Soạn bài Luyện tập và vận dụng - ngắn nhất Kết nối tri thức

Soạn bài Luyện tập và vận dụng trang 159, 160 ngắn nhất mà vẫn đủ ý được biên soạn bám sát sách Ngữ văn lớp 12 Kết nối tri thức giúp học sinh soạn văn 12 dễ dàng hơn.

Soạn bài Luyện tập và vận dụng - Kết nối tri thức

Quảng cáo

1. Đọc:

Văn bản: Bình đựng lệ - Chế Lan Viên

Câu 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ vào loại thơ tượng trưng được không? Vì sao?

Trả lời:

- Có thể xếp bài thơ Bình đựng lệ của Chế Lan Viên vào loại thơ tượng trưng. Vì:

+ Sử dụng hình ảnh tượng trưng:

Bình đựng lệ: tượng trưng cho trái tim, tâm hồn của thi nhân.

Mùa thu: tượng trưng cho sự tàn úa, héo úa, chia ly.

Hoa lựu: tượng trưng cho tình yêu, đam mê.

Trăng: tượng trưng cho sự cô đơn, lạnh lẽo.

+ Nội dung thể hiện:

Thể hiện những cảm xúc, suy tư của thi nhân về cuộc sống, về tình yêu.

Quảng cáo

Bộc lộ tâm trạng cô đơn, buồn bã, thất vọng của thi nhân.

Thể hiện khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời.

Câu 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Theo hiểu biết của bạn, hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ nào?

Trả lời:

Hình ảnh “bình đựng lệ” có thể gợi nhớ đến những câu chuyện cổ:

- Nàng tiên cá: Nàng tiên cá đánh đổi giọng hát để có được chân và tình yêu của chàng hoàng tử. Nàng chịu đựng đau đớn tột cùng khi bước đi trên cạn, nhưng vì tình yêu, nàng chấp nhận hy sinh. Nước mắt của nàng tiên cá tượng trưng cho những đau đớn, hy sinh và tình yêu mãnh liệt.

- Tấm Cám: Cám hãm hại Tấm, khiến Tấm phải chịu nhiều oan trái. Nước mắt của Tấm tượng trưng cho những uất hận, tủi nhục mà nàng phải trải qua.

Quảng cáo

Câu 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): “Bình đựng lệ” là biểu tượng của cái gì? Căn cứ vào đâu để xác định những hàm nghĩa của biểu tượng này?

Trả lời:

Bình đựng lệ là biểu tượng của:

+ hình ảnh ẩn dụ cho trái tim, tâm hồn chứa đầy những nỗi buồn, niềm đau.

+ tượng trưng cho khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời.

 - Để xác định được hàm nghĩa biểu tượng này, ta dựa vào tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, tinh tế, luôn trăn trở về cuộc sống, về con người, và về tình yêu.

Câu 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Tìm những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của “bình đựng lệ”. Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên những trải nghiệm cá nhân nào?

Trả lời:

- Những câu thơ thể hiện nhận thức của tác giả về sự tồn tại vĩnh cửu của bình đựng lệ:

+ Chiếc bình tuột khỏi tay nhân loại

Quảng cáo

Lại về trở lại

+ Ờ, Thế mà chẳng có gì mất hết

 Chiếc bình kia vẫn còn

- Tác giả phát biểu nhận thức này dựa trên:

+ Tâm hồn nghệ sĩ đa cảm, tinh tế. Ông luôn trăn trở về cuộc sống, về con người, và về tình yêu.

+ Bối cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Bối cảnh xã hội lúc bấy giờ đầy biến động, con người phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách.

Câu 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thủ pháp đối lập đã được tác giả vận dụng như thế nào và đạt hiệu quả nghệ thuật gì?

Trả lời:

- Tác giả đã vận dụng thủ pháp đối lập:

+ Đối lập về hình ảnh: sáng - tối, cao - thấp, rộng - hẹp, xa - gần,...

+ Đối lập về cảm xúc: vui - buồn, yêu - ghét, hy vọng - tuyệt vọng,...

+ Đối lập về ý tưởng: sống - chết, hiện tại - quá khứ, thực tại - ảo mộng,...

- Hiệu quả nghệ thuật:

+ Làm nổi bật những ý tưởng, quan điểm của tác giả.

+Thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, dồn nén.

+ T hu hút sự chú ý của người đọc, khơi gợi suy tư.

+ Làm cho tứ thơ đa chiều, sâu sắc, thể hiện nhiều khía cạnh của cuộc sống.

Câu 6 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Nêu nhận xét về màu sắc nghị luận của bài thơ thông qua một số dấu hiệu hình thức mang tính đặc trưng.

Trả lời:

- Nhận xét về màu sắc nghị luận trong bài thơ Bình đựng lệ - Chế Lan Viên:

+ Giọng điệu thay đổi theo từng đoạn thơ: Giọng điệu buồn bã, xót xa → Giọng điệu phẫn uất, căm phẫn → Giọng điệu bi tráng, hào hùng.

+ Hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng: bình đựng lệ, nước mắt, máu, lửa,...

+ Hình ảnh tương phản: bình đựng lệ - bầu trời, nước mắt - lửa,...

+ Sử dụng nhiều từ ngữ có tính biểu cảm cao: chan hòa, thấm ướt, rực cháy,...

+ Sử dụng nhiều phép tu từ: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa,...

Câu 7 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ thái độ đồng cảm hay không đồng cảm của bạn đối với nỗi niềm và nhận thức của tác giả được bộc lộ qua bài thơ.

Trả lời:

Bài thơ Bình đựng lệ của tác giả Chế Lan Viên đã cho người đọc cảm nhận được nỗi niềm bi tráng và nhận thức sâu sắc về cuộc đời con người. Bài thơ sử dụng thành công hình ảnh tượng trưng bình đựng lệ - hình ảnh ẩn dụ cho trái tim, tâm hồn chứa đầy những nỗi buồn, niềm đau, đồng thời nó cũng tượng trưng cho khát vọng yêu thương, hòa hợp với cuộc đời. Nước mắt tuôn rơi không ngừng, thấm ướt cả bầu trời, hòa vào đại dương, thể hiện nỗi đau vô bờ bến của kiếp nhân sinh. Tác giả nhận thức rằng cuộc đời con người đầy rẫy những bất công, oan trái, con người phải chịu đựng nhiều đắng cay, tủi nhục. Là một người trẻ tuổi, tôi đồng cảm với nỗi niềm bi tráng của tác giả. Cuộc sống vốn không hoàn hảo, con người phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Chúng ta cũng từng trải qua những giọt nước mắt vì thất vọng, buồn đau, vì những bất công, oan trái trong cuộc sống. Tuy nhiên, tôi không hoàn toàn đồng ý với nhận thức của tác giả về cuộc đời chỉ toàn nước mắt. Cuộc sống cũng có những niềm vui, niềm hạnh phúc, có những con người tốt bụng, yêu thương nhau. Chúng ta có thể tìm thấy niềm vui trong những điều bình dị, trong tình yêu thương của gia đình, bạn bè, trong những thành quả đạt được sau nỗ lực. Chúng ta cần có niềm tin vào cuộc sống, vào con người, và luôn giữ cho mình một trái tim nhân hậu, biết yêu thương và chia sẻ.

2. Viết

Đề 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện cùng sáng tác về một đề tài hoặc cùng nói về một loại nhân vật.

Trả lời:

Tô Hoài và Kim Lân là hai trong những tác giả xuất sắc của thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Các tác phẩm của họ đều được truyền cảm hứng từ cuộc sống thực tế của người nông dân Việt Nam vào thời điểm trước Cách mạng Tháng Tám. Hai tác phẩm đáng chú ý của họ là “Vợ nhặt” và “Vợ Chồng A Phủ”. Dù tác phẩm này phản ánh cuộc sống của hai nhân vật khác nhau, nhưng cả hai đều có một kết thúc mở. Đó là nơi niềm hy sinh của họ được chuyển hóa thành hy vọng vào một cuộc sống mới, tự do và hạnh phúc.

Tổng quan về hai tác phẩm này, cả hai đều có nhân vật chính là người nông dân Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Cuộc sống của họ đều khó khăn và bất hạnh, nhưng vẫn giữ được những phẩm chất đẹp và quan trọng hơn cả là họ đang trải qua quá trình giác ngộ cách mạng.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” kể về Mị - một cô gái nghèo khó sống tại vùng cao. Dù cuộc sống vất vả, Mị vẫn yêu đời và tin vào lao động. Cô bị bán cho gia đình Thống Lí Pá Tra để trả nợ và phải sống trong thân phận nô lệ, bị đau đớn và làm việc vất vả, nhưng vẫn luôn mong muốn sống. A Phủ cũng bị bắt về nhà Thống Lí Pá Tra sau khi đánh con quan, trở thành người đi ở đợ cho nhà Thống Lí. Hai người nô lệ gặp nhau, cảm thông và giúp đỡ nhau. Một đêm, khi Mị đang ngồi sưởi lửa, cô thấy giọt nước mắt của A Phủ, khiến cô bất ngờ và quyết tâm giải thoát cho anh ta. Mị lấy con dao nhỏ để cắt dây trói và giải thoát cho A Phủ. Sau đó, hai người lẳng lặng chạy xuống dốc núi để trốn thoát khỏi bọn phong kiến. Câu chuyện này thể hiện sức sống và lòng đấu tranh của con người dưới áp lực của bọn phong kiến. Mị đã biết cách vùng lên để giành quyền sống, hành động giải thoát cho A Phủ cho thấy ý chí mạnh mẽ của cô. Kết thúc của câu chuyện nhấn mạnh tinh thần đấu tranh của người dân chống lại bọn địa chủ phong kiến, theo quy luật tất yếu là có áp bức là có đấu tranh.

Truyện ngắn “Vợ nhặt” được trích từ bộ tiểu thuyết “Xóm ngự cư” được viết ngay sau khi Cách Mạng Tháng Tám thành công. Nội dung chính của tác phẩm là phản ánh cuộc sống của những người dân nông thôn sống trong xóm ngụ cư. Nhân vật chính là anh chàng Tràng, một người lái xe bò cho thuê. Vì khó khăn trong cuộc sống, Tràng không thể tổ chức một đám cưới đúng nghĩa. Anh tình cờ gặp được vợ trên đường trở về và họ chỉ tổ chức một bữa cơm đơn giản, trên cái dĩa xỉn xò có một ít rau chuối thái lát và một đĩa muối kèm cháo nồi. Trong ngày cưới của họ, khi họ đang hạnh phúc, tiếng trống thuế và tiếng khóc đau buồn của hàng xóm vang lên vì có người vừa qua đời xa nhà. Cuộc sống thực tế được tái hiện qua tác phẩm này. Truyện xảy ra trong bối cảnh nạn đói năm 1945, thời điểm lịch sử đầy thách thức, khi người dân phải chịu đựng sự áp bức, bóc lột và cảnh đói khốn. Dưới hoàn cảnh đó, người nông dân đã khởi nghĩa, phá kho thóc Nhật và chia cho những người nghèo. Sau nhiều năm vất vả, những người dân nông thôn đó đã đứng lên, đấu tranh và tìm kiếm con đường của họ bằng cách tham gia vào cách mạng. Kết thúc truyện được mô tả bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay trong gió, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Hai truyện kể về hai số phận khác nhau của người nông dân, nhưng kết thúc của chúng đều là kết thúc mở. Điều này cũng nhấn mạnh sự thay đổi tư tưởng của các nhà văn. Trong quá khứ, Nam Cao đã viết về đề tài nông dân với tác phẩm Chí Phèo, nhưng kết thúc của nó lại đi vào ngõ cụt. Nhưng trong các tác phẩm “Vợ Nhặt” và “Vợ Chồng A Phủ”, chúng ta đã thấy được một tương lai tươi sáng cho người nông dân, nhờ vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến cổ hủ, lạc lậu.

Đề 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): So sánh hai tác phẩm thơ cùng thể hiện chủ đề thiên nhiên, đất nước hoặc tình yêu được sáng tác theo những phong cách nghệ thuật khác nhau.

Trả lời:

Trong hoài niệm của kí ức, bức tranh vạn vật thiên nhiên tứ bình của núi rừng Tây Bắc hiện lên thật sinh động và chân thực trong thơ của Tố Hữu

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh rao cài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng ….

Bằng sự ướm hỏi chân thành đầy tinh xảo, người ra đi đã biểu lộ sự lưu luyến và nhớ nhung với kẻ ở lại. Với hình thức tu từ mang dấu hỏi ở cuối câu thơ, lời giãi bày đã được bộc lộ đầy tâm tình mà không cần lời đáp. Hoa núi của rừng sâu là hình ảnh quen thuộc từng gắn bó với kháng chiến gian nan chống Pháp, ta nhớ hoa nhớ người chính là nhớ vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên của Việt Bắc và tình người nồng ấm nơi đây. Những câu sau là một loạt những hình ảnh thân mật và thân thương của đất trời và vạn vật thiên nhiên Việt Bắc. Một bức tranh tứ bình đẹp tuyệt được trải ra trước mắt người đọc. Khunh cảnh vạn vật thiên nhiên thật thơ mộng. Đầu tiên là sắc xanh bạt ngàn của núi rừng khi Việt Bắc vào đông. Những ngọn đuốc tượng trưng sáng rực được hình thành bởi hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi. Trong cái nền khoảng trống đẹp tươi của vạn vật thiên nhiên, vẻ đẹp và khí thế của con người hiện lên vững chãi với gài thắt lưng:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Xuân qua, hạ đến, vạn vật thiên nhiên của Việt Bắc được tổ điểm bởi tiếng ve râm ran nơi rừng phách hổ vàng. Hình ảnh thiếu nữ hiện lên gắn bó giao hòa với vạn vật thiên nhiên, cùng sự cần mẫn hái măng một mình. Bức tranh mùa hạ như một bức sơn mài vừa mang chất văn minh lại đậm chất cổ xưa .

Khép lại bộ tranh tứ bình ấy chính là những đường nét về mùa thu nên thơ cùng tiếng hát chia tay giã biệt bạn hữu:

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Bức tranh vạn vật thiên nhiên đẹp xiết bao với trăng thu được tưới bởi không khí tự do. Sự thân thương, thân mật và mộc mạc của con người và vạn vật thiên nhiên như đã hòa làm một. Vẻ đẹp của con người hiện lên qua tiếng hát ngọt ngào đầy nghĩa tính với kháng chiến và cách mạng. Sự trong trẻo của giọng hát, sự thủy chung ân tình của đồng bào dân tộc bản địa. Đây phải chăng chính là nghĩa tình mười lăm năm gắn bó mặn nồng … Cảm nhận vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên và con người trong Việt BắcĐây thôn Vĩ Dạ qua việc nghiên cứu và phân tích lối thớ của Tố Hữu khiến người đọc cảm nhận được thâm thúy và cụ thể .

Khi nghiên cứu và phân tích Việt BắcĐây thôn Vĩ Dạ, tất cả chúng ta thấy thi nhân họ Hàn cũng sử dụng câu hỏi tu từ ngay trong những tiến trình thơ của mình nhưng lại mang ý niệm trách mọc nhẹ nhàng. Sự mộc mạc thân mật thân quen của làng quê Việt hiện lên chân thực trong những câu thơ của Hàn Mạc Tử. Đó là một miền quê nơi sông Hương thơ mộng và trữ tình. Hiện lên trên cả là hình ảnh những hàng cau thẳng tắp vươn lên trong nắng sớm, sau đó là một khu vườn mướt xanh của lá với sắc ngọc tinh khôi. Trong khoảng trống bình dị ấy, vẻ đẹp của con người hiện lên quá đỗi mộc mạc với khuôn mặt chữ điền ẩn hiện xa xa sau những chiếc lá trúc. Khung cảnh thôn Vĩ hiện lên ấm ấp thân quên chỉ sau vài nét phác họa của người thi nhân. Vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên dung dị ẩn sau từng câu chữ tả cảnh. Xa xa hơn chính là đất trời, là sông nước và gió mây. Vẻ đẹp của vạn vật thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng của con người, có chút gì đó là buồn thương, là xa cách, là chia tay. Giómây vốn xa nhau giờ đây lại như xa hơn bởi cách dùng từ độc lạ của Hàn Mặc Tử. Biện pháp nhân hóa được nhà thơ sử dụng tài tính với hình ảnh dòng nước buồn thiu. Tâm hồn còn người đã thổi vào cảnh một sự luyên tiếc xa xăm, một nỗi nhớ u hoài không dứt.

Việt BắcĐây thôn Vĩ Dạ đều mang vẻ đẹp của vạn vật thiên nhiên và con người, đều mang màu sắc tâm trạng về khung cảnh sông nước quê hương và thiên nhiên. Bút pháp điêu luyện đã chắp cánh và thổi hồn cho thiên nhiên hiện lên sinh động, chân thực và có chút thơ mộng. Cả hai tác phẩm đều thể hiện sự tài hoa trong ngòi bút của Tố Hữu và Hàn Mặc Tử.

Đây thôn Vĩ Dạ mang màu sắc chia ly, xa cách, tâm trạng nhớ nhung trong tình yêu. Việt Bắc thể hiện nỗi nhớ da diết nhẹ nhàng của người ở với người đi sau mười lăm năm gắn bó qua việc khơi lại những kỉ niệm và kí ức trong quá trình gian khổ chống Pháp. Đều là những cây bút tài hoa, mang màu sắc thơ trữ tình, mặc dù với Tố Hữu đó là chất trữ tình cách mạng, còn trong thơ Hàn Mặc Tử lại là chất trữ tình lãng mạn điển hình. Đây thôn Vĩ Dạ cho thấy sự khắc khoải nhớ nhung khôn cùng mang màu sắc bi ai và chia ly. Việt Bắc thể hiện nghĩa tình gắn bó qua giọng thơ nhẹ nhàng, qua vẻ đẹp và những khung cảnh quen thuộc gần gũi của núi rừng Việt Bắc.

Có thể nói, Việt BắcĐây thôn Vĩ Dạ là hai tác phẩm biểu lộ thâm thúy và rõ nét vẻ đẹp vạn vật thiên nhiên và con người, trải qua đó cũng cho thấy sự tài hoa phát minh sáng tạo trong phong thái của hai nhà thơ. Dù sống ở những thời đại khác nhau, với tiến trình lịch sử dân tộc cũng khác nhau, nhưng ở họ là sợi dây liên kết, là những cảm hứng phát hiện về vạn vật thiên nhiên và con người.

Đề 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Phân tích, đánh giá việc khai thác các chủ đề, hình tượng, mô típ của sáng tác dân gian (ca dao, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích) trong một tác phẩm văn học hiện đại.

Trả lời:

Tố Hữu được tôn vinh là “nhà thơ của cách mạng”. Ông là một trong số ít những nhà thơ sớm được giác ngộ cách mạng và tìm được con đường đúng đắn trong khi những nhà thơ khác còn đang loay hoay thoát lên tiên, hay khép mình trong cái tôi tuyệt đối. Là một người nghệ sĩ, đồng thời là một nhà cách mạng tài năng, ông dùng ngòi bút của mình để chiến đấu và ca ngợi cuộc chiến anh hùng. Điều này được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Việt Bắc, một tác phẩm thấm nhuần hơi thở của thời đại, với âm vang của ca dao.

Âm vang của ca dao trong bài Việt Bắc không chỉ thể hiện ở phương diện nội dung mà nó được khắc họa rõ nét hơn ở phương diện nghệ thuật. Trước tiên, nó thể hiện ở cách dùng thể thơ dân tộc – thể thơ lục bát. Thể thơ lục bát, thấm đẫm một tình thần dân tộc từ ngàn đời. Đó là điệu hồn của biết bao câu ca dao, dân ca của người dân lao động

Thân em như tấm lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

(Ca dao)

Chất giản dị dân dã đó còn được các tác giả trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu,… Tố Hữu đã sử dụng lại thể thơ của dân tộc trong tác phẩm lớn của mình. Thể thơ lục bát đã được vận dụng nhuần nhuyễn, vừa thống nhất trong một bài thơ dài vừa biến hóa đa dạng với những câu thơ dung dị, dân dã gần với ca dao mà vẫn cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị.

Khi phân tích, ta cũng thấy nhiều hình ảnh ước lệ quen thuộc của ca dao, dân ca được Tố Hữu sử dụng rất thích hợp với khung cảnh và tâm trạng trong bài “Việt Bắc”, như Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn, Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu, Nước trôi lòng suối chẳng trôi, Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,…. Chất liệu văn học dân gian được vận dụng phong phú, đa dạng, đặc biệt là ca dao trữ tình. Như kết cấu bao nhiêu…bấy nhiêu ta đã từng bắt gặp trong câu ca dao:

Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.

Hay điệp khúc nhớ của Tố Hữu cũng gợi cho người đọc đến những câu ca dao về nỗi nhớ trong tình yêu.

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi,

Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

(ca dao)

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai.

(ca dao)

Ngoài ra, việc sử dụng những cách diễn đạt giàu hình ảnh, nghệ thuật hô ứng như Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng – Tiếng ai tha thiết bên cồn hay Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn – Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu, các cách chuyển nghĩa truyền thống – so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ, đã được sử dụng thích hợp, tạo nên phong vị dân gian và chất cổ điển của bài thơ.

Phong vị ấy còn thể hiện ở cách dùng lối kết cấu đối đáp quen thuộc trong ca dao, dân ca:

Bây giờ mận mới hỏi đào,

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Hay

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng,

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Chàng hỏi thì thiếp xin vâng

Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng.

(ca dao)

Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến đang đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào hạnh phúc về quá khứ đẹp đẽ với nghĩa tình thắm thiết – tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp ở đây có thể xem là một cách phân thân để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

Khi phân tích, ta nhận thấy Tố Hữu đã vận dụng thành công các yếu tố của văn học dân gian từ thể loại đến chất liệu dân gian như hình ảnh, cấu trúc, từ ngữ. Nhưng ông không dùng một cách rập khuôn mà vận dụng một cách sáng tạo, thổi hơi thở mới vào những thi liệu dân gian. Cái chất dân tộc mộc mạc ấy đã góp phần thể hiện thành công nội dung của bài thơ khiến cho lời thơ như tiếng hát cất lên từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. Chính vì thế, những vần thơ của Tố Hữu dễ dàng đi vào lòng người đọc. Chất dân tộc ấy len lỏi vào từng câu thơ tạo nên một dấu ấn riêng cho sáng tác của Tố Hữu – vừa bình dị vừa đậm chất suy tư, chiều sâu.

Chất dân gian thấm đẫm tinh thần dân tộc ấy đã phát huy tối ưu vai trò của mình tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng như những câu hát ca dao, như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân cần lao. Việt Bắc là một bản tổng kết của một giai đoạn lịch sử chống Pháp đầy khó khăn nhưng oai hùng của một dân tộc anh hùng. Nhưng bản tổng kết ấy không liệt kê chiến công, không phải những lời lẽ tổng kết khô khan mà bản tổng kết ấy được viết lên bằng nhạc điệu của tâm hồn. Trang thơ đã khép nhưng vẫn để lại dư âm sâu lắng cho người đọc.

Đề 4 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết bài văn nghị luận về vấn đề: Thanh niên và việc xác lập giá trị sống.

Trả lời:

Tuổi trẻ này mình cùng nhau

Khoác vai đi từ sáng tới đêm

Hát lên như chưa từng được hát

Là la la là lá lá la.....

Ngân nga trong từng câu hát của bài hát Bài ca tuổi trẻ, tôi nhận ra rằng mỗi người đều có một bài ca riêng cho tuổi xuân của mình. Có những bài ca thánh thót, yêu đời nhưng rồi cũng có những bài ca trầm lắng, buồn man mác. Dù bài ca tuổi trẻ của mỗi người là như thế nào thì chúng cũng được viết lên với nhiệm vụ trở thành một con người sống có ích, sống ý nghĩa và góp mình vào xây dựng Tổ quốc, và điều quan trọng đó là thiết lập giá trị sống cho chính mình.

Tuổi trẻ, cái tuổi mà người ta thường hay nói đến trong sứ mệnh và nhiệm vụ đối với Tổ Quốc là gì? Tuổi trẻ chính là lứa tuổi thanh thiếu niên, là lứa tuổi được phát triển đầy đủ nhất. Thế hệ trẻ được học tập và tích lũy kiến thức, nhằm xây dựng một tương lai rộng mở, đưa đất nước phát triển phồn thịnh, để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu. Không chỉ vậy, tuổi trẻ hay còn gọi là tuổi xuân của đời người là lúc mà con người ta tràn trề nhất, giàu sức sống và có một trái tim mãnh liệt, cháy bỏng nhất. Đây là lứa tuổi mà những thanh thiếu niên mang trong mình bao nhiệt huyết muốn cống hiến cho đời, cho quê hương, đất nước. Thời điểm này cũng là thời điểm mà con người có một nguồn sức khoẻ, sức lực tốt nhất.

Chính vì những lợi thế trên cho nên tuổi trẻ chính là tương lai của đất nước. Được học tập, phát triển và nghiên cứu khoa học, người trẻ sẽ đem những kiến thức, những gì mình tìm tòi, học hỏi được để đóng góp vào kho tàng chung của đất nước. Từ đó mà xây dựng nên một nền móng vững trãi cho đất nước được phát triển. Tương lai của đất nước là tuổi trẻ, tuổi trẻ bằng sức lực và tâm huyết của mình sẽ cống hiến trọn vẹn cho đất nước. Sở dĩ là như vậy bởi lẽ, một đất nước nếu có dân số già thì đất nước ấy sẽ rất khó để phát triển. Vì người già sức lao động sẽ giảm sút và không còn khỏe mạnh như lứa tuổi thanh thiếu niên. Những người trẻ là nguồn lao động dồi dào cho đất nước, họ có sức khỏe tốt, có kiến thức và còn cả một cuộc đời dài phía trước để giúp ích cho nước nhà.

Trên thực tế đã có rất nhiều những ví dụ chứng minh cho tuổi trẻ là tương lai của đất nước. Trong lịch sử, ta có thể nhớ đến Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất Việt Nam: Nguyễn Hiền. Nguyễn Hiền nổi tiếng không chỉ bởi học vấn uyên thâm mà còn bởi thái độ sống dứt khoát, nhiệt thành. Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên vào năm 13 tuổi, điều này cho thấy tuổi trẻ, sức trẻ có một nguồn năng lượng và tích lũy kiến thức nhiều như thế nào. Kế đến là chị Võ Thị Sáu, chị đã cống hiến rất nhiều cho đất nước trong thời kỳ chiến tranh khi chị làm một nữ du kích, một người liên lạc thông tin. Chị đã hy sinh khi mới 18 tuổi, góp mình vào công cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ Quốc khi tuổi còn rất trẻ. Còn ở hiện tại, rất nhiều những người trẻ vẫn ngày ngày cống hiến cho đất nước. Điều đó thể hiện qua các trách nhiệm xã hội của họ. Điển hình là các doanh nghiệp, các công ty, ngoài việc đưa các sản phẩm của Việt Nam ra thế giới thì họ còn dùng thành công của mình để quyên góp từ thiện cho các hoàn cảnh khó khăn trong xã hội.

Để phát huy được vai trò của tuổi trẻ đối với đất nước thì Đảng và chính phủ cần có những chính sách đúng đắn để phát triển được hết những khả năng cũng như tầm quan trọng của thế hệ trẻ. Đất nước phải tạo cơ hội được học tập và phát triển cho mỗi cá nhân, dù ở đồng bằng hay vùng sâu vùng xa. Ngược lại, thế hệ thanh thiếu niên cũng cần phải cố gắng học tập, nỗ lực hết sức mình để cống hiến cho đất nước ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ đi trước và công ơn của Hồ Chủ Tịch.

Belinsky đã từng nói: Tuổi trẻ không có lí tưởng giống như buổi sáng không có mặt trời, tôi và những người bạn cùng chăng lứa sẽ dùng cả thanh xuân và nhiệt huyết của mình để hiến dâng cho Tổ Quốc. Để làm được như vậy thì trước hết, tôi và các bạn hãy cùng nhau tìm ra lí tưởng, tìm ra đam mê của chính bản thân mình. Có lí tưởng, có khao khát rồi thì mới có thể vạch ra được con đường đúng đắn cho tương lai sau này. Đối với mỗi học sinh là thế hệ tương lai của đất nước, với trọng trách xây dựng xã hội ngày một tốt đẹp hơn thì cần phải có ý thức cộng đồng. Điều đó đến từ những hành động rất nhỏ như quyên góp ủng hộ người nghèo, giữ gìn vệ sinh trường lớp, giúp đỡ bạn bè trong học tập. Hay như trong giai đoạn được nghỉ học vì dịch bệnh, có nhiều em học sinh tuy còn nhỏ nhưng đã làm được những điều thật ý nghĩa. Câu chuyện về một em nhỏ cùng mẹ làm ra những chiếc bánh rồi đem bán. Toàn bộ số tiền đó, em đã mua khẩu trang ủng hộ cho các bác sĩ nơi tuyến đầu chống dich. Những bức tranh vẽ của các em học sinh về những chiến sĩ công an bộ đội các y bác sĩ với như một lời tri ân.

Tóm lại, khi mỗi thanh niên mang trong mình ý thức, trách nhiệm cá nhân, chịu buông bỏ cái tôi của bản thân, hòa nhập với mọi người xung quanh bằng lòng nhiệt tình, khi ấy, cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Chỉ với những hành động nhỏ nhưng cũng để lại ý nghĩa to lớn cho xã hội, giống như câu nói của Bác Hồ: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình .

Đề 5 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Xây dựng đề cương cho bài báo cáo nghiên cứu về một vấn đề liên quan đến sinh hoạt học đường.

Trả lời:

Đề cương cho bài báo cáo nghiên cứu về phương pháp học tập hiệu quả cho học sinh:

Bước

Thao tác cần làm

Lưu ý

Bước 1: Chuẩn bị viết

· Xác định đề tài

- Chọn đề tài phù hợp với chủ đề Phương pháp học tập hiệu quả để nghiên cứu.

- Cụ thể hóa đề tài sao cho khả thi, phù hợp với khả năng, điều kiện nghiên cứu của bản thân.

- Xác định mục đích viết, đối tượng người đọc.

- Trả lời các câu hỏi: Bài báo cáo này được viết với mục đích gì? Người đọc bài báo cáo này là ai?

- Thu thập tư liệu

- Đặt câu hỏi nghiên cứu

- Thu thập tư liệu để tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu.

- Xử lí tài liệu đã thu thập và xác định điểm đóng góp của đề tài đang thực hiện.

- Đề tài phù hợp cần có tính thiết thực, khơi gợi được ở người đọc mối quan tâm với đề tài.

- Đánh giá mức độ tin cậy của tài liệu bằng cách đặt câu hỏi: Tài liệu công bố khi nào? Ai là tác giả? Đơn vị công bố, xuất bản có đáng tin cậy hay không?

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý

· Tìm ý

- Sau khi thực hiện xong đề tài, tiến hành tìm ý để viết bài báo cáo.

- Cân nhắc trên các phương diện: câu hỏi nghiên cứu; phương pháp, kết quả nghiên cứu; trích dẫn và cước chú cần sử dụng; các phương tiện phi ngôn ngữ hỗ trợ.

· Lập dàn ý

Sắp xếp các ý đã tìm được vào bố cục của một bài báo cáo kết quả nghiên cứu như sau:

- Cơ sở lí thuyết

- Phương pháp nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu

- Kết luận

Bố cục bài báo cáo cũng có thể được chia thành các đề mục phù hợp với đề tài nghiên cứu.

Bước 3:

Viết bài

Từ dàn ý đã lập, viết bài báo cáo hoàn chỉnh

- Nhan đề cần ngắn gọn, giới thiệu được nội dung chính của bài báo cáo, có chứa từ khóa của đề tài.

- Cần sử dụng ngôn ngữ khách quan, phù hợp với bài báo cáo khoa học.

- Sử dụng trích dẫn và cước chú đúng quy cách để bổ sung thông tin cho bài báo cáo.

- Chú ý đến việc chống đạo văn và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Bước 4:

Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

- Xem lại và chỉnh sửa

- Sau khi viết xong, đọc lại bài và chỉnh sửa

- Rút kinh nghiệm

- Ghi lại kinh nghiệm về việc viết một bài báo cáo kết quả nghiên cứu có sử dụng trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ.

Thực hiện dựa vào bảng kiểm kĩ năng viết bài báo cáo kết quả nghiên cứu trong SGK

3. Nói và nghe

Nội dung 1 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thuyết trình về một tác phẩm truyện (truyện ngắn, tiểu thuyết) có cách tiếp cận và thể hiện mới mẻ đối với đời sống, khát vọng của tuổi 20.

Trả lời:

Chào cô và các bạn, sau đây tôi xin giới thiệu với các bạn về truyện Trên đường băng – đây là một truyện mới, nói về tuổi 20 rất thực tế và sâu sắc.

Đã bao giờ bạn cảm thấy lạc lõng, bâng khuâng về cuộc đời mỗi khi trầm tư hay mỗi sáng thức dậy, bạn không hề biết hôm nay mình sẽ làm gì? Thích làm gì và phải làm gì? Bạn có hay cảm thấy mất phương hướng, lạc bước trên con đường đời mình đang đi? Và có bao giờ bạn tự hỏi mình đi học 12 năm học sinh và 4,5 năm cao đẳng, đại học để làm gì? Hay đơn giản chỉ để lấy những tấm giấy khen học sinh xuất sắc sáng chói và tấm bằng tốt nghiệp chỉ để cha mẹ, người thân vui lòng? Nếu bạn đã từng như vậy thì bạn không hề cô đơn đâu vì đâu đó trên mảnh đất hình chữ S: hơn 90 triệu người này có rất nhiều người như bạn, trong đó có bản thân mình. 

Và liệu bạn có thắc mắc rằng tại sao chúng ta lại gặp phải những tình trạng như trên? Tất cả chúng đều do nhận thức, suy nghĩ của mỗi chúng ta mà ra. Chúng ta cảm thấy bâng khuâng, buồn chán vì chúng ta chưa có suy nghĩ tích cực, chúng ta mất phương hướng, lạc bước vì chúng ta chưa có những kế hoạch kĩ càng để đạt được những mục tiêu to lớn mà chúng ta mong muốn đến cháy bỏng, chúng ta chưa vẽ ra một cuộc sống mà chúng ta hằng mong đợi để tìm kiếm những động lực thúc đẩy ta làm điều đó mà chúng ta chỉ chờ đợi và hi vọng một tương lại tốt đẹp sẽ đến với chúng ta một cách bị động. Vậy ban có muốn trở thành người sâu sắc, tích cực, thành công và luôn làm chủ cuộc đời mình? Bạn muốn cuộc đời mình tràn ngập niềm hạnh phúc và đẩy lùi những phiền muộn, sự sợ hãi không đáng có. Hãy thay đổi nhận thức trong con người bạn. Trên đường băng là cuốn sách khá thú vị trong chuỗi câu chuyện Tony Buổi Sáng mà hiện nay được rất nhiều bạn trẻ theo dõi và thích thú. 

Tác phẩm không có nhân vật chính, có hơn 100 câu chuyện, hơn 100 nhân vật. Cuốn sách như một chuyến bay, được chia thành 3 phần gồm chuẩn bị hành trang, ngồi phòng chờ sân bay và lên đường. Mỗi phần sẽ đại diện cho một hành trình mà chúng ta bắt buộc phải trải qua trên hành trình trưởng thành.

Phần 1 của cuốn sách kể về những câu chuyện: vô cảm, tiểu nông vụn vặt, thói trễ giờ, bệnh nghiện Internet… những câu chuyện được kể dưới hình thức dí dỏm, hóm hỉnh. Dường như mỗi người sẽ thấy mình trong đó, tác giả lồng ghép tư tưởng, bài học trong từng câu chuyện được kể. Từng câu chuyện như thôi thúc những người trẻ dám bước chân ra thế giới, dám thể hiện mình. Tuổi trẻ, hãy ở ngoài nhiều hơn ở nhà. “Hãy nhào vô xin người khác “bóc hết, lột sạch” khả năng của mình. Chỉ sợ bất tài nộp hồ sơ “xin việc”, mà chả ai thèm cho, chả ai thèm bóc lột. Khi đã được bóc và lột hết, dù sau này đi đâu, làm gì, bạn đều cực kỳ thành công”.

Phần 2: Phòng chờ sân bay. Vẫn là những câu chuyện dí dỏm nhưng đậm đà ý nghĩa, Tony Buổi Sáng mang lại những bài học, những suy nghĩ về cuộc sống và tuổi trẻ. Bên cạnh sự hài hước vốn có, thì đôi lúc lại là những lời tâm sự sâu lắng, như trút hết tâm tư giãi bày cho người ta hiểu. Tác giả dành nhiều thời lượng kể những câu chuyện của chính mình: chứng tự kỉ của Tony, Tony nghe nhạc, uống cafe,… Tuy nhiên, văn phong rất gần gũi, hài hước.

Phần 3: Cất cánh. Tác giả đưa lời khuyên: giữ chữ tín, sự hào sảng, sáng tạo, bươn chải,… chứ không phải thở dài. Hãy cố gắng khởi nghiệp!

Sau cùng, chúng ta đã nhận được gì qua những câu chuyện, những chia sẻ kinh nghiệm của dượng Tony qua cuốn sách Trên đường băng? Mỗi cuốn sách mang một thông điệp khác nhau thế nhưng cuốn sách Trên đường băng lại để lại một thông điệp rất gần gũi và rất hài hước hóm hỉnh: Học ngoại ngữ: hãy học thêm ít nhất 1 ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh. Hãy trau dồi ngoại ngữ của mình thật tốt, biết thêm ngoại ngữ sẽ giúp ích bạn rất nhiều trong cuộc sống và công việc. Hãy đi làm thêm: khi còn trẻ bạn hãy đi làm thêm. Đừng ngại làm các công việc như nhân viên giao hàng, chạy bàn hay phát tờ rơi. Dù bạn có làm công việc gì bạn cũng sẽ có thêm kinh nghiệm. Những kinh nghiệm về cách ứng xử, ăn nói, giao tiếp. Những kinh nghiệm trong khi bạn đi làm thêm sau này sẽ là vũ khí của bạn trong công việc.

Học cách hào sảng: cho đi rồi sẽ được nhận lại. Đừng mãi suy nghĩ ích kỉ chỉ nghĩ cho riêng mình. Giúp người khác giàu thì mình mới giàu bền vững. Hãy suy nghĩ cho đồng loại: cùng là con người với nhau thì hãy thương lấy nhau. Đừng vì lợi ích của riêng mình mà làm hại người khác. Hãy tự lập: khi còn trẻ hãy biết tự lập. Tự kiếm tiền lo cho cuộc sống sinh viên của mình. Đừng mãi làm cò con mong sự che chở của cò mẹ. Mà hãy trở thành một chú chim đại bàng tung cánh bay trên bầu trời đam mê của mình.

Sau mỗi câu chuyện được kể, tác giả đều để trống vài dòng, mục đích cho người đọc ghi chép lại bài học. Mỗi người đều có những chuyến bay của cuộc đời mình. Và để cất cánh được thì hành trang mà mỗi người trong chúng ta cần chuẩn bị ngoài kiến thức đó là gì?

 Trên đường băng có thể rút ra 7 bài học đắt giá sau:

1. Ưu tiên đầu tư trí lực, thể lựa và kỹ năng trong công việc và cuộc sống

2. Hãy sống lành mạnh để trở thành người mà bản thân mong muốn. Là nhà tranh xiêu vẹo hay tòa cao ốc chọc trời thì nên móng là thứ giúp nó cân bằng.

3. Tư duy sống tích cực

4. Sống hào sảng, không tính toán, sẵn sàng cho đi, sẵn sàng buông bỏ.

5. Sống đạo đức, có kỷ luật, cẩn thuận và tỉ mỉ. Hay còn được gọi là "Chủ nghĩa hoàn hảo"

6. Nói không với bệnh "hào hứng một phút" tức là trước khi làm một việc thì rất hào hứng, nhiệt huyết nhưng chỉ được vài bữa là chán và bỏ cuộc

7. Đừng từ chối cơ hội bán hàng. Nhiều bạn sinh viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm đã yêu cầu lương cao, công việc nhàn hạ. Điều đó thật mâu thuẫn. Con đường trau dồi kinh nghiệm nhanh nhất là bán hàng. Dù bạn học bất kỳ ngành nào nhưng nếu đang thất nghiệp và đứng trước cơ hội làm nhân viên bán hàng hãy cứ thử xem, đừng ngại khổ.

Trên đây là nội dung chia sẻ của tôi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài của tôi hoàn thiện hơn.

Nội dung 2 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thuyết trình về mối quan hệ giữa vay mượn và sáng tạo trong sáng tác văn học qua phân tích một số tác phẩm cụ thể lấy từ văn học Việt Nam (thơ, kịch, truyện).

Trả lời:

Chào các bạn, sau đây tôi xin giới thiệu với các bạn về sự vay mượn và sáng tạo trong sáng tác văn học qua vở kịch Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt của tác giả Lưu Quang Vũ.

Từ sự so sánh về quan điểm triết lý giữa truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt và vở kịch cùng tên của Lưu Quang Vũ, bài viết nêu lên những nét mới, rất có ý nghĩa trong tác phẩm của nhà soạn kịch nổi tiếng này.

Nếu cốt truyện dân gian chỉ đơn giản đề cao, tuyệt đối hoá vai trò của linh hồn đối với thể xác, thì đến vở kịch của Lưu Quang Vũ, vấn đề đã được ông đào sâu, mở rộng và phát triển hơn rất nhiều. Ông có quan niệm khác về mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác – đó là mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau. Hơn nữa, ông còn mở rộng tầm triết lý sang cả những vấn đề nhân sinh khác, như vấn đề xung đột giữa nhu cầu tự nhiên và nhân cách, vấn đề đấu tranh trong bản thân mỗi con người để hoàn thiện nhân cách làm người, v.v.. Vở kịch của Lưu Quang Vũ, vì thế, không chỉ là thành quả to lớn của nền kịch nói hiện đại Việt Nam, mà còn là một đóng góp đặc sắc của ông vào quan niệm triết lý nhân sinh nói chung. Trong bài nói này, tôi không so sánh một cách toàn diện giữa một truyện cổ dân gian và một vở kịch dài hiện đại, cũng không so sánh về toàn bộ nội dung tư tưởng, mà chỉ so sánh về tư tưởng triết học – phần cốt lõi của cả hai tác phẩm.

Truyện cổ dân gian: Ngày xưa, có một người tên là Trương Ba, người còn trẻ tuổi nhưng đánh cờ tướng rất giỏi. Nước cờ của anh dễ thường thiên hạ không có người nào địch nổi. Bao nhiêu giải cờ trong những hội hè mùa xuân đều về tay anh. Tiếng đồn vang khắp nước, sang đến tận Giang Nam. Buổi ấy, ở Trung Quốc, có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng cao cờ. Khi nghe tiếng Trương Ba, Kỵ Như liền khăn gói sang Nam tìm đến nhà địch thủ. Hai người đọ tài nhau trong mấy ván vẫn không phân thua được. Nhưng đến ván thứ ba, Trương Ba dồn Kỵ Như vào thế bí. Thấy đối phương vò đầu suy nghĩ, Trương Ba kiêu hãnh bảo:

- Nước cờ này dù có Đế Thích xuống đây cũng không thể gỡ nổi.

Bấy giờ Đế Thích là thần cờ ở thiên đình, bỗng nghe câu nói hỗn xược của Trương Ba xúc phạm đến mình, liền cưỡi mây xuống trần định cho y biết tay. Trương Ba và Kỵ Như đang đánh, chợt có một ông cụ già đến ngồi bên cạnh bàn cờ. Ông cụ thủng thỉnh mách cho Kỵ Như mấy nước. Tự nhiên, bên Kỵ Như cờ bại thành thắng. Trương Ba cau có, trong bụng tức giận ông già ở đâu đến làm cho mình lâm vào thế bí. Nhưng nhìn thấy ông cụ râu tóc trắng xóa, mặt mũi không có vẻ là người trần tục, chợt hiểu, liền sụp xuống lạy mà rằng: Ngài hẳn là thần Đế Thích đây rồi, tôi người trần mắt thịt không biết, xin thứ lỗi. Đế Thích cười bảo: Ta nghe như nhà ngươi tự phụ là cao cờ nên xuống xem cho biết. Trương Ba liền giữ Đế Thích lại mua rượu, giết gà, khoản đãi rất chu tất. Đế Thích tuy mới gặp cũng rất yêu mến Trương Ba. Thấy anh khẩn khoản muốn học nước cờ của mình, Đế Thích bảo anh: Ta thấy nhà ngươi có bụng chân thành, vậy ta cho một bó hương này, mỗi lần cần đến ta thì thắp lên một cây, ta sẽ xuống. Nói đoạn, cưỡi mây bay lên trời.

Từ đó, Trương Ba thỉnh thoảng lại dọn cờ mời thầy Đế Thích xuống chơi. Hai bên rất tương đắc. Nhưng một hôm, Trương Ba bị cái chết mang đi một cách đột ngột. Sau khi chôn cất chồng, người vợ dọn dẹp nhà cửa, thấy có nén hương giắt ở mái nhà, chị ta vô tình lấy xuống đốt lên cắm trước bàn thờ chồng. Ở thiên đình, thần Đế Thích nhận được tin bằng mùi hương liền xuống ngay. Thấy vắng mặt Trương Ba, Đế Thích ngạc nhiên: Trương Ba đâu? Vợ Trương Ba sụt sịt: Nhà tôi chết đã gần một tháng nay rồiChết rồi! Sao lúc mới tắt thở không gọi ta xuống ngay, để đến bây giờ còn làm thế nào được nữa?. Suy nghĩ một chút, Đế Thích lại hỏi thêm: Trong xóm hiện nay có ai mới chết không?. Vợ Trương Ba đáp: Có một người Hàng thịt mới chết tối hôm qua. Thần Đế Thích bảo chị ta dẫn mình đến nhà người Hàng thịt mà bảo: Ta sẽ kiếm cách làm cho chồng nhà ngươi sống lại. Nói xong, thần hóa phép rồi trở về trời. Nói chuyện trong nhà người Hàng thịt lúc đó, mọi người đang xúm quanh linh sàng khóc lóc kể lể thì tự nhiên thấy người chết ngồi nhỏm dậy. Hắn ta vứt tất cả mọi đồ khâm liệm rồi chẳng nói chẳng rằng đi thẳng một mạch về nhà Trương Ba. Vợ Trương Ba thấy người Hàng thịt, biết là thần Đế Thích đã làm cho chồng mình sống lại, mừng rỡ đón vào. Giữa lúc đó, thì vợ con người Hàng thịt cũng chạy theo níu lấy chồng nhưng không những bị vợ Trương Ba giằng lại, mà ngay chính chồng mình cũng nhất định không chịu về. Đôi bên cãi cọ nhau, cuối cùng biến thành cuộc đấu khẩu rất kịch liệt. Xóm làng không biết phân xử ra sao, đành đem việc đó lên quan.

Quan cho đòi các nhà hàng xóm tới hỏi cung thì ai cũng bảo người sống lại đó là anh Hàng thịt. Nhưng chỉ có vợ Trương Ba thì nhất định nhận ra là chồng mình. Quan hỏi rằng: Chồng chị ngày thường hay làm gì?. Đáp: chồng tôi chỉ thạo đánh cờ mà thôi. Quan lại hỏi vợ người Hàng thịt: chồng chị ngày thường hay làm nghề gì?. Đáp: chồng tôi chỉ thạo nghề mổ lợn. Nghe đoạn, quan sai đem một con lợn vào công đường cho anh Hàng thịt mổ, nhưng anh ta lúng túng không biết làm thế nào cả. Quan lại sai mấy người giỏi cờ vào tỉ thí với người Hàng thịt thì không ngờ, con người đó đi những nước cờ rất cao không ai địch nổi. Quan bèn phán cho về nhà Trương Ba. Vì thế mới có câu Hồn Trương Ba, da Hàng thịt.

Như vậy, truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt cũng quan niệm linh hồn phải có thể xác mới có chỗ trú ngụ và thể xác phải có linh hồn mới sống được, mới không rữa nát. Nhưng truyện cổ dân gian tuyệt đối hóa vai trò của linh hồn, coi nhẹ thể xác, nên khi Trương Ba mượn được thể xác của người Hàng thịt thì Trương Ba coi mình là Trương Ba 100% trong ý thức, trong tình cảm, trong tính cách, tuyệt nhiên không băn khoăn gì về hình dạng của mình. Vợ Trương Ba cũng vậy, khi thấy chồng là thân xác anh Hàng thịt nhưng tâm trí là Trương Ba – chồng mình – thì cũng không băn khoăn gì, nhận ngay và vui vẻ chung sống. Vợ anh Hàng thịt chỉ thấy đơn giản là hình dạng chồng mình sống lại nên đấu tranh khiếu kiện giành giật về cho mình, mặc dù anh ta đã nói anh ta là Trương Ba và chạy về nhà Trương Ba. Quan phủ sau khi kiểm tra kỹ năng mổ thịt lợn và nhất là kỹ năng chơi cờ thì quyết định xử ngay cho anh hàng thịt mang hồn Trương Ba về với vợ Trương Ba. Phép thử mổ thịt có thể không chính xác, vì anh Hàng thịt nếu thích vợ Trương Ba có thể giả vờ mổ vụng; nhưng phép thử chơi cờ thì không thể sai được, vì nó thuộc về trí tuệ, về năng khiếu tính toán trong loại hình thể thao trí tuệ đặc biệt, cũng chính là một biểu hiện, một phương diện đặc sắc của linh hồn. Nó xác định, khẳng định linh hồn đó chỉ có thể là Trương Ba – người sinh thời chơi cờ rất giỏi.

Với cốt truyện ngắn gọn, mang một tư tưởng triết học có phần hơi đơn giản – đề cao, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn, tách rời linh hồn và thể xác, coi thể xác chỉ như cái túi đựng linh hồn – truyện cổ dân gian Hồn Trương Ba, da Hàng thịt phù hợp với quan niệm xưa, qua bao thế kỷ vẫn được kể, được yêu thích và không hề gây tranh cãi.

Nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, của con người và khoa học (sinh lý học và tâm lý học), tư tưởng triết học về con người cũng trở nên phong phú hơn, sâu sắc hơn và toàn diện hơn. Từ đó, tư tưởng triết học trong truyện cổ dân gian đã được Lưu Quang Vũ, nhà viết kịch tài năng của thời hiện đại, nhìn nhận lại và phát triển theo trình độ nhận thức của thời đại, theo yêu cầu nhân sinh và thẩm mỹ của thời hiện đại. Vở kịch của Lưu Quang Vũ: Nam Tào, Bắc Đẩu đang ngồi chấm người phải chết trong ngày. Đế Thích đến tỏ ý muốn xuống hạ giới để tìm người cao cờ đánh cho vui. Vì vội đi dự tiệc ở bên dinh Thái thượng nên Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba. Trương Ba đang chăm vườn và trò chuyện cùng vợ, cháu gái nội, con trai, con dâu thì Trưởng Hoạt đến chơi cờ. Đế Thích xuất hiện, giúp Trưởng Hoạt gỡ thế cờ. Đế Thích cho Trương Ba mấy nén hương và bảo nếu cần thì thắp một nén là Đế Thích xuống, thắp ba nén thì có thể lên thiên đình gặp Đế Thích. Sau đó, Trương Ba thấy trong người khó chịu và chết. Nam Tào, Bắc Đẩu và Đế Thích đang trò chuyện thì vợ Trương Ba lên (bà ta vô tình thắp ba nén hương cho chồng). Bà đòi trả mạng sống cho chồng. Nhân có anh Hàng thịt mới chết, thân xác chưa tan rữa, Nam Tào, Bắc Đẩu cho hồn Trương Ba nhập vào xác anh Hàng thịt để sống lại.
Gia đình người Hàng thịt đang ngồi bên quan tài thì người Hàng thịt đội nắp quan tài lên, đòi về nhà Trương Ba, không chịu ở lại nhà Hàng thịt. Vợ Trương Ba đến xem phép mầu nghiệm ứng để đón chồng. Lúc đầu, mọi người đều ngỡ ngàng nhưng hồn Trương Ba đã nói được những điều chỉ có Trương Ba xưa mới biết, nên vợ Trương Ba nhận chồng, Trưởng Hoạt nhận bạn. Hồn Trương Ba (trong xác anh Hàng thịt) về nhà Trương Ba. Nhưng bà vợ băn khoăn vì thân xác chồng khác xưa nhiều quá. Bà cũng thắc mắc về việc chồng phải sang giúp chị Hàng thịt mổ lợn mặc dù vụng về. Anh con trai thì hy vọng với sức vóc mới, bố có thể cùng đi buôn lậu với mình. Hồn Trương Ba đã tát con với sức mạnh của cánh tay anh Hàng thịt.

Lý trưởng vào bắt hồn Trương Ba phải về nhà Hàng thịt. Anh con trai hối lộ, Lý trưởng xử: ban ngày ở nhà Trương Ba, đêm về nhà Hàng thịt. Anh con trai lại có lời, Lý trưởng cho phép Trương Ba chỉ phải ở nhà Hàng thịt đến nửa đêm thì được về. Trời đã khuya, hồn Trương Ba giúp chị Hàng thịt mổ lợn, pha thịt xong, chuẩn bị về thì chị ta giữ lại mời rượu rồi mời ở lại. Hồn Trương Ba lúc đầu định xuôi theo nhưng đã đấu tranh tư tưởng, gỡ tay chị ta, về nhà. Trưởng Hoạt sang phê phán Trương Ba bắt đầu đổi tính: uống rượu, đòi ăn ngon, nước cờ đi cũng khác. Lý trưởng lại đến sách nhiễu. Cháu gái không nhận ông, người con dâu cũng than phiền bố chồng thay đổi. Một cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác người Hàng thịt diễn ra; qua đó, xác người Hàng thịt khẳng định thế lấn tới của y đối với hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba đốt một nén hương gọi Đế Thích xuống giải thoát cho mình. Lúc đó, cu Tị nhà hàng xóm bị ốm nặng, sắp chết. Đế Thích bảo hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị. Trương Ba từ chối, xin cho cu Tị sống, còn mình xin trả lại xác cho người Hàng thịt và chấp nhận cái chết. Hồn Trương Ba nhập vào màu xanh cây vườn trò chuyện với vợ.

Trước hết, Lưu Quang Vũ có kế thừa tư tưởng của truyện cổ dân gian. Ông cũng nhấn mạnh vai trò cao hơn của linh hồn so với thể xác. Trương Ba khi sống lại trong thân xác anh Hàng thịt thì nhận biết mình là Trương Ba (dựa vào ký ức, tình cảm và ý thức của hồn Trương Ba) và về ngay nhà mình (nhà Trương Ba). Vợ Trương Ba, sau khi kiểm tra ký ức của Trương Ba (mới), cũng nhận là chồng mình và giữ lại. Trưởng Hoạt, bạn của Trương Ba, khi kiểm tra ký ức của Trương Ba (mới) về tình bạn giữa hai người, cũng xúc động ôm hôn ngay bạn mình, mặc dù anh ta lúc này đã mang thân xác xa lạ. Cô con dâu thì lại càng thương cha chồng, mặc dù cha lúc này mang vóc hình ông Hàng thịt, vì điều chị ta tìm thấy ở ông là đức tính nhân hậu hệt như cha chồng xưa. Chị ta nói khá đúng, khá đủ, khá cơ bản về linh hồn: Đã gọi là hồn làm sao có hình thù, bởi nó không là vuông hay tròn, mà là vui buồn, mừng giận, yêu ghét. Thầy vẫn dạy chúng con: Cái bề ngoài có quan trọng gì, chỉ có tấm lòng yêu thương và trí tuệ cao sáng của con người ta là đáng kể.

Tuy nhiên, Lưu Quang Vũ không dừng lại ở đó. Đầu tiên, hồn Trương Ba tỏ ra lạ lẫm, khó chịu với sự khác lạ của thân xác mình. Rồi anh ta cảm thấy thân xác đó bắt đầu chi phối anh: cũng thích ăn tiết canh, uống rượu, nói to và có sức khỏe (không đau lưng, không hen nữa, tát con chảy máu mồm). Khi ông Lý xử anh phải sang nhà chị Hàng thịt một số giờ trong ngày thì anh cũng tấm tắc khen ngon mấy món ăn của chị ta. Chị Hàng thịt thì biết linh hồn trong thể xác chồng mình không phải là của chồng mình mà là của Trương Ba, nhưng chị ta càng quý hơn vì nó tốt đẹp và dịu dàng, điều mà chị ta không thấy ở người chồng thô bạo đã khuất. Sự cô đơn về thân xác và linh hồn khiến chị càng khao khát hồn Trương Ba. Hồn Trương Ba cũng bị rung động trước sự gần gũi với vợ người Hàng thịt và phải tự đấu tranh để thoát ra khỏi vòng tay âu yếm của thị. Vợ Trương Ba cũng dần cảm thấy chồng khác trước và nảy sinh mặc cảm, tự ti về sức khỏe và nhan sắc trước hình vóc trẻ khỏe của hồn Trương Ba. Đến đây, ta đã thấy sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn, sự chi phối của thân xác đối với linh hồn cùng những phiền toái do sự không hòa hợp, không thống nhất giữa linh hồn và thân xác.

Đỉnh cao của tư tưởng triết lý trong vở kịch là sự đối thoại giữa linh hồn và thân xác. Cuộc đối thoại này cho thấy con người ta có hai phần là linh hồn và thể xác. Hai phần đó có quan hệ hữu cơ với nhau. Linh hồn có cơ sở vật chất là thể xác, cũng như nhận thức lý tính phải bắt đầu từ cảm tính; tình cảm hình thành từ những quan hệ cụ thể trong đời thường; cảm xúc thẩm mỹ phải dựa trên các cảm quan thị giác, thính giác… Thể xác cũng có tính độc lập tương đối, có tiếng nói riêng, có nhu cầu tự nhiên hợp lý, không thể bỏ qua. Nhưng, linh hồn phải kiểm soát những nhu cầu đó, phải điều chỉnh, thăng hoa, “Người” hóa, văn hóa hóa những nhu cầu ấy. Con người nói chung phải biết kìm hãm, tiết chế những nhu cầu bản năng và nếu cần, biết đè nén, biết hy sinh nó. Linh hồn và thể xác là một thể thống nhất; trong đó, linh hồn giữ vị trí chủ đạo, nên linh hồn phải chịu trách nhiệm cuối cùng về hành động của thể xác, không thể thỏa mãn mọi nhu cầu ở mọi mức độ, mọi nơi, mọi lúc rồi đổ trách nhiệm cho thể xác. Cuộc đấu tranh giữa linh hồn và thể xác thực sự là cuộc đấu tranh trong bản thân con người để làm chủ những nhu cầu và ham muốn, nhất là khi bị hoàn cảnh tác động. Đó là cuộc đấu tranh để làm chủ bản thân và hoàn thiện nhân cách. Ở đây, cuộc đấu tranh này cũng cảnh báo khả năng lấn át của thể xác – tức của những nhu cầu tầm thường – đối với linh hồn – tức là đối với khát vọng sống cao khiết.

Hành động chấp nhận cái chết, trả lại xác cho anh hàng thịt của Trương Ba là một hành động đúng đắn, một hành động dũng cảm và đạo đức. Từ sự lý giải lại một cách biện chứng về quan hệ giữa thể xác và linh hồn trên triết lý nhân sinh của thời đại, Lưu Quang Vũ đã đi đến một quan niệm sống đẹp: sống chân thật, mình phải chính là mình, cả linh hồn và thể xác, sống vì mọi người, vì hạnh phúc và sự tốt đẹp của con người. Trương Ba chết, nhưng hồn Trương Ba vẫn sống – sống trong tình cảm của mọi người, sống mà không cần mượn đến thân xác của ai hết.

Trước khi kết thúc, tác giả còn đưa nhân vật vào cuộc thử thách cuối cùng, đặt nhân vật trước một sự lựa chọn: chấp nhận cái chết hoặc nhập vào xác cu Tị – một em bé hàng xóm vừa chết. Trương Ba không thể tái diễn bi kịch sống trong thân xác mượn của người khác: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn. Vì thế, ông đã xin cho cu Tị được sống lại, còn mình thì xin được chết. Thực chất, đó là lời tái khẳng định của tác giả đối với quan niệm sống đẹp mà ta nhắc đến ở trên. Bi kịch xung đột giữa linh hồn và thể xác không thể được giải quyết theo đúng cái cách đã tạo ra bi kịch. Đến đây, cái “chết hẳn” của Trương Ba lại thể hiện một chiến thắng thuyết phục của “tồn tại – người”, của nhân cách, của khát vọng hoàn thiện nhân cách của con người.

Không phải chờ đến khi các nhà ngoại cảm và lý thuyết trường sinh học xuất hiện, Lưu Quang Vũ đã khẳng định, theo cách của ông, thân xác của từng cá thể người tồn tại hữu hạn, nhưng sự sống và linh hồn của con người là bất tử. Tư tưởng triết lý của Lưu Quang Vũ về con người vừa biện chứng, vừa lạc quan và cao thượng. Điều này, cùng với tài năng sáng tạo nghệ thuật tác giả, đã làm cho vở kịch có giá trị nhân văn cao, vươn tới tầm nhân loại.

Vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác trong Hồn Trương Ba, da Hàng thịt còn có thể làm ta liên tưởng đến mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong mỗi sự vật. Đương nhiên, mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác, giữa nội dung và hình thức là hai cặp phạm trù không đồng nhất, không thể suy cái này ra cái kia một cách tịnh tiến. Tuy vậy, từ sự không đồng nhất, thậm chí đối lập giữa linh hồn và thể xác trong vở kịch, ta có thể liên tưởng tới sự thống nhất cần có giữa nội dung và hình thức là hai mặt của thực tại tự nhiên và xã hội. Khi nội dung và hình thức phù hợp với nhau thì sự vật tồn tại và phát triển. Khi nội dung và hình thức không phù hợp với nhau thì sự phát triển bị kìm hãm và thậm chí, sự tồn tại của sự vật bị đe dọa.

Liên tưởng trên không hề có khi đọc truyện cổ dân gian, mà nếu có, thì đó chỉ là sự tuyệt đối hóa nội dung, xem thường hình thức và tách rời nội dung khỏi hình thức, một tư duy siêu hình mang tính tiên nghiệm. Từ triết lý đơn giản trong truyện cổ dân gian về vai trò quan trọng thứ nhất của linh hồn, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một vở kịch có sức lôi cuốn mạnh mẽ, gửi tới người đọc một thông điệp sâu sắc về triết lý sống: thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau; con người không thể chỉ sống bằng thể xác, mà phải luôn luôn đấu tranh với bản thân để có sự thống nhất hài hòa giữa linh hồn và thể xác, hướng tới một lối sống cao thượng, vươn tới một nhân cách hoàn thiện.

Trên đây là nội dung chia sẻ của tôi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài của tôi hoàn thiện hơn.

Nội dung 3 (trang 160 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Thảo luận về đề tài tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến trước các vấn đề đời sống.

Trả lời:

Chào các bạn, sau đây tôi xin giới thiệu với các bạn về vấn đề tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến về các vấn đề đời sống – quyền tự do ngôn luận.

Tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến là một trong những nguyên tắc cơ bản của một xã hội dân chủ và tự do. Đây là quyền của mỗi cá nhân được tự do diễn đạt ý kiến, quan điểm và tham gia vào các vấn đề đời sống. Việc tôn trọng và bảo vệ quyền này không chỉ đảm bảo sự đa dạng và tự do trong cuộc sống, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ.  Một trong số các quyền ấy ta phải kể đến quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do ngôn luận là một quyền căn bản của con người, được công nhận và bảo vệ trong nhiều Hiến pháp và văn bản pháp luật trên thế giới. Quyền tự do ngôn luận cho phép mỗi người tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến của mình một cách tự do và không bị hạn chế.

Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận là một yếu tố quan trọng trong xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển. Quyền tự do ngôn luận giúp tạo ra một môi trường tự do, minh bạch và đa dạng ý kiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội và tiến bộ của con người.

Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận cũng cần được sử dụng một cách có trách nhiệm và không vi phạm đến quyền lợi và danh dự của người khác. Việc sử dụng quyền tự do ngôn luận để phỉ báng, xuyên tạc hoặc gây tổn hại đến danh dự và uy tín của người khác là không chấp nhận được.

Trong một xã hội dân chủ, quyền tự do ngôn luận không chỉ thuộc về các nhà báo, nhà văn hay nhà hoạt động xã hội, mà còn thuộc về tất cả mọi người. Mỗi cá nhân đều có quyền tự do diễn đạt ý kiến của mình, miễn là không vi phạm đến quyền lợi và danh dự của người khác.

Để tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận, chúng ta cần có một môi trường tự do, minh bạch và không bị kiểm duyệt. Chính phủ cần đảm bảo rằng các quyền tự do cơ bản như tự do ngôn luận được bảo vệ và không bị hạn chế một cách trái pháp luật.

Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận cũng không được sử dụng để gây hại đến lợi ích của quốc gia và dân tộc. Việc tung tin giả, xuyên tạc hoặc gây rối trật tự công cộng không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây hại đến sự ổn định và phát triển của xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, quyền tự do ngôn luận càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chính phủ cần có những chính sách và biện pháp hợp lý để đảm bảo quyền tự do ngôn luận được thực hiện một cách có trách nhiệm và không vi phạm đến quyền lợi của người khác.

Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận là một nhiệm vụ quan trọng của chính phủ và toàn xã hội. Chúng ta cần xây dựng một môi trường tự do, minh bạch và đa dạng ý kiến, từ đó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội.

Tóm lại, tôn trọng và bảo vệ quyền được phát biểu chủ kiến về các vấn đề đời sống là một nguyên tắc cơ bản trong xã hội dân chủ và tự do. Việc tôn trọng quyền này thể hiện sự tôn trọng sự đa dạng và sự tự do trong cuộc sống, trong khi bảo vệ quyền này đảm bảo sự an toàn và không bị trừng phạt cho những người dám đứng lên và nói lên ý kiến của mình. Quyền được phát biểu chủ kiến cần được sử dụng với trách nhiệm và không vi phạm đạo đức và pháp luật. Chỉ thông qua việc tôn trọng và bảo vệ quyền này, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội công bằng và tiến bộ.

Trên đây là nội dung chia sẻ của tôi. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô và các bạn để bài của tôi hoàn thiện hơn.

Xem thêm các bài Soạn văn lớp 12 Kết nối tri thức ngắn nhất, hay khác:

Săn shopee giá ưu đãi :

ĐỀ THI, GIÁO ÁN, GÓI THI ONLINE DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH LỚP 12

Bộ giáo án, đề thi, bài giảng powerpoint, khóa học dành cho các thầy cô và học sinh lớp 12, đẩy đủ các bộ sách cánh diều, kết nối tri thức, chân trời sáng tạo tại https://tailieugiaovien.com.vn/ . Hỗ trợ zalo VietJack Official


Giải bài tập lớp 12 Kết nối tri thức khác
Tài liệu giáo viên