Với soạn bài Ôn tập học kì 1 phần II. Luyện tập và vận dụng trang 156, 157 Ngữ văn 11 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh lớp 11 trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 11.
Soạn bài Ôn tập học kì 1 trang 156, 157 (Luyện tập và vận dụng) - Kết nối tri thức
Quảng cáo
1. Đọc
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Huyền diệu
(Xuân Diệu)
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn; Như hương thấm tận qua xương tuỷ, Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.
Hãy tự buông cho khúc nhạc hường Dẫn vào thế giới của Du Dương Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy Hiển hiện hoa và phảng phất hương…
Hãy nghe lẫn lộn ghé bên tai Giọng suối, lời chim, tiếng khóc người; Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc Ngọt ngào kêu gọi thuở xa khơi…
Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim Còn cứ run hoài, như chiếc lá Sau khi trận gió đã im lìm.
(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941, NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 134)
Câu 1 (trang 157 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Bạn hiểu như thế nào về nhan đề của bài thơ? Nhan đề ấy có ý nghĩa định hướng việc đọc tác phẩm như thế nào?
Trả lời:
Ý nghĩa nhan đề Huyền diệu: một nhan đề thật độc đáo và mới mẻ, gợi nên sự bí ẩn và kì diệu, khiến cho độc giả cảm thấy thật thú vị đồng thời nhan đề còn có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng cho bạn đọc về việc thưởng thức tác phẩm.
Nhan đề “Huyền diệu” gợi lên một thế giới kì ảo, mơ hồ, vượt ra ngoài cảm nhận thông thường. Nhan đề định hướng người đọc tiếp cận bài thơ theo hướng cảm nhận bằng trực giác, cảm xúc hơn là lí trí. Đồng thời, nó báo trước đặc điểm nghệ thuật của bài thơ: sự hòa trộn các giác quan, tạo nên những cảm nhận mới lạ.
Câu 2 (trang 157 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Việc chọn câu thơ của Bô-đơ-le làm đề từ có ý nghĩa gì?
Trả lời:
Ý nghĩa lời đề từ: Nguyên văn câu thơ này khi được dịch ra Tiếng Việt có nghĩa là “Hương thơm, màu sắc, âm thanh tương ứng với nhau” => Tác giả muốn nói đến sự hòa hợp giữa hương thơm, màu sắc và âm thanh, đó chính là sự tương giao và là sự tương ứng giữa các giác quan với nhau, từ đó gợi ra một vẻ đẹp mới, một hình ảnh lạ cho thơ.
- Câu đề từ: “Les parfums, les couleurs et les sons se répondent” (Hương thơm, màu sắc và âm thanh tương ứng với nhau).
- Điều này thể hiện quan niệm nghệ thuật: các giác quan có thể giao thoa, hòa quyện với nhau.
- Xuân Diệu đã vận dụng tư tưởng này để sáng tạo nên những hình ảnh độc đáo như “khúc nhạc thơm”, “uống thơ”.
→ Đề từ giúp người đọc hiểu cơ sở nghệ thuật và cách cảm nhận của bài thơ.
Câu 3 (trang 157 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Nêu ấn tượng bao trùm về bài thơ và lí giải nguyên nhân đưa đến ấn tượng ấy.
Trả lời:
Ấn tượng: Tác giả đã cảm nhận rất rõ nét về những cảnh sắc xung quanh mình.
Có ấn tượng như vậy vì: Xuân Diệu tha thiết, rạo rực bởi niềm say mê yêu đời, yêu cuộc sống, thèm sống đến mãnh liệt và thèm yêu đến điên cuồng với niềm khát khao được giao cảm với đời.
- Ấn tượng chung là một thế giới say mê, huyền ảo và giàu cảm xúc.
- Người đọc có cảm giác như đang lạc vào một không gian nghệ thuật nơi âm thanh, hương sắc hòa quyện.
- Nguyên nhân là do bài thơ sử dụng nhiều liên tưởng táo bạo, chuyển đổi cảm giác và ngôn ngữ giàu nhạc tính.
Câu 4 (trang 157 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Những tri thức Ngữ Văn nào đã học cần được vận dụng để việc đọc và thưởng thức bài thơ đạt hiệu quả?
Trả lời:
Những tri thức Ngữ Văn cần vận dụng: Thơ trữ tình, cấu tứ thơ và yếu tố tượng trưng trong thơ.
- Kiến thức về thơ trữ tình để hiểu mạch cảm xúc của tác giả.
- Kiến thức về yếu tố tượng trưng để giải mã các hình ảnh như “khúc nhạc thơm”.
- Hiểu về phép chuyển đổi cảm giác – đặc trưng của Thơ mới.
- Kĩ năng cảm thụ ngôn ngữ giàu nhạc tính và hình ảnh để cảm nhận sâu sắc hơn.
Câu 5 (trang 157 sgk Ngữ văn 11 Tập 1): Chỉ ra những kết hợp từ ngữ mà bạn cho là có tính chất khác thường trong bài thơ.
Trả lời:
Những kết hợp từ ngữ có tính chất khác thường:
- Lắng nghe em (đảo ngữ)
- Khúc nhạc thơm (từ thơm: chuyển từ khứu giác sang thính giác)
- Uống thơ tan trong khúc nhạc
-…
- “khúc nhạc thơm” → âm thanh gắn với mùi hương.
- “khúc nhạc hường” → âm thanh có màu sắc.
- “uống thơ tan trong khúc nhạc” → thơ trở thành chất lỏng để “uống”.
- “giọng suối, lời chim, tiếng khóc người” → hòa trộn nhiều âm thanh khác nhau.
→ Những kết hợp này tạo nên hiệu ứng mới lạ, thể hiện sự giao thoa cảm giác.
Huyền Diệu là một trong những bài thơ nổi tiếng của Xuân Diệu được trích từ tập Thơ Thơ. Bài thơ Huyền Diệu viết về sự đầm thấm, âm điệu. Tác phẩm là sự cảm nhận của tác giả trong nhiều cung bậc cảm xúc bắt đầu từ “khúc nhạc thơm” đến người say rượu đêm tân hôn và rồi du dương một khúc nhạc hường, “nghe lẫn lộn ghé bên tai”, “lời chim”, “giọng suối”, “tiếng khóc người”..… Qua bài thơ, Xuân Diệu muốn nói đến sự hòa hợp giữa hương thơm, màu sắc và âm thanh, đó chính là sự tương giao và là sự tương ứng giữa các giác quan với nhau, từ đó gợi ra một vẻ đẹp mới, một hình ảnh lạ cho thơ. Bài thơ được tác giả cảm nhận rất rõ nét những sắc cảnh xung quanh mình, từ “khúc nhạc thơm” làm say đắm lòng người “thấm tận qua xương tủy”, cái âm điệu thần tiên ấy làm cho tác giả “thấm tận hồn”. Hay như “khúc nhạc hường” đã dẫn lối chúng ta bước vào “thế giới của Du Dương”, khi đắm chìm trong đó “hoa” và “hương” sẽ phảng phất ngay bên. Từ “giọng suối” tới “lời chim” và “tiếng khóc người” hãy cứ để bản thân “uống thơ” và “tan trong khúc nhạc” sẽ thấy “ngọt ngào kêu gọi thuở xa khơi”. Và kể cả là khi khúc nhạc kia đã “ngừng im” thì hãy cứ cầm hơi mà lắng nghe trái tim, nó vẫn cứ “run hoài” như những “chiếc lá” cho dù “trận gió”, bão táp đã qua đi từ hồi nào. Bài thơ chứa đựng cả bầu trời tâm tư cũng như cảm xúc của nhà thơ, qua đó đã thể hiện được nỗi niềm khát khao, mong ước hòa nhập với cuộc đời của tác giả Xuân Diệu. Tác phẩm là một thành công lớn đã góp phần không nhỏ trong việc đưa tên tuổi của nhà thơ vụt sáng trên bầu trời thi ca Việt Nam.
Bài thơ “Huyền diệu” của Xuân Diệu mang đến cho người đọc một thế giới nghệ thuật đầy mới lạ và giàu cảm xúc. Ở đó, các giác quan không còn tồn tại riêng lẻ mà hòa quyện vào nhau một cách kì diệu. Những hình ảnh như “khúc nhạc thơm”, “khúc nhạc hường” hay “uống thơ tan trong khúc nhạc” đã phá vỡ cách cảm nhận thông thường, mở ra một không gian nghệ thuật độc đáo, nơi âm thanh có thể cảm nhận bằng khứu giác và vị giác. Điều này thể hiện rõ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của thế giới. Bên cạnh đó, giọng điệu bài thơ nhẹ nhàng, say mê, như dẫn dắt người đọc bước vào một cõi mộng, nơi cảm xúc lan tỏa và dư âm còn vang mãi. Đặc biệt, hình ảnh “trái tim còn cứ run hoài như chiếc lá” đã gợi lên những rung động kéo dài, cho thấy sức sống bền bỉ của cảm xúc nghệ thuật. Qua đó, bài thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của nghệ thuật mà còn khẳng định khả năng kì diệu của con người trong việc cảm nhận và sáng tạo cái đẹp.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng hậu quả của nó thì vẫn còn mãi. Vì thế, đề tài hậu chiến không còn xa lạ trong nền văn học Việt Nam. Là một nhà văn quân đội, tác giả Sương Nguyệt Minh đã đem đến cho bạn đọc cái nhìn chân thực, sắc nét về đề tài này qua truyện ngắn “Người ở bến sông Châu”. Đọc tác phẩm, ta có thể thấy được sự tìm tòi và sáng tạo của nhà văn về hình thức tổ chức điểm nhìn, người kể chuyện độc đáo.
Trước hết, tác giả đã đa dạng hóa, di chuyển điểm nhìn linh hoạt. Sương Nguyệt Minh mượn quan điểm, thái độ, cảm nhận của nhân vật Mai để kể chuyện. Tuy nhiên, đôi lúc, ông lại dịch chuyển điểm nhìn bên ngoài sang điểm nhìn bên trong (nhân vật Mai) và ngược lại. Nhờ đó, độc giả dễ dàng nhìn rõ cuộc đời và con người các nhân vật từ những góc độ, cự li khác nhau.
Lựa chọn nhiều điểm nhìn để kể đã giúp cho câu chuyện trở nên khách quan hơn. Qua lời kể của Mai, cuộc đời của dì Mây được tái hiện sâu sắc. Dì Mây là nữ y tá Trường Sơn. Ngày mà dì trở về cũng là ngày người yêu cô - chú San đi lấy vợ. Mặc dù vẫn còn yêu chú San nhưng dì Mây nhất quyết cự tuyệt đoạn tình cảm này. Hành động “bật dậy, chống nạng gỗ cộc cộc đi vào sân” bỏ mặc chú San ở lại đã thể hiện sự dứt khoát của dì Mây. Dì Mây nhận thiệt thòi về mình để chú San được hạnh phúc. Đêm đến “dì ngồi rất lâu trước ngọn đèn dầu tù mù. [...] Dì ngồi như tượng”. Thật ra, dì Mây đang cố gắng buông tay để vun vén cho đôi vợ chồng mới. Những ngày sau đó, dì Mây vẫn luôn nhớ về những kỉ niệm cũ với chú San. Mai cảm nhận rất rõ tâm trạng của dì Mây trong khoảng thời gian ấy “dì Mây buồn lắm, cứ tha thẩn đi ra đi vào, lúc tư lự ngắm trời nhìn nước, lúc lụi cụi cắm cơm”.
Qua lời kể của Mai, người đọc còn cảm nhận được những phẩm chất tốt đẹp của dì Mây. Trước tiên, dì Mây là người phụ nữ có tấm lòng chung thủy. Suốt một thời gian dài ở chiến trường, dì luôn nhớ mong chú San “Ngày ở Trường Sơn, trang nhật kí nào cũng viết tên anh”. Có lẽ, trong trái tim dì Mây chỉ có một người đó là chú San. Từ chiến trường trở về, dì Mây bị mất một chân do mảnh đạt phạt vào. Nhưng vượt lên trên khó khăn, dì luôn giúp đỡ mọi người. Những đêm mưa, dì Mây không quản khó khăn, tận tình đến nhà khám bệnh cho mọi người. Hơn nữa, dì còn sẵn sàng giúp vợ chú San vượt cạn. Ở trong hoàn cảnh đó, thật khó cho dì nhưng dì vẫn ân cần giúp đỡ. Đặc biệt, khi thím Ba mất, dì đã dành tất cả yêu thương để nhận nuôi thằng Cún như con đẻ của mình.
Bằng những điểm nhìn linh hoạt, tác giả đã giúp người đọc cảm nhận chân thực cuộc đời của dì Mây. Qua đó, khơi gợi cho người đọc sự cảm thông, trân trọng với số phận con người thời hậu chiến. Trong tác phẩm, đôi khi, tác giả sẽ trực tiếp là người dẫn chuyện chứ không phải là nhân vật Mai. Điều này giúp cho câu chuyện được kể rất linh hoạt, tự nhiên. Bước ra khỏi chiến tranh, hậu quả để lại cho con người không chỉ về thể xác mà cả tinh thần. Tác phẩm giúp người đọc cảm nhận rõ nỗi đau khổ, bất hạnh của con người. Từ ấy, gửi gắm bài học về lòng biết ơn đến các thế hệ đi trước đã dũng cảm hi sinh bảo vệ Tổ quốc.
Trong nghệ thuật tự sự, điểm nhìn giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó chi phối cách câu chuyện được kể và cách người đọc tiếp nhận hiện thực. Một tác phẩm truyện thành công không chỉ ở nội dung mà còn ở việc nhà văn lựa chọn điểm nhìn phù hợp, độc đáo để làm nổi bật giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân là một minh chứng tiêu biểu, khi tác giả đã lựa chọn điểm nhìn linh hoạt, giàu chiều sâu, góp phần thể hiện chân thực và cảm động số phận con người trong nạn đói năm 1945.
Trước hết, Kim Lân chủ yếu đặt điểm nhìn trần thuật vào nhân vật Tràng – một người nông dân nghèo, thô kệch nhưng giàu tình người. Câu chuyện được kể theo diễn biến tâm lí của Tràng, từ lúc “nhặt” được vợ đến khi đưa người đàn bà về nhà. Chính từ điểm nhìn này, người đọc cảm nhận rõ sự ngỡ ngàng, vừa mừng vừa lo của Tràng trước tình huống bất ngờ. Khi dẫn vợ về làng, Tràng cảm thấy “có cái gì lạ lắm”, “phớn phở khác thường”, nhưng đồng thời cũng “lo sợ” trước ánh mắt của dân làng. Điểm nhìn từ Tràng giúp nhà văn khắc họa một cách tự nhiên, chân thực tâm trạng của người nông dân trong hoàn cảnh đói khát, đồng thời làm nổi bật khát vọng hạnh phúc giản dị của họ.
Bên cạnh đó, tác giả còn chuyển điểm nhìn sang nhân vật bà cụ Tứ – mẹ Tràng. Khi người mẹ già trở về và thấy con trai có vợ, điểm nhìn từ bà cụ đã mở ra một chiều sâu cảm xúc khác. Ban đầu là sự ngạc nhiên, rồi đến tủi thân, xót xa cho số phận con mình và người con dâu mới. Bà nghĩ đến “cảnh đói khát”, đến tương lai mịt mờ, nhưng vẫn cố gắng động viên các con bằng những lời nói đầy hi vọng. Điểm nhìn này giúp câu chuyện không chỉ dừng lại ở niềm vui cá nhân mà còn mở rộng thành nỗi lo chung của những con người nghèo khổ trong xã hội cũ, qua đó thể hiện tấm lòng nhân hậu và niềm tin vào cuộc sống của người lao động.
Ngoài ra, Kim Lân còn sử dụng điểm nhìn từ người kể chuyện mang tính khách quan để bao quát bức tranh hiện thực. Qua đó, hình ảnh nạn đói hiện lên vô cùng ám ảnh: “xác người chết đói nằm ngổn ngang”, “mùi gây của xác người”, “tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết”. Điểm nhìn này giúp người đọc nhận thức rõ bối cảnh khốc liệt của xã hội, làm nền cho câu chuyện “nhặt vợ” tưởng như kì lạ nhưng lại rất hợp lí trong hoàn cảnh ấy. Sự kết hợp giữa điểm nhìn bên trong (từ nhân vật) và điểm nhìn bên ngoài (từ người kể chuyện) đã tạo nên một cái nhìn đa chiều, vừa chân thực vừa giàu giá trị nhân văn.
Điểm nhìn trong Vợ nhặt còn độc đáo ở chỗ nó không cố định mà linh hoạt di chuyển giữa các nhân vật, tạo nên sự phong phú trong cách cảm nhận. Nhờ đó, người đọc không chỉ hiểu Tràng mà còn cảm nhận được tâm trạng của bà cụ Tứ, của người vợ nhặt, và cả không khí chung của xóm ngụ cư. Điều này làm cho câu chuyện trở nên sống động, giàu cảm xúc và có sức lay động mạnh mẽ.
Như vậy, có thể thấy việc lựa chọn và tổ chức điểm nhìn trong Vợ nhặt đã góp phần quan trọng làm nên thành công của tác phẩm. Nhờ điểm nhìn linh hoạt, Kim Lân đã tái hiện một cách chân thực bức tranh hiện thực đau thương, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của con người trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Qua đó, nhà văn không chỉ phản ánh hiện thực mà còn gửi gắm niềm tin vào tình người và khát vọng sống của con người Việt Nam. Đây chính là giá trị bền vững làm nên sức sống lâu dài của tác phẩm trong lòng người đọc.
Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Các sáng tác của ông thường hướng đến việc khám phá chiều sâu đời sống và số phận con người. Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là tác phẩm đặc sắc thể hiện rõ phong cách nghệ thuật ấy. Thành công nổi bật của truyện nằm ở việc xây dựng điểm nhìn nghệ thuật độc đáo, giúp người đọc nhận ra những nghịch lí của cuộc sống và có cái nhìn đa chiều về con người.
Truyện được kể chủ yếu qua điểm nhìn của nhân vật Phùng – một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Chính lựa chọn này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm. Là người nghệ sĩ đi tìm cái đẹp, Phùng bắt gặp một cảnh tượng tuyệt đẹp trên biển sớm: chiếc thuyền ngoài xa hiện lên trong màn sương mờ như “một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Trước vẻ đẹp ấy, anh cảm thấy rung động, hạnh phúc và tin rằng mình vừa khám phá được “chân lí của sự toàn thiện”.
Nhưng ngay sau khoảnh khắc thăng hoa ấy, Phùng lại chứng kiến cảnh người đàn ông hàng chài đánh đập vợ vô cùng tàn nhẫn. Sự đối lập giữa vẻ đẹp nghệ thuật và hiện thực đau đớn đã khiến anh bàng hoàng. Qua điểm nhìn của Phùng, người đọc nhận ra rằng cuộc sống không đơn giản như vẻ bề ngoài của nó. Đằng sau cái đẹp lung linh có thể là những bi kịch âm thầm, khắc nghiệt.
Điểm nhìn của truyện không dừng lại ở cảm nhận của người nghệ sĩ mà còn được mở rộng qua lời kể của người đàn bà hàng chài. Người phụ nữ ấy hiện lên với vẻ ngoài xấu xí, cam chịu nhưng lại có sự từng trải và lòng vị tha sâu sắc. Chị chấp nhận bị đánh đập để giữ gìn gia đình, để các con có cha, để cuộc sống trên biển không tan vỡ. Qua câu chuyện của chị, Phùng và Đẩu hiểu rằng không thể nhìn nhận con người bằng cái nhìn đơn giản, phiến diện.
Nhờ cách xây dựng điểm nhìn đa chiều ấy, Nguyễn Minh Châu đã giúp tác phẩm mang chiều sâu triết lí. Nhà văn gửi gắm thông điệp: muốn hiểu đúng con người và cuộc sống, cần nhìn sự việc ở nhiều phía, phải biết lắng nghe và cảm thông với những số phận bất hạnh. Đồng thời, tác phẩm cũng đặt ra mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời: nghệ thuật chân chính không chỉ khám phá cái đẹp mà còn phải hướng tới con người, hướng tới sự thật của đời sống.
Bằng nghệ thuật xây dựng điểm nhìn độc đáo, Chiếc thuyền ngoài xa đã trở thành một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn và triết lí. Tác phẩm giúp người đọc nhận ra rằng cuộc sống luôn chứa đựng nhiều nghịch lí và con người cần có cái nhìn sâu sắc, nhân hậu trước cuộc đời.
Đề 2
“Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh là tập thơ ghi lại cảm xúc trong chuỗi ngày bị giam hãm ở nhà lao Trung Quốc. Đọc thơ của Hồ Chí Minh, người đọc nhận ra những dòng cảm xúc rất bình dị, đời thường. “Mộ” là một bài thơ như vậy, tái diễn lại một khoảnh khắc khi sắp kết thúc một ngày, là chiều tối.
Bài thơ “Mộ” ghi lại khoảnh khắc mà Hồ Chí Minh đi từ nhà lao Thiên Bảo đến Long Tuyền vào năm 1942. Cảm hứng chủ đạo chính là bức tranh và phông nền của thiên nhiên lúc về chiều, khi hoàng hôn sắp buông xuống. Phải thật tinh tế, sâu sắc, Hồ Chí Minh mới có thể diễn tả một cách đắc điệu nhịp sống nhẹ nhàng nơi núi rừng như vậy.
Nguyên tác của bài thơ như sau:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Hai câu thơ đầu như một nét vẽ chấm phá tạo khiến cho cảnh bầu trời về chiều hiện lên rõ nét và mang một nỗi buồn man mác:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Tầng mây trôi nhẹ giữa tầng không
Nỗi buồn như loang nhẹ, lan ra cả hai câu thơ khiến cho giọng thơ trở nên chùng xuống và tâm sự của tác giả dường như đẩy lên cao. Cánh chim khi chiều tà cũng trở nên “mỏi” đi tìm chốn ngủ. Một cánh chim đơn lẻ, đi lạc giữa rộng dài của bầu trời khiến người đọc có cảm giác như Hồ CHí Minh đang liên tưởng đến cuộc sống của người hiện tại. Cảnh tù đày bí bách, kìm hãm khiến Hồ Chí Minh khát khao có được một nơi chốn bình yên và ấm áp nhất để tìm về.
Hình ảnh “tầng mây trôi nhẹ” diễn tả sự vận động nhẹ nhàng, tinh tế của thiên nhiên đất trời. Nhịp thơ trở nên chậm, rất chậm và có lẽ lòng người cũng đang chậm.
Chỉ với hai câu thơ cũng đủ để cho người đọc nhận ra được khát khao muốn được như tầng mây đó, cứ trôi đi, không phụ thuộc, không phải chịu cảnh gông tù.
Thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh luôn hiện lên nhẹ nhàng nhưng chất chứa nỗi niềm như vậy.
Đến hai câu thơ sau dường như bừng lên một tia sáng và thấy thấp thoáng bóng dáng con người:
Cô em xóm núi xây ngôi tối Xay hết lò than đã rực hồng
Mặc dù phần dịch thơ không thực sự bám sát và lột tả hết được tâm trạng cũng như con người trong bức tranh mang màu sắc vừa cổ điển vừa hiện đại này.
Chỉ bằng một nét vẽ tinh tế tác giả đã vẽ lên bức tranh bình dị của cuộc sống người dân nơi chân núi. Hành động “xay ngô” dường như là việc làm thường ngày của con người ở đây. Tuy bình dị nhưng ấm áp và tràn đầy tin yêu. Có thể nói trong cảnh gông cùm như thế này, Hồ Chí Minh rất khao khát có được một nơi để trở về bình dị như thế này.
Đến câu thơ cuối, người đọc nhận ra một sự chuyển động rất nhẹ và một nét sáng bừng lên cả bài thơ. Khi cô gái vùng sơn cước xây hết ngô thì lò than đã rực hồng. Một sự chuyển tiếp nhẹ nhàng, đều đặn hằng ngày. Giữa vùng núi hoang lạnh, khi mặt trời tắt, hoàng hôn loang xuống hình ảnh “lò than” hiện lên dường như làm sáng cả không gian và ấm áp trái tim Người. Có thể nói việc xây dựng hình ảnh cô em xóm núi và lò than dường như là một nỗi niềm thầm kín của tác giá. Đó là hiện thân của một mái ấm gia đình hạnh phúc, chứa chan yêu thương, và đó cũng chính là lòng mong mỏi của Hồ Chí Minh.
Bài thơ “Mộ” của Hồ Chí Minh là bài thơ vừa mang màu sắc cổ điển vừa mang màu sắc hiện đại đã mang đến dấu ấn riêng, đặc trưng. Bài thơ chính là tâm sự, là ước muốn nhỏ nhoi có thể thoát khỏi chốn gông cùm, mang lại cuộc sống bình yên cho nhân dân.
Trong thơ trữ tình, cấu tứ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định cách triển khai hình tượng và mạch cảm xúc của tác phẩm. Một bài thơ có cấu tứ độc đáo không chỉ gây ấn tượng về hình thức mà còn giúp bộc lộ sâu sắc tư tưởng, tình cảm của nhà thơ. Tràng giang của Huy Cận là một tác phẩm tiêu biểu cho điều đó, khi bài thơ được xây dựng trên một cấu tứ chặt chẽ, nhất quán mà giàu sáng tạo, góp phần thể hiện nỗi buồn mang màu sắc cổ điển nhưng thấm đẫm tâm trạng của con người hiện đại.
Cấu tứ của Tràng giang trước hết được triển khai theo trục không gian rộng lớn, từ gần đến xa, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến khái quát. Ngay từ khổ thơ đầu, hình ảnh “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” đã mở ra một không gian sông nước mênh mang, kéo dài vô tận. Câu thơ không chỉ miêu tả cảnh mà còn gợi cảm giác buồn lan tỏa, nối tiếp không dứt. Tiếp đó, hình ảnh “con thuyền xuôi mái nước song song” và “củi một cành khô lạc mấy dòng” đã cụ thể hóa không gian ấy bằng những chi tiết nhỏ bé, đơn độc. Như vậy, cấu tứ ở đây vận động từ cái rộng lớn của thiên nhiên đến cái nhỏ nhoi của sự vật, qua đó làm nổi bật cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước vũ trụ.
Sang khổ thơ thứ hai, cấu tứ tiếp tục mở rộng theo chiều cao và chiều sâu của không gian. Những hình ảnh “nắng xuống, trời lên sâu chót vót” hay “sông dài, trời rộng, bến cô liêu” đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa rộng lớn vừa hoang vắng. Đặc biệt, cách kết hợp các yếu tố không gian theo chiều dọc (“nắng xuống”, “trời lên”) và chiều ngang (“sông dài”, “trời rộng”) khiến cảnh vật như trải ra vô tận, càng làm tăng cảm giác trống trải. Cấu tứ lúc này không chỉ dừng ở việc miêu tả cảnh mà còn góp phần khắc sâu nỗi buồn nhân thế.
Đến khổ thơ thứ ba, cấu tứ chuyển dần từ không gian thiên nhiên sang những hình ảnh gợi lên sự sống con người, nhưng lại là sự sống mong manh, thưa vắng. Những “bèo dạt về đâu hàng nối hàng” hay “không cầu gợi chút niềm thân mật” đều cho thấy sự thiếu vắng giao cảm giữa con người với con người. Cấu tứ ở đây có sự thay đổi tinh tế: từ thiên nhiên rộng lớn chuyển sang đời sống con người, nhưng chính sự chuyển đổi ấy lại càng làm nổi bật nỗi cô đơn, bởi con người dường như bị tách biệt hoàn toàn.
Khổ thơ cuối là điểm kết của cấu tứ, khi cảm xúc được dồn tụ và nâng lên thành nỗi nhớ quê hương. Hình ảnh “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” mở ra một không gian hùng vĩ, trong khi “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” lại gợi lên sự nhỏ bé, cô đơn. Đặc biệt, hai câu thơ cuối “Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” đã khép lại bài thơ bằng một nỗi nhớ da diết. Cấu tứ từ đầu đến cuối như một hành trình: từ cảnh đến tình, từ ngoại cảnh đến nội tâm, từ nỗi buồn thiên nhiên đến nỗi buồn nhân thế và cuối cùng là tình yêu quê hương sâu kín.
Điểm độc đáo trong cấu tứ của Tràng giang còn nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố cổ điển và hiện đại. Bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ như sông nước, con thuyền, cánh chim, mây trời, nhưng cách tổ chức và triển khai lại mang dấu ấn của cái tôi hiện đại với nỗi cô đơn sâu sắc. Chính cấu tứ ấy đã giúp bài thơ vừa mang vẻ đẹp trang nhã, cổ kính, vừa thể hiện được tâm trạng của con người trong xã hội mới.
Như vậy, cấu tứ của Tràng giang không chỉ chặt chẽ, logic mà còn giàu tính nghệ thuật, góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ. Qua cách tổ chức không gian và mạch cảm xúc độc đáo, Huy Cận đã thể hiện thành công nỗi buồn cô đơn của con người trước vũ trụ, đồng thời gửi gắm tình yêu quê hương sâu kín. Đây chính là yếu tố làm nên giá trị bền vững của tác phẩm trong nền thơ ca Việt Nam.
Phân tích bài thơ Thời gian của Văn Cao
Văn Cao không chỉ là nhạc sĩ tài hoa mà còn là một nhà thơ giàu suy tư triết lí. Bài thơ Thời gian tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều cảm xúc và chiều sâu tư tưởng. Điều làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của bài thơ chính là cấu tứ độc đáo cùng hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh:
“Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá”
Thời gian vốn vô hình nhưng qua cảm nhận của nhà thơ lại hiện lên cụ thể, hữu hình. “Qua kẽ tay” gợi sự trôi chảy nhanh chóng, không thể níu giữ. Hình ảnh “những chiếc lá khô” biểu hiện cho sự tàn phai, mất mát của đời người trước bước đi của thời gian.
Những kỉ niệm trong tâm hồn con người cũng dần rơi rụng:
“Kỉ niệm trong tôi
Rơi
như tiếng sỏi
trong lòng giếng cạn”
Cách ngắt dòng độc đáo khiến âm hưởng bài thơ chậm lại, gợi cảm giác trống vắng và cô đơn. Tiếng sỏi rơi xuống lòng giếng cạn tạo nên âm thanh khô khốc, lạnh lẽo, như tiếng vang của kí ức đang dần mất hút trong thời gian.
Tuy nhiên, cấu tứ bài thơ không dừng ở nỗi buồn về sự hủy diệt của thời gian. Ở phần cuối, nhà thơ tạo nên một sự đối lập đầy ý nghĩa:
“Riêng những câu thơ
Riêng những bài hát
Và đôi mắt em
còn xanh
như hai giếng nước.”
Nếu thời gian làm phai tàn mọi thứ thì nghệ thuật và tình yêu lại có sức sống bền vững. “Câu thơ”, “bài hát” tượng trưng cho nghệ thuật; “đôi mắt em” tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp con người. Hình ảnh “hai giếng nước” gợi sự trong trẻo, sâu thẳm và bất tận.
Cấu tứ bài thơ được triển khai theo hai chiều đối lập: một bên là sự hủy hoại của thời gian, một bên là sức sống bất diệt của nghệ thuật và tình yêu. Chính cấu tứ ấy đã tạo nên chiều sâu triết lí cho tác phẩm.
Bằng ngôn ngữ cô đọng, hình ảnh giàu sức gợi và cấu tứ độc đáo, bài thơ Thời gian đã thể hiện những suy ngẫm sâu sắc của Văn Cao về đời người. Tác phẩm giúp người đọc nhận ra rằng dù thời gian có trôi đi, nghệ thuật chân chính và tình yêu đẹp vẫn luôn còn mãi.
Đề 3
Xã hội đang ngày càng phát triển với tốc độ chóng mặt trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế… Chính sự phát triển như vũ bão này lại là tác nhân khiến cho thái độ sống của con người với nhau trở nên xa lạ, không còn thân thiết. Bởi guồng quay cuộc sống kéo họ vào những bận rộn, hối hả đời thường. Và thái độ sống vô cảm, thờ ơ cũng từ đó mà hình thành nên.
Trước hết chúng ta cần hiểu rõ vô cảm là như thế nào? Và tại sao lại gọi vô cảm là “bệnh”. Người ta chỉ gọi bệnh ho, bệnh lao, bệnh ngoài da… có thể dùng thuốc để chữa nhưng vô cảm cũng là một loại bệnh. Chắc hẳn có ý ẩn dụ gì đằng sau câu chữ đó. Vô cảm chính là thái độ sống lạnh nhạt, thờ ơ đối với cuộc sống, với những người ở xung quanh chúng ta. Bản thân chúng ta không quan tâm, không có trách nhiệm đối với chính bản thân mình và với người khác.
Hiện nay khi đất nước ngày càng phát triển thì vô cảm càng dễ dẫn đến thành một loại bệnh. Cần phải tìm “phương thuốc” để chữa trị, xích gần hơn nữa tình cảm giữa người với người, phương pháp ấy sẽ xóa bỏ được lối sống lãnh đạm, thờ ơ này ở con người trong xã hội này.
Căn bệnh vô cảm khi đã tồn tại trong con người thì sẽ ăn sâu, bám rễ không chịu buông. Mỗi người cần có cách thức, có phương pháp để hạn chế căn bệnh nguy hiểm có thể ăn mòn trái tim của mỗi người.
Bệnh vô cảm xuất hiện trong đời sống hiện đại ngày càng nhiều, đó chính là thái độ, cách ứng xử giữa người với người. Họ không còn thân thiết, hỏi thăm nhau đủ thứ chuyện mà đã trở nên vô cảm, lạnh lùng, thờ ơ, không còn quan tâm nhiều đến cuộc sống của nhau nữa.
Những người con xa nhà lâu ngày, bị cuốn vào guồng quay của công việc nên việc hỏi thăm cha mẹ thường xuyên cũng thưa dần. Rồi những lần gọi điện, những lần về thăm cứ cạn vơi theo năm tháng. Như thế chúng ta đang vô tình khiến cho trái tim mình, cho bản thân mình vô cảm với những người thân yêu nhất. Vô cảm thật đáng trách, đáng giận nhưng nếu chúng ta biết rút kinh nghiệm, biết sửa chữa, biết hỏi thăm cuộc sống của nhau thì thật đáng quý. Con người ai cũng có lỗi lầm, chỉ cần biết nhận sai và sửa sai.
Hiện nay, có rất nhiều tình huống dở khóc dở cười khi con người cứ lạnh nhạt, vô tâm với nhau. Mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc sống; có người giàu sang, có người khốn khó, biết trách ai được.
Chiều nay khi đi trên phố, tôi thấy có một đôi vợ chồng trẻ đi trên chiếc xe Sh sang chảnh. Họ đi qua khu chợ ồn ào, náo nhiệt, cười nói rất vui vẻ. Họ bắt gặp một bà lão già mắt kèm nhèm dắt theo một đứa cháu nhỏ chân không đi dép mặc bộ quần áo rách rưới. Họ ngả chiếc nón trước mắt hai vợ chồng kia xin vài ba đồng. Nhưng hai bà cháu nhận lại là ánh mắt khinh khỉnh, không quan tâm. Hai vợ chồng ấy mang theo hương nước hoa thơm lừng, bỏ lại sau lưng thái độ lạnh lùng đến vô tâm. Như vậy đó, vô cảm chỉ là những biểu hiện nhỏ nhặt trong cuộc sống như vậy nhưng chúng ta đâu phải ai cũng có đủ tâm để nhận ra.
Con người ta sống ở trên đời cần phải yêu thương, chia sẻ cho nhau những lúc khốn khó. Thấy nỗi khổ của người khác như nỗi khổ của bản thân mình thì mới có thể giúp đỡ một cách thực tâm được. Cũng bởi vì thái độ sống thờ ơ, lạnh nhạt nên cuộc sống của họ thiếu đi tình yêu thực tâm nhất.
Đối với thế hệ trẻ thì thái độ sống vô cảm cần phải ngăn chặn trước. Vì tương lai đất nước cần những con người tài giỏi và biết sẻ chia, biết yêu thương đồng loại. Dù ở trong hoàn cảnh nào, chúng ta có thể dùng chính trái tim mình để sưởi ấm những trái tim khác đang đầy những vết xước hơn.
Vô cảm bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, từ sự phát triển quá nhanh của xã hội khiến cho con người không bắt kịp được. Cũng từ đó họ bị cuốn sâu vào sự bộn bề, lo toan mà quên mất đi tấm lòng yêu thương, sẻ chia với những người xung quanh mình.
Vô cảm có thể sẽ thành thói quen nếu như chúng ta không kịp ngăn chặn và từ bỏ. Bởi vậy, mỗi cá nhân cần phải tự nhận thức được suy nghĩ của bản thân mình. Rằng khi yêu thương và sẻ chia thương yêu thì chúng ta sẽ thấy bản thân mình sống có ích, sống tốt đẹp hơn.
Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của con người, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, một vấn đề đáng lo ngại đang ngày càng phổ biến, đó là hiện tượng “sống ảo”. Đây không chỉ là một xu hướng nhất thời mà còn là một vấn đề xã hội khiến nhiều người trăn trở bởi những hệ lụy sâu sắc mà nó mang lại.
“Sống ảo” có thể hiểu là việc con người quá chú trọng xây dựng hình ảnh bản thân trên mạng xã hội mà bỏ quên cuộc sống thực tế. Nhiều người dành phần lớn thời gian để đăng tải hình ảnh, chia sẻ trạng thái, tìm kiếm sự chú ý và những lượt “thích”, “bình luận” từ người khác. Thậm chí, không ít người sẵn sàng chỉnh sửa, tô vẽ cuộc sống của mình trở nên hoàn hảo hơn thực tế nhằm thu hút sự ngưỡng mộ. Điều này khiến ranh giới giữa thật và giả dần trở nên mờ nhạt.
Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và mạng xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để con người thể hiện bản thân. Bên cạnh đó, tâm lí muốn được công nhận, được chú ý và khẳng định giá trị cá nhân cũng là một động lực lớn. Đặc biệt, ở lứa tuổi thanh thiếu niên, khi nhận thức và bản lĩnh chưa vững vàng, việc chạy theo những chuẩn mực ảo trên mạng càng dễ xảy ra. Ngoài ra, sự thiếu định hướng từ gia đình và nhà trường cũng góp phần khiến nhiều bạn trẻ sa vào lối sống này.
Hệ quả của “sống ảo” là vô cùng đáng lo ngại. Trước hết, nó khiến con người xa rời thực tế, đánh mất những giá trị chân thực của cuộc sống. Khi quá phụ thuộc vào sự đánh giá của người khác trên mạng, con người dễ rơi vào trạng thái tự ti, áp lực hoặc thất vọng nếu không nhận được sự quan tâm như mong muốn. Không chỉ vậy, “sống ảo” còn làm suy giảm các mối quan hệ ngoài đời thực, khi con người dần trở nên thờ ơ với gia đình, bạn bè và những trải nghiệm thực tế. Nghiêm trọng hơn, một số người còn có những hành động lệch lạc như dàn dựng hình ảnh, phát ngôn gây sốc để nổi tiếng, bất chấp hậu quả.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng mạng xã hội tự nó không xấu. Vấn đề nằm ở cách con người sử dụng nó. Nếu biết tận dụng đúng cách, mạng xã hội có thể trở thành công cụ hữu ích để học tập, kết nối và phát triển bản thân. Vì vậy, điều quan trọng là mỗi người cần xây dựng cho mình một thái độ đúng đắn khi tham gia vào không gian mạng.
Để hạn chế những tác động tiêu cực của “sống ảo”, cần có sự chung tay của nhiều phía. Gia đình và nhà trường cần giáo dục, định hướng cho giới trẻ về cách sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh. Bản thân mỗi cá nhân cũng cần nâng cao nhận thức, biết cân bằng giữa đời sống ảo và đời sống thực. Thay vì chạy theo những giá trị phù phiếm, mỗi người nên tập trung phát triển bản thân, trân trọng những mối quan hệ và trải nghiệm thực tế. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể sống một cuộc đời ý nghĩa và chân thật.
Tóm lại, “sống ảo” là một vấn đề xã hội đáng quan tâm trong thời đại hiện nay. Nó không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến cả cộng đồng. Vì vậy, mỗi người cần tỉnh táo, biết làm chủ bản thân để không bị cuốn vào những giá trị ảo, từ đó giữ gìn và phát huy những giá trị thực của cuộc sống.
Bạo lực học đường – vấn đề đáng lo ngại hiện nay
Trường học vốn là nơi nuôi dưỡng tri thức và nhân cách. Thế nhưng hiện nay, bạo lực học đường đang trở thành một vấn đề đáng báo động và khiến nhiều người không khỏi lo lắng, trăn trở.
Bạo lực học đường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như đánh nhau, xúc phạm, cô lập bạn bè hoặc bắt nạt trên mạng xã hội. Có những vụ việc để lại hậu quả nghiêm trọng cả về thể chất lẫn tinh thần. Nhiều học sinh sống trong sợ hãi, mặc cảm, thậm chí mất niềm tin vào bạn bè và môi trường học tập.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này xuất phát từ nhiều phía. Một số học sinh thiếu kĩ năng kiểm soát cảm xúc, dễ nóng giận và hành động bồng bột. Bên cạnh đó, sự ảnh hưởng của phim ảnh bạo lực, mạng xã hội và những nội dung tiêu cực cũng khiến nhiều bạn trẻ có hành vi lệch lạc. Ngoài ra, sự thiếu quan tâm từ gia đình và nhà trường cũng là nguyên nhân làm cho tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng.
Bạo lực học đường gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Người bị bạo lực không chỉ đau đớn về thể xác mà còn bị tổn thương tinh thần lâu dài. Nhiều học sinh trở nên tự ti, khép kín, ảnh hưởng đến việc học tập và tương lai sau này. Đồng thời, bạo lực học đường còn làm mất đi sự an toàn và nhân văn trong môi trường giáo dục.
Tuy nhiên, vẫn có ý kiến cho rằng những mâu thuẫn giữa học sinh chỉ là chuyện bình thường của tuổi trẻ. Theo em, suy nghĩ ấy rất nguy hiểm. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, những hành vi bạo lực nhỏ có thể dẫn đến hậu quả lớn và làm lệch lạc nhân cách con người.
Để hạn chế tình trạng bạo lực học đường, cần có sự chung tay của gia đình, nhà trường và xã hội. Gia đình phải quan tâm, giáo dục con cái về lòng yêu thương và cách ứng xử văn minh. Nhà trường cần tăng cường giáo dục kĩ năng sống, xây dựng môi trường học tập thân thiện. Mỗi học sinh cũng cần biết tôn trọng, cảm thông và giúp đỡ bạn bè.
Bạo lực học đường là vấn đề không thể xem nhẹ. Đẩy lùi tình trạng này chính là góp phần xây dựng một môi trường học tập an toàn, nhân văn và giúp tuổi trẻ phát triển toàn diện hơn.
Đề 4
Nghệ thuật thời Phục hưng
1. Đặt vấn đề
Nghệ thuật phục hưng đó là một phong cách nghệ thuật bao gồm hội họa, điêu khắc và kiến trúc xuất hiện ở châu Âu vào khoảng năm 1400; cụ thể là ở Ý. Nghệ thuật là một trong những số mũ chính của Phục hưng Châu Âu. Trong giai đoạn này, ông bắt đầu nhận ra những nghệ sĩ vẫn còn nổi tiếng, như Boticelli, Giotto và van der Weyden.
2. Giải quyết vấn đề
Sự cải tiến của hội họa
Trong thế kỷ mười lăm, một số họa sĩ nổi tiếng người Hà Lan đã phát triển những cải tiến cho cách tạo ra tranh sơn dầu. Trong thời kỳ Phục hưng, các nghệ sĩ Ý đã sử dụng các kỹ thuật mới của Hà Lan để cải thiện các bức tranh của họ.
Hiện tượng này có ảnh hưởng đến chất lượng và thời gian của các tác phẩm nghệ thuật, ngoài ra đã mang lại những thay đổi đáng kể cho bức tranh trên toàn thế giới.
Ngoài ra, thời Phục hưng phần lớn là do sự hiện diện của các nhân vật người Ý xuất sắc. Nhiều người trong số này được coi là giỏi nhất mọi thời đại về tầm ảnh hưởng, như Piero della Francesca và Donatello.
Sự hiện diện của những nghệ sĩ này làm cho chất lượng nghệ thuật nói chung được cải thiện đáng kinh ngạc, bởi vì ngay cả các họa sĩ ít nổi tiếng cũng được truyền cảm hứng từ sự xuất hiện của các kỹ thuật mới để cải thiện sáng tạo của riêng họ.
Sự tái hiện của các văn bản cổ điển
Một trong những ảnh hưởng chính của văn học Phục hưng là sự xuất hiện lại của các văn bản thời trung cổ đã bị mất trong Thời đại đen tối của nhân loại.
Những người văn học nghiên cứu các văn bản này đã sử dụng ảnh hưởng của họ để cải thiện các tác phẩm của họ và mang lại một liên lạc cũ cho phong trào, mà vào thời đó là đương đại.
Kiến trúc
Ý tưởng của các kiến trúc sư thời Phục hưng đã đi ngược lại với ý tưởng của người Gothic về việc tạo ra các cấu trúc với mức độ phức tạp cao trong thiết kế và chiều cao tuyệt vời của họ. Thay vào đó, họ bám vào các ý tưởng cổ điển về việc tạo ra các cấu trúc sạch sẽ đơn giản nhất có thể. Điều này dẫn đến việc tạo ra kiến trúc tròn.
Điêu khắc
Giống như hội họa, điêu khắc thời Phục hưng thường được định nghĩa bởi các đặc điểm giống như các tác phẩm điêu khắc trước thời Trung cổ… Các tính năng của mỗi người được truyền cảm hứng rõ ràng từ điêu khắc cổ điển và mục đích là tìm ra một mức độ chân thực cao hơn trong mỗi tác phẩm thông qua một chạm khắc theo tỷ lệ giải phẫu.
3. Kết luận
Các tác phẩm của thời Phục hưng tập trung vào niềm tin nhân văn rằng những hành động đúng đắn là chìa khóa của hạnh phúc, những ảnh hưởng tôn giáo mà khái niệm này có thể bị bỏ qua một bên…
Tài liệu tham khảo
1. Phục hưng, bách khoa toàn thư về thế giới hiện đại buổi đầu, 2004. Lấy từ bách khoa toàn thư.com
2. Nghệ thuật Phục hưng Ý & Nghệ sĩ Phục hưng, Trang web Nghệ thuật Phục hưng, (n.d.). Lấy từ renaissanceart.org
3. Nghệ thuật và kiến trúc Phục hưng, Nghệ thuật Oxford, (n.d.). Lấy từ oxfordartonline.com
4. Phục hưng, điêu khắc phương Tây; Bách khoa toàn thư Britannica, (n.d.). Lấy từ brittanica.com
5. Điêu khắc Phục hưng, Nhân văn thiết yếu, 2013. Lấy từ Essential-humanities.net
ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Đề tài: Ảnh hưởng của mạng xã hội đến học sinh hiện nay
1. Mở đầu
- Giới thiệu vấn đề: Mạng xã hội ngày càng phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến đời sống học sinh.
- Lí do chọn đề tài: Đây là vấn đề gần gũi, có thể dễ dàng quan sát và thu thập thông tin thực tế.
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với học sinh.
2. Nội dung
a. Cơ sở lí luận
- Khái niệm mạng xã hội và vai trò của nó trong đời sống hiện đại.
- Đặc điểm sử dụng mạng xã hội của học sinh hiện nay.
b. Thực trạng
- Thời gian sử dụng mạng xã hội của học sinh ngày càng tăng.
- Các hình thức sử dụng phổ biến: học tập, giải trí, giao tiếp,…
c. Ảnh hưởng của mạng xã hội
- Ảnh hưởng tích cực: giúp kết nối, hỗ trợ học tập, cập nhật thông tin nhanh chóng.
- Ảnh hưởng tiêu cực: gây nghiện, giảm tập trung học tập, ảnh hưởng tâm lí, dễ “sống ảo”.
d. Nguyên nhân
- Do sự phát triển của công nghệ và thiết bị thông minh.
- Do tâm lí lứa tuổi thích khám phá, giao tiếp.
- Do thiếu sự quản lí, định hướng từ gia đình và nhà trường.
e. Giải pháp
- Nâng cao ý thức sử dụng mạng xã hội hợp lí.
- Gia đình và nhà trường cần định hướng, quản lí thời gian sử dụng.
- Khuyến khích tham gia các hoạt động ngoài đời thực.
3. Kết luận
- Khẳng định vai trò hai mặt của mạng xã hội đối với học sinh.
- Nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng mạng xã hội một cách hợp lí và có trách nhiệm.
4. Tài liệu tham khảo
Biến đổi khí hậu và tác động đến đời sống con người
Mở đầu
Biến đổi khí hậu đang là một trong những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất hiện nay. Những hiện tượng như nắng nóng kéo dài, bão lũ bất thường, hạn hán hay nước biển dâng đang xuất hiện ngày càng nhiều và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người. Vì vậy, em chọn nghiên cứu đề tài “Biến đổi khí hậu và tác động đến đời sống con người” nhằm tìm hiểu nguyên nhân, hậu quả và đề xuất một số giải pháp khắc phục.
Nội dung nghiên cứu
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi lâu dài của nhiệt độ, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết trên Trái Đất. Hiện tượng này đang diễn ra ngày càng rõ rệt với biểu hiện nổi bật là sự nóng lên toàn cầu.
Nguyên nhân chủ yếu của biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người. Việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ đã làm gia tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Ngoài ra, tình trạng chặt phá rừng, ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên quá mức cũng góp phần làm khí hậu biến đổi nghiêm trọng hơn.
Biến đổi khí hậu gây ra nhiều hậu quả nặng nề. Nhiệt độ Trái Đất tăng lên khiến băng tan ở hai cực và nước biển dâng cao. Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt ở các vùng ven biển. Thiên tai như bão, lũ, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn, gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Tại Việt Nam, nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan đã xuất hiện trong những năm gần đây. Miền Trung thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão lũ, trong khi nhiều tỉnh phía Nam đối mặt với hạn hán và xâm nhập mặn. Điều đó cho thấy biến đổi khí hậu không còn là vấn đề xa vời mà đang tác động trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày.
Để giảm thiểu hậu quả của biến đổi khí hậu, mỗi người cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Chúng ta nên tiết kiệm điện, hạn chế sử dụng túi ni-lông, trồng thêm cây xanh và sử dụng các nguồn năng lượng sạch. Nhà nước cũng cần có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Kết luận
Biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với toàn nhân loại. Việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ là trách nhiệm của các quốc gia mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân. Chỉ khi con người biết sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể bảo vệ được tương lai của chính mình và của hành tinh xanh.
3. Nói và nghe
Chọn thực hiện theo nhóm học tập một trong các nội dung sau:
Nội dung 1. Giới thiệu một tác phẩm truyện nổi tiếng đang được giới trẻ quan tâm tìm đọc.
Nội dung 2. Có những tác phẩm nghệ thuật nào từng để lại ấn tượng sâu sắc với bạn? Hãy nói về tác phẩm ấy.
Nội dung 3. Thảo luận về cách thực hành “lối sống xanh”.
Bài nói tham khảo
Nội dung 1
Trước một tác phẩm truyện, mỗi người đọc có thể có những cảm nhận, quan điểm riêng biệt, những đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó. Đến với bài nói ngày hôm nay tôi xin giới thiệu, đánh giá về nội dung, nghệ thuật truyện ngắn “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân.
Trước hết tôi sẽ trình bày lí do vì sao tôi lựa chọn tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân để giới thiệu đến các bạn. Thứ nhất, Nguyễn Tuân được đánh giá là “nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp”, ông có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với nền văn học Việt Nam. Trước cách mạng ông thoát li hiện thực, tìm về một thời vang bóng, tập “Vang bóng một thời” chính là tập truyện tiêu biểu nhất cho phong cách của ông trước cách mạng. Trong đó ta không thể không nhắc đến “Chữ người tử tù” với niềm trân trọng thú viết chữ tao nhã truyền thống. Thứ hai, truyện ngắn này được đánh giá là một tác phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ.
“Chữ người tử tù” được in trong tập “Vang bóng một thời” xuất bản năm 1940, tác phẩm khi xuất hiện trên tạp chí Tao đàn có tên “Dòng chữ cuối cùng”, sau in thành sách đổi thành “Chữ người tử tù”. Tác phẩm đã truyền tải đầy đủ tinh thần của tác giả, cũng như giá trị nhân văn của tác phẩm. “Chữ” là hiện thân của cái đẹp, cái tài sáng tạo ra cái đẹp, cần được tôn vinh, ngợi ca. “Người tử tù” là đại diện của cái xấu, cái ác, cần phải loại bỏ khỏi xã hội. Ngay từ nhan đề đã chứa đựng những mâu thuẫn gợi ra tình huống truyện éo le, gợi dậy sự tò mò của người đọc. Qua đó làm nổi bật chủ đề tư tưởng của tác phẩm: tôn vinh cái đẹp, cái tài, khẳng định sự bất tử của cái đẹp trong cuộc đời.
Tác phẩm có tình huống gặp gỡ hết sức độc đáo, lạ, chúng diễn ra trong hoàn cảnh nhà tù, vào những ngày cuối cùng của người tử tù Huấn Cao, một người mang chí lớn và tài năng lớn nhưng không gặp thời. Vị thế xã hội của hai nhân vật cũng có nhiều đối nghịch. Huấn Cao kẻ tử từ, muốn lật đổ trật tự xã hội đương thời. Còn quản ngục là người đứng đầu trại giam tỉnh Sơn, đại diện cho luật lệ, trật tự xã hội đương thời. Nhưng ở bình diện nghệ thuật, vị thế của họ lại đảo ngược nhau hoàn toàn: Huấn Cao là người có tài viết thư pháp, người sáng tạo ra cái đẹp, còn quản ngục là người yêu và trân trọng cái đẹp và người sáng tạo ra cái đẹp. Đó là mối quan hệ gắn bó khăng khít chặt chẽ với nhau. Với tình huống truyện đầy độc đáo, đã giúp câu chuyện phát triển logic, hợp lí đẩy lên đến cao trào. Qua đó giúp bộc lộ tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề của truyện: Sự bất tử của cái đẹp, sự chiến thắng của cái đẹp. Sức mạnh cảm hóa của cái đẹp.
Nổi bật trong tác phẩm chính là Huấn Cao, người có tài viết chữ đẹp và nổi tiếng khắp nơi: “người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” tiếng tăm của ai khiến ai ai cũng biết đến. Cái tài của ông còn gắn liền với khát khao, sự nể trọng của người đời. Có được chữ của Huấn Cao là niềm mong mỏi của bất cứ ai, được treo chữ của ông trong nhà là niềm vui, niềm vinh dự lớn. Cái tài của Huấn Cao không chỉ dừng lại ở mức độ bình thường mà đã đạt đến độ phi thường, siêu phàm.
Không chỉ tài năng, vẻ đẹp của Huấn Cao còn là vẻ đẹp của thiên lương trong sáng: “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ”. “Khoảnh” ở đây có thể hiểu là sự kiêu ngạo về tài năng viết chữ, bởi ông ý thức được giá trị của tài năng, luôn tôn trọng từng con chữ mình viết ra. Mỗi chữ ông viết như một món quà mà thượng đế trao cho bản thân nên chỉ có thể dùng những chữ ấy để trao cho những tấm lòng trong thiên hạ. Trong đời ông, ông không vì uy quyền mà trao chữ cho ai bao giờ: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Đặc biệt, tấm lòng thiên lương ấy còn thể hiện trong việc ông đồng ý cho chữ viên quản ngục: “Ta cảm tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, tấm lòng của Huấn Cao với những con người quý trọng cái đẹp, cái tài.
Ở Huấn Cao ta còn thấy được trong ông vẻ đẹp của một con người có nghĩa khí, khí phách hơn người. Ông là người giỏi chữ nghĩa nhưng không đi theo lối mòn, dám cầm đầu một cuộc đại phản, đối đầu với triều đình. Khi bị bắt ông vẫn giữ tư thế hiên ngang, trước lời đe dọa của tên lính áp giải tù, Huấn Cao không hề để tâm, coi thường, vẫn lạnh lùng chúc mũi gông đánh thuỳnh một cái xuống nền đá tảng… Khi viên quản ngục xuống tận phòng giam hỏi han ân cần, chu đáo, Huấn Cao tỏ ra khinh bạc đến điều: “Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn có một điều, là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Vào thời điểm nhận tin dữ (ngày mai vào kính chịu án chém), Huấn Cao bình tĩnh, mỉm cười.
Và đẹp đẽ nhất là cảnh cho chữ, cả ba vẻ đẹp của ông được hội tụ và tỏa sáng. Trên tấm vải trắng còn nguyên vẹn lần hồ, chữ Huấn Cao “vuông tươi tắn” nói lên hoài bão, tung hoành của một con người có khí phách. Ông không để tâm đến mọi điều xung quanh chỉ tập trung vào việc tạo ra những nét chữ tuyệt tác. Với việc quản ngục xin chữ, Huấn Cao cũng hiểu ra tấm lòng của quản ngục, trong những giây phút cuối đời đã viết chữ dành tặng viên quản ngục, dành tặng cho tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong thiên hạ.
Viên quản ngục là người có số phận bi kịch. Ông vốn có tính cách dịu dàng, biết trọng những người ngay thẳng, nhưng lại phải sống trong tù – môi trường chỉ có tàn nhẫn, lừa lọc. Nhân cách cao đẹp của ông đối lập với hoàn cảnh sống tù đầy, bị giam hãm. Ông tự nhận thức về ki kịch của mình, bi kịch của sự lầm đường lạc lối, nhầm nghề. Nhưng dù vậy, trong quản ngục vẫn giữ được tâm hồn cao đẹp, tâm hồn của một người nghệ sĩ. Ông khao khát có được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà, và nếu không xin được chữ ông Huấn quả là điều đáng tiếc. Nhưng xin được chữ của Huấn Cao là điều vô cùng khó khăn: bản thân ông là quản ngục, nếu có thái độ biệt nhỡn, hay xin chữ kẻ tử tù – Huấn Cao, chắc chắn sẽ gặp tai vạ. Hơn nữa Huấn Cao vốn “khoảnh” không phải ai cũng cho chữ.
Trong những ngày cuối cùng của ông Huấn, quản ngục có hành động bất thường, biệt nhỡn với người tử tù. Cũng như Huấn Cao, vẻ đẹp tâm hồn của quản ngục được thể hiện rõ nhất ở đoạn cho chữ. Ông trân trọng, ngưỡng mộ nên đã bất chấp tất cả để tổ chức một đêm xin chữ chưa từng có. Ba con người, ba nhân cách cao đẹp chụm lại chứng kiến những nét chữ dần dần hiện ra…, viên quản ngục khúm núm cất từng đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ, với thái độ sùng kính, ngưỡng mộ cái đẹp. Trước những lời giảng giải của Huấn Cao, viên quản ngục chắp tay vái người tù một vái, “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
Tác phẩm đã sáng tạo tình huống truyện vô cùng độc đáo. Với nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, mỗi nhân vật mang một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp thiên lương, khí phách và trọng đãi người tài. Đồng thời tác phẩm cũng thành công khi Nguyễn Tuân đã gợi lên không khí cổ xưa nay chỉ còn vang bóng. Nhịp điệu câu văn chậm, thong thả, góp phần phục chế lại không khí cổ xưa của tác phẩm. Bút pháp đối lập tương phản vận dụng thành thục, tài hoa.
Qua truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiên lương với cái xấu xa, tàn nhẫn. Đồng thời ông cũng thể hiện tấm lòng chân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, qua đó kín đáo bộc lộ lòng yêu nước. Với nghệ thuật xây dựng tình huống đắc sặc, ngôn ngữ tài hoa đã góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin giới thiệu một tác phẩm truyện đang được nhiều bạn trẻ quan tâm và tìm đọc, đó là Harry Potter của nhà văn J.K. Rowling.
Harry Potter là bộ truyện giả tưởng nổi tiếng thế giới, kể về hành trình trưởng thành của cậu bé phù thủy Harry Potter tại trường Hogwarts. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn bởi thế giới phép thuật kì ảo mà còn bởi cốt truyện lôi cuốn, nhiều tình tiết bất ngờ và hệ thống nhân vật phong phú. Những nhân vật như Harry, Hermione hay Ron đều mang những cá tính riêng, góp phần tạo nên sức hút đặc biệt cho câu chuyện.
Điểm nổi bật của tác phẩm là cách xây dựng thế giới tưởng tượng vô cùng chi tiết và sống động. Người đọc như được bước vào một không gian hoàn toàn khác, nơi tồn tại những phép thuật, sinh vật huyền bí và những cuộc phiêu lưu đầy thử thách. Bên cạnh đó, tác phẩm còn khéo léo lồng ghép nhiều vấn đề ý nghĩa như tình bạn, lòng dũng cảm, sự lựa chọn giữa cái thiện và cái ác.
Lí do em chọn giới thiệu tác phẩm này là bởi Harry Potter không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng nhiều bài học sâu sắc. Qua hành trình của Harry, người đọc nhận ra rằng dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu, con người vẫn có thể vượt qua bằng ý chí, tình yêu thương và niềm tin vào điều đúng đắn.
Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi giới trẻ dễ bị cuốn vào những nội dung nhanh và ngắn, việc đọc một bộ truyện dài như Harry Potter giúp rèn luyện khả năng tập trung, tư duy và trí tưởng tượng. Đây cũng là một trong những lí do khiến tác phẩm vẫn giữ được sức hút mạnh mẽ dù đã ra đời từ lâu.
Tuy nhiên, mỗi người sẽ có những cảm nhận khác nhau về tác phẩm. Có bạn yêu thích yếu tố phiêu lưu, có bạn lại ấn tượng với thông điệp nhân văn. Điều đó cho thấy giá trị đa chiều của Harry Potter và cũng là lí do khiến tác phẩm luôn được đón nhận rộng rãi.
Tóm lại, Harry Potter là một tác phẩm truyện đặc sắc, không chỉ hấp dẫn về nội dung mà còn giàu ý nghĩa. Em hi vọng qua phần giới thiệu này, các bạn sẽ có thêm hứng thú để tìm đọc và khám phá thế giới đầy màu sắc của bộ truyện.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Giới thiệu tiểu thuyết Nhà giả kim của Paulo Coelho
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Hôm nay em xin giới thiệu một tác phẩm nổi tiếng đang được rất nhiều bạn trẻ yêu thích, đó là cuốn tiểu thuyết Nhà giả kim của nhà văn Paulo Coelho.
Đây là một tác phẩm nổi tiếng của văn học thế giới, được dịch ra hàng chục ngôn ngữ và bán hàng triệu bản trên toàn cầu. Cuốn sách kể về hành trình của cậu bé chăn cừu Xan-ti-a-gô đi tìm kho báu theo giấc mơ của mình. Nhưng điều quý giá nhất mà cậu nhận được lại không chỉ là kho báu vật chất mà còn là sự trưởng thành và khám phá ý nghĩa cuộc sống.
Điều khiến em ấn tượng nhất ở tác phẩm là thông điệp:
“Khi bạn thực sự mong muốn điều gì, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được điều đó.”
Tác phẩm truyền cảm hứng mạnh mẽ cho tuổi trẻ về lòng dũng cảm theo đuổi ước mơ, biết tin vào bản thân và không ngừng cố gắng vượt qua thử thách.
Bên cạnh nội dung sâu sắc, cuốn sách còn hấp dẫn bởi lối kể chuyện nhẹ nhàng, giàu tính triết lí nhưng rất gần gũi. Mỗi chặng đường mà nhân vật đi qua đều chứa đựng những bài học ý nghĩa về tình yêu, niềm tin và khát vọng sống.
Theo các bạn, điều gì là “kho báu” quan trọng nhất đối với tuổi trẻ hôm nay: tiền bạc, thành công hay sự trưởng thành trong tâm hồn?
Với em, Nhà giả kim không chỉ là một cuốn tiểu thuyết mà còn là cuốn sách giúp người trẻ hiểu hơn về chính mình và có thêm động lực để theo đuổi ước mơ.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
Nội dung 2
Nam Cao được biết đến là một cây bút tài hoa trên diễn đàn văn học Việt Nam, những tác phẩm ra đời mang màu sắc hiện thực sâu sắc. Những tác phẩm của ông mang cái nhìn về thời đại và cuộc sống hoàn toàn mới,cũng như hình ảnh trong các tác phẩm cũng đa dạng và phong phú,mang những mảng tính cách mà sự pha trộn sáng tối lại như được tương phản rõ rệt. Chí Phèo là một tác phẩm điển hình khi nhắc tới Nam Cao. Đây là câu chuyện về đoạn cuối cuộc đời của một con người trong xã hội thực dân phong kiến diễn ra và được ghi lại bởi Nam Cao, câu chuyện cũng gợi một những ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Tác phẩm mở đầu thật đặc sắc và đầy ấn tượng với tiếng vừa đi vừa chửi của Chí Phèo, và xung quanh hắn chỉ có mấy con chó đứng chầu chực sủa. Ngoài mấy con chó, không có ai đáp lời hắn. Mở đầu truyện ngắn rất đỗi tài tình và tự nhiên, giống như chúng ta đang chứng kiến khung cảnh ấy vậy. Những âm thanh hay cụ thể là những tiếng chửi của Chí Phèo lại làm cho mọi thứ trở nên sống động,mọi hình ảnh như mở ra trước mắt.Có thể nói hình ảnh Chí say rượu, vừa đi vừa chửi,chửi những gì mà hắn thấy. Có lẽ, dường như mọi người ở cái làng Vũ Đại đã quen với hình ảnh này của nó, cho nên cứ khi nào hắn chửi mọi người cũng chẳng để ý và nghĩ rằng:” chắc hắn trừ mình ra”. Tới đây ắt hẳn mọi người lại ngạc nhiên tại sao hắn lại có hành động như vậy, theo thông thường người ta chửi bới khi uất ức một chuyện gì hay quá áp lực. Quả là như vậy,hắn vốn là đứa trẻ từ khi mới đẻ ra đã bị bỏ rơi trong cái lò gạch bỏ hoang, được người làng nhặt về nuôi, đi ở cho nhiều nhà khác nhau, cuối cùng đến năm 20 tuổi thì về làm canh điền cho Lí Kiến. Vì ghen tuông với sự trẻ trung lực lưỡng của hắn và vì bà Ba để ý tới hắn, nên Bá Kiến tìm cách bỏ tù hắn, để hắn không thể xuất hiện nữa. Như có một sự vô cớ, Chí Phèo vốn dĩ là một người lương thiện, nghèo đói nên đi ở, nhưng trong xã hội đó,ai có tiền có quyền người đó được làm mọi thứ, và cứ thế từ một con người lương thiện, Chí dần bị đẩy vào con đường tha hóa và lưu manh hóa.
Sau khi được thả tù, bộ dạng Chí thay đổi hẳn,với cái đầu cạo trọc và hàm răng trắng hếu, trên mặt hiện lên vết sẹo dài. Trông hắn chẳng khác gì một con quỷ, quỷ đội lốt trong hình hài của một con người. Và người hắn tìm đến đầu tiên không ai khác chính là Bá Kiến.Khi biết Chí đứng trước nhà mình vừa say vừa ăn vạ, Lí Cường ra mắng hắn,nhưng ngay sau đó,Chí Phèo đã rạch mặt, những vết máu trên khuôn mặt đầy sẹo dọc ngang nằm trước cổng nhà Bá Kiến dưới nhiều con mặt dò xét của người dân nơi đây.Khác với Lí Cường, Bá Kiến là người khôn khéo,khi thấy hình ảnh đó, quay sang Lí Cường mắng sa sả như tỏ ra nhượng bộ, rồi đỡ Chí Phèo dậy. Hắn biết tên Chí Phèo luôn luôn ưa nhẹ,lại thích được mềm mỏng nên sau đó hắn đã mời Chí vào nhà và cho ăn uống hậu hĩnh. Lần thứ hai, Chí đến nhà Bá Kiến xin đi ờ tù lần nữa vì Chí cho rằng đi tù còn có cơm ăn, ở làng mảnh đất cắm dùi cũng không có mà cái ăn cũng không, Bá Kiến lợi dùng cơ hội này nhờ hắn đi đòi nợ Đội Tảo 50 đồng và hứa sẽ,có vườn cho Chí. Sau khi Chí đã hoàn thành công việc được giao, Bá Kiến cho vài hào uống rượu và cắt cho hắn 5 sào vườn ở bãi sông. Bắt đầu từ lúc này Chí bỗng nhiên trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, một công cụ đắc lực của Bá Kiến nhằm ức hiếp dân lành và thanh toán những kẻ có máu mặt trong làng nhưng không cùng vây cánh.
Dường như cuộc sống và con người của Chí Phèo lúc này đây đã thực sự thay đổi khi một lần trong lúc uống say ,hắn trở về túp lều ven sông định bước xuống tắm, tình cờ nhìn thấy Thị Nở đang nằm ngủ. Thị Nở được khắc họa là người nghèo rót mồng tơi, xấu ma chê quỷ hờn lại ngẩn ngơ như người đần trong cổ tích và Họ đã ăn nằm với nhau và thứ tình cảm đó đánh thức tình cảm bình thường cùng mong muốn làm một người bình thường trong Chí. Có lẽ hình ảnh bát cháo hành của Thị như liều thuốc tiên đánh thức con người lương thiện luôn giấu kín trong một bộ dạng quỷ dữ của hắn. Cái mùi cháo hành thơm kia như đã bốc lên và cử chỉ quan tâm của Thị đã khiến chí bùi ngùi và chợt nhận ra, anh muốn có một gia đình, với vợ dệt vải chồng đi làm, cứ thế cuộc sống êm đềm trôi qua. Nhưng, dường như niềm vui sướng chưa được bao lâu thì người bà cô đã khuyên Thị không nên ở với hắn,rồi Thị cũng là người duy nhất quay lưng lại với hắn thì cuối cùng cũng bỏ đi. Chiếc thang bắc cầu cho lòng lương thiện của Chí được sang bến bờ được sống như một người bình thường giờ đây hắn cũng không còn nữa. Chính vì thế,mà Chí Phèo đã mang dao tới nhà bá Kiến kết thúc đời bá Kiến và sau đó cũng tự sát, hắn không còn một lựa chọn nào khác.khi nghe được tin này, nhiều người tỏ ra hả hê, còn riêng Thị Nở lại nhìn xuống bụng và nghĩ tới cái lò gạch bỏ hoang không người qua lại.
“Chí Phèo” là một trong những truyện ngắn đặc sắc mà dường như dung lượng hiện thực được phản ánh trong trạng thái dồn nén, chứa nhiều mâu thuẫn, với nhiều nhân vật, và tình huống khác nhau…tác phẩm như mang tầm vóc của một tiểu thuyết. Chúng ta có thể dễ nhận thấy và phân tích theo vấn đề ý nghĩa nhân sinh của truyện, có thể phân tích theo tuyến nhân vật, hoặc cũng có phân tích-từng mối quan hệ giữa nhân vật chính là Chí Phèo với làng Vũ Đại và một số nhân vật có quan hệ trực tiếp (Bá Kiến, thị Nở). Dù là theo cách nào đi chăng nữa thì tất cả đều làm nổi bật nghệ thuật xây dựng tình huống, nghệ thuật miêu tả nhân vật và ngôn ngữ truyện.
Dường như hình ảnh làng Vũ Đại được ví như một hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng ,hiện thực cuộc sống được khơi ra từ những tình huống truyện đặc sắc và những chi tiết nhỏ nhất nhưng khiến độc giả không thể bỏ qua. Truyện ngắn “Chí Phèo” mở đầu và kết thúc theo kết cấu vòng, khi mở đầu truyện với hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang thì kết thúc truyện cũng như vậy, đó là chi tiết khi biết chí phèo tự sát, Thị Nở bỗng đã nhìn ngay xuống bụng mình và lại nghĩ ngay tới hình ảnh cái lò gạch, không biết một cuộc sống sẽ bắt đầu như thế nào, kết thúc mở khiến cho độc giả có nhiều liên tưởng thú vị. Ngôn ngữ trong tác phẩm là một điều không thể bỏ qua, lời trần thuật được xáo trộn, lắp ghép, đan xen không tuân theo trình tự tuyến tính của.cốt truyện. Nam Cao dường như đã bắt đầu bằng hình ảnh Chí khật khưỡng say và vừa đi vừa chửi. Chân dung nhân vật bước đầu hiện ra với những đường nét thật ấn tượng, buộc người đọc chú ý ngay từ khi mới đặt tay lên trang giấy. Ông đã thật tài tình khi đan xen, trộn lẫn lời nhân vật và lời người kể truyện, nhiều đơn vị lời văn có thể là của nhân vật vừa là của người kể chuyện. Thông qua đây, việc sử dụng này có ý nghĩa rất lớn đến việc đi sâu vào thẻ giới nội tâm rất phức tạp và tinh tế của nhân vật. Chính bởi nhờ vậy chân dung nhân vật hiện ra hết sức chân thực và sống động.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin trình bày về một tác phẩm nghệ thuật đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc, đó là bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận.
Tràng giang là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, được sáng tác trước Cách mạng tháng Tám. Ngay từ nhan đề, bài thơ đã gợi lên một không gian rộng lớn, mênh mang của sông nước. Hai tiếng “tràng giang” không chỉ đơn thuần là “sông dài” mà còn mang âm hưởng cổ kính, gợi cảm giác về một dòng sông vô tận, kéo dài đến vô cùng. Chính từ nhan đề ấy, người đọc đã phần nào cảm nhận được không khí chung của bài thơ: buồn, rộng và sâu.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”. Câu thơ vừa tả thực cảnh sông nước vừa gợi lên nỗi buồn lan tỏa không dứt. Những con sóng nối tiếp nhau như chính nỗi buồn trong lòng thi nhân cứ dâng lên, chồng chất. Tiếp đó là hình ảnh “con thuyền xuôi mái nước song song”, gợi cảm giác trôi nổi, vô định. Đặc biệt, hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” đã để lại trong em ấn tượng rất sâu sắc. Một cành củi nhỏ bé, khô héo, bị dòng nước cuốn đi vô định đã trở thành biểu tượng cho thân phận con người nhỏ nhoi, cô đơn giữa cuộc đời rộng lớn.
Không gian trong bài thơ ngày càng được mở rộng. Ở khổ thơ tiếp theo, hình ảnh “nắng xuống, trời lên sâu chót vót” và “sông dài, trời rộng, bến cô liêu” đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa hoang vắng. Cảnh vật càng rộng lớn bao nhiêu thì con người lại càng trở nên nhỏ bé, lạc lõng bấy nhiêu. Điều đó khiến em cảm nhận rõ hơn nỗi cô đơn sâu thẳm của nhà thơ trước vũ trụ bao la.
Đến khổ thơ thứ ba, những hình ảnh như “bèo dạt về đâu hàng nối hàng” hay “không cầu gợi chút niềm thân mật” lại càng làm nổi bật sự chia lìa, thiếu vắng sự gắn kết giữa con người với con người. Dòng sông không chỉ là cảnh vật mà còn là biểu tượng cho cuộc đời, nơi con người trôi dạt, bơ vơ, không biết đâu là bến đỗ.
Khổ thơ cuối là điểm nhấn cảm xúc của toàn bài. Hình ảnh “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” tạo nên một không gian hùng vĩ, trong khi “chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” lại gợi lên sự nhỏ bé, cô đơn. Đặc biệt, hai câu thơ “Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” đã thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết. Nếu trong thơ cổ, nỗi nhớ nhà thường gắn với hình ảnh khói hoàng hôn, thì ở đây, nhà thơ không cần đến yếu tố ấy mà nỗi nhớ vẫn dâng lên mãnh liệt. Điều đó cho thấy tình cảm quê hương đã trở thành một nỗi niềm thường trực, sâu kín trong tâm hồn thi sĩ.
Qua bài thơ, em cảm nhận được sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp cổ điển và hiện đại. Những hình ảnh quen thuộc như sông nước, con thuyền, cánh chim mang màu sắc cổ điển, nhưng nỗi buồn lại mang đậm tâm trạng của con người hiện đại – cô đơn, lạc lõng trong xã hội. Chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của Tràng giang.
Đối với em, bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên đẹp mà còn là tiếng lòng sâu kín của một tâm hồn nhạy cảm. Nó khiến em nhận ra rằng, dù cuộc sống có rộng lớn và nhiều biến động đến đâu, con người vẫn luôn hướng về quê hương, về những giá trị thân thuộc. Bài thơ đã để lại trong em những rung động sâu sắc và giúp em thêm yêu vẻ đẹp của thơ ca Việt Nam.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Giới thiệu bài hát Nối vòng tay lớn của Trịnh Công Sơn
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Trong rất nhiều tác phẩm nghệ thuật mà em từng biết, bài hát Nối vòng tay lớn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là tác phẩm để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc nhất.
Bài hát ra đời trong giai đoạn đất nước còn nhiều chia cắt, mang khát vọng hòa bình, đoàn kết dân tộc. Với giai điệu hào sảng, mạnh mẽ cùng ca từ giàu cảm xúc, bài hát đã trở thành tiếng hát quen thuộc của nhiều thế hệ người Việt Nam.
Điều khiến em xúc động nhất là tinh thần gắn kết cộng đồng được thể hiện qua câu hát:
“Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay.”
Chỉ bằng một hình ảnh giản dị, nhạc sĩ đã thể hiện khát vọng về một đất nước thống nhất, con người yêu thương và đồng lòng vượt qua khó khăn.
Không chỉ có giá trị lịch sử, bài hát còn mang ý nghĩa lớn trong cuộc sống hôm nay. Trong xã hội hiện đại, khi con người đôi lúc sống khép kín và thiếu sự sẻ chia, bài hát nhắc nhở chúng ta biết đoàn kết, yêu thương và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Mỗi lần nghe bài hát này, em cảm thấy tự hào về dân tộc và có thêm niềm tin vào sức mạnh của sự gắn bó giữa con người với con người.
Theo các bạn, trong cuộc sống hiện nay, chúng ta cần làm gì để tinh thần “nối vòng tay lớn” luôn được lan tỏa?
Em xin chân thành cảm ơn!
Nội dung 3
Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn ở Việt Nam. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những hình ảnh, những thông tin về việc môi trường bị ô nhiễm ngay trên các phương tiện truyền thông. Điều này khiến ta phải suy nghĩ về việc mỗi người cần phải hành động vì một “lối sống xanh”.
Sống Xanh là một cách sống giúp giảm việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Trái đất và gây ra ít tác động nhất với môi trường từ thói quen sinh hoạt của chúng ta.
Sống Xanh có nghĩa là đáp ứng được nhu cầu hiện tại của mà không phải hi sinh hay ảnh hưởng đến việc các thế hệ tương lai có thể sử dụng các tài nguyên. Nói cách khác là chúng ta chú trọng vào sự phát triển bền vững thay vì tập trung vào các giá trị thụ hưởng hiện tại mà quên mất những hậu quả xảy ra trong tương lai, ví dụ thay vì chúng ta sử dụng các sản phẩm từ gỗ tự nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng gỗ rừng trồng - và rừng này được quản lý chặt chẽ theo tiêu chí bền vững, nghĩa là tổng sản lượng gỗ được trồng luôn lớn hơn tổng sản lượng gỗ khai thác tại mọi thời điểm
Thực tế là bạn có thể trả tiền cho một cuộc sống xa xỉ và tiêu dùng hoang phí tài nguyên của thế giới hôm nay, nhưng thế hệ tương lai sẽ phải trả giá. Mặt khác, hầu như tất cả các hàng hóa, dịch vụ trong cuộc sống mà ta đang dùng đều không tính đến chi phí để xử lý các tác động tới môi trường từ quá trình sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó. Thế hệ tương lai sẽ phải trả các chi phí đó hoặc sẽ đến lúc không thể mua được các tài nguyên của trái đất vì chúng đã cạn kiệt, ví dụ như nước sạch.
Đừng nghĩ việc bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên là điều gì đó to tát, vĩ mô. Bạn có thể bắt đầu bằng những việc rất nhỏ, thay đổi cách sống của mình tại gia đình. Hãy suy nghĩ về những hành động liên quan đến tại gia đình, Rác thải, Nước, Năng lượng, Mua Sắm, Nhà An toàn và Sức khỏe. Hầu như bạn không cần phải đầu tư nhưng sẽ vẫn tiết kiệm được tiền cho gia đình và tiết kiệm được tài nguyên cho trái đất. Ví dụ, tắt điện khi không sử dụng, lựa chọn nhà sản xuất thân thiện với môi trường khi mua hàng, thay thế hóa chất bằng các sản phẩm tự nhiên, nấu đủ ăn, dùng các thiết bị điện đúng cách… bạn giảm việc sử dụng năng lượng, hóa chất, bảo vệ nguồn nước, hạn chế rác thải, cải thiện sức khỏe. Hay thú vị hơn, các bạn có thể tự mình thiết kế và thực hiện những đồ dùng trong gia đình cũng là một cách tránh lãng phí nguồn lực không cần thiết khi đi mua hoặc thuê người làm.
Khi Sống Xanh, phần thưởng lớn lao nhất cho bạn là sự hài lòng vì mình đã làm những hành động thiết thực, đóng góp cụ thể để duy trì tương lai của con cháu. Bạn cũng tìm được cho mình niềm tin là các thay đổi nhỏ của mỗi cá nhân có thể gộp lại, thành tác động lớn.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin trình bày về một vấn đề đang được rất nhiều người quan tâm trong cuộc sống hiện nay, đó là cách thực hành “lối sống xanh”. Trong bối cảnh môi trường ngày càng bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp, việc xây dựng và duy trì một lối sống thân thiện với môi trường không còn là lựa chọn, mà đã trở thành trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Trước hết, “lối sống xanh” có thể hiểu là cách sống hướng tới việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, phân loại rác thải, trồng cây xanh và ưu tiên sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Lối sống xanh không phải là điều gì quá xa vời, mà bắt đầu từ những thói quen rất nhỏ trong đời sống hằng ngày.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải ai cũng ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Nhiều người vẫn giữ thói quen sử dụng túi nilon, vứt rác bừa bãi, lãng phí tài nguyên. Đặc biệt, trong giới trẻ, dù đã có nhiều chiến dịch tuyên truyền, nhưng việc thực hành lối sống xanh vẫn chưa trở thành một thói quen phổ biến. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của mỗi người.
Việc thực hành lối sống xanh mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực. Trước hết, nó góp phần bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước và đất. Bên cạnh đó, lối sống xanh còn giúp tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí sinh hoạt và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quan trọng hơn, đây còn là cách để mỗi người thể hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng và thế hệ tương lai.
Để thực hành lối sống xanh một cách hiệu quả, theo em, cần bắt đầu từ những việc làm cụ thể và phù hợp với điều kiện của mỗi người. Chẳng hạn, chúng ta có thể mang theo bình nước cá nhân thay vì sử dụng chai nhựa, sử dụng túi vải khi đi mua sắm, tắt các thiết bị điện khi không sử dụng, hay tham gia các hoạt động trồng cây, dọn rác. Bên cạnh đó, việc lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường đến gia đình, bạn bè và cộng đồng cũng rất quan trọng.
Ngoài nỗ lực của cá nhân, sự hỗ trợ từ phía nhà trường và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng. Nhà trường có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các buổi tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh. Các cơ quan chức năng cần có những chính sách khuyến khích sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường và xử lí nghiêm các hành vi gây ô nhiễm.
Tóm lại, lối sống xanh không chỉ là một xu hướng mà còn là một giải pháp thiết thực để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mỗi chúng ta, dù là học sinh hay người trưởng thành, đều có thể góp phần tạo nên sự thay đổi tích cực bằng những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa. Em hi vọng rằng sau bài trình bày này, mỗi người trong chúng ta sẽ có ý thức hơn trong việc thực hành lối sống xanh, để cùng nhau xây dựng một môi trường sống trong lành và tốt đẹp hơn.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Kính thưa thầy cô và các bạn,
Hôm nay, em xin trình bày về một vấn đề đang được rất nhiều người quan tâm trong cuộc sống hiện nay, đó là cách thực hành “lối sống xanh”. Trong bối cảnh môi trường ngày càng bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu diễn ra phức tạp, việc xây dựng và duy trì một lối sống thân thiện với môi trường không còn là lựa chọn, mà đã trở thành trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Trước hết, “lối sống xanh” có thể hiểu là cách sống hướng tới việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này thể hiện qua những hành động cụ thể như tiết kiệm điện, nước, hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần, phân loại rác thải, trồng cây xanh và ưu tiên sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Lối sống xanh không phải là điều gì quá xa vời, mà bắt đầu từ những thói quen rất nhỏ trong đời sống hằng ngày.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải ai cũng ý thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường. Nhiều người vẫn giữ thói quen sử dụng túi nilon, vứt rác bừa bãi, lãng phí tài nguyên. Đặc biệt, trong giới trẻ, dù đã có nhiều chiến dịch tuyên truyền, nhưng việc thực hành lối sống xanh vẫn chưa trở thành một thói quen phổ biến. Điều này đặt ra yêu cầu cần phải nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của mỗi người.
Việc thực hành lối sống xanh mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực. Trước hết, nó góp phần bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước và đất. Bên cạnh đó, lối sống xanh còn giúp tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí sinh hoạt và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quan trọng hơn, đây còn là cách để mỗi người thể hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng và thế hệ tương lai.
Để thực hành lối sống xanh một cách hiệu quả, theo em, cần bắt đầu từ những việc làm cụ thể và phù hợp với điều kiện của mỗi người. Chẳng hạn, chúng ta có thể mang theo bình nước cá nhân thay vì sử dụng chai nhựa, sử dụng túi vải khi đi mua sắm, tắt các thiết bị điện khi không sử dụng, hay tham gia các hoạt động trồng cây, dọn rác. Bên cạnh đó, việc lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường đến gia đình, bạn bè và cộng đồng cũng rất quan trọng.
Ngoài nỗ lực của cá nhân, sự hỗ trợ từ phía nhà trường và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng. Nhà trường có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các buổi tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh. Các cơ quan chức năng cần có những chính sách khuyến khích sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường và xử lí nghiêm các hành vi gây ô nhiễm.
Tóm lại, lối sống xanh không chỉ là một xu hướng mà còn là một giải pháp thiết thực để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mỗi chúng ta, dù là học sinh hay người trưởng thành, đều có thể góp phần tạo nên sự thay đổi tích cực bằng những hành động nhỏ nhưng ý nghĩa. Em hi vọng rằng sau bài trình bày này, mỗi người trong chúng ta sẽ có ý thức hơn trong việc thực hành lối sống xanh, để cùng nhau xây dựng một môi trường sống trong lành và tốt đẹp hơn.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe.
Cách 3:
Kính thưa thầy cô và các bạn!
Ngày nay, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang trở thành vấn đề đáng lo ngại trên toàn thế giới. Chính vì vậy, việc thực hành “lối sống xanh” là điều vô cùng cần thiết, đặc biệt đối với giới trẻ.
Lối sống xanh là cách sống thân thiện với môi trường, hướng con người đến việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sống.
Theo em, lối sống xanh có thể bắt đầu từ những việc làm rất nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng hạn: hạn chế sử dụng túi ni-lông và đồ nhựa dùng một lần; tiết kiệm điện, nước; trồng cây xanh; sử dụng phương tiện giao thông công cộng; phân loại rác và tái chế.
Ngoài ra, học sinh chúng ta cũng có thể tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường như dọn vệ sinh trường lớp, tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên hay tham gia các chiến dịch “Ngày Chủ nhật xanh”.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn có nhiều người cho rằng một cá nhân thì không thể tạo ra thay đổi lớn. Theo em, suy nghĩ ấy chưa đúng. Một hành động nhỏ nhưng được nhiều người cùng thực hiện sẽ tạo nên sự thay đổi tích cực cho cộng đồng.
Bản thân em đã cố gắng thực hiện lối sống xanh bằng cách mang bình nước cá nhân đến trường và hạn chế sử dụng đồ nhựa dùng một lần. Tuy đó chỉ là việc nhỏ nhưng em tin rằng nếu ai cũng có ý thức thì môi trường sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.
Theo các bạn, đâu là việc làm thiết thực nhất mà học sinh chúng ta có thể thực hiện để góp phần bảo vệ môi trường?
Lối sống xanh không chỉ giúp bảo vệ thiên nhiên mà còn giúp con người sống văn minh, có trách nhiệm hơn với cộng đồng và tương lai của chính mình.
Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe!
Xem thêm các bài Soạn văn lớp 11 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác: