10+ Nghị luận phân tích Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (điểm cao)

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài điểm cao, hay nhất được chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh trên cả nước giúp bạn có thêm bài văn hay để tham khảo từ đó viết văn hay hơn.

10+ Nghị luận phân tích Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài (điểm cao)

Quảng cáo

Dàn ý Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài

a) Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn chuyên về đề tài lịch sử với văn phong giàu kịch tính. "Vũ Như Tô" là vở bi kịch đặc sắc nhất của ông.

- Giới thiệu đoạn trích: "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" (hồi V) là đoạn cao trào, kết thúc bi thảm khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy và Vũ Như Tô bị xử tử.

- Nêu vấn đề nghị luận: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Vũ Như Tô: đam mê nghệ thuật chân chính nhưng sai lầm về con đường thực hiện, đặt khát vọng cá nhân lên trên sinh mạng nhân dân. 

b) Thân bài:

1. Khái quát chung

- Bối cảnh: Triều đình Lê Tương Dực thối nát, dân chúng lầm than.

- Nhân vật: Vũ Như Tô - một kiến trúc sư tài ba, nhân cách cao thượng nhưng mộng mị, muốn xây Cửu Trùng Đài "tranh tinh xảo với hóa công".

- Mâu thuẫn: Nhu cầu nghệ thuật cao siêu vs. nhu cầu sống thiết yếu của nhân dân. 

Quảng cáo

2. Phân tích tấn bi kịch của Vũ Như Tô trong đoạn trích

- Sự mê muội, mù quáng của Vũ Như Tô:

+ Không nhận thức được nỗi khốn cùng của nhân dân, cho rằng việc xây đài là vì đất nước.

+ Tin tưởng tuyệt đối vào việc mình làm, coi công trình là tác phẩm để đời, không phải công cụ hưởng lạc của vua.

+ Khi quân phản loạn đến, vẫn không tin mình vô tội, vẫn muốn gặp Lê Tương Dực để giải thích về đài.

- Sự đối lập giữa cái Đẹp (nghệ thuật) và cái Thiện (đời sống):

+ Cửu Trùng Đài càng cao, nhân dân càng đói khát.

+ Vũ Như Tô theo đuổi "nghệ thuật thuần túy" một cách cực đoan.

- Nỗi đau vĩnh biệt Cửu Trùng Đài:

+ Khi hay tin đài bị đốt, Vũ Như Tô tan nát cõi lòng, đau đớn hơn cả cái chết.

+ Tiếng than: "Cửu Trùng Đài! Cửu Trùng Đài! ... Mộng lớn chưa thành! ..." cho thấy sự gắn bó máu thịt với tác phẩm.

Quảng cáo

- Cái chết bi thảm:

+ Bị xử tử bởi những người dân mà ông nghĩ mình đang phục vụ.

+ Cái chết là sự giải thoát, nhưng cũng là sự sụp đổ hoàn toàn của một tài năng và khát vọng. 

3. Đặc sắc nghệ thuật

- Xung đột kịch: Đẩy lên đến đỉnh điểm (tài năng vs. thực tại; nghệ thuật vs. nhân dân).

- Hành động kịch: Nhanh, dồn dập, căng thẳng (quân phản loạn, Đan Thiềm khuyên nhủ, Vũ Như Tô cố chấp).

- Ngôn ngữ kịch: Giàu cảm xúc, mang tính triết lý sâu sắc, khắc họa rõ nét nội tâm nhân vật. 

c) Kết bài:

- Khẳng định giá trị tác phẩm: "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" là khúc bi ca về nghệ thuật và người nghệ sĩ, thể hiện góc nhìn nhân văn của Nguyễn Huy Tưởng.

- Bài học: Nghệ thuật chỉ thực sự có giá trị khi gắn liền với đời sống nhân dân, không thể xa rời thực tại.

Quảng cáo

- Suy ngẫm về nhân vật: Vũ Như Tô vừa đáng trách (mù quáng) vừa đáng thương (tài hoa nhưng bất hạnh). 

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 1

Trong làng kịch hiện đại Việt Nam, bên cạnh Lưu Quang Vũ tài năng, vực dậy cả một nền văn học kịch đang trên đà tụt dốc, ta cũng không thể không nhắc đến Nguyễn Huy Tưởng một trong những nhà viết kịch và tiểu thuyết xuất sắc. Các tác phẩm của ông thường đi khai thác các đề tài lịch sử và tác phẩm Vũ Như Tô là tác phẩm nổi bật nhất. Xung đột kịch được đẩy lên đến cao trào và được giải quyết ở hồi thứ 5 “Vĩnh biệt cửu trùng đài” qua đó thể hiện quan niệm sâu sắc của ông về cuộc đời và nghệ thuật.

Vũ Như Tô là một kiến trúc sư tài giỏi, bị Lê Tương Dực – tên vua tàn bạo bắt xây Cửu Trùng Đài thành nơi để hắn ăn chơi, hưởng lạc. Là một người nghệ sĩ chân chính, Vũ Như Tô đã không nhận lời dù có bị hắn đe dọa sẽ giết chết. Nhưng Đam Thiềm một cung nữ đã thuyết phục được ông xây Cửu Trùng Đài. Cửu Trùng Đài xây cao bao nhiêu, lòng dân oán hận Vũ Như Tô bấy nhiêu. Lợi dụng tình thế đó Trịnh Duy Sản đã dấy binh nổi loạn. Đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là sự tiếp nối các sự kiện đang bị đẩy lên đến cao trào đó.

Mở đầu tác phẩm là tiếng hoảng hốt của Đan Thiềm, khuyên Vũ Như Tô hãy mau trốn đi. Cơn biến loạn xảy ra ở kinh thành nên tình trạng của Vũ Như Tô hết sức nguy hiểm, nhưng Vũ Như Tô lại nhất định không trốn, không nghe lời khuyên của Đam Thiền bởi “Những người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cùng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả ở đây, thì tôi chạy đi đâu?”. Ông hi sinh hết mình cho nghệ thuật, ông cố thủ ở lại cũng mong Cửu Trùng Đài sẽ được hoàn thiện, để tranh tinh xảo với hóa công. Nhưng ông nào biết, chính quyết định đó đã khiến ông nhận lấy cái chết oan nghiệt, đến cả lúc chết ông vẫn không thể lí giải vì sao mình phải chết.

Khi nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài bản thân Vũ Như Tô đã mắc phải sai lầm trong suy nghĩ và hành động. Vũ Như Tô mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện giấc mộng Cửu Trùng Đài. Nhưng tiền bạc đó chính là công sức, của cải của nhân dân, ông chỉ nhìn thấy cái bề nổi khi xây dựng xong Cửu Trùng Đài, mà không nhận ra phần sâu của sự việc. Cửu Trùng Đài càng đến ngày hoàn thiện thì mâu thuẫn giữa ông với nhân dân càng lớn dần, họ căm ghét Vũ Như Tô bởi ông đã hạ lệnh giết chết những người bỏ trốn để duy trì kỉ luật trên công trường. Đó là hành động hết sức tàn nhẫn, đặt công trình lên trên tính mạng của thợ thuyền. Vũ Như Tô đã biến thành một kẻ đáng sợ, người dân không còn thấy hình ảnh của Vũ Như Tô gần gũi với nhân dân đâu nữa. Vì xây Cửu Trùng Đài mà cuộc sống của nhân dân ngày càng cực khổ. Vũ Như Tô là một thiên tài nhưng không phải là một hiền tài. Ông không thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân.

Vũ Như Tô bị đặt vào mâu thuẫn không thể hóa giải, điều hòa: một bên là khát vọng nghệ thuật, một bên là đời sống của nhân dân. Bởi vậy, cuối cùng ông đã nhận lấy cái kết vô cùng bi thảm. Vũ Như Tô bị hiểu lầm và bị kết tội: Nhân dân coi bạo chúa và Vũ Như Tô là một là hai người gây ra tội ác: “Bạo chúa đã chết, còn thằng Vũ Như Tô đem phanh thây thành trăm mảnh”. Ông không chỉ bị nhân dân kết tội mà giấc mộng cuộc đời ông, ông đã dồn biết bao tài năng và tâm sức xây dựng Cửu Trùng Đài giờ cũng rơi vào tuyệt vọng, Cửu Trùng Đài bị phá hủy. Trước cảnh tượng Cửu Trùng Đài rực cháy, Vũ Như Tô rú lên kinh hoàng, tất cả giấc mộng đẹp tan tành, sụp đổ, đó là tiếng rú kinh hoàng, sợ hãi. “Thông thế là hết, dẫn ta đến pháp trường” – Vũ Như Tô người sáng tạo cái đẹp cũng bị giết. Cái chết của Vũ Như Tô là một kết cục tất yếu vì Cửu Trùng Đài là một công trình đẹp, tuyệt mỹ nhưng nó lại là biểu hiện của cái xấu, cái ác, nên tất yếu nó sẽ bị hủy diệt. Qua đó Nguyễn Huy Tưởng cũng nêu lên mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật phải xuất phát từ cuộc sống và phục vụ con người mới có thể tồn tại nếu không nó tất yếu sẽ bị diệt vọng.

Ngoài nhân vật Vũ Như Tô, ta cũng không thể không nhắc đến Đam Thiền. Bà là một cung nữ xinh đẹp, tài năng nhưng bị bỏ rơi. Đam Thiền là người yêu cái đẹp, cái thái độ “biệt nhỡn liên tài”, chính bà là người đã khuyên Vũ Như Tô nên ở lại để xây dựng Cửu Trùng Đài điểm tô cho đất nước, cũng chính bà đã khuyên Như Tô trốn đi khi xảy ra biến loạn. Và bà tình nguyện ở lại để bảo vệ Cửu Trùng Đài bởi “tôi chết đi không thiệt hại cho đời”. Cũng như Vũ Như Tô, Đan Thiềm cũng rơi vào bi kịch vỡ mộng: hi sinh tất cả danh dự tính mạng để bảo vệ Cửu Trùng Đài nhưng cuối cùng vẫn phải chết. Đau đớn hơn trước khi chết còn phải chứng kiến cảnh Cửu Trùng Đài bị đốt phá tan tành. Người bà hết lòng bảo vệ là Vũ Như Tô cũng bị đưa ra pháp trường.

Hồi năm của vở kịch Vũ Như Tô đã được Nguyễn Huy Tưởng sử dụng ngôn ngữ kịch điêu luyện, mang tính tổng hợp cao. Nhịp điệu lời thoại nhanh, gấp gáp, sử dụng những câu văn ngắn cho thấy tình thế cấp bách. Tính cách, tâm trạng nhân vật được bộc lộ rõ nét.

Với các lớp kịch linh hoạt, tự nhiên tác giả đã tái hiện thành công hồi kịch thứ năm. Qua hồi kịch này ông gửi gắm sự cảm thông với bi kịch của Vũ Như Tô, đồng thời đặt ra vấn đề mối quan hệ hài hòa giữa nghệ thuật và con người. Không chỉ vậy xã hội cần trân trọng, nâng niu những tài năng nghệ thuật, để họ có thể phát huy tài năng của bản thân, xây dựng sự giàu đẹp cho đất nước.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 2

Có thể nói rằng kịch là một trong những thể loại văn học đặc sắc và trong nền kịch Việt Nam không thể bỏ sót cái tên Nguyễn Huy Tưởng với vở kịch nổi tiếng "Vũ Như Tô". Đây là tác phẩm đa được nhà văn thể hiện ra những quan điểm của mình về những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và cường quyền và đó là sự phức tạp giữa nghệ sĩ và nhân dân và hơn nữa đáng nói đó là văn hóa dân tộc nữa. Và trong vở kịch "Vũ Như Tô" thì đoạn trích "Vĩnh biệt cửu trùng đài" là một trong những đoạn trích hay thể hiện rõ nhất bi kịch cũng như quan niệm của tác giả được gửi gắm qua đoạn trích".

Vở kịch đặc sắc và ấn tượng "Vũ Như Tô" được xem là một vở nói về lịch sử gồm có năm hồi. Và có thể thấy đoạn trích "Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài" là một đoạn trích thuộc hồi năm của vở kịch này. Nhân vật chính của ở kịch chính là Vũ Như Tô. Ông được xây dựng lên chính là một nhà kiến trúc tài giỏi, ông luôn có tính tình cương trực trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực được biết đến là một tên bạo chúa cũng đã sai cho Vũ Như Tô xây cửu trùng đài sao cho thật nguy nga để cho hắn lấy nơi vui chơi với những cung tần mĩ nữ. Và với vốn tính tình lại cương trực thẳng thắn thì nhân vật Vũ Như Tô dường như cũng đã từ chối sự sai khiến ấy mặc cho sự đe dọa về tính mạng. Thế nhưng, ta như thấy được Đan Thiềm một cô cung nữ tài sắc nhưng lại bị ruồng bỏ cũng như đã khuyên Vũ Như Tô xây cửu trùng đài để có thể cống hiến cho đất nước. Vì ở ông, ông lại khát khao và luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước cho nên khi mà ông nghe thế ông quyết định xây Cửu Trùng Đài, thì lúc đó ông cũng đã dùng toàn tâm toàn lực để xây dựng. Nhưng có thể nói rằng chính cái Cửu Trùng Đài ấy dường như cũng đã làm khổ nhân dân khiến họ không thể chịu nổi khổ nhục và quyết tâm nổi dậy. Vũ Như Tô đã bị giết còn một Cửu Trùng Đài nguy nga kia cũng đã bị thiêu cháy hết hoàn toàn.

Bởi xây dựng được Cửu trùng đài thì đã có biết bao xương mu của nhân dân đã đổ xuống. Có thể thấy chính là những mâu thuẫn của đoạn trích này có thể nói được chính là khi nhân dân lúc này dường như lại không thể chịu nổi nữa bèn đứng lên nổi loạn. Và ta như có thể thấy được những người đứng đầu cho cuộc nổi loạn ấy chính là Trịnh Duy Khản. Và có thể nhận định được rằng chính là mâu thuẫn thứ nhất và đồng thời đây cũng chính là mâu thuẫn trực tiếp và thực tế nhất. Và thật đau xót khi nhân dân phải sống trong cảnh lầm than và cơ cực biết bao nhiêu. Hơn thế lại còn phải phục vụ biết bao công sức để giúp cho công việc xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua vô lại ăn chơi hưởng lạc. Và chính điều này thì không một người dân nào mà không căm phẫn. Nên có thể thấy được mâu thuẫn ở đây đó chính là mâu thuẫn giữa vua quan và nhân dân. Và mâu thuẫn này chỉ được giải quyết khi mà kết thúc bằng một cuộc đứng lên chiến đấu. Nhân dân nổi dậy bắt giết Lê Tương Dực và cả những cung tần mỹ nữ. Rồi cả Đan Thiềm cũng như cả Vũ Như Tô hay cả Cửu trùng đài cũng đã bị thiêu cháy.

Và có thể nói mâu thuẫn thứ hai trong đoạn trích này không đâu khác đó chính là mâu thuẫn giữa những quan niệm nghệ thuật thuần túy lâu đời đối với cả những lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng lên một Cửu Trùng Đài. Có thể thấy được trong tác phẩm này dường như ta lại thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ và ông lại rất có tâm và hết lòng vì nghệ thuật. Có lẽ chính vì thế mà ông luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước mình những công trình nghệ thuật đẹp đẽ. Thế nhưng bản thân ông chính là một người nghệ sĩ ông lại như không nhận thức cho ra được mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cả đời sống cho nên chính ông cũng đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết thương tâm. Hay ở cả nhân vật Đan Thiềm cô đã cho lời khuyên Vũ Như Tô nhưng lại không hề vì một mục đích nào khác. Cô như một người bạn tri kỷ của Vũ Như Tô nhưng cũng chính vì không nhận thức được mối quan hệ đó nên cũng đã có kết cục thảm hại.

Quả thật Cửu Trùng Đài được xem là một công trình nghệ thuật lớn vì thế cho nên nó rất tiêu tốn một lượng ngân khố của quốc gia. Mà dường như tất cả ngân khố quốc gia lại chính là nhân dân làm ra chứ phải là một ai hết. Chính vì lẽ đó mà việc xây dựng càng lớn, càng nguy nga thì nhân dân càng khổ nhiều hơn. Có thể nói cửu trùng đài được xây dựng bằng xương máu của những người đan vậy. Còn Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài ba, ông có tài thật đó nhưng lại xa rời thực tế, chỉ lo cho lý tưởng của mình cho nên nhận lấy kết quả đáng buồn.

Có thể nói rằng thông qua đoạn trích này ta như thấy nó có đầy đủ các yếu tố để làm nên một vở kịch hấp dẫn, dường như tất cả các xung đột kịch được nhà văn tổ chức lôi cuốn hấp dẫn. Chính cái không khí nhịp điệu thì dường như cứ tăng tiến dần dần lên tạo nên một tính chất gay gắt của xung đột kịch. Nhà văn cũng đã thật tài tình khi thắt núi sau đó lại mở nút nhưng kết cục vẫn là bi kịch. Qua đây Nguyễn Huy Tưởng như cũng đã thể hiện quan niệm nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống đời thường. Nghệ thuật chân chính nhất thì không thể tách rời cuộc sống.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 3

Nguyễn Huy Tưởng đã tạo nên một câu chuyện về nhân vật Vũ Như Tô từ một sự kiện lịch sử có thật ở thế kỉ XVI, Nguyễn Huy Tưởng đã hư cấu, sáng tác vở kịch Vũ Như Tô, một vở kịch hiện đại có yếu tố bi kịch, đặt ra vấn đề có tầm quan trọng: số phận của nghệ thuật và của người nghệ sĩ trong hoàn cảnh đất nước bị chìm đắm trong chế độ phong kiến thối nát.

Tác giả đã xây dựng một nhân vật trung tâm của vở kịch hết sức đặc biệt, đó là người nghệ sĩ tài ba, ngàn năm chưa dễ có một người như Vũ Như Tô. Người kiến trúc sư thiên tài này có lí tưởng nghệ thuật, ham mê cái đẹp và khao khát sáng tạo cái đẹp nhưng không nhận thức được mâu thuẫn giữa lí tưởng nghệ thuật và hoàn cảnh thực tế của nhân dân đang bị đày đọa, giết hại trong việc xây Cửu Trùng Đài nên cuối cùng phải trả giá bằng sinh mệnh bản thân thật bi thảm.

Vũ Như Tô vẫn không thể thoát ra khỏi trạng thái mơ màng, ảo vọng của chính mình. Ông không tin rằng, công trình cao cả mình làm lại có thể xem là tội ác, cũng như không thể tin sự quang minh chính đại của mình lại bị rè rúng, nghi ngờ. Sự vỡ mộng của Vũ Như Tô vì thế đau đớn, kinh hoàng gấp bội so với Đan Thiềm. Nỗi đau ấy bộc lộ thành tiếng kêu bi thiết và âm điệu não nùng, khắc khoải chẳng những trở thành âm hưởng chủ đạo bao trùm đoạn kết đã đành, mà còn là một thứ chủ âm dội ngược lên toàn bộ những phần trước của vở kịch. "Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!". Đó cũng là những tiếng kêu cuối cùng của Vũ Như Tô khi ngọn lửa oan nghiệt đang bùng bùng thiêu rụi Cửu Trùng Đài, ngay sau đó tác giả của nó bị dẫn ra pháp trường. Trong tiếng kêu ấy, mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài đã được Vũ Như Tô đặt kế tiếp nhau, nỗi đau mất mát như nhập hòa làm một, một nỗi đau bi tráng tột cùng.

Tận mắt chứng kiến Nguyễn Vũ tự sát, nghe tên nội giám thông báo kẻ phá, người đốt cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vẫn cho là điều vô Ií. Nghe tiếng quân lính reo hò truy tìm mình để phanh thây, Vũ Như Tô vẫn cố đấu lí với số phận và cuộc đời: Có lí gì để họ giết tôi? Đứng trước quân khởi loạn gươm giáo sáng lòe, Vũ Như Tô tự trấn an: Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một tòa đài vĩ đại để tạ lòng tri kỉ. Bị ra lệnh dẫn về trình chủ tướng, Vũ Như Tô vẫn hi vọng sẽ có thể phân trần giảng giải cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta. Ông dường như không hề nghe thấy tiếng cười ầm ĩ và lời quát tháo của quân lính. Mày không biết mấy nghìn người chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó ư? Người ta oán mày còn hơn oán quỷ. Ông vẫn say sưa trong giấc mộng Cửu Trùng Đài: Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao cả, huy hoàng, giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai…

Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng nhân vật Vũ Như Tô cùng với khát vọng nghệ thuật cao cả, nhưng khát vọng nghệ thuật ấy lại xa rời thực tế. Vũ Như Tô và Đan Thiềm coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác lẫn phần hồn của cuộc đời mình. Vì nó mà Vũ Như Tô chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa. Vì nó mà dù bị thương trên công trường, ông vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc. Cũng vì nó, để giữ gìn kỉ luật, ông buộc phải trị tội những người thợ bỏ trốn. Cũng lại vì nó mà ông quyết ở lại trong cung cấm, giữa cơn biến loạn để bảo vệ không phải mạng sống của mình mà là bảo vệ Cửu Trùng Đài - sinh mạng nghệ thuật của cả đời ông.

Có thể nói rằng thông qua đoạn trích này ta như thấy nó có đầy đủ các yếu tố để làm nên một vở kịch hấp dẫn, dường như tất cả các xung đột kịch được nhà văn tổ chức lôi cuốn hấp dẫn. Chính cái không khí nhịp điệu thì dường như cứ tăng tiến dần dần lên tạo nên một tính chất gay gắt của xung đột kịch. Nhà văn cũng đã thật tài tình khi thắt núi sau đó lại mở nút nhưng kết cục vẫn là bi kịch. Qua đây Nguyễn Huy Tưởng như cũng đã thể hiện quan niệm nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống đời thường. Nghệ thuật chân chính nhất thì không thể tách rời cuộc sống.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 4

Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình Nho giáo ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội). Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc do Đảng lãnh đạo và là đại biểu tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào tháng Tám năm 1945. Trong sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử và có đóng góp nổi bật ở các thể loại tiểu thuyết và kịch. Văn phong của ông giản dị, trong sáng và thâm trầm, sâu sắc. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm chính: các vở kịch Vũ Như Tô (1941), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), kịch bản phim Lũy hoa (1960); các tiểu thuyết Đêm hội Long Trì (1942), An Từ (1945), Sống mãi với Thủ đô (1961); kí: Kí sự Cao - Lạng (1951),... Vũ Như Tô là vở kịch đặc sắc của Nguyễn Huy Tưởng.

Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.

Vũ Như Tô - một kiến trúc sư thiên tài bị vua Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. vốn là một nghệ sĩ chân chính gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân ấy và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I).

Đan Thiềm, một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu Cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại bền như trăng sao, có thể tranh tinh xảo với hóa công để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.

Theo lời khuyên, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, chấp nhận xây cửu Trùng Đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí và bằng mọi giá xây dựng tòa đài sao cho thật hùng vĩ, tráng lệ. Tuy nhiên, ông đã vô tình gây biết bao tai hoa cho nhân dân. Để xây dựng Cửu Trùng Đài, triều đình ra lệnh tăng thêm sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống đối. Dân căm phẫn vua vì vua làm cho dân cùng, nước kiệt; thợ oán Vũ Như Tô bởi nhiều người đã chết vì tai nạn, vì ông cho chém đầu những kẻ chạy trốn. Công cuộc xây dựng càng gần thành công thì mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị xa hoa trụy lạc với dân chúng nghèo khổ, giữa Vũ Như Tô với những người thợ lành nghề và người lao động mà ông hằng yêu mến càng căng thẳng, gay gắt (hồi II, III, IV).

Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Quận công Trịnh Duy Sản - kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết vua Lê Tương Dực, Vũ Như Tô, Đan Thiềm. Cửu Trùng Đài bị chính những người thợ đập phá và thiêu hủy (hồi V).

Đoạn Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là hồi V của vở kịch, thể hiện hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao; dùng ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào.

Trong cung cấm, Đan Thiềm đột ngột hớt hơ hớt hải chạy vào, mặt cắt không còn hột máu, giục giã Vũ Như Tô hãy trốn mau bởi loạn đến nơi rồi. Dân gian đói kém nổi lên, quận công Trịnh Duy Sản mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh về làm loạn. Nhưng Vũ Như Tô kiên quyết không chịu rời Cửu Trùng Đài một bước. Vừa lúc đó, Nguyễn Vũ lật đật chạy vào hỏi tình hình lo lắng cho tính mạng của nhà vua. Lê Trung Mại xuất hiện thông báo Duy Sản đã đốt lửa hiệu giả báo có giặc, nhà vua lẻn ra cửa Bảo Khánh chạy giặc thì bị Ngô Hạch võ sĩ của Duy Sản đâm chết. Khâm Đức hoàng hậu hay tin cũng nhảy vào lửa tự thiêu. Nguyễn Vũ khóc lóc và rút dao tự tử. Một bọn nội gián khác thông báo thêm sau khi giết vua Lê Tương Dực, triều đình đã lập vua khác lên ngôi. Võ Tả Hầu là Phùng Mai đứng lên mắng quân phản nghịch đã bị chém đầu ngay lập tức. An Hòa Hầu ở bến Bồ Đề kéo quân về đốt phá kinh thành. Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch. Đan Thiềm tiếp tục giục Vũ Như Tô đi trốn nhưng ông vẫn kiên quyết ở lại. Quân khởi loạn kéo vào. Đan Thiềm không thể xin tha được cho Vũ Như Tô, nàng bị chúng kéo đi nên chi còn biết Xin cùng ông vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô khăng khăng cho là mình không có tội, xin vào thưa với chủ tướng ý nguyện tốt đẹp khi xây Cửu Trùng Đài nhưng quân lính không nghe và cho biết chính An Hòa Hầu đã ra lệnh đốt sạch Cửu Trùng Đài. Vũ Như Tô đau đớn, vỡ mộng, chua chát chấp nhận cái chết bi thảm.

Vũ Như Tô và Đan Thiềm coi Cửu Trùng Đài là cả phần xác lẫn phần hồn của cuộc đời mình. Vì nó mà Vũ Như Tô chấp nhận làm việc cho hôn quân bạo chúa. Vì nó mà dù bị thương trên công trường, ông vẫn tiếp tục chỉ đạo công việc. Cũng vì nó, để giữ gìn kỉ luật, ông buộc phải trị tội những người thợ bỏ trốn. Cũng lại vì nó mà ông quyết ở lại trong cung cấm, giữa cơn biến loạn để bảo vệ không phải mạng sống của mình mà là bảo vệ Cửu Trùng Đài - sinh mạng nghệ thuật của cả đời ông.

Tính cách nổi bật nhất ở Vũ Như Tô là tính cách của người nghệ sĩ tài hoa hiện thân cho niềm khao khát và đam mê sáng tạo Cái Đẹp. Nhưng trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, thì Cái Đẹp ấy thành ra phù phiếm. Nó sang trọng, siêu đẳng, thậm chí cao cả và đẫm máu như một bông hoa ác. Vì thế, đi đến tận cùng niềm đam mê, khao khát ấy, Vũ Như Tô tất phải đối mặt với bi kịch đau đớn của đời mình: ông trở thành kẻ thù của dân chúng, thợ thuyền mà không hay biết.

Tài ba của Vũ Như Tô được nói đến chủ yếu ở các hồi kịch trước, thông qua hành động của ông và nhất là qua lời của các nhân vật khác nói về ông. Tài nghệ của ông đạt đến mức siêu phàm, được Đan Thiềm ca ngợi là một thiên tài ngàn năm chưa dễ có một, có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân. Trong hồi thứ V, những lo lắng, toan tính và thái độ của Đan Thiềm khi nói về Vũ Như Tô đủ cho thấy cái tài ấy quả là hiếm hoi: tài kia không nên để uổng..; Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không còn ai điểm tô nữa... Đừng để phi tài trời. Hồi V không nói nhiều đến tài năng của nhân vật (chỉ có Đan Thiềm nhắc đến) mà đặt Vũ Như Tô vào việc tìm kiếm một câu trả lời: Việc mình nhận xây Cửu Trùng Đài là đúng hay sai? Có công hay có tội? Nhưng Vũ Như Tô không trả lời được thỏa đáng câu hỏi đó bởi ông chỉ đứng trên lập trường của người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân, đứng trên lập trường Cái Đẹp mà không đứng trên lập trường Cái Thiện. Hành động của ông không hướng đến sự hòa giải mà thách thức và chấp nhận sự hủy diệt. Vũ Như Tô đã từng tranh tinh xảo vôi hóa công, giờ lại bướng bỉnh tranh phải - trái với số phận và với cuộc đời. Hành động kịch hướng vào cuộc đua tranh này và thể hiện tập trung qua diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô.

Vũ Như Tô vì chìm đắm trong khao khát, đam mê Cái Đẹp mà trở nên mơ mộng và ảo tưởng. Giấc mộng ấy bắt đầu từ khi ông quyết định nhận lời xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực, mượn tay bạo chúa để xây một công trình tô điểm cho đời. Càng sáng suốt trong sáng tạo thiết kế, thi công Cửu Trùng Đài bao nhiêu, Vũ Như Tô càng xa rời thực tế bấy nhiêu.

Ngay cả khi sự thật phũ phàng của Cơn biến loạn dội đến, Đan Thiềm cố gắng kéo ông ra khỏi giấc mộng bằng thông tin kinh hoàng là loạn đến nơi rồi và bằng phản ứng dữ dội của dân chúng đối với ông: Ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần nhân trách móc là vì ông:., mà Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn cho là họ hiểu nhầm.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 5

Trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại, nhiều tác phẩm kịch đã để lại dấu ấn sâu sắc bởi giá trị tư tưởng và nghệ thuật độc đáo. Một trong những tác phẩm tiêu biểu là đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong vở kịch Vũ Như Tô của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. Tác phẩm đã tái hiện một bi kịch lịch sử sâu sắc, qua đó đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ với lợi ích của nhân dân.

Trước hết, đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” diễn ra trong bối cảnh triều đại của Lê Tương Dực, khi đất nước rơi vào cảnh rối ren, nhân dân lầm than. Trong hoàn cảnh ấy, vua Lê Tương Dực vẫn cho xây dựng Cửu Trùng Đài – một công trình kiến trúc xa hoa và tốn kém. Người được giao nhiệm vụ thiết kế và xây dựng công trình này là Vũ Như Tô, một nghệ nhân tài năng với khát vọng tạo nên một kiệt tác nghệ thuật cho đất nước. Tuy nhiên, việc xây dựng Cửu Trùng Đài đã khiến nhân dân phải chịu nhiều đau khổ, dẫn đến sự nổi dậy của quần chúng.

Bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô chính là bi kịch của một người nghệ sĩ tài năng nhưng lại rơi vào hoàn cảnh trớ trêu. Ông mang trong mình khát vọng sáng tạo lớn lao, mong muốn xây dựng một công trình vĩ đại để lưu danh cho đất nước. Đối với Vũ Như Tô, Cửu Trùng Đài không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng của cái đẹp và sự hoàn mỹ trong nghệ thuật. Tuy nhiên, ông lại không nhận ra rằng công trình ấy đang được xây dựng bằng mồ hôi, nước mắt và cả sinh mạng của nhân dân. Chính sự mâu thuẫn giữa lí tưởng nghệ thuật và thực tế cuộc sống đã đẩy Vũ Như Tô vào một bi kịch không lối thoát.

Bên cạnh Vũ Như Tô, nhân vật Đan Thiềm cũng đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm. Đan Thiềm là người nhận ra tài năng và khát vọng của Vũ Như Tô, đồng thời luôn khuyến khích ông thực hiện lí tưởng nghệ thuật của mình. Bà tin rằng Cửu Trùng Đài sẽ trở thành một kiệt tác vĩ đại. Tuy nhiên, khi cuộc nổi dậy của nhân dân nổ ra, Đan Thiềm cũng nhận ra sự nguy hiểm và cố gắng khuyên Vũ Như Tô trốn đi để bảo toàn tính mạng. Nhân vật Đan Thiềm vì thế vừa thể hiện sự trân trọng tài năng nghệ thuật vừa cho thấy sự giằng xé giữa lí tưởng và thực tế.

Xung đột kịch trong đoạn trích được đẩy lên cao trào khi nhân dân nổi dậy phá hủy Cửu Trùng Đài. Họ coi công trình này là biểu tượng của sự áp bức và bóc lột. Trong khi đó, Vũ Như Tô vẫn tin rằng mình đang làm một việc lớn lao cho đất nước. Sự đối lập giữa hai cách nhìn ấy đã tạo nên một bi kịch sâu sắc. Cuối cùng, Cửu Trùng Đài bị phá hủy, Vũ Như Tô và Đan Thiềm đều bị giết. Cái kết ấy không chỉ thể hiện sự sụp đổ của một công trình kiến trúc mà còn là sự sụp đổ của một giấc mơ nghệ thuật không phù hợp với thực tế xã hội.

Thông qua bi kịch ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: nghệ thuật không thể tách rời cuộc sống của nhân dân. Dù khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ có cao đẹp đến đâu, nếu nó đi ngược lại lợi ích của con người thì cuối cùng cũng sẽ thất bại. Tác phẩm vì thế vừa thể hiện sự trân trọng đối với tài năng và lí tưởng nghệ thuật, vừa nhấn mạnh trách nhiệm của người nghệ sĩ đối với xã hội.

Ngoài giá trị tư tưởng sâu sắc, đoạn trích còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật xây dựng kịch đặc sắc. Các tình huống kịch được xây dựng căng thẳng, giàu kịch tính, đặc biệt là những cuộc đối thoại giữa các nhân vật. Ngôn ngữ kịch giàu cảm xúc và mang tính triết lí, giúp làm nổi bật sự giằng xé trong tâm hồn của Vũ Như Tô cũng như những mâu thuẫn trong xã hội thời bấy giờ.

Tóm lại, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng là một tác phẩm có giá trị lớn trong văn học Việt Nam. Thông qua bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những câu hỏi sâu sắc về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí tưởng cá nhân và lợi ích cộng đồng. Với nội dung giàu ý nghĩa và nghệ thuật kịch đặc sắc, tác phẩm đã để lại nhiều suy ngẫm cho người đọc về vai trò và trách nhiệm của người nghệ sĩ trong xã hội.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 6

Từ xưa đến nay thể loại về kịch chiếm một vị trí rất quan trọng trong văn học Việt Nam, kịch là một trong những thể loại văn học đặc sắc và trong nền kịch Việt Nam không thể bỏ sót cái tên Nguyễn Huy Tưởng với vở kịch nổi tiếng “Vũ Như Tô”. Đây là tác phẩm đa được nhà văn thể hiện ra những quan điểm của mình về những mối quan hệ phức tạp giữa nghệ thuật và cường quyền và đó là sự phức tạp giữa nghệ sĩ và nhân dân và hơn nữa đáng nói đó là văn hóa dân tộc nữa. Và trong vở kịch “Vũ Như Tô” thì đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là một trong những đoạn trích hay thể hiện rõ nhất bi kịch cũng như quan niệm của tác giả được gửi gắm qua đoạn trích”.

Tác giả đã dựng lên nhân vật Vũ Như Tô - một kiến trúc sư thiên tài bị vua Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ vốn là một nghệ sĩ chân chính gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân ấy và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài (hồi I).

Nhân vật Đan Thiềm được tác giả giới thiệu là một cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước một tòa lâu đài vĩ đại bền như trăng sao, có thể tranh tinh xảo với hóa công để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.

Mở đầu tác phẩm là tiếng hoảng hốt của Đan Thiềm, khuyên Vũ Như Tô hãy mau trốn đi. Cơn biến loạn xảy ra ở kinh thành nên tình trạng của Vũ Như Tô hết sức nguy hiểm, nhưng Vũ Như Tô lại nhất định không trốn, không nghe lời khuyên của Đam Thiền bởi “Những người quân tử không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cùng phải để cho mọi người biết rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả ở đây, thì tôi chạy đi đâu?”. Ông hi sinh hết mình cho nghệ thuật, ông cố thủ ở lại cũng mong Cửu Trùng Đài sẽ được hoàn thiện, để tranh tinh xảo với hóa công. Nhưng ông nào biết, chính quyết định đó đã khiến ông nhận lấy cái chết oan nghiệt, đến cả lúc chết ông vẫn không thể lí giải vì sao mình phải chết.

Khi nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài bản thân Vũ Như Tô đã mắc phải sai lầm trong suy nghĩ và hành động. Vũ Như Tô mượn uy quyền và tiền bạc của Lê Tương Dực để thực hiện giấc mộng cửu trùng đài. Nhưng tiền bạc đó chính là công sức, của cải của nhân dân, ông chỉ nhìn thấy cái bề nổi khi xây dựng xong Cửu Trùng Đài, mà không nhận ra phần sâu của sự việc. Cửu Trùng Đài càng đến ngày hoàn thiện thì mâu thuẫn giữa ông với nhân dân càng lớn dần, họ căm ghét Vũ Như Tô bởi ông đã hạ lệnh giết chết những người bỏ trốn để duy trì kỉ luật trên công trường. Đó là hành động hết sức tàn nhẫn, đặt công trình lên trên tính mạng của thợ thuyền. Vũ Như Tô đã biến thành một kẻ đáng sợ, người dân không còn thấy hình ảnh của Vũ Như Tô gần gũi với nhân dân đâu nữa. Vì xây Cửu Trùng Đài mà cuộc sống của nhân dân ngày càng cực khổ. Vũ Như Tô là một thiên tài nhưng không phải là một hiền tài. Ông không thấu hiểu nỗi thống khổ của nhân dân.

Khi theo dõi đoạn trích, chúng ta có thể nhận thấy mâu thuẫn thứ hai trong đoạn trích này không đâu khác đó chính là mâu thuẫn giữa những quan niệm nghệ thuật thuần túy lâu đời đối với cả những lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng lên một Cửu Trùng Đài. Có thể thấy được trong tác phẩm này dường như ta lại thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ và ông lại rất có tâm và hết lòng vì nghệ thuật. Có lẽ chính vì thế mà ông luôn luôn muốn cống hiến cho đất nước mình những công trình nghệ thuật đẹp đẽ. Thế nhưng bản thân ông chính là một người nghệ sĩ ông lại như không nhận thức cho ra được mối quan hệ khăng khít giữa nghệ thuật và cả đời sống cho nên chính ông cũng đã mắc sai lầm và dẫn tới cái chết thương tâm. Hay ở cả nhân vật Đan Thiềm cô đã cho lời khuyên Vũ Như Tô nhưng lại không hề vì một mục đích nào khác. Cô như một người bạn tri kỷ của Vũ Như Tô nhưng cũng chính vì không nhận thức được mối quan hệ đó nên cũng đã có kết cục thảm hại.

Vũ Như Tô đã xây dựng Cửu Trùng Đài thành một công trình nghệ thuật lớn, vĩ đại vì thế cho nên nó rất tiêu tốn một lượng ngân khố của quốc gia. Mà dường như tất cả ngân khố quốc gia lại chính là nhân dân làm ra chứ phải là một ai hết. Chính vì lẽ đó mà việc xây dựng càng lớn, càng nguy nga thì nhân dân càng khổ nhiều hơn. Có thể nói Cửu Trùng Đài được xây dựng bằng xương máu của những người đan vậy. Còn Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài ba, ông có tài thật đó nhưng lại xa dời thực tế, chỉ lo cho lý tưởng của mình cho nên nhận lấy kết quả đáng buồn.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 7

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là một tác giả nổi tiếng với những tác phẩm mang tính lịch sử. Ông có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam ở lĩnh vực tiểu thuyết và kịch. Nhiều tiểu thuyết của ông đã được dựng thành phim như Đêm hội long trì. Ông có nhiều vở kịch nổi tiếng trong đó có tác phẩm Vũ Như Tô với 5 hồi. Trong trương trình Ngữ văn 11, Bộ Giáo dục đã đưa hồi 5 của vở kịch vào giảng dạy với tên gọi Vĩnh biệt cửu trùng đài.

Đoạn trích về đoạn cuối cuộc đời của kiến trúc sư nổi tiếng Vũ Như Tô. Khi ông xây dựng Cửu trùng đài cho vua hôn quân Lê Tương Dực. Phân tích Vĩnh biệt cửu trùng đài, độc giả sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh của chế độ phong kiến thối nát thời vua Lê chúa Trịnh. Thấy được sự cơ cực lầm than của dân và những con người tài hoa, nghệ sĩ.

Mâu thuẫn đầu tiên mà nhà văn Nguyễn Huy Tưởng nói tới đó là mâu thuẫn giữa nhân dân lao động lầm than, khốn khổ với bọn hôn quân vô đạo, cường hào quan lại với lối sống xa hoa trụy lạc. Căng thẳng này đã ủ mầm từ trước đó, nhưng tới khi vua Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô phải xây Cửu trùng đài thì mâu thuẫn đó bị đẩy lên cao trào, đỉnh điểm.

Mâu thuẫn thứ hai đó chính là giữa những con người tài hoa nghệ sĩ giỏi như kiến trúc sư Vũ Như Tô. Ông là một người nghệ sĩ chân chính. Ông có hoài bão, ước vọng và tâm huyết muốn cống hiến, đem lại cái đẹp cho đời.

Thế nhưng, Lê Tương Dực cùng bè lũ tay sai lại mượn uy quyền, tiền bạc của mình để làm những việc mà chúng cho là ước mơ lớn. Chúng ép dân, vơ vét của cải, bắt dân lao động cực khổ để thực hiện thú vui của chúng.

Đó là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật chân chính, cao siêu với lợi ích thiết thực trong cuộc sống của nhân dân.

Từ những điều đó, đã đẩy Vũ Như Tô và Cửu trùng đài vào bi kịch thảm hại không lối thoát. Vũ Như Tô là một trong những mấu chốt làm nên Cửu trùng đài. Ông vốn là một kiến trúc sư thiên tài, luôn có đam mê sáng tạo vì cái đẹp. Ông được người đời nhận xét là “ngàn năm chưa dễ có một”. Tài năng của Vũ Như Tô được Nguyễn Huy Tưởng kể lại “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên”, “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”. Không những tài hoa, ông còn là một nghệ sĩ có nhân cách lớn lao. Ông là người có khát vọng, có lý tưởng nghệ thuật cao quý. Bởi thế, dù lúc đầu vua Lê Tương Dực dọa giết, nhưng ông vẫn khăng khăng từ chối xây Cửu trùng đài. Chỉ sau khi bị thuyết phục bởi người bạn tri kỷ, mong ông xây dựng một tòa lâu đài bền vững cho đất nước thì ông mới chấp nhận. Bởi ông muốn cống hiến tài năng của mình cho dân tộc chứ không phải cho bọn hôn quân vô đạo.

Phân tích đến đây, độc giả có thể nhận thấy điểm giống nhau giữa Vũ Như Tô và tử tù Huấn Cao (trong Chữ người tử tù). Huấn Cao cũng là một người nghệ sĩ tài năng. Nhưng chữ của ông chỉ dành tặng những người biết đạo nghĩa.

Vũ Như Tô cũng vậy, khi bắt đầu xây Cửu trùng đài, ông đã dò hết tâm huyết. Ông không hề hám lợi. Khi được vua ban thưởng, ông đem chia hết cho đám thợ thuyền. Tuy nhiên, dù ông làm thế nào thì ước mơ và lý tưởng nghệ thuật của ông vẫn không thể hòa hợp với đời sống xã hội nghèo đói, lầm than của nhân dân lúc bấy giờ. Do đó, không ít lần ông rơi vào tâm trạng bi kịch, khi tự hỏi việc xây Cửu trùng đài đúng hay sai?

Có thể nói, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã xây dựng Vũ Như Tô là một nhân vật đầy bi kịch. Bởi trong chính con người ông cũng tồn tại những mâu thuẫn không thể giải quyết được. Ông có những khát vọng và hoài bão lý tưởng lớn nhưng lại có cách làm sai. Chỉ khi bị bắt và Cửu trùng đài bị đốt cháy, ông mới thức tỉnh. Thật là ai oán xót thương cho một con người tài hoa mà sinh ra không hợp thời thế.

Bên cạnh nhân vật Vũ Như Tô mê cái đẹp, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã khắc họa thêm nhân vật Đan Thiềm, một người đam mê cái tài. Nàng là người bạn tri âm, tri kỷ duy ở trong triều đình, thực sự hâm mộ cái tài của Vũ Như Tô. Hiểu nỗi lòng mâu thuẫn của kiến trúc sư, Đam Thiềm luôn cố gắng ở bên khích lệ, động viên và giúp đỡ Như Tô bảo vệ và xây dựng lâu đài. Không những thế, nàng là còn người thông minh, luôn bình tĩnh trước mọi tình huống. Biết rằng Cửu trùng đài không thành, nàng tìm mọi cách bảo vệ con người tài năng Vũ Như Tô. Nàng khuyên ông hãy trốn đi trước khi quân nổi dậy đến vây bắt. Nàng cũng sẵn sàng đánh đổi tính mạng của mình để cứu lấy nhà kiến trúc sư tài giỏi. Đến khi Vũ Như Tô không chịu đi, thì nàng cảm thấy đau đớn xót thương.

Có thể nói, qua đoạn trích, độc giả thấy rõ được nhân vật Đan Thiềm. Nàng không chỉ là một người chuộng cái tài mà con biết nhìn nhận cái đẹp. Qua đây độc giả nhận thấy cách giải quyết mâu thuẫn của tác giả Nguyễn Huy Tưởng rất dứt khoát. Ông miêu tả cảnh giải quyết xung đột đó bằng việc dân quân nổi dậy, đốt phát Cửu trùng đài và giết vua. Những con người sống trong cảnh ức hiếp lâu ngày giờ không thể chịu được nữa mà vùng lên đấu tranh. Đó là kết cục hiển nhiên mà mâu thuẫn giai cấp phải có.

Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu với lợi ích thực tiễn, nhu cầu đơn thuần của người dân lại chưa được giải quyết. Vì thế, cái ác cái tàn bạo của hôn quân vô đạo Lê Tương Dực được nhận rõ, nhưng cái tội hay cãi công của kiến trúc sư Vũ Như Tô thì chưa thể luận. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng chỉ mới dùng lại ở việc nêu vấn đề và để ngõ. Có lẽ ông muốn để tự người đọc ngẫm nghĩ và đưa ra cách giải quyết cho riêng mình.

Hồi 5 của vở kịch Vũ Như Tô nói về vấn đề cái đẹp. Nó nêu ra mối quan hệ còn nhiều khúc mắc giữa đời sống nhân dân thực tế với tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn, cao siêu. Qua đây, tác giả Nguyễn Huy Tưởng cũng muốn bày tỏ sự thông cảm và trân trọng với những tài năng nghệ sĩ, có lý tưởng hoài bão nhưng lại rơi vào bi kịch.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 8

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn luôn nhìn lịch sử như một dòng chảy sống động, nơi con người không chỉ hiện lên trong ánh hào quang chiến công mà còn trong những bi kịch tinh thần sâu sắc. Vở kịch Vũ Như Tô là tác phẩm tiêu biểu cho tư duy ấy, khi nhà văn không ca ngợi người anh hùng theo nghĩa thông thường mà đặt ra bi kịch của một thiên tài nghệ thuật. Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, thuộc Hồi V – hồi cuối của vở kịch, là đỉnh cao của toàn bộ xung đột, nơi mọi mâu thuẫn dồn nén được đẩy tới giới hạn cuối cùng.

Trước hết, đoạn trích cho thấy sự bùng nổ không thể tránh khỏi của mâu thuẫn xã hội giữa triều đình phong kiến bạo tàn và quần chúng nhân dân bị áp bức. Cửu Trùng Đài – công trình được xây dựng bằng tiền của và xương máu của dân chúng – đã trở thành biểu tượng cho sự xa hoa, trụy lạc của vua chúa. Vì vậy, khi binh biến xảy ra, việc nhân dân nổi dậy đốt phá Cửu Trùng Đài không chỉ là hành động hủy hoại một công trình kiến trúc mà còn là sự phản kháng quyết liệt của cuộc sống bị dồn đến đường cùng. Ngọn lửa thiêu rụi Cửu Trùng Đài chính là phán quyết nghiệt ngã của lịch sử đối với một chế độ thối nát.

Ẩn sâu trong mâu thuẫn xã hội ấy là mâu thuẫn mang tính triết lý: mâu thuẫn giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu và lợi ích thiết thân của con người. Vũ Như Tô là hiện thân của người nghệ sĩ thiên tài, sống trọn vẹn cho khát vọng sáng tạo cái đẹp vĩnh cửu. Ông không màng danh lợi, không toan tính cá nhân, mà chỉ khao khát để lại một kiệt tác cho muôn đời. Tuy nhiên, bi kịch của Vũ Như Tô bắt nguồn từ sự phiến diện trong nhận thức: ông tách nghệ thuật khỏi cuộc sống, tuyệt đối hóa cái đẹp mà quên đi nền tảng con người. Khi lý tưởng nghệ thuật được thực hiện bằng bạo lực và sự bóc lột, nó không còn giữ được tính nhân văn vốn có.

Bi kịch của Vũ Như Tô được đẩy lên đỉnh điểm trong Hồi V qua trạng thái mù quáng và cố chấp. Trước lời khuyên tha thiết của Đan Thiềm, ông vẫn khăng khăng cho rằng mình “không có tội”. Cách tự biện hộ ấy cho thấy Vũ Như Tô chỉ nhìn sự việc từ hệ quy chiếu của nghệ thuật mà không nhận ra nỗi đau của nhân dân. Khi Cửu Trùng Đài bị thiêu cháy, ông bàng hoàng chứng kiến sự sụp đổ của giấc mơ nghệ thuật. Đó là khoảnh khắc vỡ mộng đau đớn, nhưng không phải là sự thức tỉnh đạo đức. Vũ Như Tô nhận ra cái đẹp đã chết, song vẫn không hiểu vì sao nó phải chết. Chính điều đó làm nên bi kịch cao nhất của nhân vật: sự mù quáng của thiên tài kéo dài đến tận phút cuối.

Song hành với bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của Đan Thiềm – người tri kỷ và bảo vệ cái đẹp. Đan Thiềm vừa đam mê tài năng nghệ thuật vừa tỉnh táo trước thực tại chính trị. Bà hiểu rõ nguy cơ, cố gắng cứu Vũ Như Tô, nhưng lại bất lực trước cơn lốc lịch sử. Bi kịch của Đan Thiềm không chỉ là cái chết thể xác mà còn là sự sụp đổ của niềm tin vào khả năng cứu rỗi của cái đẹp trong một xã hội rối ren. Cái chết của bà cho thấy khi đời sống con người bị chà đạp, nghệ thuật và những người yêu nghệ thuật đều không còn chỗ đứng.

Qua đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra một câu hỏi lớn mang ý nghĩa lâu dài: nghệ thuật có thể tồn tại tách rời cuộc sống hay không. Câu trả lời mà tác phẩm gợi ra không phải bằng lời khẳng định trực tiếp mà bằng một bi kịch không thể hóa giải: cái đẹp, nếu đối lập với quyền sống của con người, sẽ bị chính cuộc sống phủ định. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra vấn đề về trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ: thiên tài chỉ thực sự có ý nghĩa khi khát vọng sáng tạo gắn liền với lợi ích của cộng đồng.

Tóm lại, “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là đoạn trích kết tinh tư tưởng và nghệ thuật của vở kịch Vũ Như Tô. Bằng việc xây dựng những mâu thuẫn sâu sắc và những bi kịch giàu ý nghĩa triết lý, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho người đọc một bài học nhân sinh thấm thía về nghệ thuật, con người và cuộc sống, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của tác phẩm trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 9

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, thường khai thác đề tài lịch sử để gửi gắm những suy tư sâu sắc về con người và cuộc sống. Vở kịch Vũ Như Tô là một tác phẩm đặc sắc của ông, đặt ra bi kịch của người nghệ sĩ trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Đoạn trích “vĩnh biệt cửu trùng đài”, thuộc Hồi V – hồi cuối của vở kịch, là điểm nút của toàn bộ xung đột, nơi bi kịch được đẩy lên cao trào.

Trước hết, đoạn trích phản ánh mâu thuẫn xã hội gay gắt giữa triều đình phong kiến bạo tàn với quần chúng nhân dân bị áp bức. Cửu Trùng Đài, dưới con mắt của Vũ Như Tô, là một công trình nghệ thuật vĩ đại, nhưng đối với nhân dân, đó lại là nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh lầm than, cơ cực. Công trình ấy được xây dựng bằng tiền của và xương máu của dân chúng, trở thành biểu tượng cho sự xa hoa, trụy lạc của vua chúa. Vì vậy, khi binh biến nổ ra, việc quân nổi loạn đốt phá Cửu Trùng Đài là kết cục tất yếu của mâu thuẫn xã hội đã tích tụ từ lâu.

Ẩn sau mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn mang tính triết lý giữa lý tưởng nghệ thuật và cuộc sống con người. Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ tài hoa, có hoài bão lớn, khát khao sáng tạo cái đẹp cho muôn đời. Ông không mưu cầu danh lợi, chỉ sống vì nghệ thuật. Tuy nhiên, sai lầm của Vũ Như Tô nằm ở chỗ ông tuyệt đối hóa lý tưởng nghệ thuật, tách nghệ thuật khỏi đời sống nhân dân. Để thực hiện giấc mơ sáng tạo, ông đã mượn tay bạo chúa, vô tình khiến nghệ thuật trở thành công cụ gây đau khổ cho con người.

Bi kịch của Vũ Như Tô bộc lộ rõ nét trong Hồi V. Trước nguy cơ binh biến, Đan Thiềm nhiều lần khuyên ông trốn đi, nhưng ông vẫn khăng khăng cho rằng mình “không có tội”. Vũ Như Tô chỉ nhìn nhận hành động của mình trên phương diện nghệ thuật mà không ý thức được trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ. Khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy, ông đau đớn chứng kiến giấc mơ nghệ thuật tan vỡ. Đó là khoảnh khắc vỡ mộng sâu sắc, song ông vẫn chưa thực sự nhận ra sai lầm của mình đối với nhân dân.

Bên cạnh Vũ Như Tô, nhân vật Đan Thiềm cũng mang một bi kịch riêng. Bà là người tôn thờ tài năng, tri kỷ của Vũ Như Tô, vừa say mê cái đẹp vừa tỉnh táo trước thực tại. Tuy nhiên, chính niềm tin tuyệt đối vào nghệ thuật đã khiến bà bất lực trong việc ngăn chặn bi kịch. Cái chết của Đan Thiềm cho thấy số phận mong manh của cái đẹp trong một xã hội rối loạn, nơi quyền sống của con người bị chà đạp.

Qua đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, Nguyễn Huy Tưởng đã gửi gắm thông điệp sâu sắc: nghệ thuật không thể tồn tại tách rời cuộc sống và lợi ích của con người. Bi kịch của Vũ Như Tô là lời cảnh tỉnh về trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ, đồng thời cho thấy cái giá phải trả khi lý tưởng nghệ thuật đối lập với đời sống nhân dân.

Tóm lại, “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là đoạn trích tiêu biểu cho tư tưởng và giá trị nhân văn của vở kịch Vũ Như Tô. Bằng việc xây dựng những mâu thuẫn gay gắt và những bi kịch sâu sắc, Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho người đọc nhiều suy ngẫm về nghệ thuật, con người và cuộc sống.

Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch): Vĩnh Biệt Cửu Trùng Đài - mẫu 10

Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam, gắn bó sâu sắc với đề tài lịch sử và luôn trăn trở trước những vấn đề mang tầm vóc nhân sinh, triết lý. Vở kịch Vũ Như Tô là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông, không chỉ tái hiện một biến cố lịch sử mà còn đặt ra câu hỏi lớn về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” thuộc Hồi V – hồi cuối của vở kịch – chính là cao trào bi kịch, nơi mọi mâu thuẫn dồn nén bấy lâu bùng nổ dữ dội và số phận các nhân vật trung tâm được định đoạt.

Trước hết, đoạn trích thể hiện rõ mâu thuẫn xã hội gay gắt giữa triều đình phong kiến bạo tàn với quần chúng nhân dân bị áp bức. Cửu Trùng Đài – trong con mắt của Vũ Như Tô – là một kiệt tác nghệ thuật có giá trị muôn đời, nhưng đối với nhân dân, đó lại là biểu tượng của sự xa hoa, trụy lạc và là nguyên nhân trực tiếp đẩy họ vào cảnh lầm than, cơ cực. Công trình ấy được xây dựng bằng tiền của và xương máu của dân chúng. Vì vậy, khi binh biến nổ ra, việc quân nổi loạn đốt phá Cửu Trùng Đài không chỉ là hành động phá hủy một công trình kiến trúc mà còn là sự vùng dậy của cuộc sống bị dồn nén đến bước đường cùng. Ngọn lửa thiêu rụi Cửu Trùng Đài chính là kết cục tất yếu của một mâu thuẫn xã hội không thể điều hòa.

Ẩn sâu dưới mâu thuẫn xã hội ấy là mâu thuẫn mang tính triết lý: mâu thuẫn giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu với lợi ích thiết thân của con người. Vũ Như Tô là hiện thân của người nghệ sĩ thiên tài, có hoài bão lớn, khát khao sáng tạo cái đẹp vĩnh cửu cho muôn đời. Ông không màng danh lợi, không vì tiền bạc hay quyền thế, mà chỉ sống cho nghệ thuật. Tuy nhiên, bi kịch của Vũ Như Tô bắt nguồn từ chính sự tuyệt đối hóa lý tưởng ấy. Để thực hiện giấc mơ nghệ thuật, ông đã mượn tay bạo chúa Lê Tương Dực, vô tình biến lý tưởng cao đẹp của mình thành công cụ phục vụ cho một chế độ thối nát. Nghệ thuật, khi bị tách rời khỏi đời sống nhân dân, đã tự đánh mất nền tảng tồn tại của nó.

Bi kịch của Vũ Như Tô được đẩy lên đỉnh điểm trong Hồi V. Trước binh biến và hiểm nguy cận kề, Đan Thiềm nhiều lần khuyên ông trốn đi, nhưng Vũ Như Tô vẫn khăng khăng cho rằng mình “không có tội”. Ông nhìn nhận mọi việc chỉ trên hệ quy chiếu của nghệ thuật: ông xây dựng cái đẹp, ông là người có công. Chính sự mù quáng ấy đã khiến ông không nhận ra nỗi đau của nhân dân, không ý thức được trách nhiệm xã hội của người nghệ sĩ. Khi Cửu Trùng Đài bốc cháy, Vũ Như Tô rơi vào trạng thái đau đớn tột cùng. Đó là khoảnh khắc vỡ mộng: giấc mơ nghệ thuật tan thành tro bụi. Tuy nhiên, ông chỉ “tỉnh” trước sự sụp đổ của tác phẩm, chứ chưa thực sự nhận ra sai lầm đạo đức của mình. Bi kịch của Vũ Như Tô vì thế là bi kịch của một thiên tài xa rời cuộc sống, chết trong sự tan vỡ của lý tưởng chứ không phải trong sự hối lỗi.

Song song với bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của Đan Thiềm – người tri kỷ và bảo vệ cái đẹp. Đan Thiềm là người sớm nhận ra tài năng kiệt xuất của Vũ Như Tô và hết lòng khuyến khích ông sáng tạo. Bà vừa đam mê cái đẹp, vừa tỉnh táo trước thực tại. Trong cơn biến loạn, bà là người duy nhất ý thức được nguy hiểm và cố gắng cứu Vũ Như Tô. Tuy nhiên, sự tỉnh táo của Đan Thiềm không đủ để cứu vãn bi kịch, bởi chính bà cũng đặt niềm tin tuyệt đối vào nghệ thuật, coi cái đẹp cao hơn mọi giá trị khác. Cái chết của Đan Thiềm là biểu tượng cho sự bất lực của những con người tôn thờ nghệ thuật trong một xã hội rối ren, nơi cái đẹp không còn chỗ dung thân.

Qua đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”, Nguyễn Huy Tưởng đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc và lâu dài: nghệ thuật không thể tồn tại nếu đối lập với cuộc sống và quyền lợi của con người. Tác phẩm không đưa ra một lời giải giản đơn, mà để bi kịch tự cất lên tiếng nói cảnh tỉnh. Đó chính là giá trị tư tưởng và sức sống bền bỉ của vở kịch.

Tóm lại, “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” là đỉnh cao bi kịch của Vũ Như Tô, nơi hai mâu thuẫn lớn bùng nổ và để lại những suy ngẫm sâu xa về nghệ thuật, con người và trách nhiệm xã hội. Qua bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm, Nguyễn Huy Tưởng không chỉ kể lại một câu chuyện lịch sử, mà còn gửi gắm một bài học nhân sinh có giá trị vượt thời gian.

Xem thêm những bài văn mẫu đạt điểm cao của học sinh trên cả nước hay khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Tuyển tập những bài văn hay | văn mẫu lớp 9 của chúng tôi được biên soạn một phần dựa trên cuốn sách: Văn mẫu lớp 9Những bài văn hay lớp 9 đạt điểm cao.

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Giải bài tập lớp 9 sách mới các môn học