Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143 (Ôn tập học kì 1) - Kết nối tri thức

Với soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143, 144, 145, 146, 147, 148 (Ôn tập học kì 1) Ngữ văn lớp 9 Kết nối tri thức sẽ giúp học sinh trả lời câu hỏi từ đó dễ dàng soạn văn 9.

Soạn bài Luyện tập tổng hợp trang 143 (Ôn tập học kì 1) - Kết nối tri thức

Quảng cáo

Phiếu học tập số 1

1. Đọc trang 143

a. Đọc văn bản Khóc Dương Khuê (trang 143 sgk Ngữ văn 9 Tập 1):

b. Thực hiện các yêu cầu

* Chọn phương án đúng:

Câu 1 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những dấu hiệu nào cho thấy đoạn trích mang đặc điểm của thể thơ song thất lục bát?

A. Ngôn ngữ được tác giả sử dụng trong đoạn trích

B. Số tiếng trong các câu thơ và cách hiệp vần giữa các câu thơ liền nhau

C. Các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn trích

D. Những cung bậc cảm xúc được nhà thơ thể hiện trong đoạn trích

Trả lời:

Chọn đáp án: B.

Quảng cáo

Câu 2 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Cách hiệp vần nào được sử dụng trong đoạn trích trên?

A. Tất cả các câu liền nhau hiện vần với nhau

B. Chỉ có một số câu liền nhau hiệp vần với nhau

C. Chỉ có các cặp lục bát hiệp vần với nhau

D. Chỉ có các cặp câu bảy tiếng hiệp vần với nhau

Trả lời:

Chọn đáp án: A.

Câu 3 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trạng thái cảm xúc gì của nhà thơ được thể hiện trong hai câu thơ: “Làm sao bác vội về ngay,/ Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời?

A. Bình tĩnh, thản nhiên

B. Thảng thốt, hụt hẫng

C. Tuyệt vọng, sợ hãi

D. Cô đơn, thương mình

Quảng cáo

Trả lời:

Chọn đáp án: B.

Câu 4 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Trong hai câu thơ: Ai chẳng biết chán đời là phải/ Vội vàng sao đã mải lên tiên, biện pháp tu từ nào được sử dụng?

A. So sánh

B. Nói quá

C. Nhân hóa

D. Nói giảm nói tránh

Trả lời:

Chọn đáp án: D.

Câu 5 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nhận định nào nêu đúng nội dung chính của đoạn trích?

Quảng cáo

A. Đoạn trích nói về những kỉ niệm thời trẻ của tác giả với bạn

B. Đoạn trích thể hiện sự bi quan của tác giả trước một sự việc đau thương

C. Đoạn trích là tiếng lòng bi thiết của tác giả khi nghe tin bạn quý vừa mất

D. Đoạn trích cho thấy nhận thức của tác giả về quy luật tất yếu của đời người

Trả lời:

Chọn đáp án: C.

* Trả lời câu hỏi:

Câu 1 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tâm trạng của tác giả được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Trả lời:

- Tâm trạng của tác giả: thảng thốt, xót thương, buồn đau, nặng trĩu.

Câu 2 (trang 144 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những biểu hiện nào cho thấy tình cảm sâu nặng giữa tác giả và người bạn của mình?

Trả lời:

Những biểu hiện:  Chữ bác trong thơ: nhà thơ luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật.

Câu 3 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích và phân tích hiệu quả nghệ thuật ở từng trường hợp.

Trả lời:

- Các từ láy:

+ hững hờ; ngẩn ngơ: sự vô cảm với tất cả mọi thứ vì đã mất đi một người bạn tri kỉ.

+ vội vàng: hành động ra đi bất ngờ của người bạn để lại sự thiếu vắng lẻ loi trong lòng tác giả.

+ chứa chan: cảm xúc đau buồn, xót thương đến tột cùng, không thể kìm được nước mắt.

Câu 4 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Em cần làm gì để biết ý nghĩa của các điển tích được tác giả sử dụng trong đoạn trích? Phân tích tác dụng của các điển tích đó.

Trả lời:

- Để biết ý nghĩa của điển tích, em đọc phần chú thích đưới chân trang.

- Tác dụng: Làm nổi bật lên cảm xúc của tác giả và tình cảm dành cho người bạn đã ra đi.

Câu 5 (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Ở những câu thơ sau, biện pháp tu từ điệp ngữ có tác dụng như thế nào trong việc diễn tả các cung bậc cảm xúc của nhà thơ?

Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết

Viết đưa ai, ai biết mà đưa:

Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Trả lời:

- Điệp ngữ: không có, không mua, không phải

- Tác dụng:

+  Người đã không còn thì không có cảm hứng làm bất cứ điều gì dù đó có là thú vui nhất trong cuộc đời thì đều trở nên vô nghĩa. 

+ Nguyễn Khuyến rất đau đớn, mất mát khi người bạn thân tri kỉ ra đi.

+ Cảm giác nức nở, sự trống vắng đến nghẹn ngào, chua xót.

2. Viết trang 145

Câu hỏi (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết bài văn phân tích trích đoạn bài thơ Khóc Dương Khuê ở phần Đọc.

Trả lời:

Trong nền thơ hơn một nghìn năm của dân tộc Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Khuyến có một vị trí thật vẻ vang. Ông là nhà thơ của những bài thơ Việt Nam đích thực, những bài thơ mà ở đó, những tình cảm đẹp đẽ của con người Việt Nam được diễn tả bằng một thứ ngôn ngữ Việt Nam thuần khiết, giản dị và đẹp đẽ. Trong những bài thơ ấy, cần phải nói tên một bài thơ không mấy ai không biết: bài Khóc Dương Khuê.

Khóc Dương Khuê được Nguyễn Khuyến viết vào năm 1902 khi Dương Khuê, người bạn tri kỷ qua đời vì bệnh tật. Từng câu chữ trong bài thơ là lời tâm sự, nỗi niềm mà nhà văn gửi gắm trước vong linh bạn. Tâm trạng Nguyễn Khuyến lúc này như lặng đi, trùng xuống giữa những cảm xúc lẫn lộn và mơ hồ:

Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

Tôi lại đau trước bác mấy ngày;

Làm sao bác vội về ngay,

Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.

Đối mặt trước tin dữ, Nguyễn Khuyến vẫn không thể chấp nhận hiện thực phũ phàng ấy. Vốn cho rằng Dương Khuê ít tuổi hơn ông, còn không mang nhiều bệnh tật như mình, vậy mà số phận lại trớ trêu với người bạn ông thương.

Hình ảnh “chân tay rụng rời” diễn tả sự bàng hoàng, thảng thốt cho một nỗi đau ai oán, không thể cất lên thành lời. Đó cũng chính là nỗi băn khoăn mà nhà thơ luôn trằn trọc suy nghĩ, một kết thúc quá đỗi vô tình dành cho ông. Chỉ với bốn câu thơ ngắn, giọng thơ tự tình đầy nghẹn ngào, trong từng câu chữ thấm đẫm những giọt lệ nóng. Tiếng gọi “tôi”, “bác” xuất hiện dày đặc tựa như hai linh hồn đang hòa quyện, thấu hiểu, nương tựa nhau khiến niềm đau ấy nhân lên gấp bội.

Đối mặt với sự thật, Nguyễn Khuyến đành chấp nhận nỗi đau mất bạn nhưng vẫn luôn cho rằng điều đó thật sự phi lý. Lời thơ cất lên vừa chua xót, vừa trách than số trời đã định:

Ai chẳng biết chán đời là phải,

Sao vội vàng đã mải lên tiên;

Rượu ngon không có bạn hiền,

Không mua không phải không tiền không mua.

Dẫu biết quy luật của cuộc sống con người, không ai có thể thoát khỏi vòng xoáy sinh lão bệnh tử nhưng cái chết đột ngột của Dương Khuê khiến nhà thơ cảm thấy thật vô lý. Sự ra đi ấy đã lấy đi của ông một người bạn hiền thấu hiểu cũng như niềm vui trong suốt năm tháng tuổi già. Vậy nên trước những thú vui tao nhã khi xưa, Nguyễn Khuyến chẳng còn hứng thú, chỉ thấy vô vị và nhạt nhòa.

Sau chữ “chẳng” xuất hiện năm lần là chữ “không” diễn tả sự trống vắng, cô đơn, sự buồn bã của nhà thơ. Người ra đi và kẻ ở lại cùng chung nỗi niềm tâm sự, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ thái độ chán nản của mình trước thời cuộc trong bài thơ Tiến sĩ giấy:

Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe,

Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!

Không còn người bầu bạn, trò chuyện nên cuộc đời nhà thơ như mất hết ý nghĩa. Ông không muốn uống rượu, cũng chẳng thiết ngâm thơ, bởi:

Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,

Viết đưa ai, ai biết mà đưa”

Giường kia treo cũng hững hờ,

Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Sử dụng điển tích, điển cố “giường”, “đàn” qua đó khéo léo nói về tình bạn của mình giống với tình bạn của Trần Phồn – Từ Trĩ, Tử Kỳ – Bá Nha trong sử sách xưa. Trần Phồn đời Hậu Hán sau khi bạn ra về thì treo giường lên, không để ai ngồi vào, chỉ dành riêng để tiếp bạn. Còn Bá Nha sau khi Tử Kỳ chết liền bỏ chơi đàn vì thấy không ai hiểu được tâm ý. Qua đó diễn tả nỗi buồn day dứt khôn nguôi, thể hiện tình nghĩa sâu nặng, thắm thiết của nhà thơ với người tri kỷ đã khuất. Chấm dứt dòng hồi tưởng ấy, Nguyễn Khuyến trở lại hiện thực, đưa tiễn bạn bằng tấm lòng chân thành, tình bằng hữu tri kỷ:

Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,

Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;

Tuổi già hạt lệ như sương,

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

Nhà thơ khuyên mình không nên khóc, bởi tuổi già còn ít nước mắt lắm, chỉ như những hạt sương mong manh thôi, làm sao có thể ép cho nước mắt tuôn chảy thành hai hàng chứa chan được. Nhưng nói như thế là nói lí. Tự nhà thơ vẫn hiểu rằng không thể “lấy nhớ làm thương” được, và càng hiểu ràng hai hàng nước mắt chứa chan của ông lúc này đâu phải do ông “ép lấy”. Mỗi chữ trong thơ ông đều đẫm đầy nước mắt, những hạt lệ từ một nỗi đau lớn, từ một tình bạn lớn.

Có thể khẳng định rằng trong thơ Việt Nam đã có rất nhiều bài thơ hay thể hiện tình cảm đẹp đẽ chân thành, nhưng cả cho đến nay, chưa có bài thơ nào nói về tình bạn có thể sánh bằng bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Cái hay ấy trước hết xuất phát từ một tình bạn đẹp và chân thành của một tâm hồn cao thượng. Cái hay ấy còn là cái hay của một nghệ thuật diễn đạt, một ngôn ngữ diễn đạt gian dị, tự nhiên,đầy tính dân tộc, hoàn toàn phù hợp với nội dung tình cảm mà bài thơ cần diễn đạt.

3. Nói và nghe trang 145

Câu hỏi (trang 145 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Thảo luận về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Trả lời:

Chào cô và các bạn. Em tên là Nguyễn Văn B, hôm nay em sẽ thảo luận với cả lớp về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Cuộc sống là những muôn vàn khó khăn trắc trở, đâu ai biết được ngày mai sẽ ra sao nó có thể là một ngày đầy nắng cũng có thể là một ngày xám xịt đầy mây đen, ta sẽ ra sao và những người ta gặp được ngày mai có vai trò như thế nào trong cuộc sống của mình. Và tình bạn cũng là một mảnh ghép không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Trong tình bạn không cần phân biệt giàu sang thấp hèn, không giới hạn về học thức, dù bạn già hay trẻ lớn hay bé, dù bạn sinh ra ở đâu bạn là người như thế nào và bạn là ai thì “tình bạn” là thứ không thể thiếu trong cuốn từ điển cuộc đời của mỗi con người.

Trong suốt cuộc đời của chúng ta ngoài tình cảm gia đình thiêng liêng thì còn có những tình bạn vô cùng chân thành, dù không phải là máu mủ ruột thịt nhưng tình cảm dành cho nhau như những người anh chị em trong gia đình. Những người bằng hữu tốt xuất hiện trong cuộc đời bạn giống như những cây bút màu tô vẽ thêm bức tranh cuộc sống và một tình bạn đẹp là phải trải qua nhiều khổ luyện mới có thể nhận ra giá trị thực sự của nó. Còn gì tuyệt vời hơn khi cuộc sống có những người bạn để chia sẻ giúp đỡ nhau khi cần thiết và đôi khi tình bạn còn lãng mạn hơn tình yêu.

Có bao giờ bạn tự hỏi “tình bạn là gì?” và cũng thật khó để định nghĩa về nó. Tình bạn không phải là điều gì cao sang, mà nó nhẹ nhàng đến với chúng ta bằng những cái ôm, những câu chuyện buồn vui trong cuộc sống hay những cái tung hứng với nhau khi bạn ta khoe khoang về một thứ gì đó. Tình bạn là sự chấp nhận những cái khác biệt của nhau, là những lúc cùng nhau làm những điều điên rồ, cùng nhau ngồi khóc thâu đêm chỉ vì thất tình. Tình bạn không phải là trò chơi, cũng không phải là tiền bạc mà đó là sự quan tâm chia sẻ, sự cảm thông và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, đôi khi một vài lúc vu vơ giận hờn nhưng rồi cũng sẽ làm lành lại. Một tình bạn thực sự là khi ta có thể vô tư đùa giỡn, hay từ những câu chuyện ngồi lê đôi mách, cho đến những tâm sự thầm kín nhất cùng nhau, cùng nhau chia sẻ bí mật. Tình bạn như một món quà mà thượng đế ban tặng cho con người, nhưng việc sử dụng nó như thế nào là do chính chúng ta quyết định.

Cặp đôi học trò Minh Hiếu và Tất Minh (trường THPT Triệu Sơn tỉnh Thanh Hoá) suốt 10 năm cõng bạn đi học không kể nắng mưa, ôi cái tình bạn làm cho người ta thấy cảm động biết bao. Minh Hiếu không chê bạn mình khuyết tật mà thay vào đó là cậu giúp đỡ Tất Minh ngày ngày đến trường, hai cậu học trò cứ gắn bó nhẹ nhàng như thế. Và rồi sau 12 năm đèn sách Minh Hiếu và Tất Minh đã gặt được thành quả như mong đợi. Đó là một minh chứng cho tình bạn đẹp vẫn còn tồn tại trong cuộc sống và cũng là tấm gương sáng cho biết bao nhiêu bạn học sinh.

Sự chân thành trong tình bạn có lẽ là điều quan trọng nhất. Nếu mình đối xử thực tận tâm và mong chờ một tình bạn đẹp đẽ thì chắc hẳn người kia sẽ cảm nhận được tấm lòng của mình. Sự giả dối và phản bội trong tình bạn là điều khó tha thứ nhất, khi kết bạn với một người, ta thường mong muốn và đặt hết niềm tin với họ và càng hy vọng lớn thì thất vọng càng sâu sắc. Chúng ta hãy thử đặt chính mình vào hoàn cảnh nếu bị phản bội? Chắc hẳn sẽ rất đau đớn và thất vọng, không ai muốn có một người bạn phản bội và không chân thành. Hiểu được như vậy mỗi người hãy cố gắng trở thành một người bạn tốt. Hãy luôn giúp đỡ bạn mỗi khi cần. Một tình bạn đẹp là khi trong tình bạn ấy không ai có thể quay lưng bỏ rơi bạn bè trong khi bạn gặp khó khăn. Có trải qua gian khó, mới biết ai thực sự là bạn. Người ở lại cùng mình đến sau cùng những khó khăn chính là người bạn tốt mà mình cần trân trọng.

Thế nhưng, không phải lúc nào ta cũng ủng hộ bạn. Khi bạn sai ta nên ứng xử thế nào? Theo nhà văn Ni-cô-lai Ô-xtơ-rôp-xki “Tình bạn trước hết phải chân thành phê bình sai lầm của bạn…”. Khi bạn sai, ta cần chỉ ra cho bạn thấy rằng bạn sai ở đâu và khuyên bạn cố gắng sửa lỗi. Còn nếu lựa chọn im lặng hoặc ủng hộ việc làm sai của bạn thì đó chưa thực sự là những người bạn. Những tình bạn thiếu sự thấu hiểu và chân thành giúp đỡ nhau sẽ luôn tồn tại những vết nứt, bạn đầu chúng rất nhỏ nhưng cả hai người đều không cố gắng sửa thì vết nứt ấy sẽ ngày càng lớn và đến ngày vỡ. Không chỉ riêng tình bạn mà bất cứ mối quan hệ nào, nếu không dũng cảm sửa sai cho nhau, không dũng cảm nói ra mà chỉ biết im lặng thì sớm muộn gì mối quan hệ ấy cũng đổ vỡ. Đến với nhau phải biết suy nghĩ vì nhau, bỏ bớt cái tôi ích kỉ mới có thể cầm tay nhau xây dựng lên một tình bạn đẹp. Có thể ban đầu bạn sẽ không thích với việc mình chỉ ra lỗi sai ấy nhưng nếu là một người tốt thì sớm muộn gì cũng hiểu tấm lòng của bạn thôi!

Tình bạn luôn là thứ tình cảm đặc biệt cần thiết và quan trọng trong cuộc đời mỗi người, đặc biệt các bạn học sinh, những người bạn là người đồng hành quan trọng không thể thiếu. Mỗi người hãy cố gắng xây dựng những tình bạn thật đẹp và tuyệt vời cho riêng mình bằng sự chân thành, bằng tấm lòng thật tốt. Bạn thì mỗi người sẽ có rất nhiều nhưng bạn thân thì không nhiều, tình bạn với bạn thân là thứ tình bạn tuyệt vời nhưng không phải ai cũng có được, nếu có hãy biết trân trọng! Đừng quá kiêu căng và đặt cái tôi của mình quá cao, phải vì nhau và cùng nhau mới vẽ lên được tình bạn trường tồn mãi mãi.

Phần trình bày của em đến đây là kết thúc, em rất mong nhận được sự góp ý của cô và các bạn để bài nói của em hoàn thiện hơn.

Phiếu học tập số 2

1. Đọc trang 145-147

a. Đọc văn bản: Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao (trang 145-147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1)

b. Thực hiện yêu cầu

* Chọn phương án đúng (làm vào vở):

Câu 1 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Người viết đánh giá cao sở trường nào của Nam Cao trong sáng tạo văn học?

A. Xây dựng cốt truyện hấp dẫn

B. Kể chuyện sinh động, lôi cuốn

C. Khắc họa tính cách nhân vật sắc nét

D. Tả cảnh thiên nhiên tinh tế, gợi cảm

Trả lời:

Chọn đáp án: C.

Câu 2 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): “Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực.” - sau câu văn này, tác giả triển khai đoạn văn theo hướng nào?

A. Phản bác ý của câu vừa nêu, sau đó đưa ra ý được cho là đúng

B. Chứng minh cho ý của câu vừa nêu, sau đó khái quát lại

C. Nhận xét câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn

D. Giải thích câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn

Trả lời:

Chọn đáp án: B.

Câu 3 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tên một số tác phẩm của Nam Cao được nhắc đến ở bài viết nhằm mục đích gì?

A. Minh họa cho ý kiến được tác giả nêu trước đó

B. Cho thấy sự phong phú trong sáng tác của Nam Cao

C. Cho thấy tác giả am hiểu về các sáng tác của Nam Cao

D. Nêu bật những đóng góp của Nam Cao đối với nền văn học

Trả lời:

Chọn đáp án: D.

Câu 4 (trang 147 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Dòng nào sau đây nêu đúng những nét chung giữa các nhân vật trong truyện của Nam Cao?

A. Đó là những người cùng chung nghề nghiệp

B. Đó là những người cùng thành phần xã hội

C. Đó là những người cùng hoàn cảnh sống

D. Đó là những kiếp người đau khổ, bất hạnh

Trả lời:

Chọn đáp án: B.

Câu 5 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Theo nội dung đoạn trích, điều gì không có tác dụng tạo nên sức hấp dẫn của truyện Nam Cao?

A. Ngoại hình khác thường, thậm chí dị dạng của một số nhân vật

B. Sự đồ sộ về số lượng tác phẩm và sự kết tinh cao độ các giá trị nghệ thuật

C. Cách nhìn của tác giả về cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người

D. Giọng trữ tình ấm áp, thể hiện niềm trân trọng mọi biểu hiện của sự sống

Trả lời:

Chọn đáp án: B.

* Trả lời câu hỏi:

Câu 1 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Có thể xem văn bản Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao thuộc loại văn bản nghị luận văn học được không? Vì sao?

Trả lời:

- Có thể xem văn bản thuộc văn bản nghị luận

- Vì: trong văn bản phân tích sáng tác của một tác giả văn học bằng hệ thống luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng rõ ràng, mạch lạc.

Câu 2 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Nhận xét về cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng của tác giả trong văn bản.

Trả lời:

- Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực.

+ Đó là những người già cả không nơi nương tựa, những em bé mô côi không ai chăm sóc, những người đàn bà không biết đến hạnh phúc lứa đôi, gia đình... (Nghèo, Dì Hảo, Một bữa no, Từ ngày mẹ chết,...)

+ Những người có trình độ học vấn, ý thức hơn về thân phận, có nhiều bă khoăn về cuộc sống (Trăng sáng, Đời thừa, Sống mòn,...)

Câu 3 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Tác giả đã lí giải như thế nào về sự thành công của Nam Cao trong sáng tác văn học?

Trả lời:

Tác giả lí giải: Nam Cao là một trong số ít nhà văn của chúng ta đã để lại cho văn học nhiều nhân vật không thể quên được, buộc người đọc phải nghĩ về họ, thông qua họ để nghĩ về cuộc sống.

Câu 4 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Những nội dung nào đã triển khai trong bài viết cho phép tác giả đi đến kết luận: “Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn”?

Trả lời:

Những nội dung đã triển khai trong bài viết cho phép tác giả đi đến kết luận: “Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn”:

- Người ta có ấn tượng rõ rệt về các nhân vật có tính cách nổi bật, đồng thời lại có cảm nhận sâu sắc cách nhìn của tác giả đối với cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người.

- Tác giả để lại cho văn học nhiều nhân vật không thể quên được, buộc người đọc phải nghĩ về họ, thông qua họ để nghĩ về cuộc sống.

Câu 5 (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Văn bản trên giúp em hiểu được những gì về nhà văn Nam Cao?

Trả lời:

Giúp em hiểu về vẻ đẹp trong tâm hồn của nhà văn Nam Cao:

+ Ông luôn hướng về số phận những con người nghèo khổ phải chịu số phận bất hạnh.

+ Ông trân trọng biểu hiện của sự sống, sự trăn trở, đau buồn nhưng không bao giờ mất hi vọng.

2. Viết trang 148

Câu hỏi (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Viết bài văn nghị luận phân tích một truyện ngắn được sáng tác trong những năm gần đây.

Trả lời:

Nguyễn Ngọc Thuần là nhà văn trẻ đầy triển vọng của nền văn xuôi đương đại. Với ông, văn chương phải đẹp và nhân văn, hướng đến những giá trị Chân – Thiện – Mỹ của đời sống, bồi đắp thế giới, tầm hồn cho con người. Truyện ngắn “Bố tôi” là một câu chuyện về tình cảm gia đình đầy ấm áp và tình thương, tình cha con sâu đậm.

“Nguyễn Ngọc Thuần đến với văn chương chỉ là tình cờ, nhưng sự tính cờ ấy đã đem đến cho nhà văn một cánh cửa mới”. Nguyễn Ngọc Thuần xuất thân là một nhà mỹ thuật tài hoa, thế hệ nhà văn 7X ở Sài Gòn không hẹn mà gặp xuất thân từ mỹ thuật khá nhiều, cứ như học mỹ thuật để viết văn, làm thơ. Văn chương của Nguyễn Ngọc Thuần chạm đến tâm hồn bạn đọc bởi sự trong trẻo, dễ thương, khi viết cho người lớn phải là từ những trải nghiệm thực tế của cuộc sống, còn khi viết cho thiếu nhi, ông thường đặt mình vào đứa trẻ, vẽ nên một thế giới đầy trong sáng và niềm tin. 

“Bố tôi” là truyện ngắn về tình cha con ấm áp. Người bố được miêu tả là một người cha yêu thương con hết mực, tận tình chăm sóc con, trân trọng từng món quá, từng bức thư mà con gửi. Ông rất yêu con, yêu từng nét chữ của con dù không biết đó là chữ gì. Dù cuộc sống có thay đổi, thì ông vẫn luôn đồng hành cùng con trên hành trình trưởng thành của mình.

Nhân vật người bố được khắc họa là một người cha yêu thương con hết mực. Vì có cách biệt về địa lý, ông không thể bên cạnh, đồng hành sát bên khi con trưởng thành. Thế nhưng, ông vẫn luôn theo dõi và quan tâm đến cuộc sống của con. Hai cha con giao tiếp với nhau qua từng bức thư con gửi. Ông trân trọng điều đó, trân trọng từng nét chữ của con. Vào mỗi cuối tuần, khi đi nhận thư, ông đều mặc chiếc áo phẳng phiu nhất, đi chân đất xuống núi, nhận bức thư của con. Dù không thể hiểu được nội dung của bức thư, ông vẫn cảm nhận được từng nét chữ, nghĩ suy, tâm tư của con qua từng cái “chạm tay vào nó, ép nó vào khuôn mặt đầy râu”. 

Khi người vợ hỏi ông tại sao lại không nhờ người đọc hộ bức thư, ông liền bảo rằng: “Nó là con tôi, nó viết gì tôi biết cả”. Có thể thấy, ông như một người bạn đồng hành của con, tôn trọng quyền riêng tư và độc lập của con. Ông không muốn người khác đọc bức thư của con gửi, vì ông hiểu con hơn bao giờ hết, hiểu con qua từng con chữ giản đơn. Những lá thứ được ông giữ một cách cẩn thận, ngắm nhìn nó từng ngày “những lá thư được bóc ra nhìn ngắm, chạm vào mặt rồi cất đi, không thiếu một lá, ngay cả những lá thư đầu tiên nét chữ còn non nớt”.

Sau này, trên hành trình trưởng thành của “tôi” đã không còn bố nữa, ngày đầu tiên bước chân vào trường đại học đã không còn bố dìu dắt cạnh bên. Thế nhưng, chỉ riêng “tôi” mới có thể cảm nhận được, rằng bố luôn “đi cùng tôi trên những con đường mà tôi sẽ đi, suốt cả cuộc đời”.

Truyện ngắn “Bố tôi” của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần là một câu chuyện nhẹ nhàng mang đầy ý nghĩa về tình cảm gia đình, sự hy sinh cao của người bố. Ngay cả khi bố không còn bên cạnh, thì tình cảm, sự gắn kết giữa hai bố con vẫn không hề nhạt phai, đồng hành cùng năm tháng trưởng thành của con.

Cha ơi bóng cả cây cao

Chở che con những lao đao cuộc đời

Cha cho con tình yêu thương và cuộc sống

Là mây trời lồng lộng chở che con.

3. Nói và nghe trang 148

Câu hỏi (trang 148 sgk Ngữ văn 9 Tập 1): Chọn một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống của lứa tuổi học sinh, lập dàn ý cho bài nói và tập trình bày.

Trả lời:

* Dàn ý bài nói:

I. Mở bài

- Giới thiệu vấn đề nghị luận: vấn đề an toàn giao thông ở nước ta hiện nay.

II. Thân bài

1. Thực trạng về an toàn giao thông hiện nay

Tình trạng tai nạn giao thông xảy ra ở nước ta ngày càng phổ biến. Theo Cục CSGT, năm 2016 thì:

- Cả nước xảy ra hơn 21.000 vụ tai nạn giao thông

- Cướp đi sinh mạng gần 9.000 người.

- Cùng nhiều thiệt hại về tài sản khác

2. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông

- Do người tham gia giao thông không chấp hành đúng luật giao thông

- Những người điều khiển phương tiện giao thông không nắm được luật giao thông

- Sự thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm của người tham gia giao thông như: lạng lách, đua xe, đi xe không đúng tốc độ, không đúng làn đường quy định.

- Say xỉn khi tham gia giao thông

- Những người đi bộ, người bán hàng rong đi không đúng đường quy định.

- Lỗi do phương tiện giao thông yếu kém

- Những phương tiện giao thông đã quá cũ kĩ không thể tiếp tục tham gia giao thông

- Lỗi do cơ sở hạ tầng yếu kém: giao thông có những ổ voi, ổ gà, đường quá chật,….

3. Hậu quả

- Nhiều người thiệt mạng

- Mất mát về tiền của, vật chất của con người

- Ùn tắc giao thông, mất trật tự xã hội

4. Giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông

- Đưa ra những biện pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tham gia giao thông của người tham gia giao thông…

- Đưa ra những chính sách phù hợp nhằm mang tính chất răn đe phòng ngừa những người tham gia giao thông để họ có thể tham gia giao thông an toàn.

- Làm tốt hơn nữa việc kiểm tra chất lượng cũng như khắc phục cơ sở hạ tầng giao thông.

III. Kết bài:

- Nêu cảm nghĩ của cá nhân em về tai nạn giao thông

* Bài nói tham khảo:

Chào cô và các bạn. Em tên là Nguyễn Văn B, hôm nay em sẽ thảo luận với cả lớp về thực trạng mất an toàn giao thông trong cuộc sống.

Một trong những chủ trương phát triển của nước ta là phải hoàn thành được điện, đường, trường, trạm. Cùng với việc xây dựng mạng lưới điện, trường học và trạm y tế, những con đường là một trong những vấn đề cốt yếu giúp đất nước phát triển hơn. Thế nhưng giao thông phát triển lại mang theo vấn đề vốn vô cùng nan giải. Giáo dục về an toàn giao thông chính là cách nâng cao dân trí của người tham gia giao thông.

An toàn giao thông có thể hiểu là sự an toàn của mỗi người khi tham gia giao thông. Ngày nay trên báo đài hoặc truyền thông công cộng, ta vẫn có thể dễ dàng nghe được những thông tin về các vụ tai nạn giao thông trên toàn quốc. Thống kê đã chỉ ra rằng trung bình mỗi ngày có khoảng 10 người bước ra khỏi nhà và mãi mãi không bao giờ quay về nhà nữa. Ủy ban An toàn Giao thông quốc gia chỉ ra rằng chỉ 8 tháng đầu năm 2017, đã có gần 13.000 vụ tai nạn giao thông đã xảy ra, cướp đi mạng sống của hơn 5.000 người và khiến hơn 10.000 người khác bị thương. Những con số giật mình đó thật sự đã thức tỉnh mỗi chúng ta về ý thức tham gia giao thông. Những vụ tai nạn giao thông liên hoàn ngày một diễn ra càng nhiều, sinh mạng con người cũng vì thế mà trở nên mong manh hơn mỗi khi bước ra khỏi cửa. Không những đẩy những phận người vào chỗ chết hoặc không thì cũng tổn hại đến sức khỏe và tinh thần, chúng còn khiến những người thân của họ phải vác trên vai gánh nặng, gieo nỗi đau thương và tang tóc lên hàng triệu mái nhà trên mảnh đất hình chữ S này.

Mất an toàn giao thông hình thành bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng xét cho cùng vẫn chủ yếu do ý thức con người. Không thể phủ nhận việc ý thức tham gia giao thông của người Việt Nam vô cùng kém. Vượt đèn đỏ, lạng lách, đánh võng, đua xe trên cao tốc là những vấn đề nan giải mà hàng năm qua chúng ta vẫn loay hoay không có cách nào giải quyết. Tâm lí muốn nhanh chóng khiến nhiều người sẵn sàng vi phạm luật giao thông chỉ để nhanh thêm được vài giây ngắn ngủi nhưng lại chậm cả đời bởi tai nạn giao thông đang rình rập ở mỗi con đường. Hậu quả là hàng ngàn vụ tai nạn đã xảy ra chỉ vì lối tham gia giao thông vô ý thức, vô kỉ luật mà hàng triệu người dân đang làm. Chưa ý thức được cái chết và sự nguy hiểm của lạng lách, đánh võng, vì vậy mà nhiều người vẫn vô tư vi phạm luật giao thông để rồi mang đến hậu quả đau lòng cho người khác và cho chính mình.

Việc mất an toàn giao thông cũng do chất lượng cầu đường của chúng ta chưa đảm bảo. Việc mới là một quốc gia đang phát triển khiến kinh phí đổ vào việc đầu tư những con đường lớn còn ít, nền đất của một nước ở khu vực nhiệt đới còn yếu nên nhiều con đường được xây dựng có chất lượng kém. Những ổ gà, ổ voi xuất hiện là một trong những nguyên nhân gây mất an toàn cho những người tham gia giao thông nhất là vào mùa mưa lũ.

Không chỉ vậy, có một số doanh nghiệp tư nhân vì muốn tiết kiệm chi phí mà sử dụng những phương tiện đã quá hạn bảo trì. Bởi vậy, chất lượng xe không đảm bảo khiến mỗi cung đường ta đi càng trở nên nguy hiểm hơn và mạng sống con người cũng trở nên " ngàn cân treo sợi tóc".

Vì vậy, việc nâng cao ý thức người tham gia giao thông là quốc sách mà mỗi quốc gia cần trang bị cho mình. Nâng cao chất lượng phương tiện công cộng và khuyến khích người dân tham gia là một giải pháp góp phần giải quyết nạn kẹt xe, tắc đường mỗi giờ cao điểm. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng vào cuộc và xử phạt những doanh nghiệp sử dụng xe có chất lượng kém để răn đe. Xét đến cùng, ý thức con người vẫn là điều kiện tiên quyết. Nâng cao ý thức người tham gia giao thông bằng cách mở lớp học hay giáo dục từ khi còn tấm bé là cách chúng ta cải thiện ý thức người đi đường.

An toàn giao thông từ lâu đã trở thành một vấn đề nan giải của mỗi quốc gia, dân tộc. Để giải quyết vấn đề khó khăn này rất cần sự đồng lòng và chung tay góp sức của những người dân và các cấp chính quyền. Là người đi đường thông minh để giảm thiểu tai nạn giao thông là bạn đang góp phần rất lớn vào công cuộc hiện đại hóa và văn minh hóa đất nước.

Phần trình bày của em đến đây là kết thúc, em rất mong nhận được sự góp ý của cô và các bạn để bài nói của em hoàn thiện hơn.

Xem thêm các bài Soạn văn lớp 9 Kết nối tri thức hay nhất, ngắn gọn khác:

Săn SALE shopee tháng này:

ĐỀ THI, GIÁO ÁN, SÁCH ĐỀ THI DÀNH CHO GIÁO VIÊN VÀ PHỤ HUYNH LỚP 9

Bộ giáo án, bài giảng powerpoint, đề thi dành cho giáo viên và sách dành cho phụ huynh tại https://tailieugiaovien.com.vn/ . Hỗ trợ zalo VietJack Official

Tổng đài hỗ trợ đăng ký : 084 283 45 85

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng....miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 9 Kết nối tri thức của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sgk Ngữ văn 9 Tập 1 và Tập 2 (NXB Giáo dục).

Nếu thấy hay, hãy động viên và chia sẻ nhé! Các bình luận không phù hợp với nội quy bình luận trang web sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.


Các loạt bài lớp 9 khác
Tài liệu giáo viên