâm trạng: "Người lên ngựa kẻ chia bầu / Rượu ngon không có bạn hiền không mấy". "Lên ngựa" và "chia bầu" là những hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho sự chia ly và tình bạn. Câu thơ vừa là lời nhắc nhớ về những cuộc chia tay trong quá khứ, vừa là lời than thở về hiện tại khi bạn bè đã tản mác bốn phương, không còn ai để cùng nhau uống rượu, cùng nhau chia sẻ những vui buồn. Nỗi cô đơn càng trở nên sâu sắc hơn khi đặt giữa khung cảnh thiên nhiên đẹp nhưng vắng lặng.

Câu kết "Lạnh lẽo ơi người khách văn chương" là một tiếng thở dài, một lời tự trào đầy chua xót. "Người khách văn chương" là cách nhà thơ tự gọi mình - một kẻ chỉ biết đến thơ văn, một người đa cảm, dễ rung động trước cảnh vật. Và người khách ấy đang cảm thấy "lạnh lẽo". Cái lạnh ấy là cái lạnh của tiết trời cuối thu, là cái lạnh của sự cô đơn khi không có bạn tri âm, và cũng có thể là cái lạnh của một tấm lòng trước thời thế đổi thay.

Với thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, Nguyễn Khuyến đã thể hiện một phong cách nghệ thuật độc đáo. Ngôn ngữ thơ giản dị mà tinh tế, giàu sức gợi. Các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, đối lập được sử dụng một cách tự nhiên, không lộ dấu vết. Tất cả tạo nên một bức tranh thu vừa đẹp vừa buồn, vừa thực vừa mộng, xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất viết về mùa thu.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh - mẫu 3

Nguyễn Khuyến là một nhà nho tài năng, từng đỗ đầu ba kỳ thi, nhưng ông lại sống vào giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc. Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, triều đình nhu nhược, ông đã lui về ở ẩn. "Thu vịnh" không chỉ là bức tranh thiên nhiên mùa thu mà còn là tâm sự thầm kín, là nỗi lòng của một nhà nho trước thời cuộc, với tâm trạng cô đơn, lẻ loi, khao khát tri âm.

Bài thơ mở ra với một không gian bao la, rộng lớn: "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao". Bầu trời cao vời vợi, xanh ngắt một màu. Trong không gian ấy, con người trở nên nhỏ bé, cô đơn. Hình ảnh "cần trúc lơ phơ gió hắt hiu" càng làm tăng thêm cảm giác mỏng manh, yếu ớt. Thân trúc mảnh mai trước gió như chính thân phận nhà nho trước dòng đời đầy sóng gió. "Gió hắt hiu" không chỉ là gió thu mà còn là hơi lạnh của thời thế, của những đổi thay đang đến gần.

Bức tranh thu tiếp tục với hình ảnh "hoa lau trắng xóa" và "nước biếc trong xanh". Hoa lau thường nở vào cuối thu, báo hiệu sự tàn phai, kết thúc của một chu kỳ. Màu trắng xóa của hoa lau gợi lên một nỗi buồn man mác, một sự hoang vắng. Dòng nước trong xanh phản chiếu mây trời cũng gợi lên vẻ đẹp nhưng là vẻ đẹp xa vời, không thể chạm tới, như những hoài bão, những lý tưởng của nhà nho nay đã trở nên xa vời.

Đặc biệt, câu thơ "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" là một hình ảnh đầy ám ảnh. "Ngõ trúc" vốn là hình ảnh thân thuộc của làng quê, nơi gắn với những bước chân, những cuộc gặp gỡ. Thế mà nay, con ngõ ấy lại "vắng teo", không một bóng người. Nó tượng trưng cho sự cô đơn tuyệt đối của nhà thơ. Giữa làng quê yên bình, giữa thiên nhiên tươi đẹp, nhưng tâm hồn ông lại trống trải, lẻ loi. Có lẽ, nỗi cô đơn ấy không chỉ đơn thuần là sự thiếu vắng bạn bè, mà còn là sự cô đơn của một người không tìm được tiếng nói chung với thời cuộc, của một kẻ đã chọn con đường ẩn dật nhưng lòng vẫn canh cánh nỗi niềm với đất nước.

Hai câu thơ tiếp theo trực tiếp bộc lộ tâm trạng ấy: "Người lên ngựa kẻ chia bầu / Rượu ngon không có bạn hiền không mấy". "Lên ngựa" là ra đi, là từ biệt. "Chia bầu" là cùng nhau chia sẻ bầu rượu, chia sẻ tâm sự. Nhà thơ nhớ về những người bạn tri kỷ nay đã mỗi người một ngả. Có thể họ đã ra đi tìm đường cứu nước, có thể họ đã từ quan như ông, hoặc có thể họ đã không còn nữa. Trong hoàn cảnh hiện tại, rượu ngon cũng không có bạn để cùng uống, nỗi niềm cũng không có ai để cùng chia sẻ. Câu thơ thể hiện một nỗi khao khát tri âm da diết, một nỗi buồn về sự cô độc giữa chốn nhân gian.

Cuối cùng, nhà thơ thốt lên một lời tự nhận xét đầy xót xa: "Lạnh lẽo ơi người khách văn chương". Tự gọi mình là "người khách văn chương", Nguyễn Khuyến như tự nhận rằng ông chỉ là một kẻ ngoài cuộc, một người chỉ biết đến thơ văn, không còn liên quan gì đến chính sự. Nhưng chính cái danh xưng ấy lại càng làm tăng thêm nỗi cô đơn. "Lạnh lẽo" là cảm giác bao trùm lên tất cả: lạnh vì tiết trời, lạnh vì sự vắng lặng, lạnh vì không có bạn, và lạnh vì một tấm lòng ưu ái mà không ai thấu hiểu. Câu thơ như một tiếng thở dài, một lời than thân trách phận rất nhẹ nhàng nhưng thấm thía.

Có thể thấy, tâm trạng trong "Thu vịnh" là tâm trạng của một người nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, nhưng cũng đầy u hoài trước thế sự. Đó là nỗi cô đơn của một trí thức lớn trong buổi giao thời, khi những giá trị cũ đang sụp đổ, những giá trị mới chưa hình thành. Ông yêu thiên nhiên, yêu quê hương, nhưng lại bất lực trước thời cuộc, đành mượn cảnh để gửi lòng. Và trong khung cảnh thu đẹp nhưng vắng lặng ấy, ông chỉ còn biết đối diện với nỗi cô đơn của chính mình.

"Thu vịnh" vì thế không chỉ là một bức tranh thu bằng ngôn từ, mà còn là một bức chân dung tự họa về tâm trạng của Nguyễn Khuyến. Đó là nỗi buồn trong sáng, thanh cao nhưng đầy uẩn khúc của một tâm hồn lớn. Và chính nỗi buồn ấy đã làm nên giá trị nhân văn sâu sắc cho bài thơ, khiến nó sống mãi với thời gian.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh - mẫu 4

Tả cảnh ngụ tình là một thủ pháp nghệ thuật quen thuộc trong thơ ca trung đại. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại có một cách thể hiện riêng, tạo nên phong cách độc đáo. Nguyễn Khuyến, với bài thơ "Thu vịnh", đã đưa thủ pháp này lên đến đỉnh cao của sự tinh tế và điêu luyện. Bức tranh mùa thu trong bài thơ không chỉ đẹp một cách hoàn mỹ mà mỗi cảnh vật đều mang một nỗi niềm, đều là sự hóa thân của tâm trạng thi nhân.

Ngay từ câu thơ mở đầu, cảnh và tình đã hòa quyện vào nhau: "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao". Bầu trời xanh ngắt, cao vời vợi gợi lên một không gian khoáng đạt, tự do. Nhưng cũng chính cái cao xanh ấy lại khiến con người cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi. Nhà thơ đứng dưới bầu trời bao la, ngước nhìn lên cao, trong lòng dâng lên một nỗi niềm khó tả. Đó vừa là sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tạo hóa, vừa là sự cảm nhận về sự nhỏ nhoi của kiếp người giữa đất trời.

Câu thơ thứ hai: "Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu". Cảnh vật hiện ra với những đường nét cụ thể: thân trúc mảnh mai, làn gió nhẹ. Nhưng ẩn sau hình ảnh ấy là tâm trạng của con người. "Cần trúc lơ phơ" gợi sự mỏng manh, yếu ớt, như chính thân phận của nhà nho trước thời cuộc. "Gió hắt hiu" không chỉ là gió thu mà còn là nỗi buồn man mác, cái lạnh cô đơn đang thấm dần vào tâm hồn. Cảnh vật như đang mang hồn người, hay chính người đang mượn cảnh để giãi bày tâm sự.

Hai câu thơ tiếp theo là những nét vẽ tài hoa về bức tranh thu: "Hoa lau trắng xóa từng đôi ngọn / Nước biếc trong xanh mấy lớp mây". Hoa lau trắng xóa, nước biếc trong xanh, đó là những mảng màu tinh khiết, thanh cao. Nhưng đằng sau vẻ đẹp ấy, ta có thể cảm nhận một nỗi buồn bâng khuâng. Hoa lau thường nở vào cuối thu, báo hiệu sự tàn phai. Màu trắng xóa của hoa lau gợi lên một không gian hoang vắng, tịch mịch. Nước biếc trong xanh phản chiếu mấy lớp mây tạo nên một vẻ đẹp hư ảo, xa vời, như những hoài niệm, những ước mơ xa xôi không thể chạm tới. Cảnh đẹp nhưng thoáng buồn, và nỗi buồn ấy đang thấm dần vào từng chi tiết.

Câu thơ "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" là một kiệt tác về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Cảnh được tả rất cụ thể: con ngõ trúc quanh co. Nhưng tình lại được gửi gắm một cách kín đáo qua hai chữ "vắng teo". Đây không chỉ là sự vắng vẻ của con đường, mà còn là sự vắng vẻ trong tâm hồn. Con ngõ ấy không có bóng người qua lại cũng như tâm hồn nhà thơ không có ai thấu hiểu, sẻ chia. Không gian ngõ trúc quanh co gợi lên những suy tư trăn trở, những nỗi niềm khép kín trong lòng. Cảnh và tình ở đây đã hòa làm một, không thể tách rời.

Đến hai câu thơ tiếp theo, tình cảm được bộc lộ trực tiếp hơn, nhưng vẫn gắn liền với cảnh ngộ: "Người lên ngựa kẻ chia bầu / Rượu ngon không có bạn hiền không mấy". Nhà thơ nhớ về những cuộc chia ly, những người bạn tri kỷ. Hình ảnh "lên ngựa" và "chia bầu" vừa là những hình ảnh thực của cuộc chia tay, vừa mang ý nghĩa tượng trưng cho sự tan tác, chia lìa. Trong khung cảnh thu đẹp nhưng vắng lặng, nỗi nhớ bạn, nỗi cô đơn càng trở nên da diết. Rượu ngon mà không có bạn cùng uống thì cũng trở nên vô vị. Tình cảm ấy càng làm cho bức tranh thu thêm phần thấm thía.

Câu kết "Lạnh lẽo ơi người khách văn chương" là sự tổng kết của cả bài thơ, là nơi cảnh và tình gặp nhau. "Lạnh lẽo" là cảm giác bao trùm lên cả không gian và thời gian, là cái lạnh của tiết trời, cái lạnh của cảnh vật vắng vẻ, và trên hết là cái lạnh của cõi lòng. "Người khách văn chương" là cách nhà thơ tự gọi mình, một con người chỉ biết đến văn chương, một tâm hồn nhạy cảm dễ rung động. Chính sự nhạy cảm ấy khiến ông thấu hiểu hết những cô đơn, lạnh lẽo của chính mình.

Như vậy, bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, Nguyễn Khuyến đã tạo nên một "Thu vịnh" vừa đẹp vừa buồn, vừa thực vừa ảo. Cảnh vật không chỉ là đối tượng miêu tả mà còn là phương tiện để nhà thơ giãi bày tâm sự. Mỗi hình ảnh trong bài thơ đều mang một nỗi niềm, đều góp phần thể hiện tâm trạng cô đơn, u hoài của một nhà nho trước thời cuộc. Đó là thành công lớn nhất về mặt nghệ thuật của bài thơ này.

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học: Thu Vịnh - mẫu 5

Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, và có lẽ không ở đâu tài năng ấy được thể hiện rõ nét hơn trong chùm thơ thu của ông. Trong đó, "Thu vịnh" nổi bật như một bức họa hoàn mỹ về làng quê Bắc Bộ trong những ngày thu. Với ngòi bút tài hoa và tấm lòng gắn bó sâu sắc với quê hương, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh quê vừa chân thực, vừa nên thơ, vừa mang đậm hồn quê Việt Nam.

Bức tranh ấy mở đầu với một không gian bao la, rộng lớn: "Trời thu xanh ngắt mấy từng cao". Đó là bầu trời mùa thu miền Bắc trong vắt, không một gợn mây, một màu xanh thăm thẳm. Cái cao vời vợi của bầu trời cũng là cái cao của những làng quê thanh bình, thoáng đãng, không bị che khuất bởi những tòa nhà cao tầng. Người dân quê có thể nhìn thấy bầu trời từ mọi nơi, và bầu trời thu đã trở thành một phần ký ức tuổi thơ của biết bao thế hệ.

Từ bầu trời, tầm mắt thi nhân hạ xuống thấp hơn, bắt gặp hình ảnh "cần trúc lơ phơ gió hắt hiu". Tre là hình ảnh quen thuộc nhất của làng quê Việt Nam. Lũy tre xanh bao bọc xóm làng, che chở cho những ngôi nhà tranh. Trong gió thu heo may, những ngọn tre "lơ phơ" đung đưa nhè nhẹ, tạo nên một khung cảnh bình yên, thơ mộng. "Gió hắt hiu" là thứ gió đặc trưng của mùa thu Bắc Bộ, không quá mạnh, không quá yếu, chỉ đủ để mang theo cái se lạnh và hương đồng cỏ nội.

Xa hơn một chút là hình ảnh "hoa lau trắng xóa từng đôi ngọn". Lau là loài cây mọc hoang dại ở những bãi bồi, ven sông, ven đường làng. Vào mùa thu, hoa lau nở trắng xóa cả một vùng, tạo nên một vẻ đẹp hoang sơ, mộc mạc nhưng đầy thi vị. "Từng đôi ngọn" gợi lên những bông lau mọc sát nhau, tạo thành những thảm hoa trắng muốt, nhẹ nhàng đung đưa trước gió. Đó là một hình ảnh rất đặc trưng của vùng quê Bắc Bộ mà không nơi nào có được.

Bên cạnh sắc trắng của hoa lau là màu "nước biếc trong xanh" của dòng sông, ao làng. Nước mùa thu trong vắt, có thể nhìn thấy tận đáy. Màu xanh biếc ấy gợi lên sự thanh khiết, yên lành. Hình ảnh "mấy lớp mây" phản chiếu dưới mặt nước cho thấy sự hòa quyện giữa trời và nước, tạo nên một không gian rộng lớn, bất tận. Người dân quê vẫn thường ngồi bên ao làng, nhìn mây trời lững lờ trôi, cảm nhận sự bình yên của cuộc sống.

Và cuối cùng, một hình ảnh không thể thiếu trong bức tranh làng quê là "ngõ trúc quanh co". Những con ngõ nhỏ được bao bọc bởi hai hàng tre xanh, uốn lượn quanh co nối liền các xóm thôn. Đó là nơi trẻ con nô đùa, người lớn qua lại, là chứng nhân của biết bao câu chuyện làng quê. Nhưng trong thơ Nguyễn Khuyến, con ngõ ấy lại "vắng teo", không một bóng người. Sự vắng vẻ ấy càng làm tăng thêm vẻ yên bình, tĩnh lặng của làng quê trong buổi chiều thu.

Như vậy, chỉ với vài nét chấm phá, Nguyễn Khuyến đã vẽ nên một bức tranh làng quê Bắc Bộ hoàn chỉnh với đầy đủ các thành phần: bầu trời, cây tre, hoa lau, dòng nước, con ngõ. Đó là một không gian vừa cụ thể vừa khái quát, vừa thực vừa mộng, vừa bình dị vừa thi vị. Những hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm khảm mỗi người dân Việt Nam, trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của quê hương, xứ sở.

Nhưng điều làm nên sự đặc biệt của bức tranh quê trong "Thu vịnh" không chỉ là sự hiện diện của những hình ảnh ấy, mà còn là cái hồn, cái thần thái của chúng. Mỗi hình ảnh đều được chọn lọc và đặt trong một cảm xúc, một tâm trạng. Màu xanh ngắt của trời, màu trắng xóa của lau, màu xanh biếc của nước, sự lơ phơ của cần trúc, sự quanh co của ngõ trúc, tất cả hòa quyện tạo nên một bản giao hưởng bằng màu sắc và đường nét, vẽ nên một bức tranh thu có hồn, có sức sống.

Tình yêu quê hương của Nguyễn Khuyến thể hiện qua từng câu chữ. Ông yêu từng ngọn tre, bông lau, con ngõ nhỏ. Ông hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của làng quê. Và ông đã dùng tài năng của mình để nâng những vẻ đẹp ấy lên thành nghệ thuật. Nhờ đó, người đọc hôm nay, dù chưa một lần đặt chân đến làng quê Bắc Bộ xưa, vẫn có thể hình dung và cảm nhận được vẻ đẹp thanh bình, nên thơ của nó qua từng vần thơ của Nguyễn Khuyến.

"Thu vịnh" xứng đáng là một kiệt tác, một bức tranh thu bằng ngôn từ đẹp nhất của văn học Việt Nam. Nó không chỉ là tài sản riêng của Nguyễn Khuyến mà đã trở thành tài sản chung của cả dân tộc, là niềm tự hào về một nền văn hiến, một tình yêu quê hương tha thiết, sâu nặng.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay lớp 8 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 8 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 8Những bài văn hay lớp 8 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 8 sách mới các môn học